tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21271289
Những bài báo
06.09.2016
Nhiều tác giả
Sử thi Tây Nguyên, những giá trị văn hóa tinh thần vô giá



Sử thi Tây Nguyên – Kho tàng văn hóa tinh thần vô giá


Có lẽ trong văn học dân gian thế giới, sử thi Tây Nguyên được xếp vào loại có dung lượng lớn nhất. Nhưng điều quan trọng hơn là dù vắn dài, sử thi Tây Nguyên là một bức tranh toàn cảnh của cả một thời đại, phản ánh một cách trung thực, sinh động đời sống sinh hoạt cộng đồng, cuộc đấu tranh vì những ý tưởng nhân văn cao cả…


Tây Nguyên được biết đến như là miền đất huyền thoại, là nơi cư trú của các dân tộc thiểu số: Ê đê, Mnông, Gia Rai, Ba Na… Trong kho tàng văn hóa phong phú của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, bên cạnh những giá trị lịch sử, văn hóa tinh thần vô giá như cồng chiêng, rượu cần, đàn Tơrưng…, thì không thể không nhắc đến giá trị của sử thi.


Sử thi là tấm gương phản ánh một cách toàn diện đời sống của một dân tộc ở một thời kỳ đã qua, đồng thời nói lên khát vọng của dân tộc ấy về một cuộc sống hạnh phúc, thịnh vượng; ngợi ca tình yêu, lòng cao thượng, trí dũng con người trước thử thách của thiên nhiên và trong đấu tranh với cái ác… Sử thi Tây Nguyên là những áng anh hùng ca mà tuỳ theo ngôn ngữ mỗi dân tộc, được gọi với những tên khác nhau như: Khan (đồng bào Ê đê), Hom (đồng bào Ba Na), Hri (đồng bào Gia Rai), Ot Mrông (đồng bào Mnông)…


Bức tranh toàn cảnh về đồng bào dân tộc Tây Nguyên


Theo một số nhà nghiên cứu, sử thi Tây Nguyên có thể ra đời vào khoảng thế kỉ XVI - khi xã hội Tây Nguyên có những thay đổi to lớn do các cuộc chiến tranh của các buôn làng…


Xét ở góc độ vĩ mô, cho đến nay, sử thi Tây Nguyên được biết là có đến hơn hai trăm bộ đã được sưu tầm, ghi chép và đang được tổ chức biên soạn. Số còn lại đã được biết đến nhưng chưa kịp ghi chép cũng có hàng trăm bộ nữa. Đây đích thực là một kho tàng văn học dân gian khổng lồ, một kho lịch sử - văn hóa vô giá có thể so sánh với kho thần thoại Hi Lạp nổi tiếng. Nhưng điều hơn hẳn (so với thần thoại Hi Lạp) là ở dung lượng của nó. Bên cạnh các tác phẩm sử thi riêng rẽ, độ dài vừa phải như Đăm San (2077 câu), Khinh Dú (5880 câu), thì nay đã phát hiện thấy loại sử thi liên hoàn, gồm nhiều tác phẩm, liên quan với nhau về nhân vật, chủ thể, phong cách thể hiện, như các sử thi: Ốt Drông của người Mnông, Dông của người Ba Na và Dăm Diông của người Xê Đăng. Mỗi bộ sử thi liên hoàn này gồm khoảng 100 tác phẩm có sự liên kết khá hoàn chỉnh và được các chuyên gia đánh giá là những sử thi có độ dài nhất của thế giới, sánh ngang với những tác phẩm sử thi hoành tráng của nước ngoài như Ramayana, Kalevala….


Có lẽ trong văn học dân gian thế giới, sử thi Tây Nguyên được xếp vào loại có dung lượng lớn nhất. Nhưng điều quan trọng hơn là dù vắn dài, sử thi Tây Nguyên vẫn phản ánh một cách trung thực, sinh động đời sống sinh hoạt cộng đồng, cuộc đấu tranh vì những ý tưởng nhân văn cao cả mà sự kiện trung tâm là hình ảnh những anh hùng thần thoại, những anh hùng của buôn làng Tây Nguyên từng được bao thế hệ, bao đời nay ngưỡng vọng như Đăm San, Đăm Di, Dyông Dư… mà đồng bào Tây Nguyên gọi là các Mtao.


Nội dung của sử thi chứa đựng những biến cố to lớn của dân tộc, là một bức tranh toàn cảnh của cả một thời đại. Những nhân vật anh hùng trong sử thi được xây dựng không hoàn toàn mang tính cá nhân, mà đại diện, biểu trưng cho cộng đồng, mang những ước vọng vừa lãng mạn vừa kỳ vĩ của cả cộng đồng, họ có dáng vóc, sức mạnh phi thường, qua các cuộc chiến đấu dũng cảm, với tài năng phi thường của mình, đưa nhân dân đến hình thành những cộng đồng mới, đông đúc, giàu mạnh, vinh quang hơn…Có thể nói, sử thi Tây Nguyên là một bản anh hùng ca hùng tráng góp phần làm phong phú thêm giá trị văn hóa tinh thần của cộng đồng các dân tộc Việt Nam với hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, đấu tranh kiên cường, bất khuất để sinh tồn và phát triển.


Sống đời sống riêng trong lòng đời sống cộng đồng


Sử thi Tây Nguyên thuộc loại hình văn học truyền miệng, do vậy ngôn ngữ thể hiện bao giờ cũng có ý nghĩa hàng đầu. Ngôn ngữ sử thi là ngôn ngữ lời nói vần, tức hình thức trung gian giữa ngôn ngữ thường ngày và ngôn ngữ thơ ca. Điều này cũng dễ hiểu bởi vì với các tộc người chưa có chữ viết thì văn học truyền miệng thông qua phương thức lời nói vần là phương tiện dễ nhớ, dễ lưu truyền. Cấu tạo của những lời nói vần thường là đối âm, đối nhịp. Ngôn ngữ của sử thi là ngôn ngữ ví von, giầu hình ảnh, nhạc điệu, mượn hình ảnh cây cỏ, chim thú để nói về con người và tâm trạng của con người. Có lẽ vì vậy mà dù văn bản có độ dài hàng trăm, hàng ngàn câu, nhưng vẫn có các cụ già thuộc lòng.


 


Nét khác biệt giữa sử thi Tây Nguyên với nhiều tác phẩm sử thi cổ điển khác, như Iliat, Ô-đi-xê, Ramayna, Kalevala là hiện nay chúng chỉ tồn tại chủ yếu trên sách vở hay đã bị biến dạng trong các hình thức nghệ thuật khác, thì sử thi Tây Nguyên vẫn được lưu truyền nguyên bản trong nhân dân, vẫn được nhân dân trình diễn trong các sinh hoạt cộng đồng, vẫn được các thế hệ học hỏi, lưu truyền và không loại trừ cả sáng tạo, hoàn thiện nữa. Như vậy, sử thi Tây Nguyên vẫn sống đời sống riêng của nó trong lòng đời sống cộng đồng. Đó cũng là nét độc đáo, là vốn quý của Tây Nguyên.


 


Sử thi Tây Nguyên là dạng văn hoá phi vật thể, sáng tạo, lưu truyền thông qua truyền miệng, tiềm ẩn trong trí nhớ của người dân, chỉ khi nào có dịp như cưới xin, hội hè, mừng nhà mới, đón tiếp khách quý, mừng trẻ nhỏ đầy năm, đầy tháng thì nghệ nhân mới hát kể sử thi, lúc đó sử thi mới hiện hữu. Như vậy, sử thi gắn với nghệ nhân, gắn với sinh hoạt cộng đồng, tức là gắn với con người và xã hội con người.


 


Những nghệ nhân kể sử thi là những “kho tàng sống”, góp phần lưu giữ những giá trị tinh thần vô giá của người Tây nguyên, và đêm đêm bên bếp lửa nhà sàn vẫn chậm rãi kể cho con cháu nghe, thường phải kể hàng chục đêm mới xong… Để có thể thuộc lòng áng sử thi như vậy, đòi hỏi người kể sử thi phải có tình yêu thiết tha và lòng say mê đối với vốn văn hóa vô giá của dân tộc. Với họ mỗi lần kể sử thi là mỗi lần được nhập cuộc, được sống lại cái không khí cuộc sống cộng đồng cách nay hàng trăm năm… Mặt khác, cái khung cảnh huyền ảo của màn đêm, của không gian núi rừng như tạo nên một không - thời gian huyền thoại mà cũng rất thực và sống động lạ thường… Nếu ai đã được nghe kể sử thi thì hẳn không quên được cái ấn tượng của những đêm Tây Nguyên khi bên bếp lửa bập bùng và bên ché rượu cần giữa nhà rông hay nhà dài, nghệ nhân hát kể sử thi và xung quanh con cháu, buôn làng ngồi nghe như nuốt từng lời, như hòa vào cái không gian huyền ảo, lung linh, lặng thầm cuộc sống.


Dự án “Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản sử thi Tây Nguyên” được thực hiện trong thời gian từ 2001 đến 2008 đã sưu tầm được 801 tác phẩm với 5.679 băng ghi âm loại 90 phút. Đến năm 2012, đã có 75 bộ sử thi được xuất bản (song ngữ) và 21 bộ sử thi khác sắp sửa được xuất bản. Tháng 4/2015, sử thi Ba Na (tỉnh Gia Rai) được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.


Kim Ngân tổng hợp/quehuongonline.vn


Sử thi Tây Nguyên, những giá trị văn hóa tinh thần vô giá


Cũng như huyền thoại Hi Lạp, sử thi Tây Nguyên gắn liền với tên tuổi những anh hùng thần thoại, những anh hùng của buôn làng Tây Nguyên từng được bao thế hệ, bao đời nay ngưỡng vọng như Đăm San, Đăm Di, Dyông Dư… mà đồng bào Tây Nguyên gọi là các Mtao… Nhưng điều thú vị và hấp dẫn ở sử thi Tây Nguyên là những giá trị lịch sử, giá trị văn hoá của nó với những cứ liệu lịch sử đầy thuyết phục về một giai đoạn lịch sử của dân tộc mà theo một số nhà nghiên cứu, sử thi Tây Nguyên có thể ra đời vào thời kỳ mà xã hội Tây Nguyên có những thay đổi to lớn do các cuộc chiến tranh của các buôn làng…


Cũng theo các tài liệu lịch sử, sử thi Tây Nguyên đã được biết từ khá lâu, từ thời Pháp thuộc, đầu những năm hai mươi của thế kỷ trước… Nhưng phải đến gần đây, mới được nghiên cứu, khai thác một cách quy mô, sâu rộng hơn… Trong khuôn khổ bài viết có hạn này, xin được nêu lên vài cảm nhận và đôi nét khái quát về sử thi Tây Nguyên hẳn là chưa được đầy đủ hầu được nói cùng bạn đọc yêu mến, tự hào về mảnh đất sinh ra những con người, những tác phẩm vô giá.


Xét ở góc độ vĩ mô, cho đến nay sử thi Tây Nguyên được biết là có đến hơn hai trăm bộ đã được sưu tầm, ghi chép và đang được tổ chức biên soạn. Và số còn lại đã được biết đến nhưng chưa kịp ghi chép cũng có hàng trăm bộ nữa. Đây đích thực là một kho tàng văn học dân gian khổng lồ, một kho lịch sử – văn hóa vô giá có thể so sánh với kho thần thoại Hi – Lạp nổi tiếng. Nhưng điều khác hẳn (so với thần thoại Hi Lạp) là ở dung lượng của nó. Có những sử thi ngắn mà cũng có tới mấy trăm câu (sử thi H’Điêu có 570 câu); có những sử thi khá dài như Đăm San (20077 câu), Khinh Dú (5880 câu), và có những sử thi rất dài, có lẽ dài nhất trong số những sử thi đã được biết ở nước ta cho đến nay là Ot Nrông của người M’nông khoảng 30.000 câu… Có lẽ trong văn học dân gian thế giới, sử thi Tây Nguyên được xếp vào loại có dung lượng đồ sộ. Nhưng điều quan trọng hơn là dù vắn dài, sử thi Tây Nguyên vẫn phản ánh một cách trung thực, sinh động, đời sống sinh hoạt cộng đồng, cuộc đấu tranh vì những ý tưởng nhân văn cao cả mà sự kiện trung tâm là hình ảnh những người anh hùng (các M’tao) qua các cuộc chiến đấu dũng cảm, với tài năng phi thường của mình, đưa nhân dân đến hình thành những cộng đồng mới, đông đúc, giàu mạnh, vinh quang hơn… Một trong những hình ảnh tiêu biểu ấy là Đăm San, người anh hùng của các buôn làng Tây Nguyên mà mối tình của họ (Đăm San và H Nhí) đã là một câu chuyện dài… Có thể nói, Sử thi Tây Nguyên là một bản anh hùng ca hùng tráng nhất trong giàn hợp xướng của một đất nước có hàng nghìn năm lịch sử đấu tranh kiên cường, bất khuất để sinh tồn và phát triển…


Nhưng điều muốn nói ở sử thi Tây Nguyên là ở cách kể độc đáo. Dù văn bản có độ dài hàng trăm, hàng ngàn câu, nhưng vẫn có các cụ già thuộc lòng. Họ là những nghệ nhân, là những “kho tàng sống”, góp phần lưu giữ những giá trị tinh thần vô gí của người Tây Nguyên. Và đêm đêm bên bếp lửa nhà sàn vẫn trầm ngâm kể cho con cháu nghe, thường phải kể hàng chục đêm mới xong… Có lẽ vì được sáng tác theo một loại văn vần đặc biệt của người Tây Nguyên nên người ta dễ thuộc, dễ nhớ đến như vậy. Nhưng còn một lý do quan trọng hơn là tình yêu thiết tha và lòng say mê đối với vốn văn hóa vô giá của dân tộc. Với họ một lần kể sử thi (người Ê đê gọi là kể Khan) là mỗi lần được nhập cuộc, được sống lại cái không khí cuộc sống cộng đồng cách nay hàng trăm năm… Mặt khác, cái khung cảnh huyền ảo của màn đêm, của không gian núi rừng như tạo nên một không – thời gian huyền thoại mà cũng rất thực và sống động lạ thường… Nếu ai đã được nghe kể Khan Ê đê thì hẳn không quên được cái ấn tượng của những đêm Tây Nguyên khi bên bếp lửa bập bùng và bên ché rượu cần giữa nhà rông hay nhà dài, nghệ nhân ngồi giữa kể Sử thi và xung quanh con cháu, buôn làng ngồi nghe như nuốt từng lời, như hòa vào cái không gian huyền ảo, lung linh, lặng thầm cuộc sống.


Ngoài cách kể trên, còn một cách kể độc đáo hơn. Đó là cách người ta nằm kể. Mỗi lần như thế, nghệ nhân nằm trên một chiếc ghế chỉ dành cho khách quý và là chỗ ngồi của giàn cồng chiêng trong các ngày lễ hội lớn. Họ nằm đấy “đầu gối lên một chiếc gối cao, tay gác lên trán, trang nhã và đẹp như một vị tiên”. Và có điều rất kỳ lạ “ông cụ nhắm mắt lại mà kể. Vì sao vậy? Chính ở đây chứa đựng một trong những điều bí ẩn tuyệt diệu nhát của sử thi Tây Nguyên…” (Theo nhà văn Nguyên Ngọc, người có nhiều năm tháng gắn bó với các buôn làng đồng bào Tây Nguyên…).


Như vậy, với những giá trị văn hóa tinh thần vô giá, sử thi Tây Nguyên đã góp phần làm nên diện mạo của các dân tộc giàu bản sắc văn hóa ở một vùng đất huyền thoại và nhiều tiềm năng. Cho nên việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc Tây Nguyên, trước hết là tiếp tục sưu tầm, tổ chức biên soạn cũng như việc bảo tồn, lưu giữ, phát huy tác dụng và truyền lại cách kể Khan hay kể sử thi nói chung là những việc làm cấp thiết và có ý nghĩa cực kỳ to lớn.


Gần đây do tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường, hình như trong các buôn làng Tây Nguyên việc đêm đêm các con cháu, buôn làng tụ tập về nhà Rông hay nhà dài, nghe già làng kể sử thi đã thưa vắng. Nhưng điều đáng nói hơn là lớp người kế tục công việc của những nghệ nhân thì hầu như chưa được chú trọng đào tạo, bồi dưỡng bài bản, đúng mực trong khi lớp nghệ nhân – già làng thì ngày một vắng bóng dần.


Tuy nhiên, văn hoá cũng như đời sống xã hội vẫn luôn tiến về phía trước, về phía ánh sáng của chân lý và khát vọng cuộc đời bởi quy luật và động lực tiến hoá của nhân loại. Thực tế vẫn còn những điểm sáng khác nữa trong bức tranh đã dần bừng sáng lên về đời sống tinh thần của người Tây Nguyên. Một trong những điểm sáng ấy là việc tổ chức truyền dạy kể Khan Ê đê trong các buôn làng Tây Nguyên với sự hỗ trợ kinh phí của Viện khoa học xã hội và nhân văn quốc gia và Viện nghiên cứu văn hoá dân gian. Đó là việc UBND huyện CưM’gar (Đắk Lắk) đã phối hợp tổ chức lớp truyền đạt và dạy hát kể Khan cho nhiều học viên, trong đó chủ yếu là các em học sinh, thanh niên của xã Ea Tul… Đây là một việc làm thiết thực, sống động trong việc giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa cổ truyền của cha ông. Được biết đến nay đã có 16 tác phẩm sử thi Tây Nguyên vừa được Viện Nghiên cứu văn hóa và Công ty Phát hành sách TP. Hồ Chí Minh ấn hành. Song song với yêu cầu và kế hoạch đến những năm sau sẽ xuất bản 75 tác phẩm sử thi Tây Nguyên đều tiên thì con số trên còn quá khiêm tốn. Thiết nghĩ các cơ quan hữu quan, các ngành chức năng cần đẩy mạnh hơn nữa việc sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn kho tàng sử thi Tây Nguyên đặng quảng bá những giá trị văn hóa tinh thần mà tổ tiên cộng đồng dân tộc Tây Nguyên đã để lại. Hơn nữa nhằm xúc tiến việc đưa sử thi Tây Nguyên vào danh mục các ứng viên để đề nghị UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc thế giới.


Trọng Nguyên/vusta.vn


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Văn hóa ẩm thực: Phở - món đồ ăn bằng bánh thái nhỏ nấu với thịt bò - Trịnh Quang Dũng 11.12.2017
Văn hóa Ẩm thực: Phở Việt - Kỳ 3: Phở - Trịnh Quang Dũng 10.12.2017
Boris Pasternak Giải Nobel về văn học năm 1958 - Thân Trọng Sơn 09.12.2017
Bộ Tư lệnh Vùng 5 Hải quân - Tư liệu sưu tầm 02.12.2017
Pilates là gì? Lịch sử môn thể thao thời thượng Pilates - Triệu Thiên Hương 01.12.2017
Vĩnh biệt nhà văn Nguyễn Gia Nùng - Triệu Xuân 27.11.2017
Kỳ vọng cường quốc của Trung Quốc chỉ là 'lâu đài trên cát'? - Tư liệu 25.11.2017
Goncourt 2017 thuộc về nhà văn kiêm đạo diễn Eric Vuillard - Tư liệu 25.11.2017
Nhà văn Nguyễn Thị Anh Thư - Người luôn ẩn mình sau những trang văn - Đỗ Ngọc Yên 24.11.2017
Thầy trò đời nay với thầy trò xưa - Phan Khôi 19.11.2017
xem thêm »