tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20182545
Tiểu thuyết
07.09.2016
Đặng Nhật Minh
Hồi ký điện ảnh



Sau khi làm xong phim này, một số người nghĩ rằng tôi đã từ bỏ phong cách sáng tác của mình trước đây, một phong cách làm phim đã được định hình, nói về số phận của những con người bình thường trong xã hội. Những tôi quan niệm rằng, số phận của những con người bình thường bao giờ cũng gắn liền với số phận của đất nước. Những gì xảy ra trong những ngày cuối năm 46 đó, chính là số phận của đất nước. Nó chi phối số phận của tất cả mọi người Việt Nam, trong đó có gia đình tôi. Quả thật nếu ngày đó ở bên Nhật, cha tôi không tình cờ đọc được lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh để rồi từ bỏ tất cả công việc nghiên cứu khoa học, trở về nước tham gia kháng chiến thì cuộc đời tôi bây giờ đã đi theo một hướng khác. Chắc chắn tôi sẽ là một Việt kiều sống và làm việc ở Nhật (cha tôi trước đó đã làm giấy tờ để đưa mấy mẹ con tôi sang Nhật). Bởi vậy việc làm phim này đối với tôi do sự thôi thúc của bản thân hơn là xuất phát từ việc làm phim phục vụ những nhiệm vụ chính trị.


Tháng 4 năm 1999 tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ XII tổ chức ở Huế, bộ phim đã được tặng giải Bông Sen Bạc, Giải thưởng của Bộ Quốc phịng cùng một loạt giải cá nhân như: Giải Đạo diễn, Giải Quay phim, Giải Họa sĩ, Giải Âm nhạc. Bao giờ cũng vậy, Liên hoan phim còn là dịp để người ta thi thố mọi mưu toan ngoài nghệ thuật. Trong những ngày đó tôi cùng đoàn làm phim tài liệu đi quay bộ phim về Tuần Văn hoá Huế, không hề quan tâm gì đến diễn biến của Liên hoan phim. Hai tháng sau, tôi đã hoàn thành xong bộ phim video Huế giữa lòng Hà Nội (dài 90 phút) theo yu cầu của bà Tôn nữ thị Ninh, trưởng ban tổ chức Tuần văn hóa Huế ở Hà nội như một đóng góp cho quê hương. Bộ phim đã được Ban Liên lạc đồng hương Huế tại Hà Nội đón nhận một cách hết sức hài lòng.


 Giải thưởng Nikkei Asia Prize về văn hóa


Vào một buổi sáng tháng 5 năm 1999, khi tôi vừa đánh răng rửa mặt xong thì có chuông điện thoại. Đầu giây nói đằng kia là giọng một người đàn ông châu Á nói bằng tiếng Pháp, tự giới thiệu mình là đại diện của báo Nihon Keizai rồi thông báo cho tôi một tin vui: “Anh vừa được báo Nihon Keizai Shimbun của Nhật Bản quyết định trao giải thưởng về văn hóa năm 1999. Đây là Giải được trao hàng năm cho những nhân vật châu Á nổi bật trong ba lĩnh vực: kinh tế, khoa học công nghệ và văn hóa. Mỗi lĩnh vực một người”. Cái cảm giác của tôi lúc ấy là ngạc nhiên pha lẫn vui mừng (ngạc nhiên là vì tôi chưa bao giờ được biết về giải này, và vui mừng vì nghe nói mình được giải). Một tuần sau tôi nhận được thông báo chính thức bằng văn bản kèm theo những thông tin cặn kẽ về giải thưởng. Nihon Keizai Shimbun là tờ thời báo kinh tế lớn nhất ở Nhật có số lượng phát hành 3 triệu số mỗi ngày cộng với 5 triệu số của các tờ báo phụ khác. Năm 1996 nhân kỷ niệm 100 năm ngày nhật báo ra đời người ta đã đặt ra Giải Nikkei Châu Á và đây là lần đầu tiên giải này được trao cho một người Việt Nam (Năm 2001 giải này được trao cho một người Việt nam nữa là Giáo sư Võ Tòng Xuân, trong lĩnh vực nông nghiệp và năm 2011 nhà văn Bảo Ninh là người Việt nam thứ ba được trao giải này)


 


        Đến khi được nghe tên và chức vụ của các vị trong Ban giám khảo (toàn là giáo sư đại học, nhà văn, nghệ sĩ nổi tiếng), đọc thành tích của những người nhận giải những năm trước, tôi bắt đầu nhận thức tầm quan trọng và ý nghĩa của giải thưởng này. Nhưng điều làm tôi cảm động hơn cả là lý do của việc trao giải được ghi trên tấm bằng: là vì trong các phim của mình đã nói lên được tấm lòng của người Việt Nam và cũng là tấm lòng của người châu Á ra với thế giới. Tôi cảm động vì có người hiểu được mình, đánh giá đúng việc làm của mình. Ban tổ chức lễ trao Giải mời tôi cùng với vợ sang Tokyo dự lễ trao giải vào cuối tháng 6. Tôi báo cáo việc này lên Ban Tư tưởng – Văn hóa, một thời gian rất lâu không nhận được hồi âm vì còn chờ Ban thỉnh thị ý kiến của trên. Cuối cùng tôi được ông Trần Hoàn, hồi ấy là Phó ban phổ biến lại như sau: Về việc nước ngoài tặng giải thưởng phải phân ra làm ba loại: loại giải thưởng của nước ngoài tặng, nhưng người nào được nhận là do ta cử; hai là lọai giải thưởng của nước ngoài do nước ngoài quyết định tặng, nhưng ta không phản đối; và ba là loại giải thưởng do nước ngoài quyết định trao nhưng ta phản đối. Loại giải thứ nhất thì cần tuyên truyền rầm rộ, loại thứ hai không tuyên truyền và loại thứ ba thì cực lực phản đối. Tôi được liệt vào trường hợp thứ hai. Cuối tháng 6 tôi cùng vợ lên đường đi Tokyo, trong lúc đó con gái tôi Đặng Phương Lan từ Budapest cũng bay sang để cùng dự lễ trao giải (cháu được bạn đài thọ ăn ở, còn vé máy bay phải tự túc).


          Buổi lễ trao giải đã diễn ra trọng thể tại Khách sạn Okura với sự tham dự của toàn thể Ban giám khảo, lãnh đạo báo Nihon Keizai cùng rất đông quan khách trong đó có Đại sứ nước ta ở Nhật cùng tham tán văn hóa Đại sứ quán. Nhiều Việt kiều gặp tôi chúc mừng, cho rằng đây là vinh dự chung cho đất nước. Tôi sung sướng được gặp bác Lê Văn Quý đến chia vui cùng tôi. Bác sang Nhật du học cùng cha tôi năm 1943, ở cùng một phòng trong Đông kinh học xá với cha tôi suốt 6 năm liền. Cha tôi nghiên cứu về y còn bác học về điện. Cha tôi về nước, còn bác ở lại làm việc sinh sống tại Nhật cho đến bây giờ và là một trong những kỹ sư có rất nhiều phát minh có giá trị ở Nhật.


       Theo thông lệ sau lễ trao giải, báo Nihon Keizai Shimbun tổ chức một Hội thảo quốc tế với chủ đề:  Tương lai châu Á với sự có mặt của nhiều nguyên thủ quốc gia châu Á như Tổng thống Philippine, Thủ tướng Nhật Bản, cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu, Thủ tướng Malaysia, Phó Thủ tướng Hàn Quốc, Thái Lan các Bộ trưởng ngoại giao Indonesia, Mianma, Thống đốc Ngân hàng Thái Lan và nhiều quan chức cao cấp trong Chính phủ Nhật. Phía Việt Nam có Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Tôi cùng hai người vừa nhận giải (một nhà nghiên cứu nông nghiệp Trung Quốc, một nhà kinh tế Đài Loan) cũng được mời tham dự. Tại buổi tiệc chiêu đãi, chúng tôi đã được long trọng giới thiệu với tất cả các nguyên thủ quốc gia, các quan khách tham dự Hội nghị.


Trở về nước nhiều bạn bè đồng nghiệp mừng cho tôi (đa số là đồng nghiệp ở phía Nam gọi điện hoặc fax ra), nhiều báo trong nước đưa tin (trừ một vài báo lớn). Tôi cám ơn nước Nhật – nơi cha tôi đã từng tu nghiệp 7 năm, nơi có ông bà Tadao và Hisako Sato, những người đối với tôi như ruột thịt, cùng biết bao bạn bè thân thiết, nước Nhật đã từng tài trợ cho tôi làm phim, giới thiệu hầu hết các phim của tôi, mua và bảo quản nhiều phim tôi làm, nay lại tặng giải cho tôi.... Không biết duyên số nào đã gắn cuộc đời tôi với đất nước xa xôi ấy. Tôi chỉ biết tự nhủ lòng phải cố gắng để khỏi phụ cái ân tình này, có nghĩa là phải tiếp tục làm phim cho hay, chẳng biết có cách gì hơn.... Tôi bắt đầu nghĩ tới bộ phim sắp làm: phim Mùa ổi (theo truyện ngắn Ngôi nhà xưa của tôi đã đăng trên báo Văn nghệ năm 1993). Kịch bản phim bị trục trặc sau nhiều lần duyệt kéo dài. Sau gần 2 năm vẫn không được cấp giấy phép. Tôi thất vọng khi nhận được một công văn của ông Chủ tịch Hội đồng duyệt kịch bản với thông báo ngắn gọn: phim làm ra lúc này không có lợi.


Không biết chờ đến lúc nào thì có lợi, tôi bèn gửi thẳng kịch bản lên cho ông Bộ trưởng Bộ Văn hoá Thông tin Nguyễn Khoa Điềm yêu cầu cho biết cụ thể bao giờ thì phim có thể làm được. Nếu không cho làm thì cũng cho biết dứt khoát để tôi còn đi làm việc khác. Một tháng sau, ông Bộ trưởng Nguyễn Khoa Điềm đã đồng ý cho kịch bản Mùa ổi được đưa vào sản xuất. Tôi lại bắt đầu một cuộc phiêu lưu mới.


 


“Mùa ổi”


Có một lớp người của Hà Nội ít được phản ánh trong văn học, nghệ thuật đó là những người Hà Nội của những năm 50, không tham gia kháng chiến chống Pháp, ở lại Hà Nội sinh sống làm ăn. Họ là những nhà tư sản, trí thức tiểu tư sản, tiểu thương v.v.... Năm 1954 khi Chính phủ về tiếp quản thủ đô, những người này được gọi bằng cái tên chung là những người trong thành, hoặc là công chức lưu dung nếu trước đây có làm việc cho chế độ cũ. Những nhà tư sản thì được học tập cải tạo để từ bỏ lối sống bóc lột, ai có nhà cho thuê thì phải giao nhà cho nhà nước quản lý. Bà con tiểu thương thì được đưa vào các Hợp tác xã để làm ăn tập thể. Những người trí thức ngoài bác sĩ ra còn được nhà nước sử dụng lại, hầu hết đều không có việc làm, nhất là các luật sư. Chế độ mới, có hệ thống luật pháp mới, không cần đến các luật sư của chế độ cũ. Ngày ấy chủ nghĩa lý lịch còn rất nặng nề, con cái tư sản, trí thức cũ học xong trung học chỉ được thi vào các trường trung cấp nông nghiệp, thủy lợi hoặc cao đẳng sư phạm. Sau khi ra trường họ được phân công đi nhận công tác ở miền núi hoặc các tỉnh xa, không được ở Hà Nội. Tuy bị phân biệt đối xử như vậy nhưng những người trí thức cũ của Hà Nội vẫn luôn mong muốn được đóng góp công sức cho sự nghiệp chung, bù lại những ngày đã không làm gì cho kháng chiến. Tôi biết rất nhiều gia đình như vậy, nhất là gia đình bên vợ tôi. Trên cở sở của những hiểu biết đó tôi viết lên truyện ngắn Ngôi nhà xưa. Câu chuyện dựa trên những sự việc có liên quan đến ngôi nhà số 43 Hàng Chuối của ông bố vợ tôi, một luật sư cũ. Thoạt đầu vì muốn góp phần vào sự nghiệp chung, ông đồng ý cho cơ quan Bưu điện của nhà nước thuê tầng dưới để làm việc. Dần dần cơ quan vận động ông cho thuê nốt cả tầng hai. Ông vui lòng dọn đi ở nơi khác. Đến khi có chính sách cải tạo nhà cửa, ông được mời đi học tập cải tạo. Đến lúc này ông mới biết rằng ai có diện tích nhà cho thuê trên 120m2 đều bị liệt vào diện phải cải tạo, phải tự nguyện giao nhà cho nhà nước quản lý, từ bỏ lối sống bóc lột. Phải từ bỏ ngôi nhà của chính mình xây cất lên, nơi gắn bó với biết bao kỷ niệm buồn vui của gia đình là một điều vô cùng đau xót. Tôi thấm thía được điều đó qua tâm trạng của vợ tôi cùng những người thân trong gia đình bên vợ. Truyện ngắn Ngôi nhà xưa sau khi đăng trên Tuần báo Văn nghệ vào năm 1993 lập tức được nhiều độc giả chú ý, đặc biệt là những người Hà Nội cũ. Đài Tiếng nói Việt Nam đọc lại trong mục đọc chuyện đêm khuya. Tôi không ngờ câu chuyện riêng trong gia đình vợ tôi lại động chạm đến số phận của rất nhiều người. Thì ra những gì xảy ra với ngôi nhà được miêu tả trong truyện ngắn, rất phổ biến ở Hà Nội trong thời kỳ cải tạo nhà cửa vào những năm 60.


Tôi chuyển truyện ngắn trên sang kịch bản điện ảnh vào năm 1998, và như trên đã nói, mãi đến năm 2000 kịch bản mới được duyệt. Khi chuyển thành phim tôi thêm nhân vật cô người mẫu, vốn là một cô gái từ nông thôn ra thành thị kiếm sống bằng nghề khuân vác ở chợ dưới chân cầu Long Biên, nơi tập kết hàng hoá từ biên giới phía Bắc về để cung cấp đi các nơi. Cái chợ đó lạ lắm, chỉ cách thành phố có một con đê, nhưng đã là một thế giới khác hẳn - thế giới của cần lao, nghèo khổ. Như vậy trong phim này có hai loại người: trí thức Hà Nội cũ và những người nông dân ra thành thị kiếm sống hôm nay. Theo tôi giữa người trí thức và nông dân về bản chất có một điểm giống nhau: đó là sự hồn nhiên,tốt bụng, cả tin v đều bị thiệt thòi như nhau. Điều quan trọng nhất đối với tôi là phải tìm cho được diễn viên đóng vai Hoà, một người đàn ông đã trên 50 nhưng tâm hồn vẫn là của một đứa trẻ mười ba. Tôi đã thử nhiều người và cuối cùng đã tìm được người diễn viên thích hợp. Đó là diễn viên Bùi Bài Bình. Anh lâu nay không đóng phim, không chạy theo xu thế thời thượng đóng hết phim video này đến phim video khác để kiếm tiền. Anh hầu như vắng bóng trên màn ảnh lớn nhỏ và khán giả đã bắt đầu quên anh. Một vai quan trọng khác là vai Thủy, em của ông Hoà. Tôi đã không do dự khi quyết định mời nữ diễn viên Lan Hương của Nhà hát kịch Trung ương vào vai này. Cô quả là một diễn viên chuyên nghiệp với đầy đủ ý nghĩa nhất của từ này. Ở cô có một sự nhạy cảm, tinh tế đặc biệt. Là một diễn viên kịch nói nhưng khi đứng trước ống kính máy quay cô sống với nhân vật một cách tự nhiên dung dị như ở ngoài đời vậy. Có thể nói không thể có ai đóng vai Thuỷ chính xác hơn Lan Hương được và tôi không ngạc nhiên chút nào khi cô được Giải Nữ diễn viên xuất sắc tại Liên hoan phim quốc tế Singapore năm 2000. Phim no tơi lm cũng vậy, bao giờ cũng cĩ một nhn vật rất khĩ tìm được người thích hợp để đóng. Trong phim này là nhân vật ông Luật sư, chủ nhân của ngôi nhà xưa. Tôi hình dung nhn vật ny phải người xương xương. Các diễn viên điện ảnh và sân khấu của ta đa phần đều mập mạp. Hơn nữa người này này phải có gương mặt thoáng nhìn cĩ thể nhận ra ngay đây là một trí thức cũ được đào tạo dưới thời Pháp, biết thông thạo tiếng Pháp. Rất khó tìm một gương một như vậy trong số các diễn viên chuyên nghiệp.Thọat tiên tôi nghĩ đến giáo sư Đình Quang. Nhưng giáo sư ngại ngần không muốn nhận lời mặc dầu ông rất thích kịch bản này. Tôi bèn nghĩ đến ông Phạm Khắc Lm, nguyn Tổng gim đốc Đài Truyền hình Việt Nam m tơi được tiếp xúc đôi lần. Vẻ bề ngoài ông đúng là một mẫu người tây học như tôi hình dung. Ơng vui vẻ nhận lời v nĩi với tơi một cu đến nay tôi cịn nhớ đinh ninh: Tớ chưa đóng phim bao giờ. Nhưng cái gì thin hạ lm được thì tớ cũng lm được. Chỉ vì cu nĩi đó mà tôi quyết định mời ông vào vai Luật sư Bách không chút do dự và ông đ lm đúng như ông đ từng nĩi. Tôi mời Vũ Đức Tùng, một quay phim trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm làm quay phim chính của phim và điều đó đã bộc lộ trong phần hình ảnh mặc dù anh hết sức nhiệt tình và cố gắng. Báo chí Pháp đã có nhận xét rằng: phần quay của phim này không đều tay.


Cục Điện ảnh đã cấp cho phim Mùa ổi một kinh phí cực kỳ ít ỏi (725 triệu) trong lúc những phim trung bình khác được cấp trên một tỷ. Nhưng trái lại trong phim này tôi đã nhận được một sự hỗ trợ tối đa từ bên ngoài. Trước hết là của Hãng P/S (Production Service) ở Canada, một Hãng chuyên cung cấp các phương tiện kỹ thuật cho các đoàn làm phim nước ngoài sang quay ở Việt nam. Ông Dug Dalles, giám đốc Hãng đã từ lâu mong muốn giúp đỡ tôi về kỹ thuật trong việc làm phim, xuất phát từ lòng mến mộ của ông đối với những phim mà tôi đã làm. Ông đã gửi từ Canada sang cho tôi máy quay Ariflex 4 và điều từ TP. HCM ra cho tôi những phương tiện kỹ thuật hiện đại nhất về chiếu sáng mà không đòi hỏi một đồng tiền nào. Quỹ Điện ảnh Phương Nam thuộc Bộ Ngoại giao Pháp tài trợ để tôi thực hiện phần âm thanh surround và hoà âm tại Paris. Ngoài ra Quỹ Montecinema Verita của ý còn tài trợ làm phụ đề tiếng Pháp và tiếng ý để tham dự Liên hoan phim Locarno (Thụy Sĩ). Tất cả những sự tài trợ trên đều hoàn toàn không vụ lợi, không kèm theo bất cứ điều kiện gì chỉ mong sao tôi được làm phim trong những điều kiện tốt nhất mà thôi. Sở dĩ tôi có được những may mắn đó là vì ở nước ngoài từ lâu người ta đã theo dõi công việc làm của tôi và có cảm tình với những phim mà tôi đã làm. Tháng 7 năm 2000 tôi cùng thu thanh Trần Kim Thịnh lên đường sang Paris để làm hậu kỳ của phim trong những điều kiện làm việc tối ưu tại một Hãng phim hiện đại nhất của Pháp. Một ê-kíp các chuyên viên Pháp đã nhiệt tình phục vụ, đáp ứng mọi yêu cầu của tôi. Để kịp tham dự Liên hoan phim Locarno họ sẵn sàng làm việc cả trong ngày Quốc khánh Pháp 14 tháng 7 năm ấy.


Giữa tháng 8 năm 2000 tôi từ Paris sang Locarno với bản đầu phim Mùa ổi vừa mới ra lò tại Xưởng in tráng CGT ở ngoại ô Paris. Đây là lần đầu tiên tôi tham dự LHP này, trước đây tôi chỉ được đọc về nó mà thôi. Đó là một LHP có uy tín, những phim dự thi được trình chiếu trên một màn ảnh khổng lồ kích thước 13 x 28m đặt ngay tại quảng trường trung tâm có ghế ngồi ngoài trời cho 10.000 người xem. Mùa ổi là phim Việt Nam đầu tiên được chiếu tại đây và khán giả Locarno là những người đầu tiên được xem phim này, trước cả những khán giả Việt Nam. Tôi nói điều đó trước buổi chiếu và 10.000 người xem tối hôm đó đã đón nhận bộ phim với những tình cảm rất nồng nhiệt. Những tiếng vỗ tay kéo dài suốt cả phần générique cuối phim. Tôi biết bộ phim đã xúc động người xem. Sáng hôm sau một người đến gặp tôi ngỏ ý muốn mua để phát hành bộ phim này trên toàn thế giới. Người đó là ông Jacque Eric Strauss, Giám đốc một Hãng phát hành phim uy tín vào bậc nhất ở Pháp. Sau này có nhiều người hỏi tôi bằng cách nào để bán được phim ra ngoài. Tôi chỉ có thể trả lời: Hãy cố làm phim cho tốt, ắt sẽ có người tìm mua, không cần phải chào hàng hay làm marketing gì cả. Đó có lẽ là bí quyết mà tôi học được trong việc bán phim. Buổi tối trước hôm bế mạc LHP, một anh bạn người Việt Nam, chủ một rạp chiếu bóng ở đây đã đưa tôi sang ý ăn spagetti (Locarno nằm ngay sát biên giới Ý). Hôm sau phim Mùa ổi nhận được Giải Don Quichote của Hiệp hội các Câu lạc bộ Điện ảnh thế giới, và Giải nhì của Ban Giám khảo trẻ.


Locarno là một thành phố nghỉ mát thật êm đềm của nước Thụy Sĩ vốn đã rất êm đềm. Thành phố nằm bên bờ một chiếc hồ rộng, nước trong như lọc. Sau hôm chiếu phim, nhiều người nhận ra tôi trên đường phố, họ dừng lại bắt tay, nói những lời khen ngợi. Cách đây 4 năm phim Thương nhớ đồng quê đã được chiếu trên mạng lưới chiếu bóng ở Thụy Sĩ, nhiều người đã xem, có người xem 3 lần. Một nữ khán giả đứng tuổi nói với tôi: Anh làm tôi phân vân, không biết Thương nhớ đồng quê và Mùa ổi phim nào hay hơn phim nào. Thật tình tôi thích cả hai.


Mãi gần một năm sau Mùa ổi mới ra mắt khán giả trong nước vì phải chờ in các bản phim từ Pháp gửi về (ở trong nước không in được các bản phim có âm thanh surround). Đến ngày 17 tháng 4 năm 2002, Mùa ổi chính thức ra mắt khán giả Pháp tại Paris trong hệ thống rạp chiếu bóng Gaumont. Hầu hết các báo ở Paris đều có bài viết về phim với nhiều thiện cảm. Tạp chí điện ảnh Studio số tháng 4 năm 2002 cho rằng: Bộ phim là một kiệt tác về chất thơ. Tờ Canard Enchainé một tờ báo hài hước châm biếm được rất nhiều người Pháp ưa thích đã ví: Bộ phim có hương vị như một trái ổi nhỏ của Proust (Marcel Proust - nhà văn Pháp, tác giả tiểu thuyết nổi tiếng Đi tìm thời gian đã mất - ĐNM) Còn báo Nouvel Obsevateur thì nhận định: phim Mùa ổi có nội dung đề cao nhân cách và phẩm giá. Thật vậy trong phim này tôi muốn nói đến nhân cách của những con người Hà Nội gốc (qua gia đình luật sư Bách và các con ông) hơn là việc nói về ngôi nhà đã mất. Lần đầu tiên trên đường phố lớn ở Paris xuất hiện những tấm áp phích của một bộ phim Việt Nam, một sự kiện được báo Tuổi trẻ Chủ nhật số ra ngày 28-4-2002 cho là sự kiện lịch sử đối với điện ảnh Việt Nam. Tôi đã gặp ở Hà Nội và trong dịp về dự Festival Huế 2002 rất nhiều Việt kiều và người Pháp đã xem phim này ở Paris. Tất cả đều hân hoan vui mừng và không giấu những tình cảm tốt đẹp dành cho bộ phim. Cuối năm 2001 tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 13 tổ chức ở Vinh, phim Mùa ổi đã nhận được Giải Bông Sen Vàng cùng với phim Đời cát của đạo diễn trẻ Nguyễn Thanh Vân. Đây là Bông Sen Vàng thứ 3 của tôi trong điện ảnh. Ngoài hai giải thưởng ở Locarno (Giải Don Quichote của Hiệp Hội Quốc tế các Câu lạc bộ điện ảnh và Giải của Ban Giám khảo trẻ) Mùa ổi còn nhận được một số giải thưởng quốc tế khác nữa như Giải đặc biệt của Hiệp hội phê bình phim quốc tế tại LHP Oslo (Nauy) năm 2001, Bằng khen đặc biệt tại LHP Namur (Bỉ) năm 2000, Giải NETPAC tại LHP Rotterdam (Hà Lan). Có được những thành công trên trước hết tôi muốn nhắc đến hai người đã giúp tôi rất nhiều từ khi đặt bút viết những dòng kịch bản đầu tiên cho đến khi phim được thu nhạc, hoà âm. Đó là vợ tôi Nguyễn Phương Nghi và con gái tôi Đặng Phương Lan. Gia đình luật sư Bách được miêu tả trong phim chính là gia đình bố vợ tôi. Ông Hoà trong phim chính là hình ảnh ông anh vợ tôi, cô Thủy em ông chính là hình ảnh vợ tôi. Vốn từng là nhạc công piano, vợ tôi đã gợi ý cho tôi rất nhiều ý tưởng về tính chất âm nhạc trong phim để làm việc với nhạc sỹ Đặng Hữu Phúc, và anh đ lm hết mình vì chất lượng âm nhạc của bộ phim.Con gái tôi tuy đang học Y ở Hungary nhưng đã đóng góp cho tôi rất nhiều nội dung cụ thể trong kịch bản. Trên phần génerique của phim có tên vợ tôi là biên tập âm nhạc và tên con gái tôi là người biên tập kịch bản. Chưa có phim nào tôi có nhiều kỷ niệm như thế với những người thân trong gia đình.


Đại hội Điện ảnh Việt Nam nhiệm kỳ V


Trong lúc tôi đang dồn hết tâm trí vào việc làm phim Mùa ổi thì người ta đang lên kế hoạch để tiến tới Đại hội Hội Điện ảnh Việt Nam nhiệm kỳ V. Sau hơn 10 năm (1989 - 2000) ngồi ở cái ghế Tổng Thư ký Hội tôi thấy đã đến lúc phải chia tay, mặc dù qua bỏ phiếu thăm dò, tôi vẫn được anh chị em hội viên tín nhiệm cao. Lần đại hội này người ta đã làm được một việc mà trong hai đại hội trước không làm được: đó là bỏ cái lệ toàn thể đại hội bầu Tổng Thư ký. Tổng Thư ký lần này sẽ do Ban chấp hành bầu, đúng như ý định của những người chỉ đạo đại hội. Với cách bầu này người ta có thể lèo lái dễ dàng việc bầu bán theo ý muốn. Đại hội được Phó Ban Tư tưởng - Văn hoá TW Trần Hoàn chỉ đạo sát sao. Tôi hoàn toàn thờ ơ với mọi cuộc vận động cửa trước cửa sau. Trước khi bước vào bầu cử tôi đã tuyên bố rút tên trong danh sách những người được đề cử. Tôi nhớ sau khi tôi tuyên bố xong cả đại hội hết sức bất ngờ. Thực ra tôi có mặt ở Hội cũng là một sự tình cờ.... Đối với tôi những năm ấy cũng là một cuộc đi thực tế dài ở những nơi mà nếu không ở cương vị này tôi không thể có được. Tôi thấy đã có đủ thực tế rồi nên không cần tìm hiểu thêm nữa. Như ở bất cứ diễn đàn nào của giới điện ảnh, những người biết tự trọng đều im lặng. Chiếm lĩnh diễn đàn đa số là những người thích khoa trương, kể cả vu cáo.... Tôi không nghĩ tất cả giới điện ảnh đều như vậy, chỉ có một nhóm người rất nhỏ thôi, nhưng khi những người trung thực im lặng thì những tiếng gào thét của họ làm nhiều người lầm tưởng họ là số đông. Cuộc bầu bán đã xong. Cuộc chơi đã đến màn kết thúc. Tôi lại trở về với chính mình để bước vào một chặng đường mới. Tôi hài lòng nhận thấy đã không đánh mất mình trong những năm qua. Tôi đã làm tất cả những gì có thể làm vì lợi ích của nền điện ảnh dân tộc, vì lợi ích của các hội viên. Điều đó làm tôi thấy thanh thản khi từ giã cương vị Tổng Thư ký Hội Điện ảnh Việt Nam mà tôi đã giữ trong hơn 10 năm. Hội Điện ảnh bước vào một thời kỳ mới, dưới sự lãnh đạo của những cán bộ quản lý nhà nước đã đến tuổi nghỉ hưu, nay chuyển sang làm công tác Hội.


GIẢI THÀNH TỰU TRỌN ĐỜI


       Tôi đã từng được chứng kiến tại một vài Liên hoan phim quốc tế lễ trao giải thưởng Thành tựu trọn đời (Lifetime Achievement Award) cho những người làm điện ảnh (đa số là các đạo diễn và diễn viên). Đây là giải thưởng cho toàn bộ sự nghiệp chứ không cho riêng một tác phẩm nào. Giải thưởng thường được trao trong buổi lễ khai mạc Liên hoan phim. Thú thật tôi không bao giờ nghĩ rằng có một ngày nào đó mình sẽ được bước lên sân khấu để nhận cái vinh dự này. Nhưng rồi ngày ấy đã đến với tôi một cách thật bất ngờ.


       Đầu tháng 8 năm 2005 tôi nhận được qua thư email lời mời tham dự Liên hoan phim quốc tế Gwangju ở Hàn quốc tổ chức từ ngày 28 tháng 8 đến 4 tháng 9 năm 2005. Tôi viết thư cám ơn và thông báo với Ban tổ chức LHP rằng đã năm năm nay tôi không làm phim nên không có phim để tham dự, đề nghị ban tổ chức mời người khác. Biết được băn khoăn đó nên trong thư sau ban tổ chức đã thông báo tỉ mỷ hơn về LHP và lý do tôi được mời. LHP Gwangju là LHP lớn thứ hai ở Hàn quốc (sau LHP Pusan). Tôi được mời dến LHP này vì có hai phim Bao giờ cho đến tháng 10 và Thương nhớ đồng quê được chiếu trong chương trình phim của các đạo diễn bậc thầy châu Á. Có phim được chọn chiếu trong chương trình này là một vinh dự. Tôi vui vẻ nhận lời lên đường sang Gwangju cùng nhà biên kịch Nguyễn thị Hồng Ngát, Phó Cục trưởng Cục điện ảnh, khách mời của LHP.


         Đón chúng tôi ở sân bay Seoul là một cô gái mắt một mí, nguời nhỏ nhắn như một con chim chích. Cô tự giới thiệu tên mình là Park Ji Su sinh viên năm thứ hai, tình nguyện viên làm việc cho LHP và được phân công đi theo đoàn Việt Nam. Trên áo phông mầu xanh da trời của cô có in giòng chữ: Gwangju Internatinal Film Festival 2005 Volunteer.


       Gwangju được coi là một trung tâm văn hóa của Hàn quốc với nhiều liên hoan âm nhạc, sân khấu, triễn lãm hội họa và liên hoan phim. Thành phố này còịn được nổi tiếng với phong trào đấu tranh đòi dân chủ của sinh viên cách đây 25 năm. Các khách tham dự LHP đều ở tại khách sạn Hiddink, mang tên người huấn luyện viên Hà lan đã cóĩ công đưa đội tuyển bóng đá Hàn quốc vào vòng chung kết Cúp Vô địch thế giới năm 2002. Ảnh ông có ở khắp nơi. Người Hàn quốc coi ông như một anh hùng dân tộc.Ông được hãng Hàng không Korean Air mời đi máy bay suốt đời không mất tiền.


          Lễ khai mạc LHP được tổ chức trang trọng nhưng đơn giản, không có diễn văn dài dòng. Sau một màn trình diễn ba lê hiện đại rất ấn tượng của các vũ công Hàn quốc, ông Chủ tịch LHP bước ra sân khấu trao giải thưởng Thành tựu trọn đời. Những người được giải lần lượt được gọi tên bước lên sân khấu. Giải thưởng là một chiếc cúp pha lê có khắc chữ. Trong khi tôi đang thản nhiên nhìn người thứ ba lên nhận giải thì bỗng nhiên chị Ngát ngồi cạnh tôi khẽ reo lên: Anh Minh có tên kia kìa. Theo tay chỉ của chị tôi nhìn lên bức tường bên phải sân khấu. Nơi đó có phóng to bằng đèn chiếu danh sách 5 người được trao giải trong đó có tên tôi ở cuối. Quả thật nếu không được chị Ngát phát hiện có lẽ khi nghe đọc tên mình tôi cũng không biết (tên tôi phát âm bằng tiếng Hàn nghe rất lạ). Ông Chủ tịch LHP Kim Po- Chun trao giải cho tôi và một em bé gái mặc trang phục dân tộc tặng tôi một bó hoa. Những đạo diễn lên nhận giải trước tôi là: San Song Ok (Hàn quốc) Yoji Yamada (Nhật Bản) Tạ Tấn (Trung Quốc) và Lý Hành (Đài Loan). Trước đây tôi đã xem một vài phim của ông Yamada và rất kính trọng ông đạo diễn này ở cái chất nhân bản. Còn Tạ Tấn thì từ lâu tôi đã biết ông là con chim đầu đàn của điện ảnh Trung quốc những năm 60-70. Phim gần nhất của ông là phim Chiến tranh nha phiến với nhiều cảnh dàn dựng đồ sộ công phu đã được chiếu ở ta. Hai đạo diễn kia tôi chưa được xem phim của họ, chỉ nghe nói về họ mà thôi. Lý Hành là thầy của đạo diễn trẻ nổi tiếng Đài Loan Hu Hsiao Hsian (Hầu Hiếu Hiền) và San Song Ok là một trong những đạo diễn hàng đầu của Hàn Quốc từng bị Bình Nhưỡng bắt cóc sang để huấn luyện cho các nhà làm phim của Kim chủ tịch


         Những người trong ban tổ chức LHP Gwangju quả đã dành cho tôi một sự bất ngờ cho đến phút chót. Cả chị Ngát cũng không được thông báo gì trước về việc trao giải thuởng. Về sau cô Woo Sung Min, một thành viên trong ban tổ chức LHP có nói với chị Ngát rằng họ được các nhà điện ảnh Trung Quốc và Nhật Bản giới thiệu và rồi đã xem tất cả các phim của tôi trước đi tới quyết đinh trao giải. Tôi không còn trẻ nữa nhưng cũng chưa phải đã già. Sự nghiệp điện ảnh của tôi đến đây chưa phải đã xong. Do vậy khi nhận được giải Thành tựu trọn đời tôi không khỏi băn khoăn tự hỏi còn biết bao nhiu đạo diễn châu Á tài năng khác không biết họ đã nhận được giải thưởng như thế này chưa? Nhưng rồi khi về nước đọc trên mạng tôi biết cũng có nhiều đạo diễn châu Á từng nhận giải tương tự. Đạo diễn Trung Quốc Trương Nghệ Mưu cũng từng nhận giải Thành tựu trọn đời tại LHP Hawaii cách đây mấy năm, mặc dù ông sinh năm Canh Dần, hãy còn trẻ và sự nghiệp của ông còn dài.


         Sau lễ trao giải chị Ngát bận việc về nước trước. Tôi ở lại tranh thủ xem phim và tham quan. Chuyến đi viếng nghĩa trang các sinh viên bị tàn sát trong vụ đàn áp tháng 5 năm 1980 đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng thật sâu đậm. Hơn một trăm ngôi mộ mằm xếp hàng dài trong khu tưởng niệm rộng rãi, uy nghiêm. Những bức ảnh gắn trên bia mộ cho thấy những người đã khuất khi ngã xuống còn rất trẻ. Hai bức tượng đài tập thể mô tả lại cuộc đấu tranh sục sôi của các sinh viên đòi dân chủ cách đây 25 năm. Có cái gì đó khiến tôi liên tưởng tới phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh các đô thị miền Nam Việt Nam những năm 60. Thật vậy, anh Bae Yang So, một giáo sư giậy tiếng Việt tại Đại học Pusan cho biết các cuộc đấu tranh của sinh viên miền Nam Việt nam trước đây đã ảnh hưởng rất lớn tới phong trào đòi dân chủ, chống độc tài của sinh viên Hàn quốc. Tổng thống Chun Do Kwan, nguời từng ra lệnh cho quân đội đàn áp sinh viên, cách đây 3 năm đã bị đưa ra xét sử trước tòa về tội ác của mình trong quá khứ. Thì ra lịch sử chỉ hoãn nợ chứ không xóa nợ. Điện ảnh Hàn Quốc có lẽ đã tiếp thu được tinh thần quật cường đó của thanh niên sinh viên Gwangju nên những năm gần đây đã trỗi dậy một cách thật bất ngờ đến kinh ngạc. Phim ảnh của Hàn quốc ngày nay đã chinh phục màn ảnh nhiều nước kể cả Mỹ. Cũng như các sinh viên, cách đây hơn 10 năm những người làm điện ảnh Hàn Quốc cũng xuống đường. Họ đòi chính phủ phải có biện pháp bảo vệ nền điện ảnh dân tộc trước sự xâm lăng ồ ạt của phim ảnh nước ngoài. Kết quả họ đã dành được một thị phần đáng kể trên thị trường chiếu bóng trong nước. Sắc lệnh của chính phủ Hàn Quốc quy định mỗi năm các rạp chiếu bóng phải dành 147 ngày để chiếu phim Hàn Quốc. Từ đó điện ảnh bắt đầu trỗi dậy. Một loạt tên tuổi đạo diễn trẻ xuất hiện với những tác phẩm táo bạo đứng đầu là Kim Ki Duk. Phim của anh xoay quanh chủ đề bạo lực nhưng lại đậm chất trữ tình. Trong bức tranh chung của điện ảnh thế giới phim Hàn Quốc bao giờ cũng có một giọng điệu riêng không lẫn với bất cứ nền điện ảnh nào khác. Tôi cảm thấy khâm phục các đồng nghiệp Hàn Quốc nhất là về ý thức đấu tranh để bảo vệ nền điện ảnh dân tộc, ý chí quyết tâm tìm chỗ đứng cho mình trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt của điện ảnh thế giới và trên hết là sự táo bạo mạnh mẽ trong các sáng tác của họ.


(còn tiếp)


Nguồn: Hồi ký điện ảnh của Đặng Nhật Minh. NXB Văn Nghệ TP Hồ Chí minh, 2005. Tái bản có bổ sung.


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 11.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
xem thêm »