tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18406162
Tiểu thuyết
12.09.2016
Ma Văn Kháng
Đám cưới không có giấy giá thú



Trời! Kẻ tự nhận mình là thông minh siêu việt không thể có cách ăn nói, xử sự như thế lúc này. Đứng ở ngoài sân, nghe cái giọng điệu sắng sở, buông tuồng của Thuật, Tự như một tội phạm bị tra khảo. Buồn thay, số phận anh lúc này dường như nằm trong tay Thuật. Trong cái mảnh giấy mong manh kia có một đấng quyền uy. Anh đang ở trong cuộc chơi hết súc vô lối của định mệnh. Ba tháng trồng cây không bằng một ngày trông quả. Ngột lên trong Tự bao nỗi lo âu. Những kẻ suốt đời sống với tâm niệm dâng hiến là những kẻ suốt đời khắc khoải lương tâm. Huống hồ, lứa tằm nuôi đứng này gặp lúc bất thuận lợi mọi điều. Chưa bao giờ thầy và trò rơi vào một cuộc vây ép khủng khiếp như thế. Đời chưa hẳn là một vại dưa muối hỏng nhưng đã bốc mùi khai khẳn rồi. Quỷ nhe nanh múa vuốt diễu võ dương oai trước người hiền. Người không mạnh, ma ám liền. Thầy phải gồng mình chống trả để đóng vai nhân vật lớn, chính diện. Trò chao đảo giữa cơn xoáy lốc có lực bứt linh hồn ra khỏi thuở hoa niên. Thầy giỏi, trò chăm - một cặp “phạm trù” đương nhiên hóa thành hiện thực cá biệt hiếm hoi, mòn mỏi mong chờ.


Đưa mảnh giấy in đề thi ra trước mắt, mép Thuật nhếch một cái cười bí ẩn. Chưa lúc nào mặt hắn giống như mặt ác quỷ và Tự căm ghét hắn như lúc này.


*


Nhưng mà hóa ra Tự lại phải hàm ơn Thuật. Bộ mặt ác quỷ của Thuật, kỳ lạ thay, lại biến thành gương mặt phúc hậu, từ bi của Đức Phật Tổ ban ân huệ cho Tự.


Cái đề thi văn, đó là phước lành Đức Chúa Trời ba ngôi ban thưởng cho anh, cho người lành dưới thế. Đó là lộc Trời, là cái sự phù hộ độ trì của tất cả các phúc thần cao cả mà con người tôn thờ, là ân ưu của tổ tiên trao cho anh và tất cả mọi kẻ lòng ngay dạ thẳng trên cõi đời này vào mùa thi này.


Cái đề thi văn, tấm gương soi để anh ngắm mình. Ngắm mình là cái thú thẩm mỹ của tất cả mọi ý thức. Chao ôi, thì ra… ừ thì cứ cho là cuộc đời là vại dưa muối hỏng đi. Ừ thì cõi dời này còn đang nhung nhúc bọn bất lương chỉ nhăm như chiếm đoạt công sức, của cải, vinh quang sở hữu của người khác. Ừ thì lúc này đứa nào có xípvontơ là đứa ấy tha hồ xài điện, đúng như Xuyến nói, đúng như Xuyến đã cung cấp một hình tượng diễn đạt khá đắt câu thành ngữ: khôn sống mống chết. Ừ thì bây giờ bất cứ một đứa trẻ ranh nào mới nứt mắt học trò cũng có thể vênh vác mặt mày lên, hành hạ kẻ đáng là thầy nó, để thỏa mãn lòng hợm của và bòn mót cả mấy đồng bạc của kẻ khố dây. Ừ thì người có tài, có đức đang khốn khổ vì bị xúc phạm, bị cướp giật, bị tước đoạt. Tiền và quyền đang ngự trị, chi phối nền tảng đạo đức. Và ở cái trường trung học cỏn con này, cảnh chợ trời hỗn mang lắm khi đã lấn át cả sự cao nhã của nơi thánh đường. Ừ thì cuộc sống còn bao nghịch lý và cảnh đời lộn ngược đang diễn ra hàng ngày. Ừ thì còn biết bao nỗi buồn phiền đang quày quả và nợ nần từ quá khứ vẫn còn nguyên chưa được giải trình, thanh toán.


Ừ, thì hãy cứ cho là vậy. Thì cũng không phải không có những thời khắc tuyệt hảo, dẫu có là ảo tưởng và nghe như chỉ có giá trị tạm thời. Giữa nỗi bất ưng triền miên vẫn có khi hài lòng thật sự. Những cảm xúc thánh thiện không tì vết ố hoen ở cái đêm Nôen giá lạnh đã xa chưa hề mất hết dấu tích giữa cái ê chề của đời thường hôm nay đã chứng tỏ một chân lý cao cả: bên cái đời sống vật chất thế phàm, còn một cuộc sống tâm linh mãnh liệt với những nẻo đường phát triển riêng rẽ, bất diệt. Con người còn có giá trị tự thân của chính nó. Đang là lúc bán sách đi để trang trải, nhưng đã có và đang tồn tại một kiếp sống nhẫn nại, tích tụ hiểu biết và cảm nhận. Đã có một thời say đắm. Nay, cơ bàn vẫn vậy. Khác chăng là trái tim Đankô đã bớt đi cái biểu hiện bồng bột bề ngoài. Khác chăng là càng ngày càng sâu lắng, khúc chiết và vững tin hơn, vì đã vượt qua thời hồn nhiên măng tơ tự phát, nhận ra cái phức điệu của đời thường quen thuộc. Với hai mươi tư chữ cái vẫn có thể ghi chép được kiệt tác Truyện Kiều. Vẫn có thể tìm được lối đi tuy eo hẹp để vượt qua thói đời biển lận điệp trùng. Vì cũng đã vượt qua thuở ấu thơ ngưỡng vọng không gian bao la, nhận ra cái hư vô của khoảng trời xa lắc trở lại với chính mình, khi đã thanh lọc để trở nên trong trẻo hoàn toàn. Tuổi bốn mươi ba hướng nội dẫu bời bời ngoại cảnh vẫn tìm được hang ổ khu trú yên lành để khai triển đức tin và hiểu biết.


Với công việc của ngươi thầy, Tự đã đạt được cái trị số mà anh mong muốn. Tự do, tỏa sang, anh nhân mình lên qua công việc cao quý giáo dưỡng con người, bằng sự thăng tiến của tâm hồn và trăm ngàn nỗ lực tỉ mẩn hàng ngày. Tập viết một hàng chữ phấn trên bảng đen dài rộng cho thẳng hàng. Sửa cái tật nói nhanh, nuốt chữ mỗi khi xúc động. Học thuộc lòng một câu thơ cổ để viện dẫn. Sưu tầm một danh ngôn. Tra cứu một điển cố. Chữa một câu văn sai cú pháp. Sửa một lỗi chính tả. Khám phá một tư tưởng độc đáo, tìm kiếm một vẻ đẹp tâm hồn... Từ một việc nhỏ nhặt, Tự cũng đặt hết mình lên bàn cân đo lường. Anh không nửa đời nửa đoạn, bao giờ cũng đi tới đầu nút của đoạn đường cần đi. Hạnh phúc lớn lao nhất, không gì sánh nổi và căn nguyên của bất hạnh đời anh là ở chỗ đó - cái thiên tính, thiên chức làm người của anh.


*


Trong văn phòng, chỉ có Dương bí thư chi bộ đang ngồi chỉnh tề trên chiếc ghế đặt ở vị trí chủ tọa giữa cái bàn họp. Sau lưng ông là bức tường treo la liệt bằng khen, cờ thưởng.


Giây phút hồn nhiên vui vẻ sáng nay chỉ là khoảnh khắc nhất thời: giờ, ông lại trở lại vẻ nghiêm nghị quen thuộc hàng ngày.


Nâng trân trọng tờ báo Thành phố, hai mắt kính chú mục, ông đọc bài xã luận với giọng đọc vừa đủ cho chừng mười người nghe. Giọng ông vang ấm. Ông nuốt hơi nhả chữ, ngưng nghỉ mỗi khi gặp dấu chấm, dấu phẩy hết sức chính xác, lại uốn lưỡi thật rõ những lúc gặp phụ âm têerờ, etsì. Cứ như ông làm nhiệm vụ phát thanh viên đọc bản tin chậm, hoặc là đang đọc mẫu cho học trò cấp một viết chính tả vậy.


Ông dọc không chút biểu cảm:


“Ngày hôm nay, hai mươi nhăm tháng làm, năm một nghìn chín trăm tám mươi hai, một trăm lẻ chín ngàn một trăm hai mươi mốt học sinh của thành phố ta tham dự kỳ thi tốt nghiệp phổ thông trung học trên ba mươi hội đồng thi và sáu trăm lẻ ba phòng thi. Tất cả các hội đồng thi đều đã tổ chức kiểm tra, xem xét điều kiện thi, những gì không hợp lệ đã được xử lý theo đúng qui chế ban hành. Theo kế hoạch, sáng nay sẽ thi môn văn một trăm nămươi phút...”


Tự đã khiến cho bài luận bị đứt đoạn khi dông thẳng từ ngoài sân vào văn phòng, không kìm nén được sung sướng, dộng hai nắm tay xuống bàn, như chuông reo, như trống nổi:


- Được rồi! Chắc chắn là được rồi, anh Dương ơi!


Tự đã làm Dương giật mình kinh động. Đặt tờ báo xuống bàn, mặt người bí thư ngây ra rồi hai con mắt chớp cháy nhớn nhác liên hồi. Tới khi Tự lặp lại tiếng reo lần thứ hai, thì ông bỏ kính, ngơ ngẩn:


- À, Tự đấy hả? Nhưng mà đồng chí này, được là được cái gì nhỉ?


Tự đứng phắt dậy, biết ngay rằng mình thể hiện niềm vui không đúng chỗ. Nhưng, đã lỡ rồi, làm sao có thể không giải thích? Anh hạ giọng, cố cho nó thật bình thản:


- Có lẽ là học sinh của tôi có thể làm tốt đề thi văn này. Bởi vì...


Chẳng có sự nhún nhường của kẻ yếu đuối nào là có giới hạn với kẻ nắm sức mạnh trong tay. Nhận ra hai mắt kính của người bí thư dương lên quăng quắc. Tự biết ngay mình lại sai lầm một lần nữa và anh liền im bặt.


Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn. Nếu vậy, tâm hồn Dương có những bốn mắt cửa sổ biểu hiện. Bởi vì, với Dương, hai mắt kính cận chẳng phải chỉ là hai thấu kính hội tụ, hai vật thể vô hồn. Chúng là một bộ phận hữu cơ của thị giác Dương. Chúng đóng vai trò đắc lực trong việc giúp Dương soi mói, nắm bắt cái mà Dương gọi một cách thô thiển là sinh mệnh chính trị của mỗi người, những ngóc ngách bí ẩn, lắt léo, luôn biến hóa như Dương vẫn nghĩ.


Trong mấy phút yên lặng dưới cái nhìn soi mói của bốn con mắt Dương. Tự bỗng cảm thấy đang phải chịu một sức ép tâm lý hết sức nặng nề. Dương đang lột trần, đang lộn trái anh ra để lục soát, khám xét.


Lòng tự trọng đã bắt Tự cất lời phản kháng. Anh ngẩng lên, nhìn mặt Dương, hai ánh mắt mạnh như hai lực đẩy khiến Dương phải tắt ngay luồng mắt dò xét. nghi ngờ:


- Anh Dương này, anh không còn đủ lòng nhân hậu để tin rằng vẫn còn nhiều tấm lòng trong sáng ư?


Bị bất ngờ, Dương há hốc miệng kêu ơ một tiếng kinh ngạc. Tự dồn tiếp:


- Anh có biết rằng anh đang đối mặt với ai đây không?


- Ơ kìa, đồng chí Tự!


- Anh hãy vứt bỏ cái bề ngoài nho nhã đi. Anh đọc sách triết học nhiều, anh có đọc đến câu này chưa: Trong mỗi chúng ta đều sống sót một người Bàn cổ dưới hình thức tiềm năng? Chúng ta, thật sự là con cháu của những kẻ sát nhân. Anh có hiểu câu nói ấy không?


- Đồng chí Tự, đồng chí nói gì thế?


- Anh không hiểu tôi nói gì à? Vậy thì tôi phải diễn giải vậy. Anh vừa dương mắt nhìn tôi với những ẩn ý gì vậy? Có phải anh đang lặp lại cái lôgic đơn giản quen thuộc như một công thức rằng: không có gì là ngẫu nhiên cả, cái gì cũng cần phải truy nguyên quyền lợi giai cấp và nguồn gốc vật chất của nó? Bởi vậy, anh nghi ngờ niềm vui hồn nhiên của tôi. Rằng có lẽ thằng cha này nó biết đề thi từ trước. Rằng nó đã ăn tiền để làm đáp án tung vào cho thí sinh. Chỉ có kẻ trúng quả đậm mới hứng chí như nó thôi. Mắt anh là mắt đại bàng nhìn xa mười kilômét, là mắt kính hiển vi soi được con vi trùng trong hạt bụi. Mắt anh cái gì cũng nhìn rõ, nhưng thật sự mắt anh chỉ là nhũng cánh cửa mở vào đêm đen thôi. Chỉ là mắt mật vụ chuyên đi lật tẩy...


- Kìa, đồng chí Tự... đồng chí hiểu lầm..


- Cho tôi nói hết đã. Hôm rồi, ông Thống có nói tôi cái điển tích thầy cúng Quý Hàm nước Trịnh, nhưng chưa rõ, hôm nay tôi giải thích thêm. Thầy cúng Qúy Hàm nước Trịnh bên Tàu ngày xưa giỏi lắm, nhìn ai cũng biết sống - chết ra sao, rủi - may, mất - còn thế nào, đoán trúng từng ngày tùng giờ, chính xác như thần. Nhưng người nước Trịnh hễ cứ trông thấy ông ta là... bỏ chạy. Se sắt quá, soi mói đến tận gan ruột người, không sống được với ai đâu, ông Dương ạ.


- Huỳ…


Dương chúm môi như thổi lửa, thở một hơi dài. Tháo kính ra, ông rút khăn tay, miết vào hai mắt kính, động tác như vô tri. Ông khó chịu. Trước có bao giờ như thế nhỉ? Trước nay, ông là kẻ độc quyền ban phát điều hay lẽ phải. Trước nay là nhất hô, bách ứng, hoặc ông nói, mọi người tiếp thu đến đâu thì không rõ, nhưng thảy đều im lặng. Còn bây giờ? “Hóa ra là phản ứng giai cấp nó dai dẳng đến thế đấy!”. Đó là kết luận sau mấy phút im lặng, xâu chuỗi những phản ứng của Thuật, ông Thống và bây giờ qua Tự, với mỗi lòi nói của ông. Kết luận ấy khiến ông trở lại điềm tĩnh. Ông xua hai tay, đầu gật g


- Không sao! Không sao! Đồng chí cứ nói. Nói được là tốt. Các bậc tiền bối đã dạy: người nói không có lỗi, người nghe phải sửa mình. Tôi có gì sai, tôi sẽ rút kinh nghiệm. Ngược lại, đồng chí cũng thế! Có phải không?


Tự im lặng, buồn thiu. Mặt vừa tắt niềm hào hứng bộc lộ mình vừa thấp thoáng vẻ ẩn nhẫn, cam chịu.


Dương xoa xoàn xoạt hai bàn tay trắng, càng chủ động và tin hơn:


- Đồng chí nói hết rồi thì tôi nói. Tôi không giận gì đồng chí đâu. Nói thật đấy. Bởi vì tôi cũng có lỗi, tôi gây cho đồng chí sự hiểu lầm. Đúng thế. Bởi vì, nói thật với đồng chí nhé, đồng chí là quần chúng cảm tình của chi bộ, nên tôi có lộ ra sự thái quá trong sự quan tâm thì cũng là điều dễ hiểu. Nhưng, phương ngôn có câu: thái quá bất cập. Vậy, tôi xin ghi điểm này làm bài học.


Nuốt nước bọt đánh ực như một dấu chấm ngắt đoạn gọn ghẽ, ông bí thư tiếp:


- Vậy thì nỗi lo của tôi là ở đâu? Ở chính cái môn văn của đồng chí đấy, đồng chí Tự ạ. Văn chương tự cổ vô bằng cứ. Văn chương là tư tưởng. Mà tư tưởng thì nó như lươn rúc bùn, như anh chàng Tôn Ngộ Không bảy mươi hai phép biến hóa thần thong, sai đấy, đúng đấy, lập lờ phản trắc cũng là ở đấy. Văn chương là chỗ dễ mất lập trường nhất đấy, đồng chí Tự ạ. Đồng chí chắc chưa quên điều tôi nói hồi đồng chí làm bài thơ Mùa cốm chứ? Sai một ly đi một vạn dặm là thế đấy! Giữ đường lối là công việc khó khăn lắm, chứ không dễ dâu?


Liếc mắt, thấy Tự ngoảnh mặt đi, Dương cao giọng tiếp:


- Tôi còn nhớ hồi còn công tác ở huyện ủy, chúng tôi mở một đợt công phá tư tưởng tiểu tư sản, hoang mang dao động, không tin ở sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sau một tuần chăng cờ, dán áp phích, rồi cho học sinh, thanh niên chiều nào cũng đi hô khẩu hiệu có tính áp đảo, tôi cho truy quét mấy tụ điểm của các ông giáo dạy văn ở địa bàn huyện và các xã lân cận. Mấy anh trí thức này dở nho học, dở tây học là chúa phức tạp. Thơ ca, hò vè, tiếu lâm hiện đại, châm biếm, đả kích chế độ, đường lối chính sách, cán bộ lãnh đạo từ đây mà ra cả. Phở không người lái, Mỗi người làm việc bằng hai, Để cho chủ nhiệm mua đài mua xe vân vân. Đồng chí còn nhớ những câu ca phản động ấy không? Cứ bảo là của dư luận. Thế mà tôi truy được đích danh thủ phạm là một lão giáo viên dạy văn cấp hai đấy. Thằng cha này con nuôi địa chủ. Khổ, con nuôi thôi mà mê muội quá. Tôi gọi lên đấu ba ngày ba đêm, hắn cứ trơ ra. Sau rốt, tôi phải dở ngón đòn lợi hại cuối cùng: Anh có hiểu rằng sinh mệnh chính trị của anh đang nằm trong tay tôi không? Hắn mới rúm tứ túc lại: “Em van anh. Em xin nhận. Mong anh cứu vớt linh hồn em”.


Thoảng một nét cười ngạo nghễ trên cái miệng rất tươi vẫn giấu kín hai hàm răng hạt gạo, Dương hạ giọng:


- Bây giờ các lớp học tiếng Anh mở đầy. Có vấn đề gì đâu! Nhưng lúc ấy học tiếng Anh là có vấn đề chứ. Chủ nghĩa Mác dạy ta quan điểm cụ thể, lịch sử là vậy. Tôi phải giải tán liền mấy lớp Anh văn. Bây giờ đang chống Mỹ, học tiếng Anh, tiếng Mỹ làm gì? Hay để nghe dài Hoa Kỳ và vượt tuyến vào Nam? Còn chuyện này nữa, kể để đồng chí đi tham khảo. Nhân ngày thành lập Đảng 3 tháng 2, đ̕ịch trường cấp 3 huyện trình diễn vở kịch Người tù vượt ngục. Tôi và đồng chí bí thư huyện ủy đến xem tổng duyệt. Xem xong đồng chí bí thư nhận xét: “Không hay lắm, nhưng khuyến khích tự biên tự diễn nên coi như là hay”. Tôi kiên quyết phản đối. Tôi nói: “Ngay cái tên vở kịch cũng đáng phê rồi! Sao lại là người tù. Mà lại vượt ngục nữa. Người cộng sản bị đế quốc nó bắt giam, không thể gọi là người tù được. Nhận là người tù hoá ra mình công nhận pháp luật của đế quốc, là làm mất uy thế của chiến sĩ cộng sản. Hơn nữa, trong huyện ta hiện nay có một trại tù hình sự. Cho diễn vở này, khác nào khuyến khích phạm nhân vượt ngục. Hoàn toàn bất lợi về mặt tư tưởng”. Nghe tôi phân tích xong, đồng chí bí thư chặc chặc lưỡi: “Đồng chí công tác lâu ở tuyên huấn và liên ngành công an có khác, nhìn vấn đề rất sâu. Mình thú thật, chẳng biết mô tê gì, nhìn hạt thóc là hạt thóc, nhìn củ khoai là củ khoai thôi!”.


Trời ơi! Tự kêu thầm và day trán xuống mặt bàn họp. Dương, cái sự thật hữu hình xương thịt hay chỉ là một thoáng chiêm bao của anh? Cuộc đời phải diễn ra một cách nghiêm túc, nhưng đây là sự nghiêm túc cần đạt tới ư? Anh nhận ra anh đang tỉnh táo hoàn toàn vì nghe thấy tiếng ông Thống quát nạt đám đông ồn ào ở ngoài cổng trường.


CHƯƠNG 9


Parmi les homes, trong cõi người mênh mng có một khuôn mặt người khó trộn lẫn: ông Thống, với tục danh học trò đặt cho: thống lý Pátra.


Còn vài tháng nữa ông Thống bước vào tuổi sáu mươi và sẽ về nghỉ hưu. Trong bóng chiều của cuộc đời và tuổi tác, nhiều bộ phận trọng yếu ở thân xác ông. Ở cái con người nhìn thấy của ông, đã xơ cứng, lão hóa, chết mòn. Tóc rụng. Răng long. Lông mày bạc. Chai chân chai tay, sừng hóa, hết cảm giác sống. Và căn bệnh cao áp huyết, di chứng của một cuộc chấn động tâm thể nặng nề, hành hạ ông hàng ngày, khiến ông xao xác, uể oải lắm lúc và sẵn sàng gây nên những cơn kịch biến hiểm nguy cho tính mệnh ông.


Nhưng, ngoài cái phần thể xác đo đếm, đánh giá rõ rành được ấy, ông còn một con người nữa, con người không nhìn thấy, con người vô hình này đối với Tự còn rất lạ lẫm và bí hiểm. Thoạt đầu, mới chỉ là dăm ba câu đối thoại khi giao đãi thường tình hay tranh luận và đàm tiếu, Tự dã thấy ngờ ngợ: con người này có cái ung dung của lão giả an chi, lại có cả cái dẻo dai của tuổi già còn muốn nhập cuộc. Tổng hợp những câu ông nói, những việc ông làm, Tự nhận ra, ngoài tấm lòng yêu nghề, yêu trẻ tha thiết, ông còn là một nhân cách đàng hoàng. Ông không phải là người blăngtông, tạp vụ, thủ trống mang bóng hình mờ mờ xo xui vô nghĩa ở cái văn phòng con con trong mái trường nho nhỏ này.


Một tối, thấy Tự ngồi cặm cụi chép lại bài Đối nguyệt, thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ chiếc giường mình nằm song song với chiếc phản gỗ của Tự nhìn sang, ông tặc lưỡi:


- Chà, nét sổ khỏe và thẳng. Chữ thầy Tự bay bướm mà vẫn khuôn mức lắm, có thần lắm. Chẳng hay cậu ấm theo đòi Hán học được mấy niên? Đã đọc qua những trang sách thánh hiền nào?


Rấ cách nói văn vẻ cổ nhã của ông, Tự liền đưa đón:


- Kẻ hậu sinh này muốn được tiên sinh mở lòng tâm sự chút ít về mình đã ạ.


Ông cười hòa nhã:


- Nhờ tổ ấm gia phong cũng nhặt nhạnh được dăm ba chữ thánh hiền rơi vãi ở chốn học đường. Nhưng văn chương còn lạc chạc, ý tứ còn nông nổi lắm, đâu dám nhận là tiên sinh, thầy Tự!


*


Thì ra, ông là con dòng cháu giống một dòng họ danh sĩ toàn các bậc đại khoa ở đất Nam Hà khi trước. Tự được cha kèm cặp, dạy dỗ, mới chỉ học hết Tam thiên tự, Ngũ thiên tự, Ấu học ngũ ngôn thi... những bộ sách đơn giản cấp sơ học. Còn ông, ông đã học hết Thiên tự văn, Hiếu Kinh, Minh đại giáo huấn… Học vấn trọn vẹn, ý chí hơn người, ông lại là người gặp thời và lập kỳ công hiếm có. Chính ông là người trai trẻ cầm mã tấu dẫn đầu đoàn nông dân xã mình lên cướp chính quyền huyện lỵ quê nhà, rồi sau đó nhập vai vị chủ tịch ủy ban Cách mạng lâm thời xã, khi cách mạng Tháng Tám bùng nổ và thành công trên toàn cõi đất nước.


“Ấy thế, áo bỏ trong quần, mặt nhà nho dở, văn dốt, vũ dát, nhưng được cái nhiệt thành nên cũng ra tay chèo chống, một thời nhất thống sơn hà Lưu Bá Ôn rồi đấy chứ!”. Kể lại đoạn đời này với Tự, ông nhạo mình như vậy.


Thật tình, ông Thống là con người thực hiện đúngý: Lấy lý trí làm thầy, lấy đời làm gốc. Học vấn và đời sống biến huyền, hòa nhập trong ông, tạo nên một cốt cách riêng. Ông thông thấu, tỏ tường; chứ đâu có phải là ông già lỗ mỗ, ngang ngửa, chăng chớ!


Ông còn bén nhạy tinh tế lắm. Nói về cái tinh ranh của anh học trò đời nay, ông kể:


- Nội quy nhà trường đề ra là: giờ học, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Được! Nó vẫn có cách ra, vào thoải mái, đàng hoàng. Thế này, nó từ lớp ra, đứng một chỗ, chờ tôi ngồi ở phòng thường trực cúi xuống châm điếu thuốc mới nhanh chân bước tới: “Bác ơi, cháu có thằng em học ở lóp 11A, bác cho phép cháu vào...”. Vừa thấy tôi ngẩng lên, nó đã gãi đầu, gãi tai nhăn nhó, đề nghị vậy. Hàng trăm học trò, biết đâu rằng nó đóng giả vai huynh trưởng học sinh. Thế là tôi xua tay: “Anh ra đi, hết giờ học mới được vào”. Trúng kế nó rồi, nó tót ngay ra, mua thuốc lá hút. Lúc sau, lại lợi dụng mình sơ ý, nó tiến đến. Lần này nó trở lại vai học trò: “Bác ơi, đang giờ học, nhưng cháu đói quặn ruột, bác cho cháu ra ngoài cổng…”. Tất nhiên là tôi quát “Vào đi!”. Và nó còn mong gì hơn nữa! Thế là nó ung dung đút hai tay hai túi quần. đủng đỉnh đi vào.


Ông kết luận: “Kín đấy mà hở. Hở đấy mà kín. Ngẫm ra, có cái gì là một chiều, tuyệt đối hoàn hảo đâu”.


Ông còn gần đời, còn hóm lắm. Ông bảo xem phim màn ảnh rộng, con mắt nó thanh thỏa, khác nào như cắn miếng giò ngập răng. Hết loe lại côn, mốt đến rồi mốt đi, hết việc rồi hay sao mà lại hò nhau đi chống mốt. Ông mặc quần ta rộng đũng để “thằng bé con của mình” đỡ nghề ngà, vất vả. Vì đến như các nhà lãnh đạo mặt vuông tai tròn cũng chẳng dám nói mạnh cái khoản này, thầy Tự ạ.


Đặc sắ cả là những nhận xét của ông về các đồng nghiệp. Khi tâm người ta đã gột rửa trong sạch thì nhìn vật gì cũng rõ. Lý thuyết cổ xưa này hết sức đúng. Ông là tấm gương không vương bụi, soi tỏ mọi gốc nguồn sự vật. Tự thật kinh ngạc khi thấy ông rất coi thường Thuật, cả phần đức lẫn phần tài. Ông bảo: chính nhân quân tử là người nói đương há mà kìm ngay lại được, ý đang hớn hở mà thu ngay lại được. Tức giận, ham mê mà tiêu trừ ngay được. Còn như nói cho thỏa thì chỉ là kẻ để dục vọng che lấp chính kiến. Đang bình luận bằng cái khái niệm cổ, ông bắt ngay sang luận điểm thời hiện đại: Tự do có giá của nó đấy. Cứ nói cho sướng miệng đi rồi thu về khinh rẻ của công luận. Ông nói: Gần dây Thuật chớm mắc bệnh tâm thần, thể hưng phấn hoang tưởng. Về bà Thảnh, ông phê hai chữ bỉ tiện, rồi diễn giải: cái bỉ tiện của con nhà vong bản, có thể làm đủ mọi trò nhơ nhuốc mà không thẹn thùng.


Nhận xét của ông về Dương mới thật là bất ngờ. Ông nói: Dương thuộc hạng người chải đầu chải từng sợi tóc, thổi cơm thổi từng hạt gạo; suốt đời theo đuổi ngoại vật, tự làm đui điếc và giết chết cái tâm của mình. Bỏ qua tư cách mõ của Cẩm ông gọi Cẩm là tên bần nông gian giảo, thuộc dòng đạo chích.


Tự và ông Thống chẳng bao lâu còn bén duyên văn tự. Tự nhờ ông kiểm xét, hiệu đính, bình giải nhiều ý tứ, ngôn từ anh còn tồn nghi đây đó trong mấy bài thơ cổ. Ông rất tán đồng sự phát hiện của Tự về tâm hồn của Nguyễn Du, kẻ sĩ quân tử, bậc tài hoa qua bài Độc tiểu thanh ký. Cả hai cùng say cái vui của luận bàn thế sự, cùng đăm chiêu trước mỗi nỗi tỏ mờ của tâm thuật ngụ nơi văn chương. Cùng khắc khoải lo âu vì sự sa sút của nhân cách ông thầy và nghề thầy đang có nguy cơ bị cào bằng như một kế sinh nhai.


Nhưng, một hôm ông đã khiến Tự kinh


Sáng ấy, như thường lệ, Tự nhặt một cành phượng nhỏ cắm vào chiếc lọ hoa nhỏ đặt trên bàn trong phòng ngủ của hai người. Thấy ông nhăn mặt, Tự hỏi nguyên cớ, ông trầm ngâm:


- Hóa công khéo thật, có cái gì đỏ hơn? Ca dao cũng tài hoa: Hoa phượng đỏ não đỏ nùng. Nhưng, ngay cả thần linh thái quá cũng bất cập. Trông hoa mà cứ rơn rởn. Vì cứ nhớ đến lũ tiểu hồng vệ binh bên láng giềng. Ở một trường học nọ, chúng lôi một ông giáo ra đấu tố, quy kết ông là phần tử xét lại, đi con đường tư bản chủ nghĩa, lột truồng ông ra, rồi phết sơn đỏ kín từ đầu đến chân ông, đoạn đem phơi nắng. Như thế là biểu hiện quyết tâm đỏ hóa tư tưởng tầng lớp trí thức. Trần đời chưa thấy cái loạn nào to như cái loạn này, loạn âm dương, thầy Tự ạ!


Chuyện đã biết mà nghe ông nói, Tự vẫn sởn da gà. Có lẽ vì giọng ông thấm nhiễm nỗi đau đời của chính ông. Quả nhiên, lặng im một lúc, ông thở dài đánh thượt:


- Lắm lúc nghĩ, thà cứ là cái anh cổ cày vai bừa đi có hơn không. Sinh ra ở các nước Á châu, mang danh trí thức còm, muốn lập thân mà không bị tủi thẹn là khó lắm, thầy Tự ơi.


Ra là đời ông, đời cha ông lắm tủi thẹn quá. Ông thân sinh ra ông đỗ đạt cao, nổi danh bậc chân nho một vùng, học trò theo học đông cả trăm ngàn, ngồi dạy học ở hương thôn mà lương phạm không bằng viên thơ lại cấp huyện. Lại bị thằng huyện Quát đồng hương dốt đặc cán táu, mưu đồ bỏ rượu lậu vào vườn nhà không xong, lập tang chứng giả, vu ông có liên lạc với hội kín, đầy ông lên miền thượng du lam sơn chướng khí. Được ba năm, ông thân sinh vừa đau ốm vừa phẫn chí liền bỏ việc, về quê ở ẩồng dâu nuôi tằm. Bỏ nghề mà vẫn thương nhớ nghề nên lại bắt ông Thống theo đòi nghiệp cha. Cũng là một cách để con nên người hiểu hĩ.


“Có nhẽ sai lầm lớn nhất của tôi là đã nghe lời ông thân sinh, theo đuổi nghề gõ đầu trẻ, thầy Tự ạ”. Ông Thống cười, cười mà như mếu. Bài học rút ra từ quá khứ sao mà chua chát? Vậy mà có lý! Vì đùng cái, giữa cái năm thứ mười hai của chế độ dân chủ cộng hòa, ông thân sinh đã ngũ thập niên đang hân hoan trước cuộc hồi sinh của đất nước văn hiến sau hòa bình lập lại năm 1954, thì bị lũ du kích đầu trâu mặt ngựa xịch tới, trói cánh khỉ, áp điệu một hơi tới đình làng. Còn ông Thống, ai bảo ông đang có cơ thăng hoa trên hoạn lộ, lại dở chứng con nhà nòi, xin từ chức chủ tịch xã, bước lên bục ông thầy tuần vài ba buổi giảng văn học cổ trường trung học huyện, để đến nông nỗi bị tóm cổ ngay trong giờ dạy trích đoạn “Thúy Kiều mắc oan”. Khốn nạn, oan này còn hơn oan nhà Thúy Kiều. Địa chủ, cường hào gì với ngôi nhà gạch ba gian và một căn nhà ngang đặt nong tằm với hai bà vợ quê mùa chăm nghề canh cửi! Làm nên tội tình gì cái cảnh nhà nhờ gia phong tiên tổ vẫn giữ được nề nếp, nên nghèo mà vẫn thanh sạch, thảnh thơi, vẫn giữ cái thú tao nhã uống rượu, thưởng nguyệt, ngắm hoa, thi thoảng lại tụ họp bạn bè tri âm ngâm vịnh mấy bài thơ cổ hoặc hàn huyên chuyện cũ, bàn luận chuyện thời này. Buồn thay, xưng xuất không còn là thằng huyện Quát, đành là vậy rồi, mà lại chính mấy gã thợ cày vắt mũi chưa sạch mới leo lên ghế chính quyền xã, huyện, được kích thích, trỗi dậy cơn tức hứng lật đổ, và chọc giời khuấy nước.


Loạn này là loạn âm dương, gây nhiều đau đớn lắm. Ông thân sinh ra ông Thống bị truy bức, uất quá phải thắt cổ tự vẫn. Cụ nhất định không chịu nhận là cường hào địa chủ ngồi mát ăn bát vàng, cộng tác với đế quốc, bóc lột sức lao động của hai bà vợ và mấy người con. Còn ông Thống chưa đến nỗi bị lũ học trò yêu ma lột truồng phết sơn, nhưng cũng bị lôi ra trước hiệu đoàn học sinh để chúng nó bôi gio trát trấu vào mặt. Nòi địa chủ ác bá chui vào nghề là có mục đích làm vấy bẩn các tâm hồn trong ngọc trắng ngà của chế độ mới. Tội ấy là tội lớn nhất. Tội thứ hai là say sưa đề cao cổ văn, đạo đức phong kiến lỗi thời phục vụ cho giai tầng bóc lột.


May mà có sự nhận biết tỉnh táo và sửa chữa. Nhưng, hành kỷ hữu sỉ, không biết xấu hổ còn đâu là người nữa, còn mặt mũi nào ở lại làng quê! Lòng tự trọng không cho phép mình trở lại cái quan hệ bình thường trong giao tiếp với những kẻ hôm qua lăng nhục mình. Thêm nữa, cũng chính là để giữ mình khỏi sa vào cơn uất khí thường tình, có thể dẫn tới những hành vi bột phát bất lợi, ông Thống bỏ làng quê lên miền núi dạy học.


Đoạn đời ba đào nơi đất lạ cũng mang phong vị ở ẩn để quên lãng một đoạn đời tủi nhục của cái kẻ mang danh tiểu trí thức chân không đến đất cật không đến giời. Miền ngược yên ả. Nhưng cũng không vơi được nỗi nhớ cố hương. Tuy vậy, ngoại năm mươi, vào độ tuổi tri thiên mệnh, ông Thống mới tính đường trở lại làng quê.


Tình cờ một buổi từ miền ngược về, đến Sở Giáo dục thành phố tìm bạn để nhờ bạn mối manh giúp đỡ thì gặp Cẩm. Hóa ra Cẩm cũng quê Nam Hà cũ. Lúc ấy, Trường Trung học số 5 này mới thành lập. Mới chỉ có bộ khung lãnh đạo, Cẩm mới được điều động về sau một vụ tai tiếng vì ái tình, đang muốn thu phục nhân tâm và tìm bè kết bạn. Cẩm hất hàm hỏi: “Về cái làng quê cổ hủ đố kỵ của ông mà làm gì? Ở thành phố này, nếu nhớ bà xã thì nước mã hồi chỉ có nửa ngày tàu tốc hành thôi không hơn ư? Nhưng mà, nếu tôi giới thiệu ông về trường tôi, thì ông làm được việc gì nhỉ?”.


Ông Thống ngần ra trước câu hỏi sỗ sàng và có lý của Cẩm. Anh chàng xuất thân mõ làng có cái ranh của mõ làng thật. Quả thật, bây giờ ông Thống biết làm gì? Tuổi


đã cao. Hơn chục năm qua chỉ quen dạy i tờ, thanh toán mù chữ cho người Mèo, người Dao trên rẻo cao. Chấn động năm xưa đã phá vỡ thế cân bằng nội tại, mở đường cho bệnh tật ùa vào cơ thể. Dấu hiệu lão hóa đã xuất hiện. Những xúc cảm âm tính, một lời nhục mạ chẳng hạn, cũng đủ tạo nên các ổ kích động tiêu cực ở vỏ não, tăng đột ngột áp huyết. Một đời người ngắn ngủi thường chỉ có một hai cơ hội thăng tiến, bị mất là mất mãi. Nay thân bại, danh liệt, đôi khi cơn ấm ức nổi dậy cũng muốn làm thằng Chí Phèo một phen, nhưng cốt cách nhân phẩm không cho phép; còn nói đến cái đà mới để lập nghiệp thì đã quá muộn và còn đâu là hào hứng nữa mà thực thi. Mới ngẫm ra: cái anh trí thức sống vì danh. Hổ danh nó một lần, nó tủi nhục cả đời. Nó có thể khổ vì chính danh, thậm chí chết cho chính danh.


Ông Thống chép miệng:


- Blăngtông, tạp vụ, văn thư, thường trực, thủ trống... Việc gì ở trường học tôi cũng làm được.


Cẩm gật:


- Được rồi! Nhưng tôi phải nói ngay với bác điều này. Hiện giờ thì chưa. Nhưng trước sau thì tôi cũng lên làm lãnh đạo trường này. Vậy, bác phải hứa với tôi ba điều: Một, không đòi nhà ở. Hai, không đòi tăng lương. Ba, không đòi vào đảng. Đó là ba điều mà ai ở cương vị lãnh đạo cũng luôn bị quần chúng đòi hỏi và không thể thỏa mãn được.


Ông Thống ứa nước


- Tôi đâu có yêu cầu cao thế ạ!


Dốc bầu tâm sự với Tự xong, ông Thống kết luận:


- Thầy Tự ạ, cuộc đời nó có là mẹ hiền như người ta nói đâu. Nếu nó có là một người mẹ thì là một người mẹ bất học bất tri lý, một người mẹ ghẻ, thầy Tự ạ.


Tự lại gai gai cả người. Y như cái lúc anh nhìn thấy dòng chữ “Đời là vại dưa muối hỏng” viết ngay ngắn, đầy ý thức, như một tuyên ngôn, ở trên tấm bảng đen buổi dạy học hôm rồi. Anh nhìn ông Thống, vừa đồng cảm, vừa phân ly với ông và tự hỏi: “Sao thế nhỉ? Mình và ông, cũng là hai cái sản phẩm của những cuộc chấn thương kia mà”.


Tuy vậy, từ hôm ấy, nhìn hoa phượng, có lúc Tự thấy ghê ghê.


CHƯƠNG 10


Ba giờ chiều, nắng xói đầu hồi văn phòng, nơi ông Thống đặt bếp sắc thuốc. Nhấp nhổm bên cái ấm đang sôi lục đục, ông thư ký văn phòng như kẻ đang có mối lo ngổn ngang trong lòng.


- Thầy Tự này, sao im ắng thế nhỉ!


- Bác bảo cái gì?


- Học trò... các phòng thi...


- À, chiều nay thi toán. Thi toán bao giờ mà chẳng căng thẳng.


Ông Thống đưa mắt nhìn dãy phòng thi ắng lặng như chốn không người, nghe Tự giải thích, đã yên lòng được phần nào, lại cúi xuống chụm củi, giữ cho ngọn lửa lom dom giữa ba ông đầu rau đen thui. Ấm là đất, thuốc là lá cây trinh nữ mọc hoang ở đường tàu cắt về phơi khô, sao vàng, hạ thổ. Nhưng sắc đúng kiểu cách, đảm bảo nguyên lý tương giao kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Mọi chi tiết, dẫu tầm thường, cũng không xử lý chăng chớ. Ba bát gạn một. Uống trước bữa ăn, trước khi ngủ. Nhất nhất đều được ông Thống thực hiện một cách cẩn thận. Cứ như ông đã được huấn luyện đến mức thành thục. Nước lá cây hoang chứ có phải dược liệu quý hiếm gì, mà bưng bát thuốc lên, ghé môi ông cũng chẹp chẹp, trịnh trọng như uống thần dược.


- Thầy Tự cười cái gì thế? - Uống hết bát nước sắc chữa bệnh cao huyết áp, ông Thống ngẩng nhìn Tự.


Tự vẫn chưa tắt ánh cười trên mặt:


- Bác Thống ạ, làm thầy được hưởng một cái thú mà các nghề khác không có. Đó là, thường thường mỗi thầy cô được học trò tặng thêm cho một tên nữa thường là phụ danh kèm theo. Tôi nhận ra, ngoài ý nghịch ngợm, trêu chọc, việc đặt tên thêm ấy còn thể hiện một mong muốn của con người l nói lên được bản chất đối tượng một cách ngộ nghĩnh nhất.


Ông Thống che miệng, ho khẽ một tiếng:


- Thầy lại muốn khảo cứu đề tài này chăng?


- Chưa đâu. Nhưng, tôi nghiệm ra, những tục danh học trò nó đặt cho ta phần nhiều là thần tình lắm.


Ông Thống ôm dầu:


- Chúng hại tôi với cái tên Thống lý thì có. Hóa ra mình cứ bị phơi mặt ra trước thiên hạ rằng ta đây là nòi địa chủ, quan lại. Mà kỳ tình sửa sai đã định vị cho mình chỉ là anh hương sự nghèo thôi.


Tự lắc đầu:


- Không! Xét cái thần thái con người bác mới thấy học trò nó ranh. Tên các vị khác thì rõ rồi. Còn bác? Tên bác nói cái tầm cỡ bác dấy. Nghiệp bác là nghiệp bá đấy. Tay bác đẹp thế kia cơ mà. Vì vậy, bác Thống ạ, dù dời có là mụ dì ghẻ độc ác đoạ dày ta thì ta cũng cứ phải dùng nhân cách của ta để chống trả lại nó. Bác thừa sức để tự khẳng định, bác Thống ạ.


Ông Thống rầu rầu:


- Tôi cảm ơn thầy. Tôi biết lòng thầy, thầy Tự ạ. Thầy có nhớ hôm rồi tôi có nói một câu khi thầy có ý định cáo lỗi vì dạy muộn mất mấy phút không? Đấy! Có viên ngọc tốt thầy chẳng nỡ giấu đi là vậy. Tôi chỉ muốn nói thế này: tôi thì như chuông rè trống thủng mà dùi chày lại gẫy mục rồi. Còn thầy, anh hoa thày còn phải được phát tiết. Thầy đừng nói tôi nịnhầy là bậc chí nhân, thuận với người mà không bỏ mình. Thầy phải được ở vị trí xứng đáng. Chứ còn...


- Tôi nói với bác như vậy vì nhận ra bác có vẻ như là bi quan...


- Khổ thế đấy, thầy Tự ạ. Tôi có mấy ý nhỏ thế này: Tây người ta mặc quần bò thì đứng đắn, dân mình mặc thì thành bụi đời. Đít cô vào mình thì thành trò giật gân nhăng nhố. Tóc dài vào mình thì thành cao bồi dở. Ấy thế, mình là anh không nền tảng, bụng rỗng không, nên hay học người. Học người không dễ. Có trình độ thì mới học được cái tinh, không thì chỉ nhặt lấy cái thô. Học mót là học cái thô. Không học thì thành ma quỷ đã đành. Mà học dở dở ương ương có khi lại còn ma quỷ hơn cả ma quỷ. Sợ nhất là lắm anh giờ đây là cái thùng chứa tả pí lù, đủ cả Tây, Tàu, các lý thuyết, chủ nghĩa. Mà có cái gì nên hồn. Học ở đâu ra cái lối hay hạch lạc, xét nét, bó buộc, áp chế nhau nhỉ? Ông Mác, ông Lênin bảo là phải cho thằng mù dẫn đường cho người sáng mắt à? Ấy, suỵt!


Ông Thống đang sôi nổi bỗng suỵt một tiếng ngăn chặn. Có tiếng chân người bước gáp gấp ở phía sau hai người. Rõ ràng là ông Thống sợ. Ông đằng hắng một tiếng rõ to, rồi nghển cổ, lảng chuyện, thật tội nghiệp:


- À, thầy Tự. Nghe nói thầy có kho sách vở, tư liệu quý lắm. Vậy tôi đồ thầy: điển tích của cái sự nghỉ hè vào tháng sáu nó là thế nào nào?


Tự đứng dậy, quay lại phía sau.


Cẩm từ dãy phòng thi đang sầm sập đi tới, mặt đầm đìa mồ hôi và hốt hoảng gọi.


- Tự ơi, cấp đến nơi rồi!


*


Vẫn lại ông Dương ngồi trước bức tường vinh quang trên chiếc ghế chủ tọa, nhàn nhã và trang nghiêm đọc nhật báo trong văn phòng. Đặt cái cặp bìa nilông xuống bàn, Cẩm rút khăn tay, lau mồ hôi mặt và trạt quanh cái cổ đỏ tía màu dâu da.


- Gay quá, anh Dương. Tôi vừa đi thị sát thí sinh ở bốn phòng thi về.


Dương bỏ tờ báo, ngước hai mắt kính:


- Thí sinh thi ấy, hả?


- Chứ còn ai nữa. Tắc hết cả lũ!


- Tắc cái gì?


- Toán!


- Toán nào?


- Toán thi chứ còn toán nào! - Cẩm sẵng. Rất hiếm khi Cẩm dám sẵng với Dương như vậy.


Dương vuốt đường gấp tờ báo, chậm rãi:


- Tôi tưởng anh lên Ủy ban quận hay Sở xây dựng về. Cứ ngỡ là tắc khâu duyệt kinh phí bổ sung hay thông qua cái luận chứng kinh tế xây dựng thêm mấy lớp học cho năm học tới.


Ngoài cửa, Tự và ông Thống vừa bước vào. Cẩm như tìm được người cùng tâm trạng.


- Tự này, mừng cho môn văn của cậu sáng qua bao nhiêu thì hôm này buồn cho môn toán của ông Thuật bấy nhiêu.


Ông Thống kêu sốt sắng:


- Sao vậy, thầy Cẩm?


- Tắc cả lũ.


- Chết!


- Thật chẳng bù cho văn tẹo nào. Trông bài nào cũng ăm ắp sáu, bảy trang, vừa buột miệng: như thế thì rất tốt thì ăn luôn quả toán đắng này!


Hình như Dương bây giờ mới hiểu rõ đầu đuôi câu chuyện. Dương nhằn nhằn môi:


- Lạ nhỉ! Sao cậu Thuật dám cam đoan trước mặt tôi rằng...


- Cam đoan cái lỗ miệng! Ít nhất là ba phần tư lớp cắn bút!


- Đứng trên quan điểm toàn diện mà xét thì...


- Toàn diện cái gì! Bài thi là cụ thể!


- Thế thi được bao lâu rồiSắp hết giờ rồi. Bài lý thuyết còn gọi là có làm. Chứ còn bài đại, bài hình, bài lượng thì cả những đứa được phong là cây toán, vua toán cũng vã mồ hôi đánh vật.


Dương bỏ kính, ngu ngơ hai con mắt dài dại.


Cẩm vò đầu, rấm rứt:


- Gay nhất là con cái mấy đồng chí lãnh đạo quận, thành phố. Năm nay là cái năm gì thế không biết? Đã đoán trước rồi! Đã đe nẹt rồi! Đã phòng ngừa rồi! Giờ ăn nói làm sao đây? Cả một năm trời nỗ lực hóa ra xuống song, xuống biển cả ư?


Có tiếng chân giầy lộp cộp ở ngoài sân. Nhìn ra, mọi người thấy Thuật quần soóc nâu, giầy đá bóng sứt sẹo, tay cầm một xếp giấy quăn queo, mặt khó đăm đăm đang hấp tấp bước vào.


Ông Thống đưa luồng mắt tới Thuật, rụt rè.


- Thầy Thuật đã xem đề thi Toán chưa?


Không đáp ngay. Thuật ngồi ịch xuống ghế, đập một xếp giấy lên mặt bàn, ngửa đầu trên thành ghế, thở phì phì một hồi, rồi sõng một câu:


- Có mà làm ăn mày!


Cẩm xấn ngay tới cạnh Thuật, hoảng hồn:


- Sao? Không làm được? Tại sao không làm được?


Thuật thẳng đầu dậy, hai mắt đỏ ké, lừ lừ:


- Ăn đói. Mặc rách. Sách giáo khoa thiếu. Điện đóm phập phù. Tiêu cực nhan nhản. Thầy không ra thầy, trò hư hỏng đằng trò. Một tạ chất xám không bằng một đám mồ hôi. Làm cái con tườu!


Cẩm ôm đầu, trề môi như mếu:


- Đây là trường mình thôi. Ngộ nhỡ học sinh các trường khác họ làm được thì sao. Trời ơi là trời!


- Thôi im đi, ông!


- Im thế nào được, hả trời?


Chồm dậy, nhấm nước bọt vào ngón tay trỏ, Thuật giở loạt xoạt xếp giấy. Được chừng mươi trang, ông giáo toán dừng lại. Mọi người đổ xô mắt tới. Thì ra, Thuật đã từ nhà phóng tới trường từ lúc thí sinh vừa nhận xong đề bài thi. Thuật đã xin đề toán và đã ngồi ở một xó lớp cắm cúi làm bài. Mấy trang giấy liền trong xếp giấy, trang nào cũng chi chít con số và la liệt các hình tròn, hình đa giác, hình nón. Bây giờ, hình như vừa sực nhớ điều gì, nhà toán học lại rút bút bi trên túi ngực, chọc xuống mấy cái hình đã vẽ, lẩm nha lẩm nhẩm như cầu khấn đoạn lại lật trang khác, xóa xóa gạch gạch liên hồi. Hy vọng sẽ có một điều may mắn nào đó đột ngột xuất hiện ở mấy nét bút và lời khấn thì thầm ấy của pháp sư hay sao mà mọi người đều im bặt và ngó nhìn như bị thôi miên?


Nhưng than ôi, phù thủy đã đập tay đánh xoạng lên mặt bàn và ngáp một hơi thật dài:


- Có mà làm! Đến thầy chúng mày một tiếng đồng hồ còn chưa xong đây này!


Cẩm nhăm nhó:


- Sao lại thế được?


- Khó chứ sao nữa.


- Tức là cao quá?


- Không phải là cao quá!


- Hay là ngoài chương trình?


- Không phải ngoài chương trình!


- Thế thì phải làm được chứ?


- Không làm được!


- Sao lại không làm được?


- Hỏi ngu thế mà cũng hỏi. Dốt thì không làm được chứ sao nữa!


Hai nét vạc từ chân mũi vòng qua má hoằm xuống, Cẩm than ảo não:


- Thế thì còn ra thề thống gì nữa cơ chứ!


Ông Thống nhấc tập giấy nháp của Thuật lên xem, mặt lộ rõ buồn phiền. Cẩm chợt nhớ ra điều gì, đấm mạnh nắm tay xuống bàn:


- Có lẽ tôi phải báo cáo


Thuật bất ngờ chồm dậy, giật tập giấy trên tay ông Thống, đưa tay cản Cẩm bước về phía chiếc bàn đặt máy điện thoại:


- Hãy khoan chiềng làng, chiềng nước, ông. Có khi, ừ, có khi đề ra sai cũng nên.


- Sai à? Ừ, có thể lắm chứ!


Cẩm đâm bổ trở lại, săn đón hí hửng, giục Thuật:


- Ông xem kỹ lại đi. Không có lẽ học sinh mình ngu dốt cả. Xưa nay… ông cũng nổi danh là...


- Thôi, im đi! - Thuật gắt.


Gõ tạch đầu bút bi lên mấy cái hĩnh vẽ nát bươm, Thuật lầm rầm:


- Có thể quá đi chứ. Hai câu hỏi lý thuyết, câu hỏi về diện tích hình nón, câu hỏi về đạo hàm đều có chỗ mập mờ. Còn bài toán bắt buộc: “Cho hàm số y bằng...” có thể in nhầm dấu. Hừ, sao mà bài hình và bài lượng lại quá nhiều câu hỏi vặt thế!


Nhưng, chính Thuật cũng thấy không thể tự lừa mình lâu hơn nữa. Vứt cả tập giấy nháp xuống đất, Thuật ngồi thừ, im lặng. Lát sau, khi Cẩm thôi không còn thúc ép Thuật trả lời nữa, Thuật mới xì một hơi dài:


- Chẳng có gì là lạ hết.Tất cả đã vào phương trình rồi. Gieo cái gì gặt cái nấy. Gặp một bài toán khó, nghĩ ba phút không ra, một trăm đứa không có nổi một đứa tiếp tục suy nghĩ. Học trò của chúng ta bây giờ là thế đấy, các vị ạ!


Cẩm gieo mình xuống ghế ngao ngán:


- Tôi biết ngay mà!


- Ông biết cái gì?


- Biết rằng cuối cùng là các anh đổ hết cho học trò.


- Học trò thế thì thì đến mười, một trăm ông giáo tài giỏi như tôi cũng chịu.


- Thế thì giáo viên để làm gì? Chung quy là thầy không ra thầy.


- Ông im đi!


- Chứ còn gì!


- Vậy thì có lúc nào các ông tự hỏi mình: lãnh đạo đã ra lãnh đạo chưa không?


Dương từ nãy giờ như kẻ ngoài cuộc, giờ vội giơ hai tay lên đầu, vỗ bồm bộp:


- Bình tĩnh các đồng chí! Phải xem xét vấn đề một cách toàn diện. Từ từ rồi sẽ phân tích. Đổ vấy cho nhau, hoặc đổ cho học trò, hay quy kết cho cấp trên, lúc này đều không có lợi! Tôi đề nghị các đồng chí nhớ yêu cầu thứ ba của kỳ thi.


Vô tác dụng, nếu không nói là Dương đã đóng vai một anh hề. Cẩm và Thuật đã nổi khùng. Cả hai đều dã đứng dậy, áp sát nhau. May thay, dập tắt được cuộc va chạm vừa bi vừa hài nọ, lại là một cơn tuỳ hứng bất thần của bà giáo Thảnh:


- Các vị làm gì mà tụ tập đông thế này?


(còn tiếp)


Nguồn: Đám cưới không có giấy giá thú. Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng. NXB Lao động in lần đầu năm 1989. Các NXB in nhiều lần.


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 22.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 09.03.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 09.03.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.03.2017
Hồi ký điện ảnh - Đặng Nhật Minh 14.02.2017
xem thêm »