tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19680255
14.09.2016
Nhiều tác giả
Theo dấu tích 'hoa cái' vua Quang Trung



Theo dấu tích 'hoa cái' vua Quang Trung: Rùng rợn lễ Hiến phù


Địa điểm tổ chức lễ Hiến phù, nay thuộc vị trí công viên Nguyễn Văn Trỗi, Huế


Mùa đông năm Nhâm Tuất (1802) xa giá vua Gia Long từ Thăng Long trở về Phú Xuân và tổ chức lễ Hiến phù, “tận pháp trừng trị” vua quan Tây Sơn.


Sau khi tạm ổn định tình hình, ngày 2.5 năm Nhâm Tuất (12.6.1802) Nguyễn vương Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi lấy niên hiệu Gia Long nguyên niên ở Kinh thành Phú Xuân và sau đó đưa đại quân ra bắc để tiêu diệt vua Tây Sơn.


Ngày 23.6 năm Nhâm Tuất (1802) vua Gia Long vào thành Thăng Long và vài tháng sau bắt sống vua Tây Sơn Nguyễn Quang Toản ở rừng Phượng Nhãn, sau đó đưa về Phú Xuân tổ chức lễ Hiến phù.


Đại Nam thực lục chính biên chép: “Tháng 11, Nhâm Tuất (1802) làm lễ tuyên cáo võ công. Ngày quý dậu (6.11 âm lịch, nhằm ngày 30.11.1802) tế thiên địa thần kỳ. Ngày giáp tuất (7.11 âm lịch, nhằm ngày 1.12.1802) hiến phù ở Thái miếu... Sai Nguyễn Văn Khiêm là đô thống chế dinh Túc trực và Nguyễn Đăng Hựu làm tham tri hình bộ áp dẫn Nguyễn Quang Toản và em là Quang Duy, Quang Thiệu, Quang Bàn ra ngoài cửa thành, xử án lăng trì cho 5 voi xé xác (dùng 5 con voi chia buộc vào đầu và hai tay hai chân, rồi cho voi xé, đó là một thứ cực hình), đem hài cốt của Nguyễn Văn Nhạc và Nguyễn Văn Huệ giã nát rồi vứt đi, còn xương đầu lâu của Nhạc, Huệ, Toản và mộc chủ của vợ chồng Huệ thì đều giam ở Nhà đồ ngoại (năm Minh Mệnh thứ 2 đổi giam vào ngục thất cấm cố mãi mãi). Còn đồ đảng là bọn Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng đều xử trị hết phép, bêu đầu cho mọi người biết”.


Tương truyền quảng trường, nơi tổ chức lễ Hiến phù, nằm trước từ đường Dũng Triết Vương, phía tây thành Phú Xuân. Khu vực này về sau có Tôn Nhân Phủ, Khâm Thiên Giám, Bộ Học và một phần của công viên Bao Viên sau đổi tên thành công viên Nguyễn Văn Trỗi (TP.Huế) hiện nay.


Để không còn sinh phúc


Việc vua Gia Long trả thù nhà Tây Sơn và đưa “hoa cái” của 3 vị vua vào giam trong ngục thất được lý giải và mô tả qua bức thư của giáo sĩ Bissachèrre, như sau:


“Tôi xin khởi sự với các việc về vua trẻ Tây Sơn. Trước hết người ta đã bắt vua đó mục kích một cảnh tượng đau lòng. Hài cốt của cha mẹ vua chết đã mười, mười hai năm nay, cùng hài cốt những người bà con gần của vua đều bị quật lên. Người ta sắp các xương của Quang Trung, cha vua và các xương của mẹ vua... rồi người ta theo lệ bề ngoài chém cổ để làm sỉ nhục, và nhất là để các xương đó không còn sinh phúc cho con cháu, theo tục mê tín của người trong xứ. Rồi tất cả xương được dồn vào trong một cái giỏ lớn để binh sĩ đến tiểu tiện vào. Xong, người ta nghiền xương thành bột, bỏ vào một giỏ khác đặt trước vua trẻ Tây Sơn để làm cho vua đó đau khổ.


Bấy giờ người ta dọn cho vua một bữa tiệc khá long trọng, chiếu theo tục trong xứ đối với những kẻ sắp bị tử hình. Em vua (tức Quang Thiệu) can đảm hơn vua, thấy vua ăn thì trách và bởi vì mâm người ta dọn đồ ăn bưng tới đó có những đặc điểm có ý tôn trọng chức vua, nên ông nói: “Nhà mình thiếu gì mâm, cần gì phải ăn mâm mướn”.


Ăn xong, người ta nhét giẻ vào miệng vua và nhiều người khác để họ khỏi chửi mắng vua mới, đoạn trói chân tay vào bốn voi để cho voi xé. Một con voi đã kéo nát đùi và lòi gân vua ra, nhưng vua còn quay về cái giỏ chứa xương cha mẹ vua. Lý Hình dùng một con dao để phanh các phần còn dính lại với nhau ra làm bốn phần, cộng với cái đùi đã xé ra nữa là năm. Người ta đem bêu các phần đó lên, ở đầu một cái cọc cao, tại năm chợ đông người hơn trong đô thành. Các cọc đó được canh giữ ngày đêm và người ta dọa phạt nặng những ai làm mất đi; nhưng phải để vậy cho thối ra hoặc cho quạ ăn...”.


Theo chính sử, vua Gia Long sau khi có những thao tác “tận pháp trừng trị” lên hài cốt của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và thân xác của Nguyễn Quang Toản, đã chừa lại ba “hoa cái”- tức đầu lâu-  của 3 “tiếm vương” Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Quang Toản, bỏ vào 3 cái vò (nên người ta quen gọi là Ông Vò), đậy nắp kỹ, niêm khằng, quấn xích sắt, chú bùa để giam vĩnh viễn tội phạm trong Nhà đồ ngoại (sau đổi thành Vũ Khố) vào tháng 11 năm Nhâm Tuất (1802).


Vậy Vũ Khố ở đâu? Đại Nam nhất thống chí chép: “Vũ Khố. Ở địa phần phường Liêm Năng về phía tây kinh thành. Phía trước có một công trường và một sở chi thu, phía sau có 10 kho. Lệ đặt một viên thị lang trông coi, thuộc viên có lang trung, viên ngoại lang, chủ sự, tư vụ và thơ lại thuộc ty. Trước gọi là Ngoại đồ gia, năm Minh Mệnh thứ 1 đổi tên hiện nay; phía bắc là sở Vũ Khố đốc công, quan chức có viên giám đốc; từ viên ngoại lang trở xuống thì do bộ Công thống lãnh”.


Theo những mô tả trong sử sách thì địa điểm Vũ Khố nay thuộc khuôn viên Trường đại học Nông Lâm, Đại học Huế. Di vật của Vũ Khố chỉ còn cái giếng cổ ở trung tâm của trường, dưới gốc cổ thụ và một viên đá kê cột nằm trước cổng trường.


Trần Viết Điền


Bình luận của người đọc:


Trần Thị Hương DuyênTP Hồ Chí Minh - 13/09/2016


Tôi đọc 2 bài của cùng 1 tác giả, nhưng sao lại ghi năm khác nhau, bài trước "Theo dấu tích "hoa cái" vua Quang Trung - Thi thể nhà vua..." thì ghi năm Tân Dậu (1801), còn bài này "Theo dấu tích ... - Rùng rợn lễ Hiến phù" thì ghi năm Nhâm Tuất - 1802" , vậy năm nào là đúng. Ngoài ra còn vài chi tiết không thống nhất giữa 2 bài viết!


Tư Cua TP Hồ Chí Minh - 13/09/2016


Bạn xem lại: * ngày 4.5 năm Tân Dậu (1801), Nguyễn Vương Nguyễn Phúc Ánh vào thành Phú Xuân. Nguyễn Vương sau khi bắt giam tướng tá Tây Sơn cùng thân quyến đã cho quật mồ vợ chồng Nguyễn Huệ nhưng phải đợi đến tháng 11 năm Tân Dậu mới chính thức xử tội. “Tháng 11, Tân Dậu (1801) phá hủy mộ giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ... Như vậy, từ năm Tân Dậu (1801) lăng mộ vua Quang Trung và bà Tả cung họ Phạm ở nam sông Hương đã bị quật phá.. Ngày 23.6 năm Nhâm Tuất (1802) vua Gia Long vào thành Thăng Long và vài tháng sau bắt sống vua Tây Sơn Nguyễn Quang Toản ở rừng Phượng Nhãn, sau đó đưa về Phú Xuân tổ chức lễ Hiến phù. thu gọn


Thanh LongSóc Trăng - 13/09/2016


"Như vậy, từ năm Tân Dậu (1801) lăng mộ vua Quang Trung và bà Tả cung họ Phạm ở nam sông Hương đã bị quật phá, quan tài bị kéo ra khỏi mộ, mở nắp lấy thi thể ra bêu đầu phơi xác ở các chợ thuộc kinh thành Phú Xuân. Hơn 31 người trong đó có 3 hoàng tử của vua Quang Trung bị giải xuống tàu, đưa về xử lăng trì ở Gia Định. Sau vài ngày bị bêu, thi thể của hai vợ chồng vua Quang Trung lại bị giam giữ ở Nhà Đồ ngoại (sau đổi thành Vũ Khố) khoảng một năm mới đem trị tội tiếp trong lễ Hiến Phù". Tôi thì thấy hoàn toàn hợp lý!


Bùi Tá VinhQuảng Ngãi - 14/09/2016


Là một độc giả thường xuyên của báo THANH NIÊN trước tiên tôi rất cám ơn báo đã cho biết thông tin về lịch sử và tiếp theo là rất mong báo cho đăng nhiều hơn nữa về lịch sử nước ta, nhất là thời kỳ phong kiến,như nội dung bài báo này là một ví dụ. Chân thành cám ơn báo THANH NIÊN.


ThưQuảng Nam - 14/09/2016


quá sức tưởng tượng...


Quang MinhTP Hồ Chí Minh - 13/09/2016


"Hoa cái" là hộp sọ, còn "Tiếm vương" là gì ạ?


TuấnThừa Thiên Huế - 13/09/2016


là người bị coi có hành động chiếm ngôi vua. Nguyễn Vương Nguyễn Phúc Ánh xem Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Quang Toản là những người chiếm ngôi.


Theo dấu tích 'hoa cái' vua Quang Trung: Biệt giam 'hoa cái' 3 vua Tây Sơn


Sau khi làm lễ Hiến phù, vua Gia Long đã bỏ hộp sọ Nguyễn Huệ cùng với Nguyễn Nhạc và Quang Toản vào vò, chú bùa đưa vào biệt giam trong Nhà Đồ ngoại, sau đổi thành Vũ Khố.


Dời “Ông Vò” vào Khám đường


Ba cái vò giam ba “hoa cái” của ba tiếm vương, cùng với mộc chủ, bị giam ở Vũ Khố (tiền thân là Nhà đồ ngoại) từ năm 1802 - 1822. Mãi đến năm 1822 vua Minh Mạng mới ra lệnh đưa 3 cái vò (thường gọi là “Ông Vò”) vào giam ở Khám đường.


Theo linh mục Pháp J.B.Roux, Giáo sư Nguyễn Đình Hòe, nhà nghiên cứu Phan Thuận An thì khám đường nay ở P.Tây Lộc (TP.Huế), góc tây nam của phòng thành Huế. Thời Gia Long, nó được gọi là Ngục Thất. Chính vua Minh Mạng, vào năm trị vì thứ 6 (1825), đã đổi tên Ngục Thất (nhà tạm giam) thành Khám đường (phòng xét xử) và tên chính thức trở thành Khám đường Ngục Thất.


Xưa P.Tây Lộc là nơi có đồng ruộng, ao hồ, đầm lầy, chuyên sản xuất nông nghiệp, phục vụ một phần lương thực cho triều đình và cư dân sống trong phòng thành, để đề phòng khi xảy ra chiến tranh, phòng thành bị vây hãm. Khu vực này hình vuông, trong đó có 3 góc là góc tây nam của phòng thành, cửa An Hòa, cửa Chánh Tây. Khám đường ở giữa vùng này, hồ bao bọc chung quanh, chỉ một cửa để ra vào. Khám đường có một số dãy nhà để giam tội nhân, đặc biệt có phòng giam ba cái vò đựng ba “sọ đầu” của nhà Tây Sơn. Chủ ngục, lính canh ngục và các tù nhân đã bí mật lập bàn thờ để thờ ba “Ông Vò”, nhằm cầu đảo khi gặp tai ương… Từ năm 1822 - 1885, hằng tháng đều có ban kiểm tra của triều đình đến Khám đường để kiểm soát ba cái vò nói trên. Hiện nay phần đất của Khám đường đã dựng Trường tiểu học Tây Lộc. Di vật của Khám đường là vài viên đá kê cột lộ thiên, trong đó một viên đá kê cột to, còn hai viên đá kê cột nhỏ.


Các nhà nghiên cứu cho rằng Khám đường có từ thời Gia Long, lúc vua quy hoạch ranh giới cho phòng thành Huế, nghĩa là từ năm 1804. Tuy nhiên, qua kiểu thức và chất liệu của hai viên đá kê cột, gạch bìa... của Khám đường mới phát hiện, có thể thấy Ngục Thất này được xây dựng từ thời chúa Nguyễn. Triều Nguyễn sử dụng Khám đường cho tới khoảng năm 1900. Vào đầu năm 1899, vẫn còn một số tù nhân ở đó.


Theo nghiên cứu của Nguyễn Đình Hòe, Phan Thuận An, Đỗ Bang, Phan Quán… qua những công trình đã công bố từ 1975 - 1988 cho biết đêm 22 rạng 23.5 năm Ất Dậu (1885) trong biến cố thất thủ kinh đô, vua Hàm Nghi cùng hoàng gia phải rời khỏi phòng thành, quân Pháp vào thành… có người mang 2 trong 3 “Ông Vò” theo đoàn quân. Riêng một “Ông Vò” (“hoa cái” vua Quang Trung) được một ông quan võ, trông coi Khám đường, “giải cứu” và mang đi. Tuy nhiên, người quan võ có ân tình bí mật đưa “hoa cái” vua Quang Trung ra khỏi Khám đường ấy đã đi đâu và cất giấu “Ông Vò” ở đâu vẫn là một bí ẩn.


Hé lộ người mang “hoa cái” vua Quang Trung


Từ năm 1885 đến nay, đã hơn 100 năm, ba “Ông Vò” mất tích nhưng người Huế từ trong nội bộ hoàng gia đến dân chúng cứ truyền khẩu về những đồn đoán và gần đây đã có những hé mở.


Năm 1988, trong công trình nghiên cứu của mình, PGS-TS Đỗ Bang trong sách Những khám phá về Hoàng đế Quang Trung (NXB Thuận Hóa, 1988) đã công bố những thông tin mà ông đã thu lượm và xử lý.


Trong sách này, PGS-TS Đỗ Bang viết: “Từ lâu, người dân xứ Huế đã chỉ cho tôi rằng - sau vụ binh biến ở kinh thành Huế 1885, có một nhân vật quan trọng trong triều đã trộm lấy chiếc vò mang đi về theo hướng đông - nam kinh thành. Chúng tôi ngờ rằng, người mang“Ông Vò” đã đi vào Bình Định, quê hương của các lãnh tụ Tây Sơn, nhưng sau nhiều lần sưu khảo vẫn không thấy kết quả. Có người cho biết nhân vật đó quê ở làng Thanh Thủy Chánh, giữ một chức quan trọng trong triều đình Huế và từng coi sóc ở Khám đường. Từ năm 1977, đã nhiều lần tôi đi khảo sát ở làng Thanh Thủy Chánh và một số làng phụ cận của TP.Huế, nhưng chưa thể kết luận được”.


PGS-TS Đỗ Bang cho biết vào tháng 3.1988, trong một chuyến điền dã ở làng Thanh Thủy Chánh (nay thuộc xã Thủy Thanh, TX.Hương Thủy, Thừa Thiên- Huế), ông đã tìm ra tông tích nhân vật bí ẩn mang “hoa cái” vua Quang Trung rời khỏi Khám đường.


PGS-TS Đỗ Bang viết: “Chuyến khảo sát gần đây, vào tháng 3 năm 1988, cho phép chúng tôi thông báo một tín hiệu đáng lưu ý như sau: Lúc còn sống, ông Trần Công Toản (1880 - 1950) có thời làm lãnh binh và giữ vị trí thứ chỉ trong làng Thanh Thủy Chánh, từng kể rằng. Sau vụ binh biến ở kinh thành vào năm 1885, hai ông Phan Công Hắc và Phan Công Vá đã cẩn thận “giải phóng” cái “hoa cái” trong chiếc vò, đem để trong một cái thạp đồng mang về chôn ở làng Thanh Thủy Chánh, nơi chôn ở gần Miếu Đôi”.


Trần Viết Điền


Tranh luận về cung điện Đan Dương của vua Quang Trung


Các nhà nghiên cứu khảo sát khu vực chùa Thiền Lâm và vùng phụ cận mà nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân cho rằng là nơi từng tồn tại Cung điện Đan Dương của nhà Tây Sơn - Ảnh: B.N.L


Chiều 30.10.2015 tại TP.Huế đã diễn ra hội thảo khoa học Cung điện Đan Dương thời Tây Sơn ở Huế. Cuộc hội thảo lại một lần nữa xảy ra tranh cãi giữa công trình nghiên cứu về cung điện Đan Dương của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân với các nhà nghiên cứu khác ở Huế.


Hội thảo do Sở VH-TT-DL tỉnh cùng Hội Khoa học lịch sử Thừa Thiên-Huế tổ chức với sự tham dự chủ trì của GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử VN.


Hội thảo tập trung thảo luận về công trình nghiên cứu của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân (đã được in thành sách và tái bản lần thứ hai) có tên Đi tìm dấu tích Cung điện Đan Dương - sơn lăng của Hoàng đế Quang Trung (NXB Thuận Hóa, năm 2007).


Dựa vào tư liệu lịch sử


Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân đã đưa ra nhiều nguồn tư liệu gồm cả tư liệu sử trong nước, chính sử triều Nguyễn và cả những ghi chép của các nhà nghiên cứu, nhà du hành nước ngoài (chủ yếu là Pháp) để chứng minh luận điểm của mình rằng cung điện Đan Dương, cũng là sơn lăng của Hoàng đế Quang Trung, vốn được hình thành từ cung điện mùa đông của Chúa Nguyễn Phúc Khoát (phủ Dương Xuân) sau này đã bị Gia Long phá hủy vào năm 1801.


Mấu chốt công trình của ông Nguyễn Đắc Xuân đã dựa vào câu: “Cung điện Đan Dương là sơn lăng phụng chứa bảo y tiên hoàng ta” trong tập Hoàng Hoa Đồ Phả, câu nguyên chú trong tác phẩm Cảm hoài của Ngô Thì Nhậm, một trọng thần của vua Quang Trung, trong tập thơ đi sứ sang Trung Quốc (năm 1793) cùng các bài thơ của Phan Huy Ích .


Theo ông Xuân, ngày 29.7 (nhuận) năm Nhâm Tý (1792), vua Quang Trung mất. Ngô Thì Nhậm được cử sang Trung Quốc báo tang và cầu phong cho vua Cảnh Thịnh (Quang Toản). Trong khi đang xúc động ấy, ông đã viết bài Cảm hoài và ghi một lời chú ở dưới bài thơ. Câu 8 bài thơ: “Đan Dương cung điện nhật tam thu” (Trông về điện Đan Dương một ngày coi bằng ba thu), tác giả chú: “Cung điện Đan Dương là sơn lăng phụng chứa bảo y tiên hoàng ta”, như đã dẫn ở trên. Đây là một nguyên chú ở dưới bài thơ chứ không phải là một câu thơ trong một bài thơ. Ngoài ra, ông Xuân còn dẫn nhiều tư liệu của Ngô Thì Nhậm có nhắc đến Đan Lăng: bài Khâm vãn Đan Dương Lăng (Kính viếng lăng Đan Dương); bài Sóc vọng thị tấu nhạc, Thái Tổ miếu, cung ký (Ngày lễ rằm, mồng một tấu nhạc miếu Thái Tổ, kính ghi); bài Tòng giá bái tảo Đan Lăng, cung ký (Theo xa giá đi bái tải Đan Lăng, kính ghi), trong bài thơ này lại có câu: “Sơn Lăng vạn cổ điện Thần kinh” (Sơn Lăng muôn thuở là nơi yên nghỉ tinh thần).


Nhiều phản biện


Tại hội thảo, bên cạnh những tham luận đồng tình với luận điểm của Nguyễn Đắc Xuân đã có rất nhiều ý kiến phản biện công trình của ông Nguyễn Đắc Xuân. Nhà nghiên cứu, bác sĩ Nguyễn Anh Huy (TP.Huế) cho rằng, những văn bản chữ Hán mà ông Nguyễn Đắc Xuân dùng không phải là văn bản gốc mà đã qua sao chép và có sai sót. Cụ thể trong câu: “Đan Dương cung điện phụng ngã ?.?. tiên hoàng tàng bảo y chi sơn”, nghĩa là “Cung điện Đan Dương là sơn lăng phụng chứa bảo y tiên hoàng ta”. Sau chữ ngã còn có hai khoảng trống, như vậy ở đây văn bản đã bị mất hai chữ quan trọng. Tương tự ở văn bản nguyên chú của Phan Huy Ích viết về thái sư Bùi Đắc Tuyên, có chữ Tuyên bị viết sai thành chữ Nghi rồi được sửa lại thành chữ Tuyên. Thêm nữa, theo ông Huy, phủ Dương Xuân đã bị quân Trịnh đập phá vào năm Ất Mùi (1775) để lấy gỗ làm củi đúc tiền, nên không thể có phủ Dương Xuân tồn tại cho đến khi Tây Sơn chiếm Phú Xuân để trưng dụng làm cung điện Đan Dương.


Nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh (TP.Huế) trong tham luận của mình cũng cho rằng không có cung điện Đan Dương tại Huế mà chỉ có Đan Lăng, nơi an táng vua Quang Trung. Tuy vậy dẫn địa bạ sơ đồ điền thổ của làng Bình An (vào thời Duy Tân) có một thửa đất khá gần chùa Thiền Lâm, ở vị trí phía đông của chùa Từ Đàm có ghi rằng “cựu hoàng lăng”. Phải chăng nên tìm hiểu địa điểm này để truy tìm lăng mộ vua Quang Trung.


Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Châu Phan cũng không thừa nhận những kiến giải của ông Xuân về cung điện Đan Dương, với lý do ông Xuân chỉ dùng tư liệu sử kết hợp với điền dã rồi suy diễn mà không chỉ ra được tư liệu nào khẳng định chắc chắn đó là cung điện Đan Dương.


Cần khai quật khảo cổ học


Kết luận buổi hội thảo, GS Phan Huy Lê cho rằng có thể kết luận được mấy mấu chốt quan trọng. Thứ nhất, đã xác định chùa Thiền Lâm chính là nơi mà Thái sư Bùi Đắc Tuyên từng chiếm dụng làm nơi làm việc. Thứ hai, các tư liệu của Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích hiện là những tài liệu quý giá bậc nhất trong việc nghiên cứu về cung điện Đan Dương và lăng mộ vua Quang Trung mà hiện chúng ta có được. GS.Phan Huy Lê cũng đề xuất để có thêm cứu liệu cần thiết phải có cuộc khai quật khảo cổ học khu vực chùa Thiền Lâm mở rộng.


Bùi Ngọc Long


thanhnien.vn


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những điều nên biết về Chiến tranh thế giới II - Nhiều tác giả 22.06.2017
Ngày 22/06/1944: F.D. Roosevelt ký Đạo luật G.I. - Tư liệu sưu tầm 22.06.2017
Stonehenge - Bãi đá cổ ở Anh Quốc - Tư liệu 20.06.2017
Tam cương, Ngũ thường - Tư liệu sưu tầm 20.06.2017
Ông Vũ Khoan viết về cố Thứ trưởng Trần Quang Cơ - Vũ Khoan 20.06.2017
Thời kỳ vàng son mới của Ba Lan - Gunter Verheugen 20.06.2017
Tập Cận Bình muốn gì? - Graham Allison 20.06.2017
Helmut Kohl viết về sự kiện sụp đổ Bức tường Berlin - Helmut Kohl 19.06.2017
Đặng Tiểu Bình giúp tạo nên một Trung Quốc tham nhũng như thế nào? - Tư liệu 18.06.2017
Con ác quỷ IS và số phận của Assad - Nhiều tác giả 16.06.2017
xem thêm »