tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20562259
Tiểu thuyết
12.10.2016
Đặng Nhật Minh
Hồi ký điện ảnh



Những chuyến xuất ngoại và những người thân không cùng quốc tịch


Nếu không kể chuyến đi sang Trung Quốc vào năm 1951 để học tại Trường Thiếu sinh quân Việt Nam rồi sang Liên Xô vào năm 1954, thì chuyến đi công tác đầu tiên của tôi ra nước ngoài là vào tháng 7 năm 1959 với tư cách là phiên dịch tiếng Nga. Lần đó tôi được đi theo đoàn điện ảnh Việt Nam sang Liên Xô tham dự Liên hoan phim Matxcơva lần thứ nhất. Năm đó Việt Nam tham dự phim truyện Chung một dòng sông và phim tài liệu Nước về Bắc Hưng Hải. Đoàn Việt Nam gồm có Cục trưởng Cục Điện ảnh Trần Đức Hinh làm trưởng đoàn và đồng chí Vũ Năng An đang học chủ nhiệm phim ở Trường điện ảnh Liên Xô là thành viên. Khi đoàn lên đường thì phim Chung một dòng sông chưa kịp ra bản đầu. Giữa Liên hoan phim, nhà quay phim Nguyễn Đắc mới đem phim sang. Đồng chí Trần Đức Hinh được nhắn đến Sứ quán để nhận phim và nghe truyền đạt chỉ thị của lãnh đạo bên nhà: Phim Chung một dòng sông là phim truyện đầu tiên của Việt Nam. Lần này tham dự Liên hoan phim quốc tế, thế nào cũng được bạn bè thế giới đón chào nồng nhiệt, chắc chắn sẽ được giải cao. Vì vậy đoàn phải đề phòng thái độ kiêu căng tự mãn. Cũng vì đề phòng như vậy, nên ở nhà chỉ cử anh Nguyễn Đắc đem phim sang mà không cử đạo diễn, diễn viên. Không được giới thiệu anh Nguyễn Đắc là người quay phim này. Phải hết sức khiêm tốn, không được tuyên truyền gì ầm ĩ.


 Trưởng đoàn Trần Đức Hinh đem phim về nộp cho Ban tổ chức Liên hoan phim, đưa nhà quay phim Nguyễn Đắc về khách sạn nhưng vì chấp hành nghiêm chỉnh chỉ thị ở bên nhà nên không giới thiệu với Ban tổ chức. Trở ngại đầu tiên là cứ đến mỗi bữa ăn nhà quay phim Nguyễn Đắc không có phiếu ăn (vì không đăng ký với bạn, sợ lộ). Chúng tôi đành chia phần ăn của mình cho anh Đắc. Ngủ thì anh nằm chung giường với tôi. Gần đến ngày chiếu phim, chúng tôi rất hồi hộp. Nhưng có vẻ cả đại hội ít ai chú ý đến buổi chiếu đó. Trong Liên hoan phim có hàng trăm phim được chiếu và phim nào cũng được tuyên truyền giới thiệu rầm rộ. Đồng chí Trần Đức Hinh thấy vậy vội vào Sứ quán báo cáo tình hình. Sứ quán điện về nước xin chỉ thị. Ở nhà điện sang cho phép được tuyên truyền. Trưởng đoàn vội vã về khách sạn chỉ thị cho tôi phải lập tức gặp các phóng viên, đưa ảnh nhờ họ đăng giúp, cho phép anh Nguyễn Đắc được xuất đầu lộ diện, báo cho Ban tổ chức biết để cấp phiếu ăn. Ấy vậy mà đến hôm chiếu phim Việt Nam, sắp đến giờ rồi mà vẫn chỉ lác đác vài người tóc vàng, còn thì toàn là anh chị em sinh viên Việt Nam học ở Matxcơva háo hức đến xem. Đồng chí Trần Đức Hinh lệnh cho tôi yêu cầu Ban tổ chức cho chiếu chậm lại 15 phút, để chờ thêm khách. Sau 15 phút cũng không đông hơn, đành để họ chiếu. Hôm đó có ông Georges Sadoul, nhà lý luận điện ảnh Pháp, tác giả cuốn Lịch sử điện ảnh thế giới, ngồi ở ghế đầu sát màn ảnh xem rất chăm chú. Xem xong ông khen quay phim tốt, rồi cũng không thấy ông nói gì thêm. Sau đó tôi phải dịch trực tiếp lời thuyết minh từ Việt sang Nga trong buổi chiếu phim Nước về Bắc Hưng Hải. Buổi chiếu khá đông. Tôi nhớ khi dịch câu thuyết minh: Chiến sĩ thi đua X.... lập thành tích gánh được 80 kg đất vì anh đã vứt bỏ đi được 50 kg chủ nghĩa cá nhân.... thì không ai hiểu sự tình gì, tưởng tôi dịch nhầm. Phim chiếu xong nhiều người xúm lại hỏi tôi về câu đó. Tôi giải thích với họ rằng: Con người ta sở dĩ không lập được thành tích cao trong lao động sản xuất là vì bị chủ nghĩa cá nhân đè nặng. Nếu vứt bỏ gánh nặng đó thì sẽ lập được những thành tích phi thường. Giải thích vậy rồi mà vẫn có người lắc đầu không hiểu nổi.


Trước ngày bế mạc Liên hoan phim, khách được mời đi tham quan Leningrad. Trên đường đi không hiểu sao các đoàn bạn thỉnh thoảng gặp chúng tôi hồ hởi bắt tay với những cái nháy mắt đầy ngụ ý. Đến tối trở về Matxcơva, Cục trưởng Trần Đức Hinh triệu tập đoàn nhận định tình hình: Qua thăm dò trong khi đi tham quan Leningrad, một số đoàn bạn cho biết Việt Nam có thể được giải, mà lại là giải cao. Đúng như dự đoán của lãnh đạo ở nhà. Rồi hướng về phía nhà quay phim Nguyễn Đắc, ông nói: Chúng ta phải hết sức khiêm tốn, không được kiêu căng và nếu họ mời đoàn lên nhận giải thì tôi là trưởng đoàn sẽ lên nhận.


 


Tối hôm công bố giải cả đoàn Việt Nam hồi hộp nhưng cố giấu sự vui mừng không để lộ ra bên ngoài. Tin này cũng được báo đến cho Sứ quán ta biết. Tối hôm đó đích thân Đại sứ Nguyễn Văn Kỉnh cũng đến dự. Phần công bố các giải thưởng cho phim truyện xong chẳng thấy phim Việt Nam đâu cả. Chúng tôi thất vọng vô cùng. Đến phần công bố Giải Tài liệu bỗng hai tiếng Việt Nam được nhắc đến sau cùng với bộ phim Nước về Bắc Hưng Hải đoạt giải Vàng. Cả đoàn như không tin vào lỗ tai mình nữa. Trưởng đoàn Trần Đức Hinh trịnh trọng bước lên nhận giải. Tối hôm đó ông Đại sứ vội điện ngay về nhà và nhận được chỉ thị: Cục trưởng Trần Đức Hinh cùng nhà quay phim Nguyễn Đắc đem giải Vàng về nước ngay. Hai ông đáp máy bay về lập tức, còn lại mình tôi về sau bằng đường tàu hỏa.


Chủ tịch Ban giám khảo phim tài liệu năm ấy là ông Joris Ivens – nhà đạo diễn nổi tiếng Hà Lan. Trong cuộc họp báo kết thúc Liên hoan phim ông nói về bộ phim của Việt Nam như sau: Sức lực con người, với những phương tiện thô sơ, với một nhiệt tình hăng say lao động chưa từng có, được phản ánh chân thực ở trong phim đã chinh phục Ban Giám khảo. Với những lý do đó, bộ phim xứng đáng đoạt giải Vàng (năm đó bộ phim Những người chinh phục biển của đạo diễn Liên Xô Các-men được giải Bạc. Giải Vàng phim truyện về tay đạo diễn Bônđasúc với bộ phim Số phận con người).


Tại Liên hoan phim Matxcơva năm đó tôi được xem Hiroshima-Tình yêu của tôi của đạo diễn Pháp Alain Resnais, một phim đã tác động sâu sắc tới bước đường sáng tác điện ảnh của tôi sau này. Nó mở ra cho tôi một chân trời điện ảnh mới lạ mà trước đây tôi chưa từng biết đến bao giờ.


Lần xuất ngoại đầu tiên của tôi với tư cách đạo diễn là vào năm 1986, một năm sau khi bộ phim Bao giờ cho đến tháng Mười nhận Giải thưởng đặc biệt của Ban giám khảo tại Liên hoan phim Hawaii (Mỹ). Trong Ban giám khảo lần ấy có bà Aruna Vasudev, nhà phê bình phim Ấn Độ kiêm Tổng biên tập tạp chí Điện ảnh châu Á Cinémaya. Bà rất thích bộ phim này nên quyết tâm mời tôi và nữ diễn viên Lê Vân đem phim sang giới thiệu tại Liên hoan phim New Dhely. Hồi đó việc làm thủ tục xin đi nước ngoài, một nước không phải XHCN, mà không có lãnh đạo đi kèm, phải thỉnh thị ý kiến rất nhiều cấp. Cuối cùng tôi và Lê Vân chỉ cầm được hộ chiếu trên tay vào phút chót trước khi ra sân bay. Khi chúng tôi ra tới sân bay Nội Bài thì máy bay Hà Nội - Băngcốc đã lăn bánh trên đường băng. Chúng tôi đành về Hà Nội trả vé. May thay các nữ nhân viên Hàng không Việt Nam nhận ra chị Duyên trong Bao giờ cho đến tháng Mười nên đã tìm cách gửi chúng tôi đi chuyến bay của Hãng Hàng không Lào quá cảnh qua Viênchăn ngay trong ngày hôm đó. Chúng tôi dừng lại Băngcốc một ngày để lấy vé rồi đi tiếp sang New Delhi.


Vừa đặt chân tới khách sạn Ashoka ở New Delhi, chưa kịp tắm rửa thì đã có chuông điện thoại. Đầu dây nói đằng kia là một giọng nữ nói bằng tiếng Pháp tự giới thiệu mình là Aruna Vasudev, rồi hẹn tôi và Lê Vân tối nay trong buổi lễ khai mạc đến trước 15 phút chờ ở cửa số 2 cho bà gặp. Đúng hẹn chúng tôi đứng chờ chẳng biết ai trong số người qua lại trước mặt là bà Aruna. Lát sau, một phụ nữ trung niên gương mặt hiền hậu tiến lại phía chúng tôi với nụ cười trên môi. Thoạt tiên bà đứng lặng nhìn Lê Vân từ đầu đến chân với ánh mắt vô cùng âu yếm, hệt như một người mẹ lâu ngày gặp lại đứa con gái yêu của mình. Rồi quay sang tôi bà nói: Từ xa tôi đã nhận ngay ra cô Duyên của anh. Từ đó về sau tôi còn gặp bà nhiều lần nữa trong các Liên hoan phim quốc tế, có lần bà sang thăm Việt Nam. Mỗi lần gặp bà tôi có cảm tưởng như gặp lại người thân trong gia đình.


Năm 1987 tôi được Trung tâm Đông Tây (East-West Center) của Mỹ mời sang Honolulu hai tháng để chuẩn bị cho một chương trình phim Việt Nam giới thiệu tại Liên hoan phim Hawaii năm ấy (Liên hoan phim này do Viện giao lưu văn hóa của Trung tâm Đông Tây tổ chức). Đi Mỹ một mình, lại đi trong hai tháng, hồi đó là một chuyện chưa từng có trong lĩnh vực điện ảnh. Bộ trưởng Bộ Văn hóa Trần Văn Phác vô cùng đắn đo. Cuối cùng ông quyết định chỉ cho đi một tháng với lý do không phải họ mời đi bao lâu thì mình đi bấy lâu. Họ mời 2 tháng thì mình đi một tháng thôi, để giữ cái thế chủ động của mình. Tôi rất ngạc nhiên vì biết rằng không ai mời tôi sang đó để chơi cả. Hai tháng là thời gian cần thiết để hoàn thành những công việc mà họ cần có tôi. Tôi nhờ người phản ánh việc này lên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch. Ông trao đổi lại với Bộ trưởng Trần Văn Phác và cuối cùng tôi đã được đi Hawaii trong 2 tháng. Tôi làm việc trong trung tâm Đông Tây như một chuyên viên, có phòng làm việc riêng, hàng tuần họp giao ban với tất cả những người làm việc ở đây.


Ngoài người Mỹ ra, làm việc ở Trung tâm Đông Tây có đủ người các quốc tịch châu Á như: Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Indonesia, Mianma, Thái Lan, Philipin.... Tôi là người Việt Nam duy nhất. Hàng ngày tôi làm việc với ông John Charlot dịch các lời thoại trong phim từ Việt sang Pháp rồi ông Charlot lại dịch từ Pháp sang Anh, viết bài giới thiệu các phim, gặp gỡ báo chí v.v.... Ông John là giáo sư về văn hóa các dân tộc Polynesie tại Đại học Hawaii. Sau khi ông được xem phim Bao giờ cho đến tháng Mười tại Liên hoan phim Hawaii năm 1985 và rồi yêu thích phim Việt Nam mà nhận lời làm việc cho Trung tâm Đông Tây như người tuyển chọn, tổ chức chương trình phim Việt Nam. Ông làm việc say mê, coi tôi như bạn thân. Có lần ông tâm sự với tôi: Trong đời ông từ trước đến nay, đây là công việc làm mà ông thấy hứng thú và có ý nghĩa nhất.


Trong hai tháng ở Hawaii, người ta đã chiếu cho tôi xem tất cả các phim về đề tài chiến tranh Việt Nam mà người Mỹ đã làm, để có một nhận định riêng phát biểu trong cuộc hội thảo với các nhà đạo diễn Mỹ. Phải nói rằng các nhà điện ảnh Mỹ đã lao vào đề tài này một cách say sưa hăng hái chưa từng có ngay sau khi chiến tranh vừa kết thúc (khác hẳn với các đồng nghiệp Pháp sau năm 54). Cuộc hội thảo được tổ chức trong khuôn khổ của Liên hoan phim Hawaii năm đó. Đoàn điện ảnh Việt Nam còn có thêm Thứ trưởng Bộ Văn hóa Đình Quang cùng Cục phó Cục điện ảnh Bùi Đình Hạc sang sau. Trong đoàn điện ảnh Mỹ từ Holywood đến có nữ diễn viên Kiều Chinh. Tôi nghe nói về cô như một gương mặt sáng giá nhất của điện ảnh Sài Gòn trước đây. Kiều Chinh bây giờ là một nữ diễn viên của Hollywood. Cô gặp chúng tôi với thái độ lịch sự, xã giao nhưng rất xa cách bởi vì cô từ Holywood tới, còn chúng tôi từ Hà Nội sang. Trong hội thảo Kiều Chinh cũng chẳng đứng về phía nào, chẳng bênh vực ai mà cũng chẳng phê phán ai. Còn tôi thì nói thẳng những suy nghĩ của mình rằng trong tất cả các phim người Mỹ đã làm về chiến tranh Việt Nam đều giống nhau ở một điểm: những người lính Mỹ là những con người, có kẻ độc ác, có kẻ lương thiện, có tội ác, có lòng nhân ái, có bi kịch và có nỗi đau.... nghĩa là có đủ mọi thứ tình cảm của con người. Còn đối thủ của họ là ai? Đó là những người tuy có đầu mình chân tay cả đấy nhưng họ không giống bất kỳ ai trên trái đất này. Họ không có một thứ tình cảm gì khác của con người ngoài chiến đấu hy sinh vì lý tưởng của họ. Việt cộng trong các phim đều giống hệt bọn Ăngca của Pôn Pốt. Có một câu nói của tướng Westmoreland trong bộ phim tài liệu Trái tim và khối óc mà ở Mỹ ai ai cũng biết: Việt cộng là những người không sợ chết bởi vì họ không biết giá trị của cuộc sống. Cả nước Mỹ bấy lâu nay đều tin như vậy. Trong bối cảnh đó thì chị Duyên trong Bao giờ cho đến tháng Mười bất ngờ xuất hiện ngay trên đất Mỹ, trước khán giả và những người làm phim Mỹ. Chị đã âm thầm trả lời cho tất cả những định kiến kia mà không cần phản bác to tiếng. Nữ diễn viên Kiều Chinh sau khi xem phim xong vừa bước ra khỏi rạp đã gục đầu vào vai tôi mà khóc nức nở trước con mắt ngạc nhiên của các đồng nghiệp Holywood. Lúc này chị hoàn toàn là một phụ nữ Việt Nam. Từ đó Kiều Chinh không còn là Kiều Chinh như khi vừa tới Hawaii nữa. Sau này mỗi lần về Việt Nam, Kiều Chinh đều tìm gặp tôi. Có lần Kiều Chinh gọi điện cho tôi từ Mỹ, tâm sự mong có ngày được về Việt Nam đóng trong một phim nào đó.


Tháng 11 năm 2001 tôi có dịp trở lại Hawaii với bộ phim Mùa ổi. Hawaii sau vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 măm 2001 không còn như xưa. Không còn khung cảnh nhộn nhịp của khách thập phương trên đường phố Waikiki ở Honolulu. Những bạn bè quen biết cũ nay không còn làm việc trong Ban tổ chức LHP nữa. Người sang tuyển chọn phim Việt Nam lần này là anh Anderson Le, người Mỹ gốc Việt. Tháng 4 năm 1975 mẹ anh trở dạ đau đẻ trên chiếc máy bay chở người tỵ nạn Việt Nam dừng cánh tại Honolulu và Anderson đã ra đời tại đây. Giáo sư Jhon Charlot tìm gặp tôi để cùng nhau ôn lại những kỷ niệm cũ. Sau lần tham gia tổ chức chương trình phim Việt Nam năm 1987, ông lại trở về giảng dạy tại Đại học Hawaii. Trong những buổi chiếu phim tôi cảm động gặp lại nhiều khán giả quen biết ngày nào. Có một nữ khán giả đã cho tôi xem bài thơ của anh giáo Khang trong phim Bao giờ cho đến tháng Mười mà tôi đã chép tặng chị trong sổ tay cách đây 15 năm. Cảm động nhất là buổi gặp lại anh chị em Việt kiều mà tôi đã thân quen trong thời gian ở Honolulu trước đây. Họ rủ nhau đi xem phim, cổ vũ cho điện ảnh nước nhà. Tôi trở lại thăm Bảo tàng Mỹ thuật nơi cách đây 15 năm lần đầu tiên đã chiếu phim Bao giờ cho đến tháng Mười. Bảo tàng vẫn như vậy. Tôi có cảm giác như thời gian ở đây hầu như không trôi. Cảnh vật vẫn thế không cũ đi, con người vẫn thế không già đi. Vẫn nắng ấy và gió biển ấy, không có gì thay đổi. Chỉ có một sự thay đổi lớn lao bàng bạc trong không trung mà người ta chỉ có thể cảm nhận được thôi. Đó là sau sự kiện ngày 11 tháng 9, cuộc sống trên hành tinh này đã thay đổi. Nhân loại đã bước sang một thời kỳ mới, chưa ai biết sẽ như thế nào, chỉ biết nó không còn như xưa nữa.


Những bộ phim mà tôi đã làm đã đưa tôi đi rất nhiều nước và qua những phim đó nhiều người đã tìm đến Việt Nam, phát hiện ra nền điện ảnh Việt Nam. Tôi không thể kể hết được những bạn bè khắp nơi mà tôi có được qua những bộ phim đó. Từ trước đến nay tôi chỉ biết có tình gia đình gồm cha mẹ vợ con, bà con ruột thịt, tình bạn, tình yêu, tình đồng hương, đồng học.... Tôi chưa đi bộ đội nên chưa biết cái cao cả của tình đồng đội. Còn có tình đồng chí nữa nhưng tôi chưa được trải nghiệm. Nhưng chưa bao giờ tôi biết được rằng còn có một thứ tình cảm của những người khác quốc tịch, khác màu da mà trở nên thân thiết như ruột thịt. Chính là nhờ những bộ phim mà tôi biết được cái tình cảm đó. Tôi không thể kể hết tên những người đã trở nên thân thiết gần gũi đối với tôi ở khắp các nước mà tôi đã được mời đến. Đôi khi tôi có cảm tưởng như tất cả họ đều theo dõi việc làm của tôi, vui mừng trước những thành công của tôi và lo lắng khi tôi gặp những khó khăn trắc trở. Trong những ngày sang dự Liên hoan phim Việt Nam lần thứ X, trước không khí sục sôi chống phá bộ phim Thương nhớ đồng quê, bôi nhọ danh dự của tôi, bà Sato đã khóc vì thương tôi như một người chị thương em. Ông Klaus Eder thì bịn rịn chia tay tôi như người thân sắp phải xa nhau. Đêm cuối cùng trước khi rời Hà Nội ông còn đến xem tôi quay cảnh đêm ở ven sông Hồng trong phim Hà Nội - Mùa đông 46.


Tôi không thể kể hết những Liên hoan phim quốc tế mà tôi đã từng tham gia, những thành phố, vùng đất mà tôi đã từng đến, những phi trường mà tôi đã từng đặt chân qua.... ở hầu khắp các châu lục (chỉ trừ châu Mỹ La tinh). Nhưng đáng ghi nhớ nhất đối với tôi là lần tham dự Liên hoan phim Kobe vào năm 1996. Cách đây 100 năm, vào tháng 11.1896 bộ phim đầu tiên được chiếu trên đất Nhật là tại thành phố Kobe này-một thành phố cảng lớn. Nhân kỷ niệm sự kiện lịch sử này, người ta đã tổ chức một Liên hoan phim quốc tế (đúng hơn là những ngày phim quốc tế) kéo dài suốt một tháng liền. Ban tổ chức đã chọn 60 bộ phim tiêu biểu của điện ảnh thế giới để chiếu khắp các rạp trong thành phố. Các đạo diễn của các phim đó đều được lần lượt mời đến Kobe.


Trong số những người được mời có những tên tuổi lớn như Andrzej Wajda (Ba Lan), Trần Khải Ca, Trương Nghệ Mưu (Trung Quốc), Kiarostami (Iran), Edward Yang (Đài Loan) v.v.... Bộ phim Thương nhớ đồng quê đã được chọn chiếu tại đây và tôi được mời đến Kobe để tiếp xúc với khán giả. Thật vinh dự và cảm động biết bao khi được đứng trên sân khấu trong buổi lễ khai mạc cạnh những tên tuổi mà tôi hằng khâm phục và hâm mộ từ lâu. Liên hoan phim này chỉ tổ chức có một lần như vậy. Có lẽ 100 năm sau mới có lần thứ hai. Thành phố Kobe đầu năm đó vừa trải qua một trận động đất khủng khiếp làm hơn 5000 người chết, không kể số người bị thương. Trong lễ khai mạc, ông Tỉnh trưởng Kobe đã nói những lời thật cảm động: Qua biến cố động đất đau thương này, những người dân Kobe nhận ra rằng những giá trị vật chất không có ý nghĩa gì. Nó có thể tan biến đi trong khoảnh khắc. Cái còn lại mãi mãi là những giá trị tinh thần, giá trị văn hóa. Rồi ông nhắc lại lời đạo diễn Vaida đã từng nói: chính những khổ đau đã mang lại sức mạnh cho tôi trong sáng tác.


Tôi đi thăm khu động đất. Vết tích tàn phá vẫn còn, nhà cửa vẫn chưa kịp dựng lại. Trên những bức tường còn sót lại, người ta đã vẽ thật ngộ nghĩnh cảnh những người tiền sử, đóng khố cởi trần đang khuân vác gỗ đá để xây dựng nơi ở. Tất cả đều nở nụ cười trên môi. Người Kobe muốn lấy tấm gương lạc quan của người xưa để động viên mình bắt tay xây dựng lại từ đầu. Ngoài một vài khu bị thiệt hại ra, toàn thành phố vẫn còn nguyên vẹn rực rỡ ánh đèn trong màn đêm. Có thể nói đây là một trong những thành phố đẹp nhất mà tôi đã đặt chân qua, đặc biệt là lúc về đêm. Người Nhật có câu ngạn ngữ: Cảnh đêm Kobe đáng giá bạc triệu. Đêm cuối cùng trước khi chia tay với Kobe, một anh trong Ban tổ chức rủ tôi đi bộ đến một quán cà phê đặt dưới một tầng hầm. Ông chủ có gương mặt giống hệt thuyền trưởng nổi tiếng Pháp Jean Cousteau. Cả quán cà phê cũng được thiết kế hệt như một quán cà phê ở Paris, và cà phê cũng có mùi vị như cà phê Paris. Ông chủ đem ra một chiếc bút dạ đề nghị tôi ký tên lưu niệm lên bức tường trong quán. Ở đó tơi nhận ra nhiều chữ ký của các đạo diễn tên tuổi trên thế giới. Thì ra ai trong giới điện ảnh đến Kobe cũng tìm đến quán cà phê nổi tiếng này. Tôi ký xong, ông chủ nói: Chữ ký của anh sẽ còn mãi với Kobe…. trừ khi bị động đất.


Tháng 10.1997 lần đầu tiên tôi được mời tham gia Ban giám khảo một Liên hoan phim quốc tế - Lin hoan phim của các nước trong cộng đồng Pháp ngữ tại Namur (Bỉ). Ban giám khảo gồm có 9 thành viên là những người làm điện ảnh có uy tín của Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ, Canada, Bourkina Fasso, Tuynidi. Lần đầu tiên tham dự một Liên hoan phim mà bản thân không có phim dự thi hoặc chiếu giới thiệu nên tôi không phải lo lắng hồi hộp. Ngày nào cũng xem từ hai đến ba phim và không đêm nào đặt lưng ngủ trước hai giờ sáng (vì sau khi xem phim còn phải tham dự các cuộc gặp gỡ, chiêu đãi). Ban giám khảo được bố trí ở riêng trong một khách sạn trên đỉnh đồi cách thành phố 20 phút ô tô. Hàng ngày xem phim, ăn, ở chung một nơi, các thành viên trong Ban giám khảo nhanh chóng trở nên thân thiết như đã quen nhau từ lâu. Ban tổ chức hoàn toàn tôn trọng mọi quyết định của Giám khảo. Tôi không hề thấy họ chỉ thị, gợi ý nên trao giải cho ai, và không nên cho ai. Nhưng việc tuyển chọn phim nào để dự thi thì do họ quyết định. Tại Liên hoan phim này, tôi được tiếp xúc với nhiều đạo diễn châu Phi. Phần đông họ được đào tạo tại Pháp (có một vài người học ở Liên Xô cũ). Nền điện ảnh Pháp và nói rộng ra là nền điện ảnh các nước chịu ảnh hưởng văn hóa Pháp nhận thức rõ mối đe dọa sống còn đối với sự tồn tại của mình đó là nền điện ảnh Mỹ. Muốn tồn tại họ phải liên kết nhau lại trong sản xuất cũng như tiêu thụ các sản phẩm điện ảnh. Bộ phim đoạt giải nhất tại Liên hoan phim này là phim Les Clandestins (Những kẻ lén lút) do 4 nước cùng sản xuất (Pháp, Đức, Bỉ và Canada). Phim do hai đạo diễn cùng làm (một người Thụy Sĩ và một người Québec-Canada). Cả hai đều rất trẻ và đây là phim đầu tay của họ. Đêm bế mạc Liên hoan phim Namur 97 đã để lại cho tôi một ấn tượng không bao giờ quên được. Những màn trình diễn ca nhạc dân tộc, đọc thơ, kể chuyện (bằng tiếng Pháp) của các ca sĩ châu Phi thật linh hoạt, tự nhiên và cảm động. Tôi đã 3 lần tham dự Liên hoan phim Cannes, nhưng thú thực không có ấn tượng bằng. Cannes chỉ là nơi dập dìu tài tử giai nhân. Ở đó tôi cảm thấy mình như một hạt cát trong cái sa mạc của ngựa xe như nước áo quần như nêm. Trái lại ở Namur tôi được sống trong một không khí thật đầm ấm. Sau lần đó, tôi còn có dịp được mời tham gia nhiều Ban giám khảo của các Liên hoan phim Quốc tế khác nữa, có lần với tư cách là Chủ tịch Ban Giám khảo.


Bộ phim Thương nhớ đồng quê đã đưa tôi đến tận nước Cameroon xa xôi ở tận Trung Phi, đến đảo Reunion, nơi vua Duy Tân từng sống những ngày lưu đầy trước khi bị tử nạn máy bay vào năm 1945. Khán giả Cameroon đón nhận bộ phim một cách nồng nhiệt theo lối châu Phi: họ vỗ tay mỗi khi có những đoạn làm họ hứng thú. Tiếng vỗ tay kéo dài kiên tục trong suốt buổi chiếu phim làm tôi vô cùng xúc động. Sau khi chiếu xong là cuộc thảo luận trực tiếp với khán giả. Nhiều người phẫn nộ đặt câu hỏi: tại sao từ trước đến nay chúng tôi không được xem những phim như thế này mà chỉ toàn được xem những phim Mỹ nói về chiến tranh Việt Nam, trong đó người Việt Nam chỉ toàn là những người cầm AK, mặc bà ba đen giống như Ăngca vậy? Quả thật đây là bộ phim đầu tiên của Việt Nam chiếu ở Cameroun, có người nói rằng tôi là người Việt Nam đầu tiên mà họ được gặp.


Càng đi nhiều, tiếp xúc nhiều, tôi càng nhận ra một điều: con người ta ở đâu trên trái đất này tình cảm bên trong cũng đều giống nhau cả. Khác chăng là ở sự bộc lộ những tình cảm ấy và một vài phong tục tập quán riêng. Nhưng những sự khác biệt ấy không hề làm trở ngại mối quan hệ giữa con người với con người. Tôi cũng nhận ra rằng: nghệ thuật nói chung và phim ảnh nói riêng của nước nào cũng vậy, được làm ra không ngoài mục đích duy nhất là khám phá cái thế giới bên trong của con người. Quốc gia nào cũng muốn giới thiệu rộng rãi những giá trị văn hoá của các nước khác cho người nước mình, không phân biệt nước lớn, nước nhỏ, nước có thu nhập cao hay thu nhập thấp, và ngược lại giới thiệu những giá trị văn hóa của mình đến với mọi người. Trên bình diện văn hóa các dân tộc đều bình đẳng. Đó chính là ưu việt của văn hóa, là biểu hiện trình độ văn minh của nhân loại trong thế giới ngày nay.


Về hưu


    Khi tại Phòng thương binh xã hội Quận Hai Bà Trưng người ta trao cho tôi cuốn sổ hưu, rồi đề nghị ký nhận, tôi biết rằng từ nay tôi là một cán bộ hưu trí thuộc Tổ hưu 16 của Phường Phạm Đình Hồ. Hàng tháng tôi sẽ phải đến đó để nhận lương hưu. Thú thật cho đến bây giờ tôi cũng không biết chính xác lương hưu của tôi được bao nhiêu. Ngay khi còn đang công tác tôi cũng không mấy quan tâm đến chuyện lương lậu. Người ta xếp cho được hưởng lương bao nhiêu thì biết bấy nhiêu. Tôi chỉ biết tôi là người được vào biên chế rất sớm, ăn lương của nhà nước từ khi mới 19 tuổi, và dĩ nhiên đã là viên chức của nhà nước thì đến tuổi 60 ắt phải nghỉ hưu. Nhiều người nói rằng cái giai đoạn này đối với con người ta cũng là một bước ngoặt quan trọng. Nhiều người bi hụt hẫng, không lấy lại được thăng bằng trong cuộc sống sinh ra nhiều biến tướng không lường, nhất là đối với những cán bộ có chức có quyền, quen được ưu đãi, hầu hạ…Tôi có một anh bạn học thời phổ thông, từng làm Thứ trưởng một Bộ, đến khi về hưu đâm ra ngớ ngẩn như người mất hồn. Họp lớp hàng năm không bao giờ cậu ta có mặt.Vợ gọi điện đến bảo chồng mình bị trầm cảm nặng mong bạn bè thông cảm. Tôi thầm nghĩ: cái câu người ta vẫn thường nói về 4 giai đoạn của đời người, có lẽ nay nên sủa lại thành 5: Sinh, Lão, Hưu, Bệnh, Tử. Phải thêm cái khúc Hưu nữa mới đúng, nó cũng là một khúc không kém phần quan trọng so với 4 giai đoạn kia. May thay tôi không phải là ông Thứ trưởng về hưu như anh bạn tôi. Tổng thư ký một hội nghệ thuật cũng chẳng phải là quan chức gì ghê gớm nên tôi bước vào giai đoạn này một cách khá bình thản tuy không tránh khỏi đôi chút hụt hẫng lúc ban đầu. Nhớ một lần không lâu sau khi nghỉ hưu, ngồi chờ ở sân bay Honolulu (Hawaii, Mỹ) để về nước, nhìn thấy tổ chiêu đãi viên Hàng không ngồi họp với nhau ở hàng ghế bên cạnh mà lòng thấy chạnh buồn. Thôi từ nay tôi không có chuyện gì phải họp hành nữa. Cái mà ngày xưa mình chán ngán bỗng nhiên bây giờ lại thấy thèm, thấy nhớ.


          Đang lúc chưa biết làm gì thì bỗng nhiên ông Phạm Khắc Lãm đến rủ tham gia vào một Hội mới được thành lập có tên là Hội liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài. Nhân sự đã được dự kiến rồi. Chủ tịch Hội là Giáo sư Nguyễn Văn Đạo, Giám đốc Đại học Quốc gia Hà nội vừa mới nghỉ hưu, ông Lãm cùng tôi và một vài người nữa sẽ là Phó Chủ tịch Hội. Nghe nói đây là sáng kiến của ông Nguyễn Di Niên Bộ trưởng Bộ ngoại giao hồi đó. Nhìn thấy các nhân sự của Hội đều là những trí thức đáng kính, tôi vui vẻ nhận lời. Tôi được phân công làm Tổng biên tập tờ tạp chí của Hội. Công việc làm báo đối với tôi không xa lạ gì và thế là tôi lại có công việc bận rộn, có trụ sở để lui tới, họp hành.


           Giai đoạn chuyển tiếp này diễn ra với tôi khá nhẹ nhàng làm vợ tôi thở phào nhẹ nhõm. Tôi không bị sốc, bị khủng hoảng như nhiều ông chồng khác khi nghỉ hưu làm khổ vợ khổ con. Nhớ một lần sang Fukuoka theo lời mời của Viện lưu trữ phim Nhật bản tôi tình cờ thấy một nơi xem bói ở trong siêu thị trông rất lịch sự. Khách đến xem mua vé, rồi ngồi chờ đến lượt gọi. Thầy bói là những người mặc complet đeo cravatte, xách cặp nghiêm chỉnh như những giáo sư đại học. Tôi tò mò vào xem. Ông thầy bói hỏi tôi ngày tháng năm sinh và nhóm máu (điều này hơi lạ). Ông tính toán một lúc rồi xem chỉ tay tôi hồi lâu. Đoạn ông bắt đầu phán: Số tôi phải làm việc đến hết đời, mà lại làm một lúc 3 việc chứ không phải chỉ một. Tôi hết sức ngạc nhiên nghĩ mình vừa mới về hưu, có việc gì mà làm những 3 việc? Nhưng bây giờ nghĩ lại thấy ông thầy bói kia nói đúng: tôi làm báo, đi dạy học và làm phim… chẳng phải một lúc làm 3 việc đó sao?


 Đừng đốt!


           Cuối năm 2005 cả nước như lên cơn sốt về cuốn Nhật ký của nữ bác sỹ Liệt sỹ Đặng Thuỳ Trâm vừa mới được phát hiện. Báo Tuổi trẻ là tờ báo đầu tiên đăng tải những giòng nhật ký này trong suốt nhiều số báo. Cuối cùng cuốn nhật ký được xuất bản thành sách. Tôi cũng không thể thờ ơ bèn mua một cuốn đem về đọc. Cái cảm giác đâu tiên của tôi là cảm thấy thương xót cho người con gái viết nhật ký. Một tâm hồn đa cảm, mong manh dễ vỡ như vậy lại bị ném vào một chiến trường khốc liệt đến như vậy. Tôi nhớ mãi câu chị viết trong nhật ký: Ở đây cái chết dễ hơn ăn một bữa cơm. Có lẽ không có lời nào có thể diễn tả hết sự khốc liệt của mảnh đất nơi chị sống bằng mấy giòng trên. Tôi bỗng nhớ đến ca khúc Ngọn nến trước gió mà Elton Jhone viết sau cái chết của công nương Diana. Quả thật chị như ngọn đèn trước cơn bão. Những tình cảm trong cuốn nhật ký của chị còn làm tôi nhớ đến các em gái tôi, chúng cũng sinh ra cùng một thời với chị, cũng được giáo dục trong một môi trường như chị, cùng say mê hình tượng nhân vật Paven Corsaghin trong tiểu thuyết Thép đã tôi thế đấy như chị. Đó là một thế hệ mà tôi không có gì xa lạ cả. Tôi đưa sách cho em gái tôi là Đặng Nguyệt Ánh đọc và nó cũng nhận thấy mình trong những giòng nhật ký của người con gái cùng họ Đặng như chúng tôi. Một hôm tôi đến thăm bà Dì tôi, bác sỹ quân y Nguyễn Ngọc Toản. Dì tôi vừa đọc xong cuốn nhật ký và ngỏ ý muốn nhờ tôi tìm địa chỉ của gia đình Bác sỹ Đặng Thuỳ Trâm ở Hà nội để đến thăm. Tôi bèn viết thư nhờ anh Nguyễn Trọng Chức mà tôi quen đã lâu, đang làm ở báo Tuổi trẻ. Không lâu sau anh Chức cho biết địa chỉ và tôi đã đưa Dì tôi dến thăm gia đình nữ bác sỹ Đặng Thuỳ Trâm. Đó là một căn hộ nằm trong một con ngõ nhỏ ở phố Đội cấn. Cùng là người Huế cả nên bà mẹ là Doãn Ngọc Trâm đón tiếp chúng tôi rất ân cần. Tôi có cảm tưởng như bà là người thân trong gia đình từ lâu. Tiếp chúng tôi hôm đó còn có cô em là Đặng Kim Trâm (cả nhà này con gái đều lấy tên là Trâm, tên mẹ. Chỉ khác tên đệm mà thôi). Trong câu chuyện cô Kim chợt nói bâng quơ: Anh Minh mà làm phim theo cuốn nhật ký này của chị em thì tốt quá. Quả tình cho đến lúc đó tôi chưa hề có ý đinh làm phim theo cuốn nhật ký này. Nó cảm động thật đấy, nhưng tôi thấy rất khó để đưa lên phim. Mỗi trang viết là một sự việc, một tâm trạng, không có cái gì kết nối với cái gì trong một cấu trúc khả dỹ có thể làm thành phim. Nhưng dầu sao cái gợi ý của cô Kim cũng gieo trong tôi một mối quan tâm.Tôi tìm đọc tiếp những câu chuyện kể của người cụu binh Mỹ xung quanh số phận của cuốn nhật ký này. Tôi đặc biệt chú ý đến chi tiết viên trung sỹ quân đội Sài gòn nói với Fred Whitehurst khi đua cuốn nhật ký: Fred! Đừng đốt! Trong này đã có lửa! Tôi mơ hồ nhận ra trong câu chuyện này có cái gì đó, vượt cả ra ngoài phạm vi của bản thân cuốn nhật ký. Ý nghĩ đó càng được củng cố thêm sau khi tôi gặp Fred tại North Carolina vào tháng 5 năm 2008. Lần đó tôi chỉ hỏi Fred một câu: Anh đã đọc cuốn nhật ký nhiều lần. Vậy điều gì ấn tượng nhhất đối với anh trong cuốn nhật ký đó. Không cần phải suy nghĩ lâu Fred đọc ngay cho tôi hai câu thơ trong cuốn nhật ký mà anh đã thuộc lầu, anh đọc nó bằng tiếng Việt:


                        Và ai có biết chăng ai


                        Tình thương đã chắp cánh dài cho ta…


       Thì ra cái mà người con gái ở bên kia chiến tuyến đã chinh phục tâm hồn người cựu Mỹ bấy lâu nay chính là tình thương yêu con người, thương yêu đồng đội, những tình cảm nhớ nhung tha thiết dành cho những người thân trong gia đình. Và đấy chính là sức mạnh của chị. Kịch bản của bộ phim tương lai hình thành rõ nét dần trong tôi. Cái ý tưởng làm một bộ phim mà bên địch bên ta đều là những người tốt cả, nhưng lại đứng ở hai bên trận tuyến để bắn giết nhau. Điều đó hoàn toàn khác với những phim về đề tài chiến tranh Việt Nam được làm từ trước tới nay kể cả ở Mỹ lẫn ở Việt Nam. Ý tưởng đó thực sự hấp dẫn tôi vì nó độc đáo và chưa ai làm bao giờ.


(còn tiếp)


Nguồn: Hồi ký điện ảnh của Đặng Nhật Minh. NXB Văn Nghệ TP Hồ Chí minh, 2005. Tái bản có bổ sung.


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
xem thêm »