tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19011409
Những bài báo
09.09.2016
Nhiều tác giả
Có nên dạy chữ Hán trong nhà trường?



Khôi phục việc dạy chữ Hán trong nhà trường - một phương pháp quan trọng để giữ gìn tiếng Việt và văn hóa Việt Nam


PGS, TS Đoàn Lê Giang


Khi phát biểu trong Hội thảo ở Viện Hán Nôm (27-8-2016) tôi có nói: 6 năm trước tôi đã từng có tham luận đề nghị dạy chữ Hán trong nhà trường để giữ gìn tiếng Việt và văn hóa Việt Nam, tuy nhiên nếu nói trong tình hình bây giờ thì rất khó, vì tâm lý thực dụng và chống Trung Quốc rất cao ở nước ta. Một vài ý tưởng ấy đã được Vietnamnet tường thuật và đưa lên mạng.


Sợ mọi người không hiểu hết ý nên tôi phải đưa nguyên văn bài tham luận của tôi trình bày trong Hội thảo “Phát triển và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trong thời kỳ hội nhập quốc tế” (2010), bài viết có tên "Khôi phục việc dạy chữ Hán trong nhà trường - một phương pháp quan trọng để giữ gìn tiếng Việt và văn hóa Việt Nam".


Sau đó hai bài viết ấy lan truyền rất mạnh trên các mạng xã hội với nhiều ý kiến trái chiều, gay gắt. Tôi xin nói rõ suy nghĩ của tôi ở đây với mong muốn những người ngoài chuyên môn cũng hiểu được.


Một phần đáng kể lịch sử và văn hóa Việt còn nằm trong những di sản Hán, Hán - Nôm - Minh họa: Internet


Một phần đáng kể lịch sử và văn hóa Việt còn nằm trong những di sản Hán, Hán - Nôm.


1. Trước hết cần phải nói rõ: chữ Hán là gì? Có phải tiếng Hán, tiếng Trung không?


Chữ Hán là chữ được sinh ra từ nền văn hóa Trung Hoa cổ đại, vào nước ta từ đời Hán (đầu CN), được các thế hệ cha ông ta Việt hóa nó, đọc bằng âm Hán - Việt (tương tự như Hàn Quốc có âm Hán - Hàn, Nhật Bản có âm Hán - Hòa (Oyomi). Chữ Hán đã tạo nên 60-70% vốn từ vựng tiếng Việt [Ví dụ: Hà Nội hoàn thành chỉnh trang đền Ngọc Sơn và cầu Thê Húc, thì có lẽ 100% là từ gốc Hán các thời khác nhau].


Lưu ý trong chữ Hán cũng có khá nhiều từ có nguồn gốc Việt cổ (ví dụ có nhà ngôn ngữ học đã chứng minh nguồn gốc Việt của 12 con giáp, khá thuyết phục). Có người nói với tôi nên dùng chữ Nho cho khỏi lầm. Dùng cũng được, nhưng nó không chuẩn, vì chữ ấy không chỉ dùng trong các văn bản Nho, mà cả Phật, Đạo hay những loại văn hóa khác.


Có người nói nên dùng chữ Hán Nôm. Tôi thì không dùng vì trên đời không có chữ đó, mà chỉ có chữ Hán và chữ Nôm. Vậy chữ Hán là nói tắt của chữ Hán cổ đọc theo âm Việt. Cách nói này rất phổ biến, và được giới nghiên cứu mặc nhiên thừa nhận. Vậy chữ Hán không phải là tiếng Hán, càng không phải Trung văn.


2. Tại sao chúng ta phải học chữ Hán?


Vì hai lý do chính:


(1) Lý do thứ nhất: Chúng ta muốn hiểu sâu được tiếng Việt thì chúng ta cần biết gốc gác nó ra sao, tra cứu nó thế nào. Ví dụ: từ Minh Tâm, nghĩa là sáng lòng, vì chữ Minh là sáng. Nhưng học trò thắc mắc thế U Minh thì là gì, sáng tối à? Không, Minh trong trường hợp này lại là Tối. U Minh là mờ mịt. Học trò lại hỏi: Thế Đồng Minh là cùng sáng à? Không, Đồng Minh là cùng phe, vì nó xuất phát từ nghĩa: cùng hội thề. Vì chữ Minh là Thề.


Vậy làm thế nào để cô giáo trả lời học sinh những câu hỏi ấy, làm thế nào cho học sinh không hỏi cô mà cũng biết được. Có hai cách: 1) học âm Hán - Việt, tự tra từ điển tiếng Việt. Đa số những người giỏi tiếng Việt hiện nay đều hình thành bằng con đường ấy. Nhưng thực ra họ cũng không thật tự tin vì từ ngữ thì vô bờ, sai đúng lẫn lộn, người ta không thể tự tin hoàn toàn được. 2) học chữ Hán để có ấn tượng là chữ Hán rất nhiều từ đồng âm, nhiều nghĩa khác nhau. Sau đó biết cách tra từ điển. Từ điển chữ Hán có nhiều loại, rất phức tạp, phải học để có một chút vốn liếng mới tra được. Bằng cách này người ta có thể tự tra cứu, tự học tiếng Việt suốt đời.


(2) Lý do thứ hai: Học chữ Hán để cho chúng ta hiểu được văn hóa Việt Nam, chúng ta cảm thấy gắn bó với ông cha. Vì từ trước khi bỏ chữ Hán hoàn toàn vào đầu thế kỷ 20, toàn bộ di sản văn hóa Việt Nam được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm (một thứ chữ được hình thành từ chữ Hán). Chúng ta học chữ Hán để chúng ta hiểu sâu tiếng Việt, từ đó có thể hiểu được vốn văn hóa Việt Nam.


Văn hóa cổ dù có được dịch ra tiếng Việt, như các công trình của Lê Quý Đôn chẳng hạn, nếu không có vốn chữ Hán nhất định, đọc vẫn rất khó hiểu. Đọc “Truyện Kiều”, nếu có biết chữ Hán, chữ Nôm thì mới hiểu thấu đáo cái hay của nó. Chúng ta nếu có biết chút ít chữ Hán thì đến các di tích văn hóa (đình chùa miếu mạo), nhìn một tập thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, chúng ta không thấy xa lạ, không thấy mình là “những đứa con thất cước của giống nòi” (chữ của Hoài Thanh).


Sâu xa hơn, chúng ta là người Việt, trong văn hóa chúng ta có một phần văn hóa Đông Á. Chúng ta coi trọng gia đình, sống cần kiệm, đề cao đức liêm chính, hiếu kính, hiếu học... Tất cả những điều ấy có xấu không, có nên bỏ không, và có bỏ được không? Tôi không nói Phương Tây không có điều ấy, đạo đức Phương Tây được hình thành từ Thiên Chúa giáo và văn hóa truyền thống của họ, còn đạo đức chúng ta thì từ văn hóa bản địa và văn hóa Đông Á (Nho, Đạo thuộc về văn hóa Hán, Phật thì gốc Ấn Độ).


Những điều ấy được các bậc hiền triết Phương Đông nói rất hay và từ rất sớm, các sách vỡ lòng chữ Hán ngày xưa vừa dạy chữ, vừa dạy người thông qua các sách đó rất thú vị và dễ nhớ. Vậy chúng ta có nên học một chút tinh hoa từ đó qua sách chữ Hán nhập môn không? Nếu chúng ta chỉ lo đuổi theo Phương Tây và bằng lòng với ngôn ngữ chat, tin nhắn, với loại văn bản lổn nhổn tiếng Anh lẫn tiếng Việt thì rõ ràng đó là nguy cơ cho sự trong sáng của tiếng Việt và mai một văn hóa truyền thống.


3. Học chữ Hán có dễ không?


Dễ mà khó. Nếu học để trở thành học giả uyên thâm dịch được sách vở cổ thì rất khó, nhưng học để biết một số chữ, để biết tra từ điển Hán Việt, từ đó có thể tự học tiếng Việt suốt đời thì rất dễ. Vì người học chỉ học có hai kỹ năng: đọc, viết, mà không phải học kỹ năng nghe, nói. Đồng thời học chữ Hán như xem tranh, như học ghép hình rất dễ nhớ và thú vị.


Tôi muốn tổ chức một nhóm biên soạn một cuốn “Vui học chữ Hán” để dạy cho HS cấp 2 (như kiểu nhóm Phan Thị làm ở đằng sau bộ truyện tranh (kiểu manga) “Thần đồng đất Việt”, mỗi tập vài chữ). Trong thực tế học sinh chuyên văn phổ thông năng khiếu hàng năm đều có học mấy chục tiết chữ Hán, các em học rất thú vị và tiến bộ rõ rệt khi sử dụng từ Hán - Việt và học văn học cổ điển Việt Nam.


4. Ai là người dạy chữ Hán?


Có đấy, các khoa ngữ văn ở Hà Nội, TP.HCM, Huế đều có sinh viên Hán - Nôm, học viên cao học Hán - Nôm, và các sinh viên Văn học cũng được học hơn 100 tiết chữ Hán cơ sở và nâng cao.


5. Dạy chữ Hán trong nhà trường như thế nào?


Có nhiều cấp độ khác nhau. Học sinh Trung học Cơ sở học 1 tiết/ tuần trong môn Ngữ văn theo kiểu “Vui học chữ Hán” - chữ Hán bằng hình ảnh. Dạy thế này rất dễ, thầy cô có một chút vốn Hán - Nôm đều dạy được. Nếu trường không có thầy cô biết Hán - Nôm thì bài ấy là tự chọn, thích thì tự học, không thì thôi.


Lên Trung học Phổ thông thì học sinh chuyên ban Khoa học Xã hội có thể tự chọn học sách chữ Hán cơ sở trong môn Ngữ văn, sách này có thể tự học vì nhìn chung môn chữ Hán đều có thể dễ dàng tự học. Nếu học sinh có hứng thú thì có thể học tiếp lên chuyên ngành ở đại học. Có thể hình dung môn chữ Hán như môn tiếng La Tinh ở các trường tinh hoa ở Mỹ và châu Âu.


Cần nói thêm là học chữ Hán không ảnh hưởng gì đến tiếng Anh là ngoại ngữ bắt buộc hay các ngoại ngữ khác: Pháp, Nhật, Trung. Mỗi môn này theo tôi phải học từ 8-12 tiết/ tuần.


Đại khái tôi đề nghị và hình dung việc học chữ Hán trong trường phổ thông như thế. Nhưng ít ai đọc hết tham luận của tôi. Hơn nữa tham luận của tôi được trình bày trong hội thảo chuyên ngành, nhiều kiến thức được coi là đương nhiên, nhiều tiền giả định bị lược bỏ, nhiều kết luận đã lược bỏ lập luận... nên người đọc phải có kiến thức cơ sở một chút mới hiều đúng.


Trên mạng đa số người ta chỉ đọc cái tít giật gân và tường thuật sơ lược của Vietnemnet rồi “nhảy dựng” lên. Đa số không phân biệt được chữ Hán với tiếng Hán, tiếng Trung. Không phân biệt được từ Hán - Việt, ngành Hán - Nôm, hay “từ” với “chữ” Hán... Thế nhưng ai cũng có ý kiến: đọc rồi cũng nói, không đọc cũng nói, biết cũng nói, không biết cũng nói, biết dở dở ương ương cũng nói.


Có người còn nhắn tin, gửi email riêng cho tôi gọi mày tao, dọa nạt như tôi có tư thù gì với họ. Có người gửi email đến hạch sách: ông còn dám giữ ý kiến nữa không? (đến khi tôi gửi mấy bài đính kèm, nói ông đọc đi rồi mới trao đổi, người ấy đọc xong bèn “meo” lại: tôi không đồng tình hết, nhưng ông nói có lý. Rồi thôi!). Ồn ào đến mấy ngày, lưu truyền trên rất nhiều trang FB cá nhân, và cả blog, website danh tiếng.


Người ta chỉ nghe cái tít thôi, có người còn rút tít xuyên tạc để dễ chửi: “Học tiếng Hán để cứu sự sụp đổ của Tiếng Việt” rồi vu cho tôi chủ trương quay lại dùng chữ Hán chữ Nôm thay cho chữ quốc ngữ La Tinh (!). Thế rồi cứ hè nhau, đọc nhau rồi chửi, lại nhân đó mà trút mọi bực dọc xã hội, chửi hết những người có bằng cấp, giáo sư... hệt như những người chưa hề đến trường bao giờ.


Tất nhiên có rất nhiều người hiểu biết, phân tích, trình bày một cách có lý lẽ, người thì nhiệt liệt đồng tình, người thì đồng tình có mức độ, người thì nêu ra những khó khăn hay điều kiện để chủ trương ấy thành khả thi, v.v...


Qua việc này, tôi rút ra được ba điều:


(1) Tâm lý thực dụng trong xã hội rất cao, đa số chỉ muốn học cái gì ra để kiếm tiền ngay, kiếm nhiều tiền, chứ ít quan tâm đến vấn đề xa xôi hơn: tiếng Việt, văn hóa Việt Nam...


(2) Tâm lý chống Trung Quốc rất mạnh: muốn “thoát Trung” là thoát hết, không dính dáng gì nữa, mà không cần biết tiếng Việt có đến 60-70% từ gốc Hán, văn hóa Việt có một phần rất quan trọng là văn hóa Á Đông. Tôi không thấy ở đây một lòng tự hào dân tộc mà ngược lại, nó phản ánh một mặc cảm tự ti về văn hóa, vị thế và sức mạnh của dân tộc ta.


(3) Tâm lý đám đông, đám đông thích vào hùa, ta đây, sẵn sàng “đánh hội đồng”, đấu tố mà rất ít dùng đến sự suy xét hay phản tỉnh của lý trí.


Và điều ấy khiến cho những người làm văn hóa, giáo dục hay quản lý xã hội rất cần suy nghĩ.


Nói cho công bằng, đề nghị đưa chữ Hán giảng dạy trong nhà trường thì tôi không phải là người đầu tiên hay duy nhất. Nếu không kể các thời trước thì chừng hơn 10 năm nay đã có nhiều người đề nghị, như GS. Cao Xuân Hạo (nhà ngữ học hàng đầu Việt Nam thế kỷ 20) đề nghị học chữ Hán xuất phát từ tính ưu việt của nó; GS. Nguyễn Đình Chú (nhà ngữ văn hàng đầu) đề nghị học chữ Hán vì tính quan trọng của nó đối với môn ngữ văn; GS. Toán học Nguyễn Cảnh Toàn (Thứ trưởng Bộ Giáo dục trước đây) đề nghị học chữ Hán vì chữ Hán giúp hình thành các thuật ngữ khoa học dễ dàng, chặt chẽ và giúp hiểu rõ văn hóa Việt Nam (*)...


Tôi thì đứng từ điểm nhìn các nước văn hóa chữ Hán: Nhật, Hàn, Đài Loan (không phải Trung Quốc) - những nước vừa phát triển hiện đại vừa giữ gìn ngôn ngữ và bản sắc dân tộc của họ mà để đề nghị học chữ Hán (Hán - Việt), nhằm làm sao giữ gìn, phát triển tiếng Việt và văn hóa Việt Nam. Tôi thuộc những người đánh giá rất cao vai trò của ngôn ngữ và văn hóa đối với sự trường tồn của dân tộc mà đề nghị như thế. Tôi tin rằng: Tiếng Việt còn thì văn hóa ta còn, văn hóa ta còn thì nước ta còn.


ĐLG./vietnamnet.vn


NHÓM XÃ HỘI NÀO SẼ BẢO VỆ TIẾNG VIỆT ĐẾN CÙNG?


Lại Nguyên Ân Facebook


Bàn chuyện này có thể người ta sẽ dẫn ngay câu của Phạm Quỳnh "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn...".


Nhưng tôi muốn bàn chuyện này với những nhân tố khác.


Nói đến việc một cộng đồng (một tộc người hay nhiều tộc người sống chung trong một không gian địa lý-chính trị) giữ gìn được lâu dài tiếng nói/ngôn ngữ (chung, duy nhất) của mình qua nhiều thế kỷ, thế hệ, cần phải thấy vai trò của một yếu tố thụ động là nếu tại đó có SỰ KHÔNG THỂ THAY ĐỔI NGÔN NGỮ, đây có lẽ là cái sẽ đóng vai trò quan trọng.


Làm sao cộng đồng ấy không thể thay đổi ngôn ngữ:


a/ Cộng đồng ấy tương đối đông đảo đến nỗi mọi âm mưu/ý đồ (tốt, xấu) thay đổi ngôn ngữ (chủ động, cưỡng bức...) đều vô hiệu.


Singapore dân ít, gần như một thành quốc chứ chưa phải quốc gia, nên có thể buộc cư dân lấy Anh ngữ làm ngôn ngữ phổ thông chính thức. Nhưng chỉ cần xứ ấy có nhiều lên chừng 20 triệu, (có đô thị có thôn quê, có vùng sâu vùng xa) hoặc ít hơn một chút, như Cambodge chẳng hạn, cũng thấy khó mà thay ngôn ngữ bằng cưỡng bức học một thứ tiếng mới nào đó.


b/ Trong cộng đồng ấy có (hay bao giờ cũng có?) một số lượng khá đông đảo (trên dưới 50%?) những người trung bình kém cả về kinh tế lẫn năng lực trí tuệ (khả năng học ngoại ngữ kém; yếu về khả năng kinh tế để có thể bố trí thời gian nghỉ ngơi, học hành, bổ túc trí tuệ, v.v.)


Tóm lại, nói một cách không lịch sự gì mấy, thậm chí hơi trắng trợn, thì khi trong cộng đồng có một lượng kha khá người nghèo và ngu dốt, thì khả năng thay đổi ngôn ngữ dù một cách chủ động hay một cách bị động đều khó xảy ra, khó thực hiện; cũng tức là có khả năng bảo tồn được ngôn ngữ mẹ đẻ!


Đây có vẻ như một quy luật không hay ho gì, không đáng khoe khoang, nhưng lại gây tác động thực sự đến đời sống ngôn ngữ con người ?


Tôi nghĩ điều này nhân dăm, mười năm trước, trò chuyện với anh H., có lần anh bảo: Giả như Quang Trung không chết sớm và đòi được (hay chiếm thêm được) châu Ung châu Khâm, hay là khuất phục vua Thanh nữa, rồi chẳng hạn, lên làm vua toàn đất Tàu trung cổ, thì không chừng dân Việt sẽ mất nước, sẽ thành dân trung nguyên, vì sẽ nghe được nói được tiếng Quan thoại, bỏ rơi tiếng Việt!


Tất nhiên lịch sử không có “giá như”.


Nhưng nhân quan sát về điều có vẻ là quy luật kể trên, ta lại thấy khả năng giữ gìn tiếng Việt mạnh mẽ nhất không khéo lại là từ phía những đồng bào dốt và nghèo!


Đừng nói “Truyện Kiều còn tiếng ta còn…”, nói thế hơi văn chương, hơi ảo tưởng!


Hãy thấy khi vẫn còn con số khá đông những đồng bào vừa nghèo nên khồng thể học hành tử tế đến nơi đến chốn, vừa tối dạ đến nỗi trước sau chỉ nói được nghe hiểu được một ít tiếng mẹ đẻ vốn được tiếp nhận từ khi sinh ra ngay tại gia đình, cha mẹ, người thân, v.v., thì khi ấy tiếng Việt vẫn còn!


Hãy tưởng tượng đến một ngày nào đó, hầu hết người Việt có học hết PTTH đều nghe nói được tiếng Anh, sách báo trong nhà ngoài ngõ tràn ngập chữ Anh, khi ấy có thể ai còn nói tiếng Việt sẽ bị coi là phường kém cỏi, trì độn, nên tiếng Việt sẽ ít phổ biến dần dần ở các không gian sang trọng.


Nhưng khi ấy tiếng Việt vẫn không mất đi, bởi vẫn còn những người vừa nghèo vừa dốt vẫn nói với nhau bằng tiếng Việt, vẫn viết chữ Việt, đơn giản vì ngoài nó người ta không biết và không thể dùng bất cứ thứ tiếng nào khác.


Chỉ khi ấy người ta mới thấm thía rằng bộ phận nghèo và dốt mới là bộ phận đồng bào giữ gìn được tiếng mẹ đẻ!


Có một mối nguy là khi nghĩ ra điều nói trên, ta bỗng thấy bớt đặt sự tin cậy vào giới bác học đi chút ít ! Ta bỗng thấy cái ngôn ngữ ở chợ quê, ở hè phố, ở nhà quê, có sức sống lâu bền của nó!


5/9/2016


LNA.


Bạn facebook bình stt của Lại Nguyên Ân:


Tùng Vũ Luận giải ngược chiều mà chuẩn đét!


Hồ Hải Thụy Rất hay! Lập luận có lập trường hơn cả Mác-Lê. Và nắm đúng bản chất của ngôn ngữ.


Vuong Tran Ngoc Ý này độc và nhiều sự thật


Tran Le Hoa Tranh "Thôn ca sơ học tang ma ngữ"...


Thư Hiên Vũ Tôi từng ân hận khi còn nhỏ có dịp học chữ Nho ở mấy thầy đồ trong làng để hiểu ngọn ngành từ nguyên của từng từ Việt mà không học. Nhưng rồi sau thấy ngôn ngữ Việt mình có cũng đủ dùng để khi đọc thì hiểu được người viết muốn mình hiểu họ nói gì, khi nói thì mọi người đều hiểu mình, nỗi ân hận kia cũng mất tiêu. Mấy vị yêu Nho kể ra cũng đúng – giá mình biết chữ Nho thì tốt hoặc tốt hơn. Nhưng kinh nghiệm cá nhân cho tôi thấy không biết cũng không sao. Vậy, nó chẳng phải là cái không biết thì… chết.


Giang Nguyen Anh Lại Nguyên Ân ko cần lo xa quá vì các cộng đồng chỉ cần 1-2 triệu là đủ để giữ ngôn ngữ của họ một cách tự nhiên, còn cộng đồng nhỏ hơn (700-800 nghìn) như người Basque ở TBN mà có chính sách bảo hộ đúng thì vẫn tồn tại trong lòng một ngôn ngữ chủ đạo toàn bộ Espanol. VN có gần 100 triệu dân thì tiếng Việt còn 'rất khoẻ', chỉ có chất lượng sử dụng là cần bàn thôi.


Thi Đào “Khi trong cộng đồng có một lượng kha khá người nghèo và ngu dốt, thì khả năng thay đổi ngôn ngữ dù một cách chủ động hay một cách bị động đều khó xảy ra, khó thực hiện; cũng tức là có khả năng bảo tồn được ngôn ngữ mẹ đẻ!”


Lý thuyết này khó đứng vững ...See more


Từ Khôi Tranh luận khá sắc và thú vị


Giang Nguyen Cộng đồng Do Thái không giữ được ngôn ngữ nói và sống ở đâu dùng tiếng nước đó. Nhờ đạo Do Thái có các kinh Talmud, Tora bằng tiếng Hebrew cổ nên sau nhiều thế kỷ một phong trào tạo dựng Tân Hebrew mới hình thành, dùng các từ cổ tạo mới và thêm vào nhiều từ của Yiddish, thứ tiếng chưa chuẩn hoá của người Do Thái châu Âu, gồm nhiều từ Đức, BL, Nga.


Thư Hiên Vũ Người Do Thái vẫn có ngôn ngữ Do Thái để trò chuyện với nhau. Sách báo chắc cũng có.


Giang Nguyen Bây giờ thì họ có tiếng Hebrew kiểu mới rồi ạ, sử dụng chủ yếu ở Israel


Thái Kế Toại Năm 1995 tôi đi Chang may Thái Lan, có được hai ông già quê Hà Nam- Phủ Lý đưa đi tham quan. Tôi rất ngạc nhiên các ông còn giữ được những từ rất cổ của vùng đồng bằng Bắc Bộ mà tôi chỉ nghe được từ thời ông bà nội ngoại tôi nói lúc còn sống.


Like · Reply · 5 · 5 September at 15:02


Trịnh Thanh Nhã Giá trong môn Tiếng Việt ở trường phổ thông có thể dành ít thời gian để giảng về từ cổ gốc Việt trong Vh cố - cận - dân gian thì có ích hơn. Đó chính là dạy về ty đất nước tổ tong mình vậy.


Trịnh Thanh Nhã Ô hay, thì bản sắc dan tộc vẫn đc bảo tồn ở nhà que đấy thôi! Giàu thì sính ngoại. Giàu trí tuệ đem trí tuệ ngoại dọa người. Giàu tiền đem đồ ngoại loè người. IEM cứ nói tiếng Việt của iem thoi, vì IEM nghèo và yêu bản sắc của iem!


Từ Khôi Sự thực ngàn năm Bắc thuộc đã chứng minh


Trịnh Thanh Nhã Ngàn năm Bắc thuộc, và vài trăm năm sau đó bị Tàu ra sức Hán hoá mà ta vẫn còn được là người Việt. Thậm chí thời nhà Minh xam lược, đốt sách bắt nho sĩ, nam tài nữ đẹp đưa về TQ nhằm xoá sổ văn minh Việt, ta vẫn trỗi dậy nhu một dan tộc bất khuất. Nay bắt trẻ em học chữ Hán để tìm cội nguồn và hướng tới tương lai, chả phải là ngụy ngôn lắm sao?


Từ Khôi Học chữ hán dành cho những nhà nghiên cứu thôi


Trịnh Thanh Nhã Đúng, nghiên cứu là nghiên cứu, dành cho số ít. Còn học tiếng Anh, Pháp... Là để có cơ hội kiếm việc làm. Hai thứ khác nhau. Hồi năm 1954, người Bắc đi cư vào Nam, sau này nghe họ nói, mới thấy phần lớn giữ chuẩn tiếng Bắc, nhất là tiếng Hà nội gốc. Họ vẫn giàu, vẫn hoà nhập và vẫn cứ chỉ là chính họ. Tôi yêu tiếng nước toi, tiếng xứ tôi!


Nguyễn Khôi Một phát hiện CHUẨN, đáng suy ngẫm, dám nhìn thẳng vào sự thật...


Nhất Phương Người không mắc virus zika thương không hay mình bị chứng đầu ngắn


Niem Tran Anh LNA sẽ viêt tiêp về sự tồn tại tiếng Việt sau hàng ngàn năm Hán hóa chứ?


Giang Đoàn Lê Anh Lại Nguyên Ân chỉ nhìn vào một phía thôi. Nếu chỉ có những người nghèo và dốt giữ tiếng mẹ đẻ thì may lắm giữ được như tiếng Tagalog của người Philippines, tiếng Mường...Còn ngôn ngữ giảng dạy được ở ĐH, viết văn, viết các công trình khoa học (ngôn...See more


Lại Nguyên Ân Đúng là chỗ này tôi chỉ nói khía cạnh tiếng mẹ đẻ làm sao còn lại ở dạng cùng cực thôi; nhưng nên biết đến điều này để nghĩ đến trạng thái các thứ tiếng đang trên đường tuyệt diệt, hoặc các thứ tiếng các dân tộc thiểu số ở ngay VN ta. Tôi nhìn thấy số ...See more


Lại Nguyên Ân Cái người lên tiếng đòi bỏ tiếng ta đi học chữ Pháp là Hồ Duy Kiên, ông ấy bảo tiếng Việt là patois, khó cho việc học cao lên, nên học trò cần học tiếng Pháp. Những năm 1920-30 trong số dân nhà giàu ở Nam Kỳ xuất hiện quan niệm thực dụng, họ thấy cho c...See more


Trịnh Thanh Nhã Học tiếng gì cũng đc, là để kiếm cơm. Ai thấy cần cái tiếng nào thì học tiếng ấy. Còn tuổi thơ bé của người Việt cứ nói hay nói giỏi tiếng mẹ đẻ đã là một thành tựu rồi, ta không nén kỳ thị tiếng nước khác, nhung bắt con cháu học tiếng nước khác, lại là tiếng Hán mà ta ghét từ khi nằm trong noi ấy thì... Không phải nhé, đúng không bác Lại Nguyên Ân?i


Nguyễn Khôi Tộc người H´mông, người Chăm tuy không có Quốc gia riêng nhưng do lối sống kết cấu dòng họ/ bộ tộc..nên không bị đồng hóa , còn giữ được tiếng nói Mèo, chữ Chăm...người Dao có tổ Bàn Vương sống ở nhiều Quốc gia nhưng vẫn có tiếng nói , chữ viết riêng...


Đặng Hữu Phúc Tôi chơi với ông Thái Bá Tân từ những năm 1980, hồi đó tối tối tôi và ông Tân hay đi bộ quanh hồ Ha le.


Ông Tân nói với tôi rằng ông ấy đọc Truyện Kiều bằng bản dịch ra tiếng nước ngoài, vì đọc bằng tiếng Việt ông ta không hiểu. Đấy là một nhà văn mà còn như vậy.


Lại Nguyên Ân Hồi những năm 1980 thì ông Thái Bá Tân còn ở trạng thái ... tối và gàn. Anh em ở Nxb TPM bọn tôi có nhiều giai thoại về các thói gàn của ổng lắm. Mãi gần đây ông ấy mới trưởng thành về ý thức chính trị.


Đặng Hữu Phúc ông Tân muốn dùng ngữ pháp của Tây để "nâng cao" ngữ pháp Việt. Vì vậy lối hành văn của ông ấy như là... Tây


Lại Nguyên Ân Ông áy có quan điểm dịch thơ rất kỳ, là ở nguyên bản gieo vần kiểu nào thì ở bản dịch cũng phải làm như thế. Cố nhiên dần dần ổng sẽ thấy cái cố chấp ấy không xài tiếp được. Hoặc ông ấy làm quyển "Cổ thi tác dịch" tức là đem các bản dịch của dịch giả Việt trước đây ra sửa lại rồi in thành sách, việc này thật ra mấp mé đạo bản dịch. Nhưng ông ấy cứ làm. Ông ấy mê viết truyện ngắn, đặt yêu cầu mỗi ngày viết xong 1 truyện, còn đưa ông Vũ Tú Nam xem; anh VTNam nhận xét với tôi: cậu ấy khá biết cách viết, nhưng sự sống thì không có. Sau này ông ấy kiếm sống tốt bằng dạy tiếng Anh nên ông ấy thư thái thưa thớt hơn trong chuyện viết và dịch. Cái khá nhất là anh Tân luyện thành thục kiểu văn vần 5 chữ, dùng để diễn đạt mọi thứ, trong đó có loạt bài về thời sự chính trị vừa rồi. Chắc ông ấy quá cao hứng, lại gãi đúng vào tâm lý bài Tàu của số đông người nên gây tác động lớn. Rồi có thể ông ấy bị cớm đến nhắc nhở, hăm dọa, nên ông ấy buộc phải tịt ngòi, lái bút chệch hướng đi...


Đặng Hữu Phúc Lại Nguyên Ân bác có thể tưởng tượng đc đây là thơ của ông TB Tân, viết như một tuyên ngôn:


Thơ của tôi là thơ người khác


Nhưng tôi xin nhắc lại, của tôi


Tôi vẫn xem dù tốt dù tồi


Thơ tôi dịch là thơ tôi sáng tác


Đặng Hữu Phúc Bút tích của Thái Bá Tân


Lại Nguyên Ân Đặng Hữu Phúc Nói chung ngôn từ thơ Tân không thể đặc sắc được. Bao giờ nó cũng có chút gì đó máy móc !


Nguyen Xuan Duc Có thể tham khảo thêm trường hợp Ấn Độ


Giang Đoàn Lê Lại nói về bằng cấp. Nguyễn Thị Kiêm (nữ sĩ Manh Manh) cùng chị gái học ở trường nữ đầu tiên ở SG - trường Áo Tím/ Gia Long/ Nguyễn Thị Minh Khai sau này. Manh Manh học xong tú tài thì tham gia đời sống báo chí, văn học (có thể cả chính trị), được biết đến như nhà thơ, nhà lý luận bảo vệ thơ mới, nhà đấu tranh cho nữ quyền. Cô chị học giỏi, được sang Pháp du học, lấy được bằng TS văn chương, rồi quay về trường Áo Tím dạy. Đến nay thì chẳng ai biết cô ấy là ai, làm được gì - dù bằng cấp rất cao. Đấy cũng là bằng chứng cho thấy: bằng cấp cao chưa hẳn đã tạo ra giá trị của con người. Cám ơn anh Lại Nguyên Ân đã cho biết tên cái ông đề nghị dùng tiếng Pháp thay tiếng Việt.


Lại Nguyên Ân Bà Manh Manh cuối đời cũng sang Pháp sống. Tội cho bà là tình yêu với thi sĩ Lư Khê lại không có sản phẩm là đứa con; bà chủ động ly dị để Lư Khê đi lấy vợ sinh con kế thừa giòng dõi. Sau đó bà sang Pháp sống.


Giang Đoàn Lê Dạ, và chết ở nhà dưỡng lão.


An Lai Tội thế! Bà ấy là con gái một trong những nhà giàu Nam Kỳ chớ bộ! Tôi nhớ có bài ai đó viết đám nữ tập kịch ở nhà bả, toàn là gái nhà khá, hẳn cũng đẹp, mà người nam chỉ có một, là ông viết kịch Diệp Văn Kỳ! Trời ơi, đoạn đầu đời với đoạn cuối đời khác nhau quá xá. Mà ông Nguyễn Đức Nhuận chủ PNTV cuối đòi cũng chết trong nhà thương thí. Nghe mà buốt hết cả ruột! "Đời là thế" -- Ông Phan Khôi lúc chết cũng nói mỗi câu ấy!


Huệ Chi Nguyễn Khoảng cuối cuộc đời làm sao mà như khoảng đầu được. Tôi viết mục từ Manh Manh trong "Từ điển vắn học bộ mới", khi đọc tài liệu tôi cứ nghĩ rằng nữ sĩ đã rút lui đúng lúc khỏi văn đàn, một cách hành xử rất tự trọng, khi mình đạt đến đỉnh cao nhất thì rút lui.


Giang Đoàn Lê Có hồi ký còn viết khoảng thập niên 1940 đến trước 1945 Manh Manh có tham gia rải truyền đơn cho tổ chức nào đó. Vậy con đường đi đến phản kháng bạo lực (trước 1945) hình như là một quá trình gần như tất yếu của trí thức VN!?


Lại Nguyên Ân Ứng xử với văn chương thì Manh Manh nữ sĩ rất cốt cách rồi, chả có gì đáng chê cười bà ấy cả. Chỉ thương cảm cuộc đời một phụ nữ không có cái đoạn cuối vui cùng con cháu mà thôi.


Giang Đoàn Lê Còn nói về chết thảm trong nghèo khổ thì ai bằng Trần Chánh Chiếu. Giàu có ức vạn, ruộng đất cò bay thẳng cánh, là ông chủ của mấy KS Minh Tân, chủ mấy cơ sở sản xuất xà phòng, dân làng Tây. Cuối cùng sau khi tù tội thì chết thảm trong nghèo khổ, mộ phần đến nay chưa tìm thấy.


Huệ Chi Nguyễn Đúng là thảm. Số phận con người. Nhưng cũng chưa thảm bằng bà Nguyễn Thị Năm. Có nhìn hình bà ấy bế một đứa con đứng bên 3 đứa khác hình như lúc ở Hải Phòng, mới thấy khuôn mặt thật là thánh thiện. Từ khi được nhìn hình đó, và nghĩ đến lúc bà ấy mệnh một, những gì còn lại trong tôi đổ sụp hoàn toàn.


Huệ Chi Nguyễn Lại Nguyên Ân có hơi nhầm. Lúc đầu tôi cũng nghĩ nếu mình có thêm Lưỡng Quảng từ thời Quang Trung thì nhất định sẽ nhập vào Tàu từ lâu, nhưng năm 1988 sang TQ đến Thiên An Môn mới biết tất cả những ai đến Thiên An Môn hôm đó đều là người Tàu nhưng mỗi anh nói một thứ tiếng, không ai nghe được ai. Thì ra vùng nào vẫn giữ nguyên tiếng nói của vùng ấy, đến nỗi tôi nói rất dở mà họ vẫn tưởng tôi là người Bắc Kinh vì tôi nói tiếng phổ thông. Nhà nước phong kiến Tàu và THDQ cũng như Trung Hoa CS chỉ mới thống nhất được dân tộc về mặt chữ viết mà thôi. Đó là một nguy cơ khiến nước Tàu bị xé lẻ không biết khi nào, nên mới đây anh Tàu cộng mới ra một cái lệnh là các tỉnh và khu tự trị đều phải nói tiếng phổ thong, không được nói tiếng địa phương nữa. Nhưng chắc gì lệnh mà đã sớm trở thành hiện thực.


Dzung Hoang Huệ Chi Nguyễn Tiếng Hán là một xét về mặt lịch sử. Còn hiện nay, nếu đứng trên bình diện ngôn ngữ học thì các phương ngữ Hán hoàn toàn có tư cách là một ngôn ngữ riêng vì phân hóa đến mức người nói phương ngữ này không hiểu người nói phương ngữ kia. Trường hợp tiếng Việt thì khác: tiếng Việt dù vay mượn nhiều từ vựng Hán (60-80% tùy từng tác giả) nhưng vẫn là một ngôn ngữ riêng, không có liên hệ cội nguồn gì với tiếng Hán.


Nguyễn Việt Long Giang Đoàn Lê Chào anh Giang. Hân hạnh được gặp anh ở đây. Bài về học chữ Hán & Nôm của anh gây bão. Tôi định phản biện vào tường của anh nhưng không được vì chủ thớt không để chế độ cho người ngoài bình luận. Tôi có phản biện bài của anh trên phương diện logic thuần túy trên trang của tôi (chia làm 3 kỳ). Mời anh đọc và phản hồi nếu thấy cần thiết.


Nguyễn Huệ Chi Dzung Hoang: Lại Nguyên Ân đặt vấn đề nếu Lưỡng Quảng rơi vào tay VN thời Quang Trung thì ta có bị Tàu nuốt không, có nghĩa là tiếng Việt có bị Quan thoại hóa hay không. Nhưng mình đã trả lời khó có khả năng đó, tuy nhiên cũng có thể chữ viết thì nhanh chóng thống nhất theo chữ Tàu, vì chữ Nôm vốn đã là vay mượn của Tàu rồi.


Giang Đoàn Lê Nguyễn Việt Long Cám ơn anh đã quan tâm đến bài viết của tôi. Tuy nhiên chuyên môn của anh quá khác với tôi, kiến thức nền của anh và tôi, các sách đã đọc của anh và tôi cũng rất khác nhau, cho nên nếu thảo luận với anh thì tôi phải trình bày lại từng tí một những điều ấy - mà từng tí như thế có khi cũng là một bài giảng. Rất mất thì giờ của anh và của tôi. Bài viết của anh cũng đã được/ bị một người bạn FB của anh phản biện lại rồi, về cơ bản ý kiến ấy nói thay cho tôi. Tôi xin chép lại: "Hai Kieu: Em thấy giờ mà tranh luận theo kiểu bắt bẻ từng câu như anh có mà hết ngày. Đồng ý là anh Giang có những phát biểu mang tính chủ quan, duy ý chí nhưng không khó để nhận ra, đó là tí "thủ pháp" bay bổng nhằm gây chú ý (nhưng ở góc độ nào đó thì cũng không hẳn là không có lý). Cả hai phản biện của anh đều là ngụy biện và cái phần thắng mà anh nói đến chỉ là anh tự nghĩ như thế thôi. Ít nhất, không phải cứ đông là thắng, anh ạ."


Dzung Hoang Nguyễn Huệ Chi Chữ là để ghi ngôn ngữ. Tiếng Việt đã không phải là tiếng Tàu thì làm thế nào mà chữ viết tiếng Việt "nhanh chóng thống nhất theo chữ Tàu" được? Chữ Nôm tuy vay Tàu nhưng không phải Tàu. Người Tàu không đọc được chữ Nôm. Trong khi đó, vì tiếng Tàu căn bản là thống nhất về ngữ pháp và về từ vựng, chỉ khác biệt về ngữ âm, nên tuy nói thì không hiểu nhau nhưng viết theo kiều chữ khối vuông thì người nói phương ngữ nào cũng hiểu. Đó là một trong những lý do mà người Tàu không chấp nhận Latin hóa vì hệ chữ Latin là chữ phiên âm; mỗi phương ngữ có một hệ thống ngữ âm riêng, dẫn đến có một hệ chữ Latin riêng, tức chữ viết không còn là phương tiện để thống nhất dân Tàu, mà trái lại, làm dân Tàu chia rẽ.


Giang Đoàn Lê Nguoi TQ hình thành từ nhiều tộc khác nhau, rất khác nhau về văn hóa, và có thể cả ngữ hệ nữa: Người Hán ở lưu vực Hoàng Hà, người Mãn, (Nội) Mông ở Bắc-Đông Bắc, người Hồi ở Tây Bắc, người Tạng ở Tây Nam, người Bách Việt ở phương Nam. Vậy làm sao mà họ có ngữ pháp, từ vựng giống nhau như PGS Dzung Hoang nói được. Đề nghị anh Dzung Hoang nói rõ hơn về điều này.


Nguyễn Huệ Chi Dzung Hoang, ta hãy giả định - mà là sự thật - là hàng trăm phương ngữ hiện tồn tại ở TQ, vốn xuất phát từ hàng trăm ngôn ngữ của những dân tộc bị Đại Hán thôn tính, trong đó có ngôn ngữ của những dân tộc Bách Việt (những ngôn ngữ này có lẽ gần gũi với tiếng Việt dù ít dù nhiều, nhất là về ngữ pháp không nói ngược). Vậy thì vì sao đến nay những ngôn ngữ đó đều đồng quy được về cùng một chữ viết là chữ Tàu? Cho nên, tuy chỉ là giả định, vẫn không thể khinh suất trong cách nghĩ cả tin rằng nếu chúng ta có được Lưỡng Quảng cách đây 300 năm thì tiếng Việt vẫn không đời nào mượn chữ Hán để làm chữ viết cho tiếng Việt.


Nguyễn Việt Long Anh Dzung Hoang đang nói về tiếng Tàu (Trung Quốc) và nói đúng thì anh Giang lại hiểu là người Trung Quốc (gồm cả các dân tộc thiểu số nói ngôn ngữ riêng)! Tiếng Tàu có nhiều phương ngữ nhưng thực chất là những thứ tiếng khác nhau khi nói không hiểu nhau (các nhà ngôn ngữ học nói rằng chúng xa nhau hơn cả các ngôn ngữ châu Âu so với nhau), chỉ đồng quy về chữ viết. Các nhà ngôn ngữ học phân loại có tới dăm bảy phương ngữ như vậy: Cán /Cám, Ngô, Khách Gia, Quảng Đông, Mân, Tương. Trung Quốc cọi tất cả các phương ngữ này là 1 ngôn ngữ còn vì lý do chính trị. Trong khi đó người Tạng (mà anh giang nói đến) vẫn có tiếng Tạng, người Mãn hay người Mông Cổ có tiếng nói riêng của họ (không phải là phương ngữ tiếng Hán).


Giang Đoàn Lê Chịu anh Nguyễn Việt Long, anh bàn đến cả ngôn ngữ nữa thì chịu anh thật! Thà tôi tra google còn hơn nghe anh giải thích. Người Việt và người Hán là hai tộc khác nhau, cũng như Mãn, Mông vậy.Nguyễn Việt Long


Nguyễn Việt Long Anh chịu khó đọc Britannica Concise Encyclopedia, mục từ Chinese languages, trong đó có nói: Linguists regard the major dialect groups of Chinese as distinct languages, though because all Chinese write with a common system of ideograms, or characters (see Chinese writing system), and share Classical Chinese as a heritage, traditionally all varieties of Chinese are regarded as dialects. Important dialect groups other than Mandarin are Wu (spoken in Shanghai), Gan, Xiang, Min (spoken in Fujian and Taiwan), Yue (including Cantonese, spoken in Guangzhou [Canton] and Hong Kong), and Kejia (Hakka), spoken by the Hakka.


Mục từ dài của bản không rút gọn có trên mạng đây:


https://www.britannica.com/topic/Chinese-languages


Trích: The spoken varieties of Chinese are mutually unintelligible to their respective speakers. They differ from each other to about the same extent as the modern Romance languages. Most of the differences among them occur in pronunciation and vocabulary; there are few grammatical differences. These languages include Mandarin in the northern, central, and western parts of China; Wu; Northern and Southern Min; Gan (Kan); Hakka (Kejia); and Xiang; and Cantonese (Yue) in the southeastern part of the country.


Chinese languages


Principal language group of eastern Asia, belonging to the Sino-Tibetan language family. Chinese exists…


BRITANNICA.COM


Giang Đoàn Lê Tra từ điển nhập môn thì bàn làm gì cho mất thì giờ anh Long?


Nguyễn Việt Long Đó là kiến thức cơ bản anh ạ.


Giang Đoàn Lê Cái này thì tôi biết từ 40 năm trước, hồi còn học ĐH.


Nguyễn Việt Long Ngay bài viết của tôi cũng bàn về logic câu chữ trong bài viết của anh chứ chưa nói đến kiến thức cao siêu, nhưng anh né bằng cách nói về chuyên môn của tôi và của anh, như thể anh có chuyên môn và đúng hết, không có thời gian giảng cho tôi nghe, he he. Những cái lỗi logic tôi vạch rachủ yếu là ở diễn đạt tiếng Việt.


Nguyễn Việt Long Thế tôi mới thấy lạ là anh Dzung Hoang đang nói về ngôn ngữ thì anh lại chuyển thành người (công dân của 1 nước).


Nguyễn Việt Long Trong bài viết này tôi còn bàn về đề nghị bất khả thi của anh nữa cơ:


Dường như cũng thấy những bất cập nếu chuyển hoàn toàn sang pinyin, một vị tiến sĩ đề xuất: “Nhân danh địa danh ở thời kỳ “đồng văn” (từ thế kỷ 19) nên nhất loạt dùng phiên âm Hán - Việt. Chúng ta sẽ đọc/ viết là Khổng Tử, Giả Nghị, Đào Uyên Minh, Đỗ Phủ, Tương Giang... Nhưng tên riêng Trung Quốc thời kỳ tình trạng “đồng văn” chấm dứt (từ đầu thế kỷ 20 trở đi), chúng ta nên đọc/viết theo đúng âm Bắc Kinh (bính âm). Nếu chưa thực hiện được ngay thì tên riêng Trung Quốc đương đại (từ sau 1979) nhất thiết phải đọc/ viết theo quy tắc ấy”1. Một đề xuất nửa vời gây sự thiếu nhất quán, đứt khúc về thời gian như vậy phỏng có nên? Chưa nói đến việc khó khả thi (hoặc nhà báo, dịch giả công đâu tra cứu việc này) khi xác định nhân danh, địa danh nào xuất hiện trước năm 1979 (hoặc trước đầu thế kỷ 20), nhân danh, địa danh nào xuất hiện sau năm 1979 (hoặc sau đầu thế kỷ 20) và xuất hiện ở đâu để quyết định phiên âm Hán Việt hay pinyin?


https://www.facebook.com/nguyen.v.long.3?sk=notes_my_notes


Giang Đoàn Lê Logic của anh là logic hình thức, nó hơi đơn giản. Kể cả câu anh vừa nói. Tôi nghĩ anh chắc có nhiều thì giờ nên anh bàn sâu cả những chuyện rất xa chuyên môn của anh. Tôi không muốn nói chuyện không vui với người xa lạ, không cùng cách nghĩ. Tôi rất muốn không được hầu chuyện anh.


Nguyễn Việt Long Tôi nhầm link, đúng ra là bài này:


https://www.facebook.com/notes/nguy%E1%BB%85n-vi%E1%BB%87t-long/d%E1%BB%8Bch-thu%E1%BA%ADt-v%C3%A0-phi%C3%AAn-%C3%A2m-b%C3%A0n-th%C3%AAm-chuy%E1%BB%87n-%C6%B0u-khuy%E1%BA%BFt/610707222282913


DỊCH THUẬT VÀ PHIÊN ÂM: BÀN THÊM CHUYỆN ƯU KHUYẾT


(tên gốc: CÓ NÊN DÙNG PHIÊN ÂM LATIN THAY ÂM HÁN VIỆT ĐỐI VỚI TÊN RIÊNG TRUNG QUỐC?)


Đăng trên Tuổi trẻ cuối tuần số 27-2013 ra ngày 21-7-2013, tên bài và các đề mục do Tòa soạn báo đặt


Người Việt ta xưa nay vốn quen dùng âm Hán Việt trong tên người hay địa danh Trung Hoa. Những cái tên Tư-mã Thiên, Khổng Tử, Khổng Minh, Tào Tháo, Đỗ Phủ, Bắc Kinh, Hàng Châu, … đã ăn sâu trong tâm trí chúng ta. Nhưng từ dăm năm trở lại đây, có một số ý kiến muốn áp dụng lối phiên âm Latin của Trung Quốc, gọi là pinyin (âm Hán Việt là bính âm hoặc phanh âm) thay cho tên gọi Hán Việt quen thuộc. Lý lẽ biện hộ cho quan điểm này là pinyin phù hợp với “thông lệ quốc tế” trong xu thế hội nhập hiện nay, dễ tra cứu và phát âm giống tên gốc hơn. Thậm chí dùng âm Hán Việt còn bị quy kết là  “rào cản hội nhập”!


CỘI NGUỒN CỦA BÍNH ÂM


Trước hết ta hãy điểm qua lý do, lịch sử hình thành và phát triển của pinyin. Chữ Hán không phải là chữ ghi âm dựa trên một bảng chữ cái, mà là chữ biểu ý, còn gọi là chữ tượng hình, do đó phải có một hệ thống phiên âm kèm theo dành cho người học. Sau khi nước CHND Trung Hoa được thành lập, nhằm mục đích xóa nạn mù chữ, nâng cao dân trí, Quốc vụ viện (chính phủ) Trung Quốc đã tiến hành cải cách chữ viết cho dễ học dễ viết bằng cách lược bớt một số nét (hoặc viết đơn giản hơn) một số chữ Hán phức tạp, từ đó tạo ra loại chữ giản thể, đồng thời lập quy tắc phiên âm cho chữ Hán bằng hệ chữ cái Latin, gọi là pinyin (tên đầy đủ là Hán ngữ bính/phanh âm – Hanyu pinyin).


Hệ thống phiên âm pinyin về cơ bản ra đời năm 1958, sau đó được hoàn thiện và dạng thịnh hành hiện nay được thông qua năm 1978. Năm 1981 Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO) công nhận pinyin là chuẩn phiên âm Hán ngữ. Sách báo Pháp, Anh, Mỹ bắt đầu sử dụng pinyin vào đầu thập kỷ 1980, nhưng phải đến cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ mới tiến hành chương trình chuyển đổi toàn bộ phiên âm tên riêng Trung Quốc từ hệ Wade-Giles cũ sang pinyin. Pinyin cũng được sử dụng tại Liên hợp quốc từ năm 1977 sau khi Trung Quốc trở thành thành viên của tổ chức này (1971). Tuy nhiên, pinyin đã không thực hiện được tham vọng ban đầu là thay thế hẳn Hán tự, vì hai lý do chính: 1) có nhiều từ đồng âm nên dễ gây hiểu lầm hoặc khó đoán nếu không viết hẳn mặt chữ Hán ra; 2) tồn tại nhiều phương ngữ với các cách phát âm khác nhau đối với cùng một mặt chữ, trong khi pinyin dựa trên tiếng phổ thông (lấy phương ngữ Bắc Kinh làm chuẩn), do đó nếu chỉ viết dạng Latin hóa theo âm đọc, sẽ có nhiều người ở chính Trung Quốc không hiểu nếu họ không thạo tiếng phổ thông.


Vậy thì trước khi áp dụng pinyin, các ngôn ngữ phương Tây như tiếng Anh, Pháp, Đức,… sử dụng cách phiên âm nào? Nói chung mỗi thứ tiếng có quy tắc phiên âm của mình, thậm chí không phải chỉ có một cách. Dùng phổ biến nhất trong tiếng Anh là hệ Wade-Giles, ra đời từ cuối thế kỷ 19, lấy theo tên hai nhà ngoại giao người Anh là tác giả của phương pháp phiên âm này. Còn tiếng Pháp sử dụng hệ EFEO, do Viện Viễn Đông Bác cổ (EFEO) của Pháp soạn thảo.


Ưu điểm dễ thấy nhất của pinyin chỉ là dễ tra cứu theo các ngôn ngữ phương Tây hay thuận theo cách phiên của nước chủ nhà. Tuy nhiên pinyin không bao trùm tất cả. Đài Loan cho tới nay vẫn không hoàn toàn sử dụng pinyin mặc dù có thông tin nói đã có quy định áp dụng từ năm 2009. Nếu đọc tờ Taipei Times (Đài Bắc thời báo) bằng tiếng Anh (www.taipeitimes.com/), ta thấy tên riêng vẫn ghi theo cách riêng (đa số theo hệ Wade-Giles) mà không theo pinyin và có kèm chữ Hán, chẳng hạn Chiang Kai-shek (Tưởng Giới Thạch), Lee Teng-hui (Lý Đăng Huy), Ma Ying-jeou (Mã Anh Cửu), Keelung (Cơ Long), Chiayi (Gia Nghĩa). Chính vì lẽ đó, các cuốn từ điển bách khoa của Anh, Mỹ hay Pháp khi ghi tên nhân danh hay địa danh Đài Loan đều theo đúng cách viết bản địa, tức là không theo pinyin. Và điều đáng ngạc nhiên là ngay một số mạng chính thống của Trung Quốc như Tân Hoa xã (http://news.xinhuanet.com/english/), Nhân dân nhật báo tiếng Anh (www.chinadaily.com.cn), Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (http://english.cntv.cn/) cũng nhất nhất tuân theo quy ước này khi nhắc đến các tên riêng Đài Loan, như Koo Chen-fu (Cô Chấn Phủ), Wu Po-hsiung (Ngô Bá Hùng), Lin Join-sane (Lâm Trung Sâm), Taipei (Đài Bắc), Kaohsiung (Cao Hùng). Đối với các nhân vật gốc Hoa ở Hoa Kỳ, Singapore, châu Âu… thì họ tên của họ cũng phiên theo cách riêng (trừ một số người xuất thân từ Trung Hoa đại lục sang đây chưa lâu phiên tên họ theo pinyin như Cao Hành Kiện: Gao Xingjian): Lee Kuan Yew (Lý Quang Diệu), Lee Hsien Loong (Lý Hiển Long), Chen-Ning Yang (Dương Chấn Ninh), Yuan Tseh Lee (Lý Viễn Triết). Nếu bạn tìm đọc sách viết về Trung Quốc trong phần lớn thế kỷ 20 (thậm chí có cuốn in vào cuối thế kỷ 20) thì họ cũng không dùng pinyin, sách tiếng Anh của các tác giả Đài Loan thì lại càng không.


Một ngộ nhận trong số những người ủng hộ việc sử dụng pinyin trong tiếng Việt là họ cho rằng pinyin giúp phát âm chính xác tên riêng Trung Quốc. Nếu không học cách phát âm Hán ngữ thì dù người Việt hay người Anh, người Pháp đều phát âm không đúng nhiều từ trong tiếng Hán nếu cứ đọc theo pinyin và chắc chắn người Trung Quốc không hiểu họ nhắc đến ai hay địa danh nào. Lý do là nhiều chữ Latin theo cách đọc thông dụng không phản ánh đúng âm tiếng Hán. Đó là chưa kể việc dùng pinyin trên sách báo phương Tây nói chung không ghi dấu thanh điệu do không thuận tiện (tiếng Hán có bốn dấu thanh điệu), nên chuyện ông nói gà bà tưởng vịt càng tăng.


Chẳng hạn Cao Cao (Tào Tháo) không đọc là Cao Cao như trong tiếng Việt (hay [Kaʊ Kaʊ] theo phiên âm quốc tế),mà phải đọc là [TsaʊTsaʊ]. Hay những phụ âm b, d, q, j trong pinyin  không đọc là [b], [d], [k], [dʒ] như ta tưởng. Xét về độ chính xác trong ghi âm, pinyin còn thua cả hệ Wade-Giles. Ưu điểm của pinyin so với hệ Wade-Giles là nó phân bổ các âm gần nhau trong tiếng Hán cho những chữ cái riêng biệt trong bảng chữ cái Latin (nhưng mất đi sự chính xác), khiến cho việc phân biệt âm dễ hơn. Chẳng hạn, các cặp phụ âm bật hơi và không bật hơi có âm gần nhau trong hệ Wade-Giles là k/k’, p/p’, t/t’, ch/ch’, ts/ts’ sang pinyin chuyển thành g/k, b/p, d/t, zh/ch (hoặc j/q  trước i và ü), z/c, dễ tách bạch hơn so với chỉ phân biệt bằng dấu ’ (mà có khi viết ra bị bỏ sót). Ví dụ: Chang Kuo-t’ao (Trương Quốc Đào) theo hệ Wade-Giles chuyển thành Zhang Guotao trong pinyin, Teng Hsiao-p’ing (Đặng Tiểu Bình) thành Deng Xiaoping.


TRÁNH NHỮNG ĐỀ XUẤT NỬA VỜI


Qua phân tích trên đây, ưu điểm phát âm chính xác cho người bản ngữ hiểu được mà một số người gán cho pinyin khi so sánh với âm Hán Việt chỉ là tưởng tượng. Mặc dù trong một số trường hợp, pinyin có thể gần tên gốc hơn âm Hán Việt, nhưng tên riêng đòi hỏi chính xác gần như tuyệt đối nên dù gần hơn mà vẫn bị lẫn lộn thì cũng chẳng có ý nghĩa gì. Xin lấy một ví dụ trong tiếng Việt cho dễ hiểu: Nguyễn Viết Vân hay Nguyễn Việt Văn cần chính xác tuyệt đối chứ không thể viết Nguyen Viet Van chung chung được. Trong khi đó tuy âm Hán Việt có thể không gần âm gốc bằng, nhưng trong nhiều trường hợp có thể khôi phục được nguyên dạng chữ Hán, điều mà pinyin chịu thua.


Trong khi đó, nhiều nhược điểm bộc lộ ở pinyin so với âm Hán Việt:


1. Tên riêng theo pinyin vô nghĩa, vô cảm, khó nhớ, khó đọc. Bắc Kinh hay Nam Kinh đều được người Việt hiểu ngay nghĩa là kinh đô phía Bắc hay phía Nam, còn Beijing  hay Nanjing chẳng gợi lên điều gì. Hà Nam hay Hà Bắc cho ta biết ngay hai tỉnh đó ở phía Bắc hay phía Nam sông Hoàng Hà, còn Hebei hay Henan thì không.


2. Tên riêng theo pinyin gây thêm sự trùng lặp, nhầm lẫn, nhất là nếu viết không có dấu thanh điệu. Lu Xun có thể là Lỗ Tấn hoặc Lục Tốn, Yan Yuan có thể là Nhan Uyên (học trò của Khổng Tử) mà cũng có thể là Nhan Nguyên (triết gia đời Thanh); Pingxiang  có thể là Bằng Tường (ở Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây) hay Bình Hương (ở tỉnh Giang Tây); Heng Shan có thể là Hoành/Hành Sơn (ở tỉnh Hồ Nam) hay Hằng Sơn (ở tỉnh Thiểm Tây [chỗ này nhầm: đúng là Sơn Tây]). Trường hợp ngược lại hầu như không xảy ra trong tên riêng vì số lượng âm Hán Việt nhiều hơn hẳn số lượng âm pinyin (nếu không kèm theo dấu thanh điệu thì càng ít).


Bạn thử tưởng tượng đọc TamQuốc diễn nghĩa, Thủy Hử  hay truyện chưởng Kim Dung (à phải viết là Sanguoyanyi, Shuihu, Jin Yong mới phù hợp) với các nhân vật Guan Yu, Zhuge Liang, Zhao Yun, Lin Chong, Lu Zhishen, Wu Song, Yang Bu Hui, Huoqingtong, … thì liệu có hứng thú như trước không?


Dường như cũng thấy những bất cập nếu chuyển hoàn toàn sang pinyin, một vị tiến sĩ đề xuất: “Nhân danh địa danh ở thời kỳ “đồng văn” (từ thế kỷ 19) nên nhất loạt dùng phiên âm Hán - Việt. Chúng ta sẽ đọc/ viết là Khổng Tử, Giả Nghị, Đào Uyên Minh, Đỗ Phủ, Tương Giang... Nhưng tên riêng Trung Quốc thời kỳ tình trạng “đồng văn” chấm dứt (từ đầu thế kỷ 20 trở đi), chúng ta nên đọc/viết theo đúng âm Bắc Kinh (bính âm). Nếu chưa thực hiện được ngay thì tên riêng Trung Quốc đương đại (từ sau 1979) nhất thiết phải đọc/ viết theo quy tắc ấy”1. Một đề xuất nửa vời gây sự thiếu nhất quán, đứt khúc về thời gian như vậy phỏng có nên? Chưa nói đến việc khó khả thi (hoặc nhà báo, dịch giả công đâu tra cứu việc này) khi xác định nhân danh, địa danh nào xuất hiện trước năm 1979 (hoặc trước đầu thế kỷ 20), nhân danh, địa danh nào xuất hiện sau năm 1979 (hoặc sau đầu thế kỷ 20) và xuất hiện ở đâu để quyết định phiên âm Hán Việt hay pinyin?


NGUYỄN VIỆT LONG


___


1. Tên riêng Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc nên viết thế nào? Tác giả: Đoàn Lê Giang.


Nguyễn Khôi Cái gọi là Thơ 5 chữ...thực ra chỉ là VÈ...


Hạng Phạm Văn Động lòng trắc ẩn..Trí thức và Tri thức.


Lại Nguyên Ân Đề tài về những phương ngữ trong tiếng Hán, về chuyện tiếng Việt có phải vốn có liên hệ cội nguồn với tiếng Việt hay không, v.v. như Nguyễn Huệ Chi, Dzung Hoang đang bàn là khá hay. Tôi muốn nghe thêm: 1/ Chuyện tiếng Perking /Beijing/ đang được coi l...See more


Nguyễn Việt Long Quan thoại với Quan hỏa la 1 anh ạ, chẳng qua do phiên không chuẩn, âm pinyin là guanhua.


Lại Nguyên Ân Nhưng tiếng Bắc Kinh và tiếng Quảng Đông là hai hay là một?


Nguyễn Việt Long Là 2 anh ạ, tiếng QĐ còn gọi là tiếng Việt (mặt chữ khác chữ Việt trong Việt Nam)


Đằng sau cuộc chiến tiếng Quảng Đông-Quan thoại ở Hồng Kông


Lại Nguyên Ân Cảm ơn, bài này mình cũng mới đọc, thấy ra Hong kong, Taiwan với Hoa lục còn rất nhiều chuyện.


CHỮ-NHO, NÊN ĐỂ HAY LÀ NÊN BỎ?


Hà Nội, ngày 5.9.2016.


Thưa các quý vị độc giả!


Trong những ngày qua, trên Vietnamnet có chuyên mục SỰ KIỆN NÓNG, bàn về việc dạy và học chữ Hán ở Việt Nam. Nhân danh là người sưu tập, nghiên cứu về sự nghiệp và cuộc đời nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936), tôi xin được gửi tới các quý vị một bài viết của nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh, có nội dung phù hợp với việc nhìn nhận và xác định vai trò, giá trị cũng như hướng tiếp cận và sử dụng chữ Hán ở xã hội Việt Nam.


Bài báo của Nguyễn Văn Vĩnh được đăng tải cách đây đã hơn 100 năm, văn phong tiếng Việt được thể hiện từ khi chữ Quốc ngữ chưa được dùng là văn tự chính thức của dân tộc Việt, vì vậy, việc chúng tôi chép lại từ tờ báo Đông Dương Tạp Chí số 31, phát hành ngày 22.12.1913 tại Hà Nội, được tuyệt đối chú ý, trung thành với bản gốc, nhằm đảm bảo tính nguyên bản đối với nội dung mà tác giả đã trình bày.


Nhận thấy đây là một minh chứng sinh động của các bậc tiền nhân, thể hiện quan điểm đối với vai trò của chữ Hán trong lịch sử Việt Nam, BBT chúng tôi xin kính chuyển đến các độc giả bài viết này, để cùng nhau khảo cứu, chiêm nhiệm về một đề tài đã luôn làm cho xã hội phải dành rất nhiều thời gian bàn luận. Qua đó, giúp cho các thế hệ người Việt có cơ sở đánh giá đúng tính tư tưởng và nhãn quan xã hội của các nhân sĩ Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX, khi mà chữ Quốc ngữ đang cạnh tranh gay gắt với chữ Nho, dành vị thế độc tôn trong việc hình thành nền văn học riêng của người Việt.


Bài viết của Nguyễn Văn Vĩnh cũng xác định rõ quan điểm minh bạch của tác giả về thái độ ứng xử trước chữ Nho, tuyệt đối không có sự hạ thấp hay coi thường như luận điệu của một nhóm người thiếu thiện chí, từng mượn cớ thóa mạ Nguyễn Văn Vĩnh là kẻ tội đồ trong việc động viên cuộc cách mạng văn hóa, đẩy chữ Quốc ngữ soán ngôi vị của chữ Nho, làm đứt mạch văn hóa Hán Nôm của dân tộc Việt.


Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm của các chị, các anh và các bạn độc giả gần xa trong thời gian gần đây đã quan tâm nhiều hơn tới đề tài Tân Nam Tử – Nguyễn Văn Vĩnh.


Trân trọng! - BBT Tannamtu.com - Nguyễn Lân Bình.


CHỮ – NHO, NÊN ĐỂ HAY LÀ NÊN BỎ


(Faut-il ou non garder les caractères chinois?)


Đông Dương Tạp chi số 31, ngày 22.12.1913


Có một điều ấy, bao nhiêu người nghị-luận, mà nghị-luận mãi không ra mối, cũng chỉ vì thường cứ bàn bạc nên bỏ, hay không nên bỏ, nhưng mà để là để thế nào, để ở đâu: nên bỏ thế nào, nên bỏ ở đâu, không hay bàn cho dứt-khoát, cho nên cứ bối-dối mãi. Người nói rằng bỏ đi là phải, vì học chữ nho mất hàng nửa đời người, mà trăm người học, không được một người hay; học được hay cũng chỉ ích lấy một mình, không đem ra mà dùng cho đời được nhờ cái học-vấn của mình chẳng qua là một cái thú rung-đùi mà thôi. Người nói rằng để lại là phải, vì não-chất cuả người an-nam đã mấy mươi đời nay nghiền bằng đạo Khổng Mạnh; phong-tục, tính tình, luân-thường, đạo-lý, đều là ở đạo Nho mà ra cả. Vả lại tiếng An–nam ta nói, ước có nửa phần do chữ-nho mà ra. Lại nói rằng lối học nho là một lối, tuy không tiện, nhưng mà muốn bỏ đi,  thì phải có lối nào mới, tiện hơn mà đem thế vào. Nay lối mới chưa nghĩ được tuyệt–diệu, mà đã bỏ đì thi ra bỏ cái nền cũ, mà chưa có cái gì mới thay vào sốt cả.


Hai bên nói như thế, nghe ra cũng phải cả, thế mà cứ nói mãi, thì ra kéo dài trong trăm năm một câu truyện dằng-co.


Trước hết tưởng hay nên phân ra hiện việc học của người An-nam, ngày nay có mấy lối, mấy đằng; đằng nào nên để cho học chữ nho, mà đằng nào nên bỏ chữ-nho đi.


Sau lại nên xét xem chữ-nho bây giờ đối với dân ta, đối với việc học của người An-nam, thì là thế nào, là cái gì?


Gỉa-nhời rằng: chữ-nho là một lối văn-tự cũ cuả nước Tầu, là một nước cho ta mượn văn-minh, phong-tục, tính-tình; chữ ấy sang đến nước ta, đổi cả cách đọc, đổi cả lối dùng, mà lại thấm nhiễm vào tiếng-nói của nước ta; lại thành ra một thứ văn riêng cuả đám thượng-lưu ta dùng, tuy là mượn cuả Tầu, mà có điệu riêng, hay dở không giống như hay dở cuả văn Tầu.


Thế thì cái địa-vị chữ-nho ở nước ta cũng khác nào như địa-vị chữ la-tinh ở bên nước Đại-pháp.


Dẫu ra như thế rồi, thì muốn giải cái vấn-đề: nên để hay nên bỏ chữ nho? cứ việc xem bên nước Đại-pháp đãi chữ la-tinh thế nào, thì ta nghĩ ra được ngay cách nên đãi chữ nho như thế.


Bên Đại-pháp, chữ la-tinh là gốc phần nhiều tiếng-nói nước nhà, văn-chương dựa lối la-tinh, cho nên ai học khoa ngôn-ngữ, các bậc vào cao-đẳng học, phải học tiếng la-tinh, phải nghiền văn-chương cổ la-tinh; ngôn-ngữ văn-từ bên Tây mà pha tiếng la-tinh vào cũng như bên ta người nói nôm thỉnh thoảng pha mấy câu chữ-sách. Còn người làm ăn, đi học qua bậc sơ-đẳng gọi là biết đủ nhân-cách, biết đọc, biết viết, thì tuy rằng tiếng nói cuả mình do tiếng la-tinh mà ra, nhưng không cần phải biết chi đến gốc rễ xa xôi ấy. Không ai dám bảo rằng: không học tiếng la-tinh thì không học được tiếng Đại-pháp bao giờ.


Thế thì chữ nho đối với tiếng An-nam mình cũng vậy.


Ai chuyên học văn-chương, tuy rằng phải gây cho An-nam mình có văn-chương riêng, nhưng mà cũng phải học lấy cái văn-cũ, phải biết lịch-sử văn-chương cuả nước mình, phải biết gốc tích tiếng nói mình, thì mới hay được, thì mới gây được cho văn mình mỗi ngày một hay lên. Trong tiếng ta nhan-nhản những chữ-nho,  dùng đến những chữ ấy, mà chẳng sao đừng dùng được, tất phải học tận căn-nguyên nó, mới biết hết nghĩa nó được, về sau có làm tự-vị, tự-điển tiếng an-nam, thì mới có cách biện-nguyên mà cắt nghĩa từng tiếng cho đúng được.


Còn những người thường, con nhà làm-ăn đến tuổi cho vào tràng sơ-đẳng học (mới định nhưng thực còn chưa có) cốt để học lấy biết đọc, biết viết, biết lễ phép, phong-tục, địa–dư, cách–trí mỗi thứ mỗi người gọi là phải biết qua-la một đôi chút, cho người nó khỏi như lũ xá-dại, ngây ngô chẳng biết chi chi. Hạng ấy thì cho học chữ-nho mà làm gì? Nhân-thân hạn sơ-đẳng học có ba năm giời, mà lại còn chiều tục cũ, bắt học thêm chút chữ nho, thì thực là làm uổng thì-giờ cho trẻ con, không được việc gì. Chữ nho không phải là một lối chữ học gọi-là được. Đã biết phải biết hẳn, không biết thì thôi, biết răm ba chữ, học một vài năm, thì có biết được mấy chữ cũng không được việc gì.


Chớ có nói rằng, trong tiếng nói an-nam có nhiều chữ nho, thì phải bắt trẻ con học lấy vài ba chữ nho. Phàm chữ nho nào đã lẫn vào với tiếng-nói thông dụng, thì là những chữ thành ra tiếng an-nam rồi, dẫu không học sách nho cũng biết nghĩa nó là gì.


Có kẻ bảo rằng nếu không cho trẻ con học chữ-nho nữa, thì nay phải cho học ít nhiều tiếng Đại-pháp. Ấy cũng là một cách làm cho trẻ con mất thì giờ vô ích.


Việc học ta ngày nay nhà- nước đã phân hẳn ra làm hai lối. Một lối Pháp – việt-học để cho trẻ con học chữ Pháp, có từ sơ-đẳng cho tới trung-đẳng học. Nhà ai có con muốn học tiếng Đại-pháp, học-thuật Đại-pháp, văn-chương Đại-pháp, thì đã có tràng Pháp-việt. Tùy gia-tư mà theo học, muốn cho biết gọi-là để đi làm việc, hoặc là để buôn bán giao-thiệp với người Đại-pháp, thì cho vào các tràng Pháp-việt sơ-đẳng học, xong sơ-đẳng rồi, lại còn một khoa học lấy tốt-nghiệp nữa. Ai có của, muốn cho con học theo lối Đại-pháp, cũng được thi tú-tài, thì đã có tràng trung-đẳng mới mở ra ở Hà-nội, học phải mất tiền, muốn vào hạng học-sinh, một ngày hai buổi đến học cũng được; muốn vào hạng lưu-học-sinh, ăn ngủ ở tràng mà học cũng được.


Lối thứ hai là lối học riêng cuả dân an-nam, đặt ra cho phần nhiều, cho trẻ con các nhà-quê, thực là một lối mới, xưa nay không có, vì lối học nho ngày xưa, không phải là một lối học phổ-thông, thực là một lối học đi làm quan Tàu, với cũng như lối Pháp-việt học bây giờ là lối học đi làm việc với nhà-nước Đại-pháp. Nhưng ai cũng muốn làm quan cả, cho nên ngày xưa đua nhau học nho thế nào, từ nay giở đi đua nhau học vào lối Pháp-việt cũng thế!


Còn lối học riêng mới, cũng đặt ra tiểu-học, trung-học, lấy quốc-ngữ làm gốc, mà học cách-trí, vệ-sinh, địa-dư, phong-tục, mỗi thứ một đôi chút, để gây cho lấy nhân-cách cuả phần nhiều người trong dân an-nam, thì xét ra thực là một lối nhà-nườc bảo-hộ mới gia ân đặt ra, không tỉ được với lối học nho cũ, mà cũng không tỉ được với lối học Pháp-việt.


Trong lối học ấy phải có hai bậc, một bậc sơ-đẳng để cho trẻ con mới lớn lên, học lấy biết gọi-là mỗi thứ một chút. Trong bậc ấy, học có ba năm, tưởng không nên dạy chữ nho, mà cũng không nên dạy chữ Pháp một tí nào. Còn bậc trung-đẳng, để đi thi cử, để nên cho những bậc có tài riêng tiếng an–nam ngày sau, chẳng phải hay chữ nho, mà cũng chẳng phải thông chữ Pháp, thực là những người thông chữ Ta, thì phải có học chữ Nho và chữ Pháp, chữ nho để mà am hiểu lịch sử nước mình, văn-chương nước mình, do ở đó mà ra; chữ Pháp là chữ cuả nước Bảo-hộ ta ngày nay, là chữ cuả ông thầy mới, mình trông mong mà học lấy thuật hay.


Nhà nước Đại-pháp đặt thêm ra lối học ta ấy, thực đã tỏ ra lòng ngay thực với ta, muốn cho ta giữ được mãi quốc-thúy, vì nếu nhà-nước cứ bắt ta học chữ Đại-pháp mới được làm quan làm việc, thì chắc ta cũng phải vì lợi mà theo học cả, như là ông cha ta ngày xưa vì lợi, mà theo học nho.


Nhà–nước định ai có bằng tuyển-sinh mới được vào tràng Pháp-việt ấy là giữ cho dân thế nào cũng phải theo lối học ta làm gốc trước đã, thực là đặt ra lối quốc-học, mà lại khiến cho người trong nước phải học theo quốc-học.


Trung-đẳng học ta thì nên bắt học cả chữ nho và chữ Pháp, nhưng Pháp–việt-học, thì lại nên bỏ đứt chữ nho đi. Lối học ta mới, còn gần lối học nho ngày trước, cho nên học chữ nho được kỹ. Mà chữ-nho đã học không học dối được, ở các tràng Pháp-việt mà đem dạy chữ nho thì dạy buổi nào, học-trò thiệt mất buổi ấy. Phàm trẻ-con an-nam đã vào học Pháp-việt, toàn là đi học cướp-gạo cả, chỉ muốn chóng thông tiếng Đại-pháp mà đi làm việc hoặc để buôn bán với người Đại-pháp. Họa là mới có một hai người, học tiếng Đại-pháp để mà, tốt-nghiệp chi hậu, lại còn chăm vào việc học cho quán thông lịch-sử, luân-lý cũ nước Nam. Bởi thế ở các tràng Pháp-việt, cứ hôm nào đến phiên mấy thầy giáo chữ nho dạy, thì học-trò như là một buổi phải nghỉ, ngồi mà ngủ gật, trong khi thầy giáo viết lên bảng những bài học nhỡ-nhàng, dễ quá cho kẻ biết rồi, khó quá cho kẻ chưa biết.


Tổng kết lại, thì chữ nho chỉ còn nên giữ lại để mà dạy ở khoa trung-đẳng nam-học mà thôi, đợi mai sau khi nào có cả khoa cao-đẳng nam-học, hoặc khoa ngôn-ngữ văn-chương ở cao-đẳng, bấy giờ mới lại có nơi khác phải dùng đến chữ nho.


Bây giờ trẻ con xin nhất quyết đừng cho học chữ nho nữa, mà các tràng Pháp–việt cũng xin bỏ lối dạy chữ nho đi.


NGUYỄN VĂN VĨNH


GS Nghiêm Toản, GS Hoàng Xuân Hãn nói về giảng dạy tiếng Việt, tiếng Hán


Tôi học trung học (lớp 6 – lớp 12) theo chương trình Miền Nam trước năm 1975. Năm lớp 6 có học chữ Hán. Thật ra, năm đó chỉ học vài tiết, chủ yếu để biết viết một số từ Hán Việt như nhất, nhị, tam hay thiên (trời), thượng (trên) thôi. Năm lớp 10 được GS Nghiêm Toản, do quen biết riêng, kèm chữ Hán 1 năm nữa theo ý muốn riêng của gia đình. Lên đại học, tôi theo ngành kỹ thuật và vào đời với ngành kỹ thuật.


Tôi thấy cái lợi của việc biết tiếng Hán là vốn từ vựng tiếng Việt trong tôi phong phú hơn, có thể diễn đạt các ý nghĩ đa dạng của mình một cách chính xác và tế nhị hơn. Do tiếng Việt có nhiều từ gốc Hán nên vốn tiếng Hán giúp tôi tránh các sai lầm trong dùng từ như “yếu điểm” thay vì “điểm yếu”… mà thỉnh thoảng báo chí hiện nay vẫn có khi lẫn lộn…


Tuy nhiên cái lợi đó có đủ lớn và ý nghĩa thực dụng của nó có đủ quan trọng để chúng ta dạy chữ Hán cho học sinh bậc trung học như TS Đoàn Lê Giang nêu lên hay không? Bài viết này xin ghi lại các ý kiến có liên quan của GS Nghiêm Toản và học giả Hoàng Xuân Hãn với hy vọng giúp vào đề tài gây nhiều tranh luận gần đây.


GS Nghiêm Toản là thầy dạy tại trường Đại Học Văn Khoa Sài Gòn những năm 50, 60 thế kỷ trước. Ông cho rằng lịch sử đất nước khiến dân Việt đem nhiều thành tố tiếng Hán vào trong tiếng Việt, do đó cần biết tiếng Hán để làm phong phú hơn tiếng Việt của chúng ta. Tôi còn nhớ ông nói, đại ý rằng:


“Cách người dân ta dùng tiếng Hán cho thấy mức độ dẻo dai để tồn tại của người Việt trước áp lực đồng hóa của người Hoa. Trước khi bị Bắc thuộc, người Việt đã có tiếng Việt của riêng mình, nhưng không biết đã có chữ viết chưa. Một ngàn năm bị Hoa trị, người Việt không để mất tiếng nói của mình, lại có thêm tiếng Hán, và tiếng Hán này dần dần được Việt hóa trở thành yếu tố Hán-Việt trong tiếng Việt. Sau khi độc lập, người Việt lại biết dùng cách viết chữ Hán mà tạo ra chữ viết cho tiếng Việt, tức là chữ Nôm. Cho tới gần đây, người Việt lại biết dùng chữ Quốc ngữ tiện lợi hơn thay thế chữ Hán và chữ Nôm. Cho nên yếu tố Hán-Việt trong tiếng Việt không cho thấy tính lệ thuộc của người Việt, mà trái lại càng cho thấy tính độc lập dẻo dai của người nước ta. Biết cách dùng yếu tố Hán-Việt cộng với dùng chữ Quốc ngữ, chúng ta tạo ra một ngôn ngữ Việt Nam đủ sức diễn tả tinh tường và truyền bá rộng rãi các ý niệm, khái niệm kỹ thuật và triết học khó hiểu nhất ”.


Tôi có thể thưa với các anh chị rằng GS Nghiêm Toản đã truyền cho tôi sự rung động vì lòng tự hào với tinh thân độc lập, tự chủ của ông cha trước người Trung quốc.


Sau này, tôi lại có dịp học hỏi với GS Hoàng Xuân Hãn. Ông là một bậc túc nho Âu học mà tấm lòng, ý chí và sự đóng góp cho nền độc lập nước nhà trên bảy mươi năm trước còn được nhiều người Việt Nam thời nay ghi nhớ. Ông là nhân vật chính chuyển đổi nền giáo dục Việt Nam từ Pháp ngữ sang Việt ngữ một cách căn bản. GS Hoàng Xuân Hãn đồng quan điểm với GS Nghiêm Toản như trình bày bên trên. Nhưng về phương diện giáo dục thì ông bàn luận như sau, cũng xin ghi lại đại ý:


“Trong giáo dục, tôi chủ trương thực tế. Quốc dân cần biết kỹ thuật phương Tây, cần biết học thuật phương Tây. Mình cần một ngôn ngữ càng giản dị, càng dễ hiểu càng tốt để dân mình học được nhanh. Muốn giản dị mà đủ ý thâm sâu, mình cần vận dụng các yếu tố Hán-Việt. Tôi nghĩ người mình không cần học Hán văn, nhưng cần học một căn bản Hán-Việt để có danh từ khoa học mà học hỏi kiến thức thế giới. Căn bản Hán-Việt giúp ta làm giàu có và hàm súc hơn tiếng nước ta, cùng với đó ta dùng chữ Quốc ngữ phổ biến kiến thức rộng rãi cho quốc dân. Quốc dân cũng nên biết nguồn gốc của yếu tố Hán-Việt, chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ… trong ngôn ngữ nước mình”.


GS Hãn trình bày ý của ông rất rõ:


“Tôi nghĩ bậc trung học mình có môn Việt văn. Học sinh ở một lớp thích hợp, như lớp troisième chẳng hạn (tức lớp 9) thì ta dành một số giờ học của môn Việt văn mà học về Hán-Việt, chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ… Học về chữ Hán chứ không phải học Hán văn. Mục đích là để người đi học biết nguồn gốc và phân biệt được các loại chữ viết trong ngôn ngữ Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử. Chỉ cần cái căn bản vậy thôi. Sau này, ai theo ngành Hán Nôm, ngành Cổ Văn, ngành Sử ký sẽ học sâu hơn chữ Hán, chữ Nôm. Ai theo các ngành kỹ thuật không cần học thêm, nhưng cũng đã có cái căn bản để không bị lầm lạc khi dùng tiếng Việt thông dụng và tiếng Việt khoa học, kỹ thuật. Khi cần, những người này có thể dùng tự điển Hán-Việt do các người chuyên môn soạn thảo”.


Trong cuộc sống đời thường, tôi thấy không ít người không có khái niệm rõ rệt về tiếng Việt, tiếng Hoa, chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ… Ý của GS Hoàng Xuân Hãn là nên giảng dạy ở bậc trung học để người học hiểu và phân biệt được các khái niệm ấy một cách minh tường. Chú ý rằng GS Hãn chủ trương không nên giảng dạy chữ Hán ở bậc học này.


Đọc các bài viết của TS Đoàn Lê Giang, về mặt học thuật, tôi thông cảm với ông. Chúng ta thường bắt gặp các lỗi về dùng chữ (từ vựng) và lỗi đặt câu (văn phạm) trên báo chí hiện nay, kể cả các tờ báo nghiêm túc, kể cả trong các bài viết về những đề tài văn hóa, nghệ thuật…Trước năm 1975, báo chí Miền Nam thường có các mục như “Nhặt Sạn” hay “Nhổ Cỏ Vườn Văn”… nhằm lượm lặt và phân tích các lỗi ấy. Các mục này góp phần giữ gìn và phát triển sự giàu có và trong sáng của tiếng Việt. Người phụ trách mục ấy cần có căn bản Hán-Việt vững chắc, uyên thâm. Đây mới là những người, tôi nghĩ, cần học chữ Hán. Còn người đọc bình thường thì không cần mất thì giờ học. Chúng ta còn cần phải bỏ thêm một số môn học vô bổ, nặng nề, kìm hãm tri thức để con em chúng ta có thì giờ thư giãn, hưởng thụ văn hóa, phát triển ước mơ, hoài bão và học hỏi các kỹ năng sống trong môi trường sống tiến bộ…


Là người quan tâm tới đề tài, nhưng không nằm trong chuyên môn, tôi chỉ xin ghi lại ý kiến các bậc có thẩm quyền vài mươi năm trước… 


Lê Học Lãnh Vân/motthegioi.vn


Điều còn lại sau cuộc tranh luận đưa chữ Hán vào trường học


Nguyễn Quốc Vương


Một cuộc tranh luận sôi nổi


Có lẽ bản thân PGS.TS Đoàn Lê Giang và cả những nhà chuyên môn khác tham gia hội thảo cũng không ngờ rằng ý kiến về chuyện đưa chữ Hán-Nôm vào giảng dạy trong trường phổ thông lại được công chúng quan tâm đến thế.


Thông thường, những cuộc hội thảo chuyên môn thường chỉ có từ vài chục đến trên dưới trăm người tham gia và thảo luận. Kỉ yếu của hội thảo được in và tặng cho những người tham dự với số lượng rất hạn chế. Ngoài những người tham gia hội thảo, sẽ không có nhiều người đọc những bài được đăng trong đó hoặc nếu có thì số lượng cũng rất nhỏ.


Tuy nhiên, khi truyền thông đại chúng đưa tin về Hội thảo và ý kiến của PGS.TS Đoàn Lê Giang với những tiêu đề đầy… “khiêu khích” và người dùng các trang mạng xã hội chia sẻ lại những bài viết này, cuộc tranh luận đã bùng nổ dữ dội.


Theo quan sát của tôi trong cuộc tranh luận này những người ủng hộ đa phần là những người biết ít nhiều chữ Hán, chữ Nôm hoặc cả hai trong khi ở phía những người phản đối dường như có rất ít người có thể đọc được chữ Hán và chữ Nôm.


Một điểm đáng chú ý nữa là trong cuộc tranh luận ồn ào này, sự xuất hiện công khai của các nhà nghiên cứu Hán-Nôm trên phương tiện truyền thông đại chúng rất thưa thớt. Nhiều nhà nghiên cứu cao niên có tên tuổi và cả những nhà nghiên cứu trẻ có những thành tựu đáng chú ý những năm gần đây dường như đều đứng ngoài cuộc tranh luận.


Thông thường Hán-Nôm vốn là lĩnh vực chuyên môn khá hẹp ở Việt Nam. Vậy thì tại sao lần này, cuộc hội thảo và cụ thể hơn là ý kiến về việc đưa chữ Hán-Nôm vào trường phổ thông lại thu hút sự quan tâm lớn đến như thế?


Có nhiều nguyên nhân nhưng có lẽ nguyên nhân chủ yếu nhất nằm ở chỗ ý kiến của PGS.TS Đoàn Lê Giang đã “động nhân tâm” và gợi đến rất nhiều liên tưởng, trong đó có cả những liên tưởng và suy diễn vượt xa khỏi ý tưởng và câu chữ của người đưa ra ý kiến trong hội thảo.


Sự phản ứng của công chúng với ý kiến đề nghị đưa chữ Hán-Nôm vào trong trường học không chỉ là thuần túy là sự phản đối một ý tưởng giáo dục.


Nhiều người phản đối (tất nhiên không phải là tất cả) đã phản ứng mạnh mẽ trong sự liên tưởng đến những vấn đề đang ngày một trầm trọng của đất nước như: chủ quyền quốc gia vị đe dọa và xâm hại, sự “xâm lăng” tinh vi và toàn diện trong lĩnh vực văn hóa, những yếu kém của nền giáo dục, tình trạng thật giả lẫn lộn trong khoa học…


Chính sự phản ứng mạnh mẽ xuất phát từ tình cảm và sự liên tưởng ấy đã dẫn dắt cuộc tranh luận trên các trang mạng xã hội rời xa khỏi vấn đề mà PGS.TS Đoàn Lê Giang đề ra: đề xuất giảng dạy chữ Hán-Nôm trong trường học.


Trong bản tham luận của mình, tác giả cũng chỉ mới phác ra ý tưởng về việc giảng dạy Hán-Nôm ở trường phổ thông ở mức rất thận trọng nhưng khi tranh luận và phê phán, nhiều người đã mặc định như thể đó đã trở thành một chủ trương-chính sách lớn, sẽ được thực hiện đại trà trên tất cả các trường học và Hán-Nôm rồi đây sẽ trở thành bộ môn bắt buộc dành cho tất cả các học sinh ở phổ thông.


Có người suy diễn xa hơn khi cho rằng đây là chủ trương đưa chữ Hán-Nôm vào thay thế cho tiếng Anh trong nhà trường!? Thậm chí có cả những ý kiến cho rằng rồi đây chữ Hán-Nôm sẽ thay thế cho chữ Quốc ngữ và như thế là “quay lùi bánh xe lịch sử?”….


Chính vì thế mà từ chỗ phản đối, nhiều người tham gia tranh luận trên các trang mạng xã hội đã phê phán và chỉ trích quá đà khi công kích cá nhân người đưa ra đề nghị trên bằng những lời lẽ rất nặng nề.


Đấy là một sự không công bằng đối với người đã phát biểu trong hội thảo. Khi cuộc tranh luận và sự phê bình, chỉ trích diễn ra theo hướng đó, nó giống như một trận đấu võ không có trọng tài mà một bên là “nhà chuyên môn” thi đấu theo thể thức của môn “boxing” trong khi các “đối thủ” thì tấn công bằng các đòn thế của “võ tự do”.


Những gì còn lại sau tranh luận


Cho dẫu có xu hướng đi ngày một xa khỏi ý kiến ban đầu của PGS.TS Đoàn Lê Giang, cuộc tranh luận nói trên cũng đặt ra rất nhiều vấn đề cần tiếp tục suy nghĩ cho cả giới chuyên môn và công chúng.


Thứ nhất là vấn đề làm thế nào để chữ Hán-Nôm và những văn bản cha ông viết bằng thứ chữ đó tiến gần lại hơn với công chúng? Cuộc tranh luận đã làm rõ thêm rằng trên thực tế nhận thức của một bộ phận công chúng về chữ Hán, chữ Nôm và di sản được ghi lại bằng thứ chữ đó rất hạn chế.


Rất nhiều người nhầm tưởng chữ Hán và chữ Nôm, thứ chữ cha ông chúng ta đã dùng suốt hơn nghìn năm để viết nên những tác phẩm văn học, lịch sử nổi tiếng và được đưa vào trong chương trình học tập ở trường phổ thông từ trước đến nay đồng thời cũng là tiếng Trung hiện đại, ngôn ngữ mà người Trung Quốc đang sử dụng. Trách nhiệm giải quyết vấn đề này có một phần không nhỏ thuộc về các nhà nghiên cứu và giảng dạy Hán-Nôm.


Thứ hai, người Việt chúng ta cần có thái độ và tư thế như thế nào trong việc tiếp nhận, kế thừa và nghiên cứu những di sản văn hóa mà các thế hệ đi trước để lại cũng như tiếp nhận tinh hoa văn hóa của thế giới để hội nhập vào thế giới văn minh?


Liệu rằng sự tiếp nhận và kế thừa di sản văn hóa của cha ông có mâu thuẫn với việc giao lưu và hội nhập vào thế giới văn minh?


Những ý kiến tranh luận thể hiện sự đối lập gay gắt giữa việc học Hán-Nôm với học các thứ tiếng như Anh, Pháp… phần nào thể hiện trong vô thức sự lúng túng của người Việt khi đứng trước những giá trị của Đông và Tây.


Thứ ba, cuộc tranh luận được đẩy đi rất xa và rộng với nhiều vấn đề khác nhau đã đặt ra cho tất cả người Việt quan tâm đến vận mệnh của dân tộc một câu hỏi: chúng ta là ai và chúng ta sẽ thế nào?


Như một quy luật tất yếu, khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào thế giới và chia sẻ các giá trị phổ quát của nhân loại, nhu cầu khám phá, làm rõ quá khứ và tìm lại cội nguồn sẽ ngày một trở nên mạnh mẽ.


Tái xác nhận “Identity” sẽ trở thành một nhu cầu tự thân của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng. Trong quá trình ấy, quá khứ nói chung và di sản Hán-Nôm sẽ có vai trò lớn.


Khi nhìn ở phạm vi rộng lớn như thế, cả ý kiến đề nghị đưa Hán-Nôm vào giảng dạy trong trường học và những ý kiến phản đối mạnh mẽ thực ra đều thể hiện nhu cầu định vị lại chính bản thân mình và cộng đồng mà mình quy thuộc vào.


Sau một thời gian ồn ào, cuộc tranh luận rồi cũng sẽ lắng xuống. Nhiều người khi bình tĩnh lại sẽ nhận ra nhiều ý kiến chỉ trích đã “đi quá đà”.


Với riêng tôi, ý kiến đề nghị của PGS.TS Đoàn Lê Giang trong tư cách một nhà nghiên cứu là rất bình thường. Chuyện tranh luận hay phản bác lại ý kiến của ông cũng là chuyện bình thường vì không phải mọi dẫn chứng và lập luận ông đưa ra đều hoàn toàn hợp lý.


Chẳng hạn, nếu như ông đưa ra dẫn chứng học sinh Nhật Bản có phân môn tự chọn là Cổ điển trong môn Quốc ngữ ở bậc học Trung học phổ thông để kế thừa và nghiên cứu di sản của cha ông sẽ thuyết phục hơn chuyện học sinh Nhật phải học bắt buộc một số lượng chữ Hán ở từng cấp học bởi vì tiếng Nhật hiện đại vẫn phải dùng đến các chữ Hán đó.


Tất nhiên, cho dù ủng hộ ông về ý tưởng, tôi vẫn không mấy lạc quan về tương lai của ý tưởng đó khi nó được thực hiện trong thực tế khi chữ Hán-Nôm được đưa vào trường học cho dù chỉ là môn tự chọn hay sinh hoạt câu lạc bộ.


Nếu như nền giáo dục hiện tại không được cải cách một cách cơ bản thì cho dù đưa vào bất cứ một nội dung mới nào, nó cũng sẽ thất bại. Chất lượng của các môn học hiện hành, chẳng hạn như môn Văn hay Lịch sử đủ để dự đoán kết quả ấy.


Tất nhiên, tranh luận và phản đối khác với mạt sát và công kích cá nhân. Sẽ rất thiếu công bằng đối với cá nhân PGS.TS Đoàn Lê Giang và không có ích gì thêm cho cộng đồng người Việt nếu như cuộc tranh luận chỉ dựa trên những suy diễn.


Có lẽ trải qua một thời gian dài, người Việt không có nhiều cơ hội và không gian để tranh luận thoải mái vì thế khi mạng internet đột ngột đem lại điều ấy, người Việt chúng ta đã sôi nổi tranh luận mà chưa quen với những nguyên tắc và kĩ năng tranh luận. Để có nó, có lẽ người Việt cần cả đến thời gian và sự tự thân nỗ lực của mỗi người.


Nguyễn Quốc Vương/vietnamnet.vn


Đề xuất dạy chữ Hán: Hãy để học sinh Việt Nam được tự lựa chọn


Hiệu Minh


Với học sinh tại Việt Nam nên để các cháu lựa chọn tự nhiên. Cháu nào thích khoa học kỹ thuật nên chọn tiếng Anh hay Pháp. Mê văn hóa phương Đông thì tiếng...


Vốn chữ Nho của tôi từ thuở thò lò mũi xanh là mấy từ trong Tam Thiên Tự (3000 chữ) "Thiên trời, địa đất, từ cất, tồn còn…", dù chẳng biết chữ "Thiên" viết thế nào, "Tử chết" và "Tử con" khác nhau ra sao. Cứ nghĩ học cái chữ này chẳng có tương lai.


Sau này mới biết, trong 10 ngôn ngữ dùng thông dụng trên thế giới thì tiếng Trung đứng số 1 với hơn một tỷ người nói, tiếng Anh đứng thứ 2 với gần 800 triệu, tiếng Tây Ban Nha đứng hàng thứ 3 với gần 500 triệu, và tiếng Nhật đứng thứ 10 bằng dân số Nhật gần 130 triệu.


Trên internet tiếng Anh đứng đầu với 536 triệu người, tiếng Trung đứng thứ 2 với 444 triệu, tiếp đó mới là Tây Ban Nha với 153 triệu và tiếng Nhật chỉ có gần 100 triệu, trong một thế giới 7 tỷ người.


Như vậy, theo số đông thì nên học tiếng Trung để Du lịch và làm ăn với hàng xóm, nhưng để hội nhập xa, tiếng Anh nên là lựa chọn.


Nước Nhật với chữ tượng hình đang thay đổi


Trong lúc tại Việt Nam đang tranh cãi về ý kiến của PGS Đoàn Lê Giang muốn dùng tiếng Việt trong sáng học sinh phải học chữ Hán, thì cách Hà Nội khoảng 5 giờ bay tại Tokyo, chính phủ nước này đang đưa chiến lược dạy tiếng Anh trong trường.


Đầu tháng 8-2016, thủ tướng Shinzo Abe đã công bố kế hoạch phổ biến rộng rãi tiếng Anh cho các em từ tuổi lên 8 thay vì 10 tuổi như trước đây, tập trung vào đọc, viết và ngữ pháp.


Người Nhật cũng giống người Trung Quốc không cần ngoại ngữ cũng có thể phát triển kinh tế có thứ hạng toàn cầu. Và họ có lý. Trung Quốc có nền kinh tế thứ 2 và Nhật sau một bậc.


Tới sân bay Narita du khách vui vì gặp người giúp mang hành lý lên xe bus, lái taxi lịch sự, dịch vụ hoàn hảo với những cái cúi gập lưng tưởng chừng gẫy cả xương sống, nhưng hỏi vài câu tiếng Anh thì bắt đầu thất vọng.


Trong các nước G7, Nhật đứng hạng chót trong xếp hạng nói tiếng Anh. Bộ trưởng phát biểu cứ tưởng tiếng Nhật có nhiều từ giống tiếng Anh.


Năm 2015, điểm trung bình TOEFL của người Nhật đứng thứ 70 trong 120 quốc gia, thấp nhất trong các nước Đông Á, chỉ hơn Lào và Campuchia.


Giáo sư Hideyuki Takashima của đại học Tokyo cho rằng, nước Nhật cần tiếng Anh để hiểu các nền văn hóa khác và nhờ đó có thể lan tỏa văn hóa Nhật. Đối với chính phủ thì tiếng Anh giúp phát triển kinh tế và hội nhập.


Công cuộc toàn cầu hóa đã làm cho nước Nhật bị bỏ lại phía sau do việc làm bị Trung Quốc và Ấn Độ chiếm. Muốn gượng dậythì phải học ngoại ngữ.


Nhiều công ty Nhật đã bắt đầu chú trọng ngoại ngữ. Sony đòi hỏi các nhân viên phải biết giải thích về sản phẩm bằng tiếng Anh. Honda dự định tới năm 2020 sẽ chuyển đổi sang ngoại ngữ.


Dù văn hóa đóng kín của người Nhật sẽ tiếp tục trên đất nước này với chữ tượng hình nhưng hội nhập với thế giới thì chỉ còn cách đi theo trào lưu của thế giới.


Các nhà khoa học dự đoán 80% dân Nhật không cần tiếng Anh vẫn sống tốt. Nhưng với xu hướng người già nhiều, lao động trẻ có trình độ cao thiếu, thủ tướng Shinzo Abe không thể hài lòng với những dòng tượng hình nếu không thêm tiếng Anh phía dưới.


Chữ Hán Nôm và văn hóa Việt


Trung Quốc có nền văn hóa đồ sộ 5000 năm lịch sử, ảnh hưởng đến mọi ngõ ngách của thế giới. Người Hoa đi cư khắp nơi và để lại những China Town, khu người Hoa và chính họ cũng hòa nhập với người bản địa.


Với 1000 năm đô hộ của phương Bắc, Việt Nam bị ảnh hưởng rất lớn bởi văn hóa Trung Hoa, từ phong tục tập quán, chùa chiền miếu mạo, tới cả chữ viết.


Khi tìm tên cho đứa con đầu lòng, tôi thích chữ Minh vì trong chữ Nho thì Minh () bao gồm hai chữ mặt trời ()và mặt trăng (). Mặt trời sáng ban ngày, trăng sáng ban đêm. Minh là sáng cả đêm lẫn ngày thì chắc chắn rất sáng.


Từ đó, tôi thấy chữ Nho có những giá trị phong phú, nếu không hiểu thật đáng tiếc. Thăm đền chùa, tôi hay hỏi các vị sư chủ trì về các chữ viết trên câu đối và thích thú khi nghe giải thích ý nghĩa của từng chữ.


Chữ Nho là một phần không thể thiếu của người Việt. Để mai một hay trường tồn phụ thuộc vào các nhà văn hóa và lãnh đạo có tầm nhìn.


Lựa chọn thế nào?


Ngày nay Trung Quốc với số dân gần 1,4 tỷ, nền kinh tế thứ 2 thế giới, sự phát triển mà phương Tây vừa nể vừa lo ngại.


Thấy người Mỹ học tiếng Trung để tìm việc ở Bắc Kinh thì phải hiểu đó là sự hội nhập. Tháng 9 năm ngoái, TT Obama công bố muốn có 1 triệu người Mỹ biết tiếng Trung vì cho rằng, hai quốc gia muốn hợp tác tốt thì phải có con người cụ thể biết tiếng của nhau.


PGS Giang kêu gọi dạy Hán Nôm trong trường là một ý tốt. Hiểu được di sản cha ông để lại sẽ tìm được ngọc trong đá cho quốc gia phát triển.


Đất nước đang khủng hoảng niềm tin, văn hóa bị xô lệch từ Á sang Âu, từ Nga sang Trung cho tới Nhật, việc nhận biết mình là ai, đâu là thế mạnh, thì chắc chắn phải hiểu nguồn gốc. Chữ Hán Nôm là một công cụ.


Về đối ngoại, hàng xóm lúc vui, lúc buồn, lúc thân tình, lúc thù hận, nếu hiểu người ta thì dễ sống hơn là phủ nhận. Cách tốt nhất để không bị lệ thuộc Trung Quốc, lan tỏa ngược văn hóa Việt hay hợp tác win win thì nên biết đối tác như người Nhật đang học tiếng Anh.


Con trai của tôi hiện đang học PTTH tại Mỹ. Nhớ có lần giải thích cho cháu về chữ MINH. Không rõ cháu có hiểu, nhưng khi vào lớp 8, cháu đã chọn tiếng Trung là một ngoại ngữ. Trong trường, học sinh được lựa các môn mà các cháu cho là thế mạnh và có đam mê. Thích lịch sử thì học nhẹ toán, thích IT có thể bớt môn sinh vật.


Với học sinh tại Việt Nam cũng nên để những lựa chọn tự nhiên cho các cháu. Cháu nào thích khoa học kỹ thuật nên chọn tiếng Anh hay Pháp. Mê văn hóa phương Đông thì tiếng Trung hay Nhật là những ngôn ngữ đáng học. Mê lịch sử, văn hóa cổ chọn nghiên cứu Hán Nôm.


Nếu được lựa như menu trong nhà hàng thì phụ huynh và học sinh sẽ biết học cho sự đam mê và khởi nguồn cho sáng tạo.


Để có sự trong sáng của tiếng Việt thì nên Việt hóa thay vì dùng các từ bị Hán hóa một cách vô thức. Và không thể bắt bọn trẻ ngồi nhai từng chữ rắc rối như thế hệ cách đây nửa thế kỷ"Thiên trời địa đất...".


Hiệu Minh/baomoi.me


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sát cánh chống xâm lăng: Phi công VN cộng hoà và phi công VN dân chủ cộng hoà - Mai Thanh Hải 29.04.2017
Nào ai có lòng với nước hơn ai? Nước ơi! - Lưu Trọng Văn 29.04.2017
Nói một chút về chính trị: Việc anh Thăng sẽ bị kỷ luật! - Triệu Xuân 28.04.2017
Bà con vùng sạt lở sông Vàm Nao thoát nạn nhờ một người tắm sông - Nhiều tác giả 26.04.2017
Cuộc đời và văn nghiệp của cha tôi: Bình Nguyên Lộc - Tống Diên 26.04.2017
Khi tờ báo gia đình đối đầu các ông lớn - James Warren 25.04.2017
Tranh cãi về 'tượng Đức Ông' ở đền Quán Thánh - Tư liệu 24.04.2017
Ngáo đá, lộ hàng, chảnh chó... sáng tạo hay méo mó tiếng Việt? - Vũ Viết Tuân 23.04.2017
Về thị trường sách và việc xuất bản - Hà Thủy Nguyên 18.04.2017
Cảm nhận của một bạn trẻ Ba Lan lần đầu đến Sài Gòn - Szymon Siudak 14.04.2017
xem thêm »