tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20232416
Những bài báo
20.09.2016
Nhiều tác giả
Tạ Chí Đại Trường và Góc khuất phòng the trong cung đình Việt



Tượng nam nữ giao hoan trên thạp đồng Đào Thịnh, lĩnh vực ít khi được công khai trong lịch sử, văn hóa Việt cổ


 Nhà nghiên cứu Tạ Chí Đại Trường là một trong những ngôi sao sáng của nền sử học miền Nam VN trước năm 1975.


Với tiểu luận Sex và triều đại, ông nằm trong số rất ít các nhà sử học nghiên cứu về đời sống tình dục trong cung đình phong kiến VN.


        Vào thời kỳ trước năm 1975, nền sử học miền Nam ghi nhận tên tuổi nhiều nhà nghiên cứu lớn như Nguyễn Phương, Tạ Chí Đại Trường, Nguyễn Thế Anh, Phan Khoang, Nguyễn Khắc Ngữ, Nguyễn Khắc Kham... Sau năm 1975, giới sử gia miền Nam có nhiều người sống tại nước ngoài. Vì nhiều lý do, những công trình nghiên cứu của họ đã bị quên lãng trong suốt một thời gian dài. Cho đến vài năm trở lại đây, một số trong những công trình đó đã được xuất bản, trong đó có những nghiên cứu của Tạ Chí Đại Trường. Cuốn sách đầu tiên của ông được xuất bản vào năm 1964 có tên Lịch sử nội chiến ở VN từ 1771 đến 1802 dựng lại chi tiết “bàn cờ” quyền lực trong xã hội Đại Việt nửa cuối thế kỷ 18, đã tạo nên tiếng vang lớn đồng thời gây nên nhiều tranh cãi trong thời điểm đó và cho tới tận sau này.


Sử của Tại Chí Đại Trường có biên độ rộng. Không chỉ viết sử thiên về chính trị mà ông còn nghiên cứu nhiều vấn đề khác nhau gần gũi với đời sống. “Có nhiều chi tiết mà những sử gia quan phương để “xổng”, khiến viết ra không có độ hấp dẫn, có nét riêng. Còn Tạ Chí Đại Trường đã len vào những câu chuyện mà trong sử chính thống ít nhắc đến”, nhà nghiên cứu Mai Anh Tuấn nói khi nhắc đến tiểu luận Sex và triều đại của Tạ Chí Đại Trường.


“Tạ Chí Đại Trường đã đi vào vấn đề sex (tình dục) tại các triều đại với con mắt của nhà khoa học. Ông lạnh lùng với những điều cấm kỵ, để từ đó, ông lật ra được những diễn ngôn lịch sử, xâu chuỗi những ghi chép rời rạc, lẩn khuất đằng sau những câu chữ được ghi lại”, TS Trần Trọng Dương nhìn nhận. Từ cuối thập niên 2000, một số tác phẩm của Tạ Chí Đại Trường bắt đầu được in và phát hành tại VN như Thần, người và đất Việt, Những bài dã sử Việt, Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802, Người lính thuộc địa Nam Kỳ.


“Chúng ta rất sợ đọc sử biên niên, nhưng đọc sử của Tạ Chí Đại Trường lại khác. Câu văn gọn, giàu hình ảnh, khiêu khích, nhiều bóng gió buộc ta phải nghĩ nhiều. Tạ Chí Đại Trường cũng đưa lại thứ sử quá phức tạp. Ông có thể đúng, có thể sai, nhưng khiến chúng ta đã phải nghĩ rất nhiều, buộc phải thay đổi tư duy, chính những điều đấy khiến cho tri thức tiến lên, khiến sử học tiến lên”, nhà nghiên cứu Nguyễn Mạnh Tiến nhận xét.


Giải mã cái chết của vua Lê Thánh Tông


Trong Sex và triều đại, Tạ Chí Đại Trường đã bóc lớp các diễn ngôn lịch sử, xâu chuỗi các sự kiện để giải mã nhiều sự việc lịch sử, trong đó có cái chết của vua Lê Thánh Tông. “Thái tử lên ngôi, cho biết vua cha bị bệnh phong thũng. “Phong thũng” theo cách hiểu thông thường và của cả y sinh ngày xưa, là chỉ hiện trạng bệnh lở lói, cùi hủi. Vua không bị chiến thương như đã nói, mà sử quan lại có lời mào đầu là vua mắc bệnh nặng “vì nhiều phi tần quá”, vậy thì Thánh Tông đã mắc “bệnh xã hội”. Vua bị lở lói ở chỗ đó, hay khắp mình mẩy vì giang mai ở thời kỳ cuối?”, ông viết.


“Thời gian từ sau 1471 đến khi ông mất là đủ dài cho sự ủ bệnh và phát triển đến độ “lở lói” cuối cùng”, ông lý giải thêm. Ông cũng đưa ra dẫn giải vì sao một vị vua lại có thể mắc căn bệnh này. Sau khi kết thúc trận đánh vào năm 1741, nhiều nữ tù binh Chăm bị bắt để phục vụ vua, trong đó có người mắc bệnh.


“Góc khuất” hoàng cung


Ông chỉ ra sự biểu lộ tính dục trong tên các điện, cung trong cung điện. Chẳng hạn, thời nhà Lê có các điện Phong Lưu, Tử Hoa, Bồng Lai, Cực Lạc và chỗ nằm ngủ được gọi là Trường Xuân. “Các danh xưng cùng ý nghĩ đó khiến ta ngờ rằng người đặt tên lầu Đại Vân mà Lê Hoàn khoe với Tống Cảo, hẳn có chủ ý liên hệ với chuyện “mây mưa”. “Lý Nhân Tông thì có cung Hợp Hoan (1089) mà sử quan không cần phải giải thích công dụng của nó, còn chúng ta thì có thể hiểu ngay”, ông viết.


Tạ Chí Đại Trường đã đưa ra nhiều chi tiết về đời sống tính dục có phần loạn luân, trụy lạc, phóng túng ở nhiều triều đại. Những quan điểm lịch sử của ông có khi ngược lại hoặc đưa ra những thông tin mới so với lịch sử chính thống. Chính điều đó khiến cho những diễn ngôn lịch sử của ông thường gai góc, có thể gây tranh cãi, nhưng lại mang đến nhiều góc nhìn. “Hãy cho rằng Trần Quốc Tuấn cướp công chúa Thiên Thành, con Thái Tông, em con chú của mình, là muốn phá gia đình kẻ đã làm tan rã nhà mình, trước khi được nghe lời trối phải báo thù của cha. Tuy nhiên khi Thái Tông gả con cho người cùng thân tộc gần (có thể là em ruột) thì rõ ràng đó là điều bình thường của thời đại, sử quan không soi mói ra để thấy là loạn luân. Lại thêm, xét cung cách tự nhiên của Quốc Tuấn lẻn vào nơi cô gái đã hứa hôn đang ở gia đình người vị hôn phu, thì ta thấy có sự thuận thảo giữa đôi bên, có sự đồng ý của cô gái, đồng thời cũng thấy có sự ngang bướng của con trai họ Trần”, Tạ Chí Đại Trường viết.


Bàn về đời sống tình dục trong hoàng cung, Tạ Chí Đại Trường không quên nói đến “giống giữa”. “Vua chúa dùng người có khuyết tật vào cung khỏi cần phải thiến thì cũng tiện, nhưng khi có kẻ moi móc ra thì lại giật mình”.


Nhà sử học diễn giải vụ án Lệ Chi Viên rằng Nguyễn Trãi đã cho Thị Lộ vào cung tìm cách tiếp cận nhà vua. “Lời các hoạn quan can ngăn không làm ông co lại mà còn như chỉ dấu rằng mưu định của ông có cơ sở vững chắc hơn: Vua 17, 18 tuổi con nít ham sắc thì “vợ” ông, lớn tuổi hơn, lão luyện hơn, càng dễ xỏ mũi đắc thế hơn chứ sao! Không thấy bà Thị Lộ xúi được vua giáng chức ông đại công thần Đinh Lễ “cưng” của Lê Thái Tổ là gì! Vậy thì Nguyễn Trãi không “hiền”, là “thứ dữ” nhưng chỉ vì không vượt qua được tình thế, không thể nào ngăn trở cơn “thượng mã phong” của Lê Nguyên Long Thái Tông mà mắc vạ đấy thôi. Không phải chỉ Thái Tông mà Hiến Tông có vẻ cũng chết cùng nguyên cớ: “Tháng 5, ngày 23 (1504), vua vì ham nữ sắc bị bệnh nặng”, và ngày hôm sau thì băng. Có vẻ còn nhanh hơn cái chết của Nguyễn Tự cuối Lý qua Trần”, Tạ Chí Đại Trường viết.


Ngọc An


Lịch sử qua ngòi bút của Tạ Chí Đại Trường


Ông Tạ Chí Đại Trường sinh tại Nha Trang, tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành lịch sử tại Viện Đại học Sài Gòn.


Ông nghiên cứu và viết sử trong nhiều hoàn cảnh xã hội, hoàn cảnh sống khác nhau: trước và sau năm 1975 ở miền Nam, trong nước và hải ngoại sau năm 1975. GS Phan Huy Lê đã nhận xét: “Tạ Chí Đại Trường là một nhà sử học có tính độc lập, phong cách riêng trong nghiên cứu lịch sử. Ông có những công trình nghiên cứu sâu sắc trên phương pháp luận sử học nghiêm túc mà tiêu biểu là Lịch sử nội chiến ở VN từ 1771 đến 1802. Các tác phẩm của Tạ Chí Đại Trường mang nặng tính suy ngẫm lịch sử, gần như một thứ triết lý lịch sử, như Những bài dã sử Việt hay Thần, người và đất Việt. Tạ Chí Đại Trường luôn nhìn lịch sử VN với tấm lòng của một người VN”.


Ông qua đời ở tuổi 78 vào tháng 3-2016 tại nhà riêng ở TP.HCM. Để nhìn nhận về những đóng góp và góc nhìn lịch sử độc đáo của nhà nghiên cứu này, buổi tọa đàm Sử của Tạ Chí Đại Trường đã được diễn ra vào chiều 15.9.2016,  tại Trung tâm văn hóa Pháp (Hà Nội), với sự tham gia của diễn giả: TS Hán - Nôm Trần Trọng Dương, nhà nghiên cứu Mai Anh Tuấn…


Ngọc An


thanhnien.vn


Nhà sử học Tạ Chí Đại Trường qua đời tại Sài Gòn


Nhà sử học gốc Việt Tạ Chí Đại Trường - tác giả nhiều công trình nghiên cứu lịch sử có giá trị to lớn, đã qua đời ngày 24.3.2016  tại nhà riêng ở TP.HCM sau một thời gian lâm trọng bệnh, thọ 78 tuổi.


Tin buồn trên đã được người nhà ông xác nhận và cho biết, việc ông trở lại Việt Nam từ tháng 10.2015 sau khi lâm trọng bệnh là đã xác định muốn ở lại quê hương lúc cuối đời.


Tạ Chí Đại Trường quê gốc Bình Định, sinh ngày 21.6.1938,  tại Nha Trang trong một gia đình trí thức (cha là cử nhân Hán học), tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đại học Văn khoa Sài Gòn (1964), định cư tại Mỹ từ 1994.


Ông bắt đầu nghiên cứu lịch sử Việt Nam từ trước 1975 với nhiều công trình được giới sử học trong và ngoài nước đánh giá cao bởi những kiến giải quan trọng và mới mẻ, khoa học và khách quan về lịch sử Việt Nam.


Ông từng được nhận giải thưởng Văn chương toàn quốc, bộ môn Sử (1970); Giải thưởng văn hóa Phan Châu Trinh lần thứ 7 (2014) ở hạng mục Nghiên cứu vì những đóng góp độc đáo và mới mẻ của ông trong nghiên cứu sử học. Một số tác phẩm sử học của ông đã được Công ty văn hóa và truyền thông Nhã Nam xuất bản trong nước như: Những bài dã sử Việt (2009), Người lính thuộc địa Nam Kỳ 1861 - 1945 (2011), Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802 (2012), Thần, người và Đất Việt (2014)…


Ngoài nghiên cứu về sử học, Tạ Chí Đại Trường còn là một người sưu tầm, nghiên cứu tiền cổ và là một nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam đáng vị nể.


Lễ viếng nhà sử học Tạ Chí Đại Trường bắt đầu từ ngày 24.3.2016 tại nhà riêng (402/27 An Dương Vương, phường 4, quận 5, TP.HCM). Lễ động quan vào lúc 8 giờ ngày 27.3, dự kiến hỏa táng tại nghĩa trang Đa Phước, huyện Bình Chánh, TP.HCM.


Đại Mỹ Lệ


thanhnien.vn


Bạn đọc phản hồi (1 nhận xét)


Le The DanTP Hồ Chí Minh - 26/03/2016


Điếu Văn - Chú Tạ Chí Đại Trường (TCĐT) Thân gởi chị Giang: Em cảm ơn chị đã gọi cho em biết chú Tạ Chí Đại Trường(TCĐT) mới mất ở VN sáng 23/3/2016. Em đã chuẩn bị tinh thần cho sự ra đi của chú cả gần một năm nhưng có lẽ cũng như chị Giang, gia đình, bạn bè, độc giả đều không khỏi đau buồn với sự mất mát của một người quá đáng kính, một học giả hiếm hoi trong nghành Sử học Việt Nam. Nếu “chết là hết” thi cái chết của chú là một điều quá bất hạnh cho nghành Sử. Em cầu mong “chết vẫn không thể hết” đối với chú vì những tác phẩm, sách vở nghiên cứu của chú vẫn còn hiện hữu trên cõi đời để những người yêu mến Sử học vẫn còn được học hỏi chú qua những trang sách chú đã viết, những trang sách chú vẫn thường gọi đó là "chò chơi kiến thức." Chú luôn khiêm nhường một cách tự nhiên, coi những công trình nghiên cứu của mình là những “chò chơi”. Nhưng em đã được thấy cách thức làm việc, được đọc và hiểu những tác phẩm của chú thì phải gọi đó là những công trình vĩ đại cho nghành Sử học VN. Quốc gia nào cũng có nhân tài. VN mình cũng có nhưng lại quá hiếm hoi nhất là trong nghành Sử. Đọc và hiểu những tác phẩm của chú thì không thể nào không gọi chú là nhân tài trong nghành Sử.


Cuốn sách cuối cùng "Bài Sử Khác Cho Việt Nam" của chú đã tổng hợp Sử Kí Việt Nam qua một cách phân tích duy nhất xưa nầy chưa từng có. Đó là một món quà to lớn chú đã để lại cho đời. Những món quà khác, những món chơi khác của chú: "Lich sự nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802", "Thần, người và đất Việt", "Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài", "Việt Nam nhìn từ bên trong", "Những bài dã sử Việt", "Những bài văn sử", "Lịch sử Việt Nằm trong tầm mắt người Việt", "Sử Việt đọc vài quyển", "Người lính thuộc địa Nam Kì (1861-1945)", là những công hiến tinh thần lớn lão cho nghành Sử học VN - nếu được ghi nhận, chấp nhận một cách công bằng. Sinh hoạt đời sống của chú thật là bình thường. Những phân tích, lí luận khoa học của chú trong nghành Sử - nếu hiểu được - cũng rất lại bình thường - vì nếu không bình thường thì đó là một vấn để lớn! Thế nhưng tổng hợp những bình thường của chú lại thì chính sự bình thường đó trở nên vĩ đại. Thật là một mất mát lớn cho nghành Sử học VN khi không chấp nhận những lí luận khoa học một cách bình thường của chú. Chú có lời dặn giò trong diễn từ nhận giải nghiên cứu nhân dịp nhận giải thưởng Phan Châu Trinh năm 2014: " Những người làm lịch sử hiện tại như thế đã tạo được, không biết kéo dài trong bao lâu, mối tin tưởng vế một lịch sử thần thuyết của dân tộc để trang bị cho một chủ nghĩa huyết thống tập thể cần thiết cho sự cai trị dân nước dưới tay. Lí thuyết đó có quyền lực chính trị bên trên, có sự ủng hộ của quần chúng bên dưới vẫn mang tâm hồn nhiều thế kỉ truớc, không cần và cũng không màng đến một sự biện biệt nghiêm túc. Tất nhiên chính quyền cũng thấy cần có những lí thuyết gia để, trước hết là phải đánh bạt các quan điểm cũ, mới nâng cấp được hệ thống thần thuyết của mình. Nhưng bởi tính chất của một đất nước đắm chìm lâu dài vào một nền văn chương rổn rảng, mớ triết lí thu thập ở mức trung bình, với những người chưa từng nghe đến tinh thần thực nghiệm, vẫn hiểu sử như lúc đang bàn sử, nên các trí thức này, hoặc thốt ra những lời bài bác thô lỗ cục cằn, hoặc ba hoa những lí thuyết lạc đề sử sự. Nghe họ nói, viết thấy cứ như người lên đồng trên giảng đường, trước đám quần chúng vô danh trong những cuộc mit tinh chính trị, hay ở tập họp quần chúng vô hình thời đại internet. Không hề gì, họ vẫn hiện diện, đầy uy thế. Lấy ra ví dụ cụ thể về một vấn đề sử học, vấn đề nguồn gốc dân tộc như thế, với tình trạng những người không chuyên môn đòi dạy dỗ chuyên viên khi họ xúm lại mắng mỏ Trần Trọng Dương, hay cao ngạo lấn lướt các sử gia im tiếng khác qua khúc đoạn Kinh Dương Vương của nhà Hán Nôm, mới thấy được áp lực trùng trùng của những kim cô quyền lực trong quá khứ đối với sử gia đã không nhẹ bớt đi mà còn gần như bít hẳn con đường phát triển của một nền sử học khoa học hằng mong ước. Có bi quan hay không thì đó cũng là hiện trạng không thể che giấu trên đất nước này, trong thời đại bây giờ.” Em mừng chú đã về được VN mấy tháng sống với gia đình và không bị đau khổ nhiều trước khi mất. Chị Giang cho em gởi lời thăm gia đình và gởi lời chia buồn với một nỗi đau lớn lao. Em cầu mong sẽ được gặp lại chú khi em qua đời để ít nhất có thể nói được một câu cảm-ơn-chú-đã-giảng-dạy-Sử-kí-VN cho em - một câu cảm ơn em không thoải mái nói đến chú vì khi sống chú sẽ không cho phép em khách sáo cảm ơn chú!


Em, Lê Thế Đàn


thanhnien.vn


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ngày này 9 năm trước nhà văn Sơn Nam đi xa... - Phạm Sỹ Sáu 13.08.2017
Tượng đài chiến thắng gãy đổ do trẻ 12 tuổi đùa nghịch! - Vũ Viết Tuân 11.08.2017
Đặc khu sẽ không hội đồng nhân dân và có đặc quyền casino - Như Bình 11.08.2017
Chuyện vụn về Đại hội Hội Nhà văn Hà Nội... - Trần Thanh Cảnh 10.08.2017
Phú Quốc lúng túng với cô gái nước ngoài ngồi thiền xin tiền - Nhiều tác giả 10.08.2017
Hang Tám Cô - Huyền thoại và sự thật: Không thể tồn tại sự mù mờ - Nhiều tác giả 09.08.2017
Đất quốc phòng sân bay Tân Sơn Nhất: Chấm dứt liên doanh, sẵn sàng bàn giao - Nhiều tác giả 09.08.2017
Trở lại với câu hỏi: Con người rời khỏi châu Phi khi nào? - Hà Văn Thùy 06.08.2017
Truy giấy phép biểu diễn với cậu bé kéo đàn ở bờ hồ Hoàn Kiếm là không ổn - Nhiều tác giả 30.07.2017
Biển Đông: Một năm sau phán quyết của Toà PCA - Nhiều tác giả 29.07.2017
xem thêm »