tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18404326
Lý luận phê bình văn học
23.08.2016
Nhiều tác giả
Đám cưới không có giấy giá thú Khen và chê



Văn nghệ số 21. 26/5/1990


L. T.S: Tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú của nhà văn Ma Văn Kháng là một trong những sáng tác văn học gần đây được sự chú ý của đông đảo bạn đọc. Văn nghệ đã từng đăng ý kiến của các nhà văn, nhà lý luận phê bình về tiểu thuyết này. Kỳ này xin giới thiệu bài viết của hai bạn đọc với nội dung khá trái ngược nhau. Đây chưa phải là ý kiến cuối cùng nhưng trên tinh thần dân chủ thảo luận, tôn trọng các đánh giá khác nhau, chúng tôi xin giới thiệu cùng bạn đọc để rộng đường trao đổi.


A. Chê


Đọc báo Văn nghệ số 6 ngày 10- 2- 1990 phản ánh cuộc hội thảo của nhiều nhà văn về cuốn Đám cưới không có giấy giá thú của Ma Văn Kháng, tôi khá ngạc nhiên khi thấy nhiều vị đã ca tụng hết lời cuốn sách đó.


Trước hết nói về giáo Tự, nhân vật chính của tiểu thuyết, mà Ma Văn Kháng đã ưu ái gửi gắm nhiều tâm tư tình cảm. Phải chăng nhân vật giáo Tự là nhà hiền triết, một nhân cách cao cả và thánh thiện (như Phan Cự Đệ phán) với những hành động và tư tưởng như sau (theo đúng như Ma Van Kháng tả): Giáo Tự đã yêu, “đã giao cảm và hòa nhập (??) vào Phượng, cô học sinh của mình trong đêm Nôen kỳ lạ nhất đời mình”, để rồi sau đó bỏ rơi cô ta một cách phũ phàng.


Giáo Tự đã trơ trẽn ăn ngủ với Xuyến, cô người yêu sắp cưới của mình ở ổ rơm giữa ban ngày tại ngay nhà bà mẹ đẻ cô ta mà giáo Tự lần đầu tiên đến thăm hỏi tìm hiểu? Tất nhiên là Ma Văn Kháng có bào chữa và gán cho những hành động đó nhiều câu chữ mỹ miều, đẹp đẽ. Nhưng dù bào chữa hay ngụy trang thế nào đi chăng nữa, thì nếu nhìn thẳng vào sự thật, sao có thể biểu dương những hành động đó là của nhà hiền triết thánh thiện và cao cả? Trái lại, theo tôi, đó chỉ là hành động của một con người hư hỏng, thiếu văn hóa. Giáo Tự đã đánh giá tám năm chiến đấu của mình ở chiến trường B là “vớ vẩn và buồn đau”.


Là người lính đã chiến đấu cho Tổ quốc Việt Nam, tôi muốn nói lên sự không đồng tình của mình trước những lập luận trên. Trong đời thường, trước vô vàn khó khăn về sinh hoạt vật chất của đại đa số nhân dân trong đó có gia đình mình, giáo Tự đã thể hiện vô trách nhiệm đối với vợ con, đã bỏ trốn lên gác xép, nơi hang động, tháp ngà của mình, và rồi sau đó, bỏ nhà lên trú ngụ ở văn phòng trường, bỏ mặc vợ con xoay xở sinh sống. Giáo Tự cũng đã không dám đấu tranh trước những sai trái của đồng nghiệp (như trong vụ việc chữa bài thi, ông già Thống bị ngất và cấm khẩu, của vợ (khi cô ta có triệu chứng hủ hóa và sau đó đã hủ hóa với người láng giềng...). Phải chăng đó là hành động mang tính triết học sâu sắc và cao cả?... Xem xét một số hành động và tư tưởng trên của giáo Tự, chúng ta thấy thực sự giáo Tự chỉ là một hạng người xoàng xĩnh, yếu hèn nhiều mặt, dung tục trong yêu đương, vô trách nhiệm với gia đình, bạn bè, không dám đấu tranh cho lẽ phải, tự bôi nhọ và phủ nhận cuộc đời anh bộ đội cao đẹp của mình... Tiếp đến, tôi muốn bàn về một số nhân vật là cán bộ lãnh đạo Đảng, chỉ huy công an, quân đội, cán bộ quản lý nhà trường v.v... được thể hiện trong Đám cưới không có giấy giá thú.


Nói chung Ma Văn Kháng đã dựng những nhân vật này một cách sơ sài, chỉ loáng thoáng một vài dòng, một vài trang giấy nhưng còn phiến diện.


Tôi cũng không đồng ý với một số nhà văn cho là trước đây nếu viết thế thì không được còn hiện nay thì được (như Xuân Cang phát biểu trong hội thảo). Tại sao bây giờ thì được? Theo tôi thì trước đây, hiện nay và mãi mãi sau này, nhà văn đều có thể viết về những tiêu cực, những thói hư tật xấu của một số cán bộ... một cách có lý có tình, hợp với lẽ phải, hợp với lô-gích của tình hình thực tế, có tính thuyết phục trước công luận chính trực của đông đảo người đọc; chứ không thể tùy tiện như trong Đám cưới không có giấy giá thú. Xin đơn cử một vài thí dụ: Ma Văn Kháng đã dựng một Bí thư thị ủy rất vô chính trị, đã lớn tiếng răn đe tục tĩu đông đảo học sinh và thầy giáo ngay giữa buổi lễ long trọng khai giảng năm học của trường trung học phổ thông vừa mới được thị xã xây dựng lên. Ma Văn Kháng cũng đã dựng hình ảnh một cán bộ quân đội ngay giữa chiến trường ác liệt đã tự xưng với chính những người lính thuộc quyền của mình: “Tao là Đảng, tao là chính phủ. Tao cao nhất ở đây, hỏi nữa hay thôi..” (việc gì phải tự xưng như vậy mới tỏ hết được quyền uy của mình??... Điều này chứng tỏ Ma Văn Kháng chẳng hiểu quân đội gì cả. Ma Văn Kháng cũng đã dựng lên nhiều pha và vụ việc khác khá giật gân nhưng cũng khá vô lý như: Pha đốt trường trung học vừa mới xây dựng xong, rồi điều động công an đến vây quanh nơi hỏa hoạn, không cho học sinh vào cứu chữa nhằm buộc tội giáo Tự, và thực tế sau đó chỉ đưa anh ta đi bộ đội mà thôi? Rõ ràng đó chỉ là hành động dùng đại bác để diệt một con ruồi! Pha chủ khảo lẻn vào buồng cất giữ bài thi như tên ăn trộm để chữa điểm cho hàng loạt nhằm nâng tỉ lệ đỗ của trường từ 40- 50 % lên đến 90-95%. Chẳng lẽ không còn biện pháp gì khác để nâng điểm mà chủ khảo phải dở trò lén lút một cách ngu xuẩn?


Tóm lại, nhiều vụ việc, tình huống được nêu lên trong Đám cưới không có giấy giá thú đều khá ngây ngô, giả tạo, không hợp lý, làm cho người đọc tức anh ách, nghi ngờ giá trị đích thực của cuốn sách. Việc sử dụng tiếng ngoại quốc trong tác phẩm của mình là do tác giả. Nhưng cũng xin lưu ý là nên thận trọng, tránh để sai sót về từ ngữ chính tả hoặc ngữ pháp như Đám cưới không có giấy giá thú đã phạm phải không ít. Cần tôn trọng người đọc hơn nữa để tránh sơ suất trong trích dẫn hoặc in ấn.


Nêu lên một vài ý kiến chính như trên đã trình bày, chúng tôi mong muốn trao đổi rộng rãi và đánh giá đúng mức hơn Đám cưới không có giấy giá thú. Tôi chắc sẽ có nhiều vị không đồng ý với tôi, có thể cho tôi là công thức, máy móc, đi theo vết mòn cũ, tư duy lạc hậu không theo kịp cái mới v.v....


Theo tôi, muốn nói thế nào đi chăng nữa, vấn đề chính là chúng ta phải bảo vệ chân lý, bảo vệ cái thiện, bảo vệ nền văn hóa lành mạnh và tiến bộ của nhân dân chúng ta. Và đó cũng là mục đích chính của bài viết nhỏ này.


NGUYỄN VIỆT


B. Khen


Con gái tôi mới dạy học được bốn năm, lại ở một trường có quy củ nhất ở Hà Nội hiện nay, nó bảo tôi: “Con thấy tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú của Ma Văn Kháng cũng thường thôi, không hay lắm. Hình như tác giả cố cường điệu hóa các tính cách và hoàn cảnh nhân vật chứ thực tế làm gì có những con người như trong tác phẩm”. Ý kiến tôi hoàn toàn trái ngược với con gái tôi.


Sau khi đọc nghiến ngấu một mạch toàn tác phẩm, gập sách lại tôi thấy bàng hoàng cả người vì bao nhiêu hình ảnh, cảm xúc cứ dồn dập ùa vào tâm trí đang thanh thản của tôi sau hai năm nghỉ hưu rảnh rỗi. Thú thực, lâu lắm tôi mới được xúc động thực sự khi gặp lại những con người bằng xương bằng thịt của ngành mình, nghề mình.


Tôi rất tâm đắc với nhân vật thầy giáo Tự. Anh là một điển hình tuyệt vời của nhiều đồng nghiệp - cả giáo viên cấp I, II, III mà tôi đã gặp trong 30 năm dạy học vừa qua.


Có người bảo: nhân vật Tự - đẹp nhưng yếu quá. Như thế mới đúng thực tế. Thực tế là từ 1975 trở về trước, lý lịch gia đình là một ám ảnh ghê gớm đối với mỗi con người muốn tiến mà không thuộc thành phần cơ bản. Trong hoàn cảnh nhiều dồn ép và thành kiến, thầy giáo Tự tìm được cách trốn về Hà Nội để tố cáo với Bộ giáo dục, xin cho 41 em học sinh được trở lại trường thi trước con mắt hằn học, tức tối của những người đại diện địa phương thì sự đấu tranh quyết liệt ấy có yếu không? Liên tiếp sau đó, biết bao tai họa đổ lên đầu, thầy giáo Tự vẫn đứng vững trên bục giảng của mình, vẫn sáng mãi trong lòng tin của học sinh, sự phấn đấu bền bỉ ấy có yếu không. Trong khi đó, cùng chung một số phận bi đát về gia thế như Tự, ông Thống đã trở thành một người yếu thế chỉ dám thỉnh thoảng bộc lộ cái bất mãn của mình bằng những câu châm chọc thâm thúy, bằng những cái cười mỉm sâu xa. Hoặc, yếu đuối hơn, anh Thuật đã bị tha hóa tới cùng cực về mặt đạo đức. (Tất nhiên sự tha hóa này còn phải có nguyên nhân khác, nguyên nhân xã hội mà tôi sẽ nói ở sau). Như vậy, rõ ràng là có một thực tế hết sức phũ phàng đã cố vùi dập một con người hoàn mỹ như Tự. Nhưng lúc ấy, Tự không đơn độc vì bên cạnh Tự là “một lớp thầy giáo trẻ tốt nghiệp đại học... tràn đầy nhiệt huyết và đầy đủ hành trang hiểu biết”. Lúc ấy “nhà trường thực sự là một tổ hợp liên kết thầy trò trong quan hệ vừa thân mật vừa nghiêm túc, đậm đà hương vị Á đông, dân tộc cổ truyền nhưng không già nua cứng ngắc, trái lại tươi trẻ, hồn nhiên. Nó toàn tâm toàn lực hướng về cái khoa học cao quý nhất của mọi khoa học, mọi nghệ thuật: giáo dục con người (Thư học sinh cũ gửi Tự). Lúc ấy, cái sức mạnh tinh thần là tột đỉnh của niềm cổ vũ lớn lao đối với Tự. Tự không yếu. Hai mươi năm đấu tranh liên tục không mệt mỏi cho chân lý, cho sự nghiệp trồng người, thầy giáo Tự không yếu như người ta tưởng.


Vậy thì, từ khi nào Tự coi như bị đánh gục hoàn toàn? Từ khi đồng tiền biết sinh sôi, theo quy luật riêng của nó - “Tiền ở trong nhà tiền chửa, tiền ra ngoài cửa tiền đẻ”


(Lời cô Trình). Đến lúc này, Xuyến vợ Tự muốn cố vùng vẫy ra khỏi cái nghèo đói, túng quẫn của gia đình đã từ nơi buôn thúng bán mẹt lao thẳng vào một thương trường náo loạn, đánh bạn với những bà béo núc mà đỉa vàng bám đầy các ngón tay chuối mắn thì sự sa đọa, ăn diện, ngoại tình là điều không tránh khỏi. Những món tiền nho nhỏ mà Tự cố nhắm mắt rút ra từ những cuốn sách gia bảo trong cái “Tùng Thiện thư viện” liệu phỏng có được là bao mà hòng kéo lại một cô vợ ngay từ khi bước chân về với anh đã bộc lộ rõ một khát khao cháy bỏng là muốn làm giàu? Tự đã trốn cảnh lục đục, trốn những pha chướng tai gai mắt ở nhà - không vì sợ vợ mà vì tựể đến trường ở nhờ một góc trong văn phòng nhưng cũng chỉ để cố giữ được cho mình một chỗ đứng khỏi lung lay. Tự vẫn giữ được niềm vui trong sáng nhưng chỉ trong quan hệ thầy trò. Còn với mọi quan hệ khác Tự có cố gắng bao nhiêu cũng chỉ là vô ích. Trước mắt mọi người, anh chỉ là một “chàng ngốc”. May mà còn có Kha, ông Thống để dốc bầu tâm sự, nếu không Tự sẽ đơn lẻ hoàn toàn. Ngày nay, trong trường anh, có cô Thảnh dạy hóa tếu táo vui tươi thì lúc nào cũng cau có, chanh chua, xỉ mắng học trò, lúc nào cũng giục họp nhanh nhanh để “Trần Văn Biến”, lúc nào cũng cợt nhả với hiệu trưởng để xin bằng được cái phiếu nghỉ mát cho gã trai tơ, lúc nào cũng bận quai mồm với hàng hóa ở ngoài đường. Thầy giáo Thuật đang là một tài năng xuất chúng về toán học mà “dạy dỗ bố láo, chỉ nhăm nhăm kiếm tiền làm giàu, gây bao tiếng xấu, tổn hại đến thanh danh nhà trường, làm khổ từ lãnh đạo đến học trò, gây ai oán cho bao gia đình học sinh (lời kết tội của Cẩm). Nhưng như thế vẫn còn may cho Tự. Nếu Tự gặp những cô Thảnh ngoài đời “mua” hiệu trưởng để mưu lợi lớn cho mình, để dập cổ người này, vùi đầu người khác, để phá nát trường để đặt vào tay hiệu trưởng những sai lầm nghiêm trọng, nếu Tự lại gặp những thầy Thuật ngoài đời trình độ non kém, kiến thức cùn dần, trống rỗng mà vẫn làm sai, bóc lột học trò thì Tự còn đau xót biết bao nhiêu!


Thế mà, anh lại còn bị giam hãm trong một mái trường rách nát với những cột chống ruỗng mọt. Nó mới nghèo nàn, mới tang thương làm sao! 15 năm trụ vững ở ngôi trường này, Dương suốt ngày chỉ biết ngắm nghía lấy chổi phất trần quét bụi và chăm chút cho cái mảng tường bề trên. Đó là một con người “vô tích sự và thật lố lăng vì ông giống như một con rối mà lại tưởng rằng mình là nhân vật quan trọng”. Dương như một bóng ma rình mò theo dõi từng lời ăn tiếng nói của những con người “bất hảo” như Tự, như Thuật, như Thống. Lúc não cũng “xét theo quan điểm toàn diện” một cách ngu dốt, máy móc, Dương đúng là một cái đuôi của hiệu trưởng không hơn không kém. Tác giả bịa chăng? Hoàn toàn không. Cuộc đời dạy học của tôi đã từng để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc về những ngôi trường, về những con người như Dương.


Dương là kẻ hứng. Vậy còn người tung? Chúng ta hãy nghe tác giả tả hiệu trưởng Cẩm: Mặt Cẩm là một khối dầy, nặng. Từ mũi, vòng xuống chui vào mép hai nét vạc như quai chảo. Môi Cẩm dày bóng đầy vẻ thèm thuồng. Cảm nghĩ chung là Cẩm kệch cỡm và hèn hèn thế nào. Đọc Cẩm, chúng ta hình dung ngay đến hành vi bẩn thỉu của quan phụ mẫu ở chốn công đường trong một truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan. Không, Cẩm ở nhà trường, hành vi có nét riêng của nó. Cẩm “mở cửa len lén bước vào văn phòng khi ông Thống đi vắng. Cẩm có dáng vẻ của một tên khoét ngạch, đào tường. Nhưng, khác hơn lại đạo chính là Cẩm lơ lửng giữa hai vai và sẵn sàng trở thành vị chủ tịch hội đồng mẫn cán đi kiểm tra công việc của các thành viên khi y phát hiện ra ông Thống có mặt tại văn phòng”. Thế là Cẩm bóc niêm phong mớ tủ tìm ngay được tập bài thi bị điểm kém của môn toán, môn hóa được đánh dấu có ý để riêng, Cẩm hối hả chữa điểm trong nửa tiếng đồng hồ. Và vào lúc Cẩm đang tiến hành những thao tác cuối cùng của hành vi tội lỗi tầy đình” thì bị Tự và ông Thống bắt quả tang”. Cẩm tái mặt trong cơn tủi hổ, trước lời tuyên án sang sảng của ông Thống. “Ông chủ tịch hội đồng thi đã cố tình vi phạm quy định niêm phong bài vở, tự tiện một mình mở bài thi đã khớp phách để chữa điểm”. Nhưng thật không ngờ đang như chàm đổ mặt, Cẩm lạnh băng. Dấn lên một bước. Cẩm táo bạo và sẵn sàng giở trò du đãng: “Ông Thống ông định làm ầm ĩ để che giấu khuyết điểm hả. Nhân danh chủ tịch hội đồng thi, tôi đột ngột lên văn phòng, đột xuất kiểm tra không báo trước. Ông bỏ nhiệm sở đi đâu? Ai đã mở tủ và lục lọi bài vở? Tôi lập biên bản ông”.


Rồi Cẩm vu cho ông Thống cùng với Tự ăn tiền của học sinh để chữa điểm bài thi. Kết cục màn kịch bỉ ổ ông Thống vốn sẵn có bệnh cao huyết áp, vì uất ức quá đã xuất huyết não và cấm khẩu. Còn Tự thì sau một thời gian vất vả luyện thi cho trò lại chăm sóc ông Thống ở bệnh viện đã kiệt sức và ngất xỉu trong buổi họp hội đồng thi lúc hiệu trưởng Cẩm tuyên bố thắng lợi rực rỡ của trường: Từ tỷ lệ 50% “trường đạt 96,7%, tỷ lệ cao nhất thành phố, một thắng lợi chưa từng có”. Trường được tiên tiến xuất sắc. Những người lãnh đạo mở mày mở mặt, xách cặp đi khắp nơi báo cáo thành tích, kinh nghiệm. Ôi, thật là mỉa mai, trắng trợn! Nhưng tôi thật tình thương ông Cẩm còn non dại lắm mới dại dột mà tự tay để lại dấu ấn tội lỗi trên bài thi của trò. Làm hiệu trưởng như ông thế vẫn còn tất bật lắm. Cả năm học còn dài, cứ khoán việc cho chuyên môn. Phải ung dung tự tại, phải thanh thản, đường hoàng chứ, cứ ngồi trong tháp ngà tán gẫu với cái cô Thảnh uốn éo, trên bàn lúc nào cũng đầy nước ngọt, thuốc lá thơm, bánh kẹo mà bàn việc trường, việc lớp. Đến ngày thi chỉ việc tống cổ những tay sừng sỏ đi thanh tra trường khác, vừa giúp cho trường bạn làm ăn nghiêm túc, vừa có điều kiện để bộ sậu - cả một tập thể lãnh đạo kia mà - chịu trách nhiệm về việc thi cử của học sinh. Thế là xong, mọi việc đều êm đẹp, tỷ lệ vẫn cao, tiếng tăm vẫn nổi. Tôi đã gặp những hiệu trưởng như thế trong đời thường. Chắc chắn là Ma Văn Kháng không quá cường điệu đâu.


Trở lại trên, vậy thì Tự làm sao chống lại được cả một thế lực mang đầy bản năng thực dụng tầm thường? Một con người tự trọng như Tự: chỉ cần trông thấy việc xấu của người khác đã xấu hổ thay cho họ thì còn làm gì được hơn? Kết thúc đời Tự là một con số không to tướng, tròn trĩnh. Thật đáng buồn. Trước số phận của một con người như thế, chúng ta nghĩ gì? Tôi say sưa đọc lại tác phẩm một lần nữa và xin phép được bày tỏ một vài ý kiến như sau:


Nhân vật Tự trong xã hội tanay có nhiều không? Không nhiều, rất ít là khác. Nhưng, đó là những hạt giống tốt cần được chăm chút, nâng niu, đãi ngộ thích đáng. Còn các nhân vật Thảnh, Thuật, Dương, Cẩm có nhiều không? Cũng không nhiều, rất ít là khác. Đó là những con sâu bỏ rầu nồi canh, cần được diệt hết, có thể hy sinh một để bảo vệ nghìn. Tôi hiểu chế độ ta rất nhân đạo, bao giờ cũng giáo dục rồi mới kỷ luật. Theo tôi, cách giáo dục tốt nhất là thử thách họ trong công bằng, tuyệt đối công bằng, ai vươn lên được là tốt, ai ngã xuống là xấu. Đã xấu thì diệt thẳng, không đưa từ cấp dưới lên cấp trên. Một hiệu trưởng bị kỷ luật, đưa lên phòng lên sở, vài hôm sau anh ta lại xách cặp xuống trường kiểm tra, phán xét anh em. Thật là vô lý và bất công. Giám đốc một xí nghiệp xấu thì chỉ ảnh hưởng đến công nhân chứ một hiệu trưởng xấu thì không những ảnh hưởng đến giáo viên mà còn tới học trò - những sản phẩm trí tuệ, những mầm non tương lai của đất nước. Làm hỏng một thế hệ là có tội với cha ông, với lịch sử.


Những lớp người trên, giáo viên và lãnh đạo thuộc số ít ở đây, phần hai và cũng là phần kết luận của bài này, tôi muốn nói tới số đông giáo viên còn lại, những người mà tác giả Ma Van Kháng chỉ nhắc đến hai lần trong tác phẩm qua mấy dòng vắn tắt. Đó là “một đám đông không suy nghĩ, chỉ cốt thu được cái lợi ích riêng, ích kỷ của bản thân mình”. Khi “động chạm đến quyền lợi riêng, mang khó nhọc vào thân, ai cũng thoái thác việc cưu mang đồng nghiệp lúc hoạn nạn”. Chắc sẽ có bạn hỏi: một số đông dửng dưng với tập thể như thế sao lại đáng chú ý? Xin thưa, đi sâu vào chúng ta sẽ thấy mỗi người đều có mặt này hay mặt khác trong cái đẹp tổng thể của anh Tự. Trong họ tiềm ẩn rất nhiều khả năng: họ rất giàu lòng nhân ái. Nhưng họ không đi theo anh Tự vì họ thiếu lòng tin, lâu nay họ không được đối xử công bằng, xấu tốt không phân, thưởng phạt không đúng. Vì thế họ thờ ơ với tất cả, thấy cái tốt không hoan hỉ, thấy cái xấu cũng làm ngơ. Mặt khác, họ lại cũng không đi theo Thuật, Thảnh, Dương, Cẩm vì họ có trách nhiệm của người thầy. Họ chiếm số đông. Họ là đội quân chủ lực trên mặt trận giáo dục. Sức ì của họ càng lớn bao nhiêu thì giáo dục càng xuống cấp bấy nhiêu. Nếu cấp trên muốn lấy dân làm gốc thì chính là phải dựa vào họ, lập lại kỷ cương trong ngành, đem lại cho họ niềm tin, trao cho họ những người lãnh đạo tốt mang đầy đủ phẩm chất của nhưng con chim đầu đàn biết bay cao, bay nhanh, bay đúng hướng như khẩu hiệu đã nêu những năm 1970 trở về trước. Dù sao thực tế xã hội ta còn khá nhiều tiêu cực. Những tiêu cực ấy dội vào nhà trường làm cho việc nâng cấp các nhà trường còn gặp rất nhiều khó khăn. Nhưng, tôi nghĩ nếu ngành nào cũng làm tốt phần việc của ngành mình thì chắc chắn khó khăn chung sẽ bớt nhiều.


Bây giờ tôi không còn dạy học nhưng tôi là phụ huynh học sinh, tôi thiết tha mong mỏi được thấy số đông những người thầy của chúng tôi được cấp trên quan tâm đem hết khả năng dạy dỗ con em chúng tôi. Cảm ơn nhà văn Ma Văn Kháng đã cho tôi một cuốn sách cực hay về tình đời.


BÙI KIM CHI


Tháng 5-1990


Nguồn: Văn nghệ số 21. 26/5/1990


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Biểu tượng người nam và người nữ trong thơ tình Việt Nam - một cái nhìn khái quát - Trần Nho Thìn 18.03.2017
Hoài Anh, nhà văn đa tài và lặng lẽ - Triệu Xuân 16.03.2017
Mỹ học (40) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 16.03.2017
Mỹ học (39) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.03.2017
Mỹ học (38) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.03.2017
Gabriel Gacia Marqyez (Colombia) nói về bản thân và nghề nghiệp - Hoài Anh 15.03.2017
Mỹ học (37) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 14.03.2017
Mỹ học (Kỳ thứ nhất) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 13.03.2017
Mỹ học (Kỳ 35) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 13.03.2017
Mỹ học (Kỳ 36) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 13.03.2017
xem thêm »