tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20550482
Tiểu thuyết
17.08.2016
Lê Khánh Căn
Huế ngày ấy



Lân bẻ lại:


       - Công việc thì cứ làm, gia đình thì cứ lập chứ. Chiến khu đã đến lúc có thể mở trường văn hóa được rồi, tổ chức đám cưới và đời sống gia đình không được sao? Công việc là công việc chung kia mà, có cả tập thể lo liệu chứ. Chị ấy… mất cũng đã gần năm rưỡi rồi, có phải mới hôm qua đâu. Còn bà cụ thì… không lẽ anh đi làm cách mạng mười mấy năm trời rồi mà còn phải đợi ý kiến bà cụ về việc lập gia đình hay sao?


       Thân lắc đầu đáp:


       - Không Lân ạ, mình quả thật là chưa nghĩ tới chuyện lập gia đình trong lúc này. Kỷ niệm của vợ mình còn nặng lắm, không thể một lúc mà quên đi được.


       Lân trầm ngâm một lúc rồi chợt hỏi Thân:


       - Này, anh thấy cô giáo Phượng thế nào?


       Thân đáp:


       - Những người như thế mà chịu bỏ cảnh sống nhung lụa sung sướng ở Huế để lên đây là có tinh thần yêu nước tốt đấy chứ.


       - Đành rồi, tôi hỏi anh về mặt khác kia chứ.


       - Mặt gì?


       - Anh thấy cô ấy có đẹp không?


       Thân đáp với giọng rất thẳng thắn:


       - Phải nhận rằng cô ấy không lộng lẫy, không tươi trẻ như những cô gái dậy thì, nghe đâu hai mươi sáu, hai mươi bảy tuổi rồi thì phải, nhưng cũng đẹp, cái đẹp kín đáo, mà cũng có vẻ quý phái. Khuôn mặt thì đẹp, thân hình cũng dễ coi nhất là cặp mắt có vẻ thông minh.


       - Cặp mắt tình tứ nữa là khác ấy chứ. Không hiểu sao người như thế mà vẫn chưa lấy chồng?


       - Ai mà biết được chuyện đời tư của người ta.


       Lân bỗng đột ngột nói:


       - Anh ạ, tôi trong cô ta có vẻ có… cảm tình với anh đấy. Nói thật đấy, anh đừng cho là đùa.


       - Không, tôi biết anh bàn chuyện đứng đắn. Nhưng như tôi đã nói, tôi chưa nghĩ đến việc lập gia đình. Vả lại, chúng ta đoán tình cảm của người đàn bà cũng có khi chưa đúng lắm đâu. Biết đâu cô ấy vẫn cho là tôi vẫn có vợ con mà không hề có… ý nghĩ nào khác.


       Từ biệt Lân ra về, Thân vừa đi vừa ngẫm nghĩ về câu chuyện giữa anh và Lân. Anh thấy thoáng hiện lại đôi mắt tình tứ của Phượng trong buổi tiệc nhìn anh. Đôi mắt to, đen lay láy, đầy tình cảm, cặp lông mày gọn, thanh tú và để tự nhiên không tô vẽ thêm như những cô gái thị thành khác. Nhưng rồi một hình ảnh khác lại trùm lên cái hình ảnh mới đó: hình ảnh Ngạc nằm trên chiếc cáng bên bờ sông Nam Phổ, môi nhợt nhạt nhưng vẫn như mỉm cười khe khẽ, vừa nhìn anh bằng con mắt đờ dại, tay vừa chỉ xuống cái bụng đã mang dòng máu của anh được gần tám tháng.


*


       Thân đang còn mải suy nghĩ thì Tâm “con”, liên lạc của cơ quan tỉnh ủy, hộc tốc chạy tới. Tâm là con trai út của bác Hải già, em ruột Thiện, năm ấy vừa đúng mưới lăm tuổi; chú bé gọi tất cả mọi người trong cơ quan bằng chú:


       - Cháu tìm chú mãi. Chú về ngay. Có bà cụ mẹ của chú ở dưới làng lên chơi đấy.


       - Thật à cháu. Sao cháu biết?


       - Chú Bình văn phòng bảo cháu đi tìm chú mà.


       Thân mừng rỡ, anh bước vội về cơ quan. Anh nóng ruột gặp mẹ. Không hiểu sao, lúc này anh cảm thấy thèm muốn một chút ấm áp của tình mẹ, một chút vuốt ve ôm ấp của người mẹ mà đã hơn hai năm nay anh chưa gặp. Anh bước nhanh như đứa trẻ nghe tin mẹ đi chợ về lon ton chạy ra cổng đón. Khổ thân bà cụ, anh nghĩ như thế, nghe nói lòa rồi, làm sao mà lại lên đây được. Ai về làng mà đón được lên nhỉ? Không lẽ bà cụ lên một mình? Làng mình vẫn chưa lập được cơ sở kia mà?


       Anh chạy vụt về phòng tiếp khách của cơ quan. Mẹ anh, phải, đúng là mẹ anh đang ngồi một mình trên cái ghế bằng nứa ghép. Trông thấy Thân bà cụ lên tiếng trách ngay:


       - Mi mần chi ở đây mà cái thằng Lý cựu Đang cứ để hắn mần hung dữ rứa. Tí nữa thì tau chết.


       Thân đang muốn sà vào lòng bà cụ như những người con còn trẻ tuổi lắm, bỗng ngơ ngác dừng lại:


       - Mẹ nói sao?


       - Mi không biết mần việc. Rứa thì kháng chiến răng được. Cán bộ thì không về làng. Cả làng chỉ có một hắn, rứa mà chừ để hắn lập được hương dũng, hắn đe lung tung, hắn chặt cả tre pheo, hắn cướp cả công điền. Hắn bắt hàng trăm người đi phu làm bốt cho Tây. Hắn bắt mấy người nộp cho Tây, Tây tra cho chết đi sống lại. Thử hỏi rứa thì mi ở đây mần chi?


       - Mẹ à, con lo công việc toàn tỉnh chứ lo riêng làng ta sao được…


       - Không biết, Tau không biết tỉnh của mi to từng mô. Tỉnh mà không có làng thì răng thành tỉnh. Ngó bộ mi ở đây chỉ ăn hại cơm dân.


       Thân đấu dịu, anh vốn biết tính mẹ anh. Anh khôn khéo tìm cách gạn hỏi bà cụ từng câu một đệ biết tình hình cụ thể trong làng và bằng cách nào mà bà cụ lên đây được. Anh chợt nhìn vào mắt bà cụ, hỏi:


       - Ơ, mắt mẹ vẫn sáng. Sao nghe người ta nói mẹ lòa rồi kia mà?


       Bà cụ mỉm một nụ cười tự đắc hỏi:


       - Tau giả mần lòa chứ! Mà thật mô. Tau đeo lên mắt cái mảnh vải đỏ ni – Bà cụ rút trong túi áo mảnh vải đưa cho Thân xem – cả làng cứ tưởng tau lòa. Chính nhờ rứa mà tau rải được tờ rơi mà lão Lý cựu không biết.


       - Mẹ cũng đi rải truyền đơn à? Truyền đơn gì thế? Mẹ lấy ở đâu ra thế.


       Bà cụ lấy trong túi một mảnh giấy gập tư đã nhàu nát:


       - Thứ truyền đơn ni. Tau đã định chưa lên đây tề nhưng rứa rồi truyền đơn hết, tau nghĩ ở lại cũng chẳng được chi, sa vào tay hắn cũng cực, tau mới lên đây.


       Thân cầm tờ truyền đơn xem, bỗng bật lên cười. Đây là lời kêu gọi kháng chiến khi mặt trận mới vô do chính tay anh thảo ra. Anh nói:


       - Mẹ ơi, mẹ cứ rải một thứ truyền đơn này mãi à? Thứ này cũ lắm rồi mẹ ạ. Bây giờ tỉnh có dùng thứ này nữa đâu. Đây là của hồi mới vô mặt trận, lúc ấy dân đang hoang mang nên tỉnh kêu gọi.


       - Tau biết mô. Cứ biết truyền đơn kêu gọi đánh Tây là tau rải. Tau giữ được một gói đến gần trăm tờ, cứ rải ngày ba bốn tờ cho đến bữa qua đây mới hết, còn tờ ni là tờ cuối đó.


       - Ai đưa cho mẹ đó?


       - Sau khi mặt trận vỡ được chừng một tháng, tau sang Nam Dương ăn giỗ, dì Ngoan bên nó đưa cho tau, nói có ông cán bộ mô đó chạy lùng bỏ quên trong nhà. Dì Ngoan sợ, nói là truyền đơn chống Tây để trong nhà không biết mần răng. Tau nói có phải truyền đơn chống Tây thì đưa tau về tau rải. Trước khi tau rải không sau tau nhờ Nở hắn viết thêm mấy chữ đe thằng Lý cựu Đang.


       - Nở nào, cháu con dì Ngại ấy à?


       - Chứ còn Nở mô nữa. Hắn bị bắt vô hương dũng rồi. Chính nhờ hắn báo mà tau biết Lý cựu Đang tối hôm qua định sai hương dũng đến bắt tau. Nở nói tau đi Nam Dương mà tìm cán bộ để họ đưa lên chiến khu. Tau định không đi nhưng sau hắn nói Lý cựu Đang hắn sắp bắt thật, hai sào công điền tao vẫn ăn, hắn sung công mất rồi, ở lại rày tau mới đi.


       - Mẹ đi sang Nam Dương rồi làm thế nào mà lên đây?


       - Tau lại tới nhà dì Ngoan. Rứa là gặp cán bộ ở đó. Răng bên nó thì họ giỏi rứa mà bên Nam Phổ thì bọn Hạng, Sửu không thấy về. Chết hết rồi à? Răng mi cũng không về Mi không gan bằng mấy bác cán bộ bên Nam Dương.


       Thân cười:


       - Những khi Tây đi lùng, mẹ tránh thế nào?


       - À, cứ triềng qua triềng về như đưa võng. Có lần tau gặp Tây, tau cứ chống gậy đi, cũng nỏ thấy hắn hỏi chi đến tau. Hắn đốt cả làng, nỏ hiểu răng nhà ta chưa bị đốt. Chừ thì chắc hắn đốt mất thôi.


       - Mẹ biết chắc là cả làng chỉ có thằng Đang là phản động.


       - Răng không chắc. Chỉ có nhà lão nớ và nhà Chánh tổng Huân chứ ngoài ra có ai.


       - Hương dũng thì sao?


       - Những đứa như thằng Nở, thằng Ngoạt thì đời mô theo Tây. Những đứa khác thì tau không biết.


       Thân lẩm bẩm: “Thế mà các cậu Hạng, Sửu, Sinh cứ chạy lưu vong bên Phong Điền không dám về. Phải phê bình các cậu ấy mới được. Cho đội trừ gian về bắt liên lạc với Nở rồi trừ thằng Lý cựu Đang đi thôi”. Thân chợt nhận thấy rằng cái làng Nam Phổ của anh là một vị trí khá quan trọng ở huyện Quảng Điền, đấy là một làng ở ngay gần đường số 1 và ở sát ngay huyện lỵ. Để bọn địch kiểm soát được làng ấy, các mối giao thông đi vào Huế và ba huyện miền nam qua phá Tam Giang bị trở ngại. Anh quyết định phải cho ngay đội trừ gian về hoạt động và báo cho Huyện ủy Phong Điền để cái ủy ban lưu vong của xã Nam Phổ phải về ngay. Anh tự nhủ. Phải, hương dũng nó mới lập, mình không trừ ngay tề ác thì sau một thời gian nó sẽ phản động hóa dương dũng.


       Mẹ anh bỗng nói tiếp:


       - Mấy bữa ni, nghe Nở nói thằng Lý cựu Đang chứa trong nhà một thằng mật thám mặc đồ Tây, đeo kính trắng. Không biết hắn mần chi mà nghe nói lão Lý cựu phải cung đốn gà vịt dữ lắm.


       Thân gật gù, anh đã có nghe báo cáo về hoạt động của mấy tên phòng nhì ở huyện Phong Điền. Hay là tên ấy? Nếu trừ được thằng Lý cựu và cả thằng ấy nữa thì lại càng hay lắm. Anh nói:


       - Thôi khuya rồi mẹ ạ. Để mẹ đi nghỉ thôi. Con cũng còn vài công việc phải làm.


       Anh dắt mẹ sang ngủ ở nhà khách của Tỉnh bộ Việt Minh, nơi đây chỉ có gia đình của Lân vừa mới đưa từ Huế lên và cô giáo Phượng mới tới chưa có công tác cụ thể và do đó chưa có chỗ ở nhất định.


*


       Phượng nằm trong một căn phòng nhà khách của tỉnh bộ mà trằn trọc mãi không ngủ được. Cô nhớ lại đoạn đường mình đi từ Huế lên đây, nhớ lại quang cảnh buổi tiệc trà vừa mới diễn ra ban chiều. Chợt cô giật mình, nghe như phía phòng bên cạnh có tiếng ai quen thuộc. Anh ấy, Phượng nghĩ thế, anh ấy tới đây làm gì nhỉ? Phượng đã chực nhổm dậy sang xem, nhưng chợt nhớ ra là làm như vậy quá đường đột, cô lại không dám. Cô nghe Thân nói: “Thôi mẹ nghỉ, con về cơ quan làm việc đây”. Rồi có tiếng chân người đi mạnh ra khỏi nhà.


       Phượng lẩm bẩm: “Anh ấy có mẹ ở đây? Sao hai hôm nay mình không thấy? Hay mới ở đâu lên. Mà vợ con anh ta đâu cũng không thấy ở đây nhỉ?”. Phượng chợt cảm thấy lành lạnh, cái rét của đêm rừng núi len qua phên nứa, chui từ gầm giường lát nứa, lẹn vào chiếc chăn đơn mỏng làm cô càng thêm khó ngủ. Quái thật, tháng 4, tháng 5 rồi mà đêm vẫn hơi lạnh, Phượng nghĩ thầm như thế. Bên ngoài, bỗng có cơn gió thổi tạt qua tiếng cây rừng xào xạc và tiếng suối rì rầm chảy bỗng vọng tới. Phượng thấy hơi sờ sợ cái căn phòng trống trải mà mình đang phải ở có một mình. Cô miên man suy nghĩ, cảm thấy trong lòng có điều gì mới lạ len vào làm cô nao nao, bứt rứt không yên. Không hiểu sao, hình ảnh Thân nói hùng hồn trong bữa tiệc cứ vang mãi trong óc cô: “Chúng tôi coi trọng trí thức không phải bằng lời nói mà tự trong đáy lòng”. Cái con người cán bộ cách mạng xem có vẻ thành thật. Những lời anh ta nói đi thẳng vào tâm hồn người nghe và có sức mạnh thuyết phục người nghe. Tâm hồn của những người cách mạng cao đẹp thật. Phượng so sánh những con người ở chiến khu với những người cô gặp ở Huế. Thất là khác nhau một trời một vực. Một bên là sự thành thật, sự sáng suốt, lòng tin tưởng vươn tới của những con người theo đuổi một lý tưởng cao cả, sẵn sàng hy sinh thân mình để phục vụ cho hạnh phúc của nhân dân của Tổ quốc, của đồng bào; một bên là những cảnh giả dối, thớ lợ của những người chỉ biết lo cho quyền lợi ích kỷ của riêng mình và đãi bôi nhau bằng những câu xã giao ngọt xớt. Những con người tham sống sợ chết, những con người mang cái vỏ trí thức nhưng bên trong hoàn toàn trống rỗng về tinh thần ấy. Phượng đã thấy chán ngán họ. Cô nhớ lại hồi mới học xong trường Khải Đinh và qua một năm sư phạm, cô về dạy học ở trường Đồng Khánh lúc mới hai mươi mốt tuổi. Phải ra đời sớm như thế là một điều khổ tâm cho cô. Cô đã từng ước vọng được học cao hơn nữa, cô đã nghĩ rằng mình phải là một trong những người phụ nữa của nước nhà biết hoài bão một sự nghiệp lớn hơn là những người chỉ biết học hết Thành chung là đi lấy chồng rồi sống nương tựa vào chồng. Cô muốn rằng trước khi lấy chồng mình phải tự lập và khi lấy chồng, mình cũng phải sống xứng đáng bên một người chồng xứng đáng, không thể là một người hoàn toàn phụ thuộc, một người nô lệ cho ông chồng, chỉ biết ngày ngày lo hai bữa cơm và lo nuôi con. Nhưng hoàn cảnh gia đình công chức nhỏ không cho phép cô học cao hơn nữa. Cô phải đi làm để kiếm thêm tiền cho bố đã về hưu. Nhưng cô vẫn miệt mài học thêm trong sách vở, tuy đã có nhiều lần cô nản chí vì không biết học thêm như thế rồi sẽ đi tới đâu. Năm cô hai mươi hai tuổi, cô đã có người yêu. Thạch cũng còn trẻ lắm, năm ấy mới hăm lăm tuổi và cũng đúng sau khi hai người hứa hẹn cùng nhau, anh đã sang Pháp học. Nhưng không may cho cô, nửa năm sau, cô được báo tin Thạch bị ho lao và đã chết ở bên Pháp. Thế rồi Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, Phượng bắt được liên lạc với cán bộ Việt Minh và ngoài việc đi dạy học, cô đã tham gia hoạt động cho phong trào Phụ nữ cứu quốc của thành phố Huế. Mặt trận vỡ, cô bị kẹt ở quê thuộc huyên Phú Lộc, rồi buộc phải về Huế. Sau khi nghe tin Thạch mất, cô vẫn chưa thấy rung động trước một người đàn ông nào. Chính cô đã có lần nghe người ta mỉa mai sau lưng mình những câu ác độc như: “Già kén kẹn hom”, “Chổng mông mà gào” v.v… nhưng cô nhất định không chịu nhận lời những manh mối mà cô cho là không thích hợp, không vừa ý. Sống trong thành phố bị tạm chiếm gần một năm rưỡi trời, cô càng thấy khinh ghét những người đàn ông không có nhân cách, chỉ biết ăn diện và khúm núm trước quân thù. Thế rồi hôm nay lên chiến khu, sống trong vùng rừng núi heo hút này, lần đầu tiên cô lại thấy rung động. Cô cố nhớ lại khuôn mặt của Thân. Cái người trông có vẻ mộc mạc, có vẻ như xuất thân từ lớp người lao động, nước da lại sạm và hơi tai tái vì sốt rét. Nhưng sao đôi mắt của anh ta tinh nhanh lạ lùng, đôi mắt của một người thông minh và từng trải. Anh ta có vẻ khiêm tốn một cách rất thật, nhưng những lời anh ta nói lại tỏ ra là một người có hiểu biết sâu rộng, và rất vững chắc trong việc làm thực tế. Anh ta bảo rằng nếu mở trường văn hóa thì anh ta sẽ ghi tên đi học trước tiên. Chẳng biết nói thật hay thế nào? Người như thế, giữ trách nhiệm quan trọng như thế mà còn phải đi học văn hóa ư? Phượng chợt tự ngượng với mình trong đêm tối khi cô tưởng tượng ra cả một cảnh lớp học văn hóa ở chiến khu trong đó cô giáo Phượng đang giảng bài và ở hàng ghế dưới có một người ngồi chăm chú nghe, người đó là Thân, người học trò mà cô giáo không những muốn nghe những lời dạy bảo của anh mà còn sẵn sàng hiến dâng cả… trái tim của cô cho anh nữa. Phượng không sao kìm hãm được trí óc mình đang thả trôi theo những mơ ước về một tương lai nào đẹp lắm. Cái lớp học ấy… cô giáo sẽ nghiêng mình bên quyển vở của người học trò ấy và hơi thở nóng hổi của anh sẽ quyện lấy mình cô… Phượng tự nhủ: Chết, mình sao lại vớ vẩn thế này? Khuya lắm rồi, không ngủ được thì ốm chết. Cô không dám suy nghĩ tới cái sự thật của lòng mình, song cuối cùng cô phải tự hỏi: Hay là mình đã yêu anh ấy? Nhưng cô lại như chợt tỉnh ngộ ra điều gì, cô lẩm bẩm một mình trong đêm tối: Sao mình lại vớ vẩn thế nhỉ? Anh ấy nhiều tuổi rồi, biết đâu người ta có vợ ở nhà quê rồi thì sao. Và lần đầu tiên, Phượng liên tưởng tới cái tuổi hai mươi bảy của cô. Lần đầu tiên, cô cảm thấy trống trải của những đêm nằm không, nhất là trong cái đêm tối giá lạnh của vùng rừng núi vắng lặng này. Không biết nhan sắc của mình bây giờ thế nào? Lần đầu tiên, Phượng thấy tiếc cái thời con gái của mình, cái thời mà cô cũng như bao cô gái. Ôi chao, có cái nhìn quyến rũ, có hai gò má ửng hồng, dưới làn áo mỏng trước ngực căng lên đôi vú phập phồng đầy sức sống và khát vọng của tình yêu. Lần đầu tiên, Phượng thấy lo lo cho cái tuổi già sẽ đến mà mình vẫn không chọn được người vừa ý. Cô chợt muốn vùng dậy để soi gương một lát nhưng chợt nhớ ra ở đây chỉ có một đĩa đèn dầu lạc nhỏ xíu không đủ để làm công việc đó, cô lại nằm yên. Bên ngoài, qua phèn cửa, lờ mờ qua làn sương đặc, hình như có ánh trăng sao. Một tiếng gà của cơ quan bỗng gáy vọng lên một hồi. Phượng quay mình, nằm sắp mặt lên gối, quấn chặt lấy chiếc chăn đơn. Một lát sau, Phượng ngủ thiếp đi trong một giấc chiêm bao đưa cô tới một cõi tiên nào đẹp lắm.


                                                                   *


       Lúc Phượng tỉnh dậy thì mặt trời đã lên khá cao. Cô giật mình, lấy làm xấu hổ vì mình dậy quá muộn. Vội vàng, cô với lấy chiếc khăn tay và hộp thuốc đánh răng đi ra bờ suối rửa mặt. Cô gặp bên bờ suối một bà cụ mà cô đoán ngay là mẹ Thân. Cô hỏi:


       - Thưa cụ mới lên đây ạ?


       Bà cụ Thân nhìn Phượng, hơi ngạc nhiên vì mang máng như đã gặp người đàn bà này ở đâu một lần rồi. Bà cụ trả lời:


       - Phải, tui mới lên đêm qua. Có phải bà là vợ ông bác sĩ gì ngày trước đã về làng ăn cưới con tui phải không?


       Phượng chợt đỏ mặt vì thấy bà cụ tưởng là mình đã có chồng. Cô lại thấy lạnh trong người khi nghe bà cụ nói con cụ đã làm lễ cưới. Thế là anh ấy có vợ rồi, cô nghĩ như thế và gắng gượng trả lời:


       - Dạ không phải cụ ạ. Chắc cụ nhớ lầm ra người khác đấy. Cháu chưa… có chồng và cũng chưa đi ăn cưới ai ở làng nào.


       - À, rứa thì già xin lỗi. Cô ở đâu mới lên?


       - Dạ cháu ở Huế mới lên ạ. Cụ là mẹ của anh Thân, chủ nhiệm Việt Minh tỉnh phải không ạ?


       - Dạ phải. Tui là mẹ Thân. Cô cũng biết Thân?


       Phượng lại đỏ mặt, cô đáp:


       - Dạ, cháu cũng mới gặp anh ấy có vài lần, chiều qua cháu có đến dự tiệc trà và có nghe anh ấy nói chuyện. Đêm qua, cháu có nghe tiếng anh ấy đưa cụ tới nghỉ ở đây. – Rồi cô lấy giọng cho hết sức tự nhiên, Phượng hỏi – Thưa cụ thế sao không thấy… chị Thân và các cháu cụ đâu cả?


       Nghe Phượng hỏi tới vợ Thân, bà cụ ngước đôi mắt sầu thảm lên nhìn cô rồi nghẹn giọng nói:


       - Cô ơi, nhắc lại thêm đau lòng. Hai đứa hắn làm bạn với nhau mới được một năm. Con Ngạc có mang đến ngày gần nằm nơi thì bị Tây hắn bắn chết lúc vỡ mặt trận. Tui đã tưởng có cháu bồng, ai ngờ Ngạc hắn lại chết thảm rứa.


       Phượng thấy xúc động trước những lời đau đớn của bà cụ. Trong một thoáng cô thông cảm nỗi đau khổ của bà cụ và của Thân. Cô nghĩ: Chắc anh ấy đau khổ lắm. Nghĩ mà thương cho chị vợ. Tên là Ngạc thì chắc là người nông thôn. Trong óc Phượng thoáng hiện ra hình ảnh một người đàn bà đầu chít khăn theo kiểu nhà quê, mặt hiền hậu nhưng không đẹp, thân hình khỏe mạnh nhưng tay chân có thể hơi thôi… Nhưng Phượng cũng không cưỡng được cái tia hy vọng bỗng loé lên trong tâm trí cô: thế là anh ấy có thể còn lấy vợ khác chứ. Cô vội gạt ngay cái ý nghĩ cho rằng cái người khác ấy chính là cô, trước đây cô không hề tưởng tượng có ngày mình lại lấy một người đàn ông goá vợ. Nhưng cảm tình của cô đối với Thân không vì thế mà nhạt bớt và sự tò mò làm cô đánh bạo hỏi thêm bà cụ:


       - Dạ thế cụ có tính chuyện để anh Thân lập lại gia đình không ạ?


       - Cái nó thì tuỳ hắn. Tui thì răng cũng được. Nhưng hắn và con Ngạc thương nhau lắm. Ngạc chờ hắn đến sáu, bảy năm trời lúc hắn bị đi tù. Sau ngày ta độc lập, hai đứa mới cưới nhau. Tui chắc hắn chưa quên Ngạc mô. Ngay tui đây cũng chưa nguôi được nữa là hắn. Nhưng cũng đã gần năm rưỡi rồi. Trai goá vợ mà tái giá là chuyện thường. Thành thử tui để tuỳ hắn cả.


       Chiều hôm ấy, Phượng xin sang ở cùng buồng với bà cụ Thân, nói rằng ở một mình buồn, cô thấy hơi sợ, nhất là lúc đêm hôm. Chính bà cụ Thân cũng cảm thấy sợ đêm của rừng núi nên rất bằng lòng cái việc ở chung với cô giáo trẻ.


       Không biết từ bao giờ, Phượng đã gọi bà cụ bằng mẹ, gọi một cách tự nhiên như các chiến sĩ bộ đội gọi những bà cụ già bằng mẹ vậy. Trong những ngày ấy, Phượng lân la hỏi về đời tư của Thân, cô dần dần biết rõ tuổi của Thân, tính tình của anh hồi còn bé, hoàn cảnh anh tham gia cách mạng và tình yêu giữa Thân và Ngạc. Cô còn được bà cụ cho biết rằng Ngạc không phải là một cô gái quê xấu mà theo lời bà cụ nói: “Hắn sắc sảo lắm, ít người được như hắn, hắn hợp tính hợp nết tui lắm”. Tự nhiên, Phượng thấy cần phải hỏi cho rõ về tính nết của Ngạc, về những điểm mà bà cụ đã nói là rất vừa lòng mẹ chồng. Bà cụ còn hay nhắc cho Phương biết rằng cụ đã coi Ngạc không phải chỉ như con dâu mà thật là như con đẻ, bởi vì Ngạc đã tới ở nhà cụ từ khi hai đứa còn nhỏ, “chưa biết thương yêu nhau”, và Ngạc còn ở với cụ khi Thân bị đi tù. Những lúc nghe bà cụ nói như vậy, Phượng lại thấy rằng về mặt tình cảm đối với Thân và đối với bà cụ thì cô không thể nào so với Ngạc được. Những lúc ấy, Phượng phải đem cả lý tr1i ra để chống lại một sự ghen tuông ngầm nổi lên trong người cô, mà cô tự nhủ rằng “cực kỳ vô lí”.


       Bà cụ Thân, mặc dù lúc đầu không chút nào nghi ngờ gì về tình cảm của cô giáo chưa chồng, sau cũng dần dần nhận thấy được rằng cô có sự chú ý đặc biệt đến con trai của mình. Lúc đầu quả là bà cụ không thể tưởng tượng được rằng người thành thị và ăn học nhiều như Phượng có thể yêu con trai mình. Vì vậy, bà đã rất tự nhiên kể cho Phượng nghe cả những chuyện nghịch ngợm của Thân hồi thơ ấu, chuyện anh trở thành người lao động chính trong gia đình ngay từ khi còn trẻ tuổi. Bà cụ không ngờ đâu rằng những chuyện ấy lại càng làm cho Phượng cảm phục Thân hơn và cái cảm tình của cô với Thân càng ngày càng sâu sắc, thắm thiết hơn.


       Thế rồi chỉ sáu bảy hôm sau là bà cụ hiểu. Và cụ đã so sánh Phượng với Ngạc. Cụ vẫn thấy rằng về mặc tình cảm thì dù sao Phượng cũng không bằng Ngạc bởi vì Ngạc đã ở nhà mình có hàng chục năm trời, hắn đợi Thân đi tù sáu, bảy năm trời, không có đứa con dâu mô lại thương con trai bà như hắn được. Bà cụ còn thấy rằng dù sao kiếm được cho Thân một người vợ quen ở nông thôn, quen việc cày cấy thì vẫn hơn. Người như Phượng mà sau này bảo về làng đỡ đần giúp mẹ trong việc cấy hái mấy sao công điền thì khó quá. Nhưng bà cụ cũng thấy có cảm tình với người con gái đã yêu con trai bà. Bà thấy tính tình Phượng cũng dịu dàng, dễ chịu, Phượng cũng tinh ý biết những ý thích của bà để chiều theo. Phượng cũng chịu khó làm những việc giúp bà như giặt giũ, lo bưng cơm rót nước cho bà và Phượng, khi gọi bà là mẹ cũng tỏ ý thương bà một cách thành thật lắm. Phượng thì vẫn không hay biết gì về chuyện bà cụ đang ngầm so sánh mình với Ngạc, cô vẫn tiếp tục để lộ cho bà cụ thấy cái tình cảm của mình đối với Thân một cách tự nhiên, không che đậy song vẫn tưởng người ta không biết gì về nổi lòng sâu kín của mình.


       Chiều hôm ấy, bà cụ sang cơ quan tỉnh uỷ tìm Thân sau giờ làm việc buổi chiều. Thân đang chuẩn bị ăn cơm thì mẹ anh tới. Bà cụ đã yêu cầu được “nói với mi một chút việc riêng”. Vào trong phòng khách của tỉnh uỷ, bà ghé tai Thân nói nhỏ: “Cái cô giáo Phượng ấy, coi chừng thương mi lắm. Tau thì răng cũng được, nhưng nói cho mi biết để tuỳ ý mi”.


       Qua giọng nói, qua ánh mắt và điệu bộ của bà cụ, Thân biết ngay rằng bà cụ tuy còn đôi chút phân vân lưỡng lự nhưng cũng đã có chiều hơi nghiêng về phía bằng lòng. Thật ra thì Thân cũng đã nhiều phen nghĩ tới câu chuyện ấy, nhưng lần nào anh cũng tự nhủ rằng bây giờ chưa phải lúc tính đến chuyện lập lại gia đình, đúng như lời anh nói với Lân cái tối hôm sau bữa tiệc trà ấy. Và anh cũng cho rằng tình cảm của Phượng đối với anh lộ qua đôi mắt trong một buổi gặp gỡ ngắn ngủi mà hai người chưa hề trực tiếp nói chuyện với nhau ấy chưa chắc đã là có thật. Nhưng hôm nay thì chính mẹ anh nói cho anh biết điều đó. Mẹ anh mà biết được tình cảm của cô ấy thì chắc là đúng rồi, không sai nữa. Nhưng nghĩ kỹ, Thân vẫn thấy trong hoàn cảnh của anh và của cuộc kháng chiến hiện nay thì việc lập lại gia đình là quá sớm. Anh vẫn chưa quên được Ngạc, anh thấy khó có người nào thay thế được Ngạc một cách trọn vẹn trong trái tim anh. Anh cảm thấy vết thương trong tim anh do cái chết quá đau đớn của Ngạc và của đứa con đáng lẽ sẽ ra đời của anh còn chưa hàn gắn được. Chỉ mới cách đây vài tháng thôi, đúng cái ngày Ngạc chết được tròn một năm, anh đã bao lần nảy ra ý muốn đề nghị với tỉnh uỷ cho anh xuống công tác ở đồng bằng ít lâu để có dịp được thăm mộ Ngạc. Anh đã phải tự đấu tranh kịch liệt với cái ý muốn không thực tế đó, bởi vì anh cũng biết mộ Ngạc bây giờ chỉ còn cách đồn giặc có chừng vài trăm thước. Và mới hôm nào đây, khi Lân nói với anh về tình cảm của Phượng, chính anh đã thấy cái hình ảnh của Ngạc còn choán hết cả cái hình ảnh đôi mắt của Phượng nhìn anh đắm đuối trong buổi tiệc. Từ hôm ấy đến nay, anh vẫn chú ý tránh mặt Phượng, sợ xảy ra những chuyện không hay trong tình cảm của hai bên và trong dư luận ở chiến khu. Thân trả lời mẹ một cách ngập ngừng:


       - Mẹ ạ. Con cũng có hơi biết cô ấy. Nhưng theo con thì… lấy vợ bậy giờ… chưa tiện. Dù sao. em Ngạc cũng mới mất. Kháng chiến thì còn dài, chiến khu thì mới lập, chưa biết ngày nào sẽ có… chuyện thay đổi. Mẹ để thư cho con một hai năm nữa. Cô ấy có lòng chờ thì tốt, không thì… không thì… thôi. – Anh gượng cười nói tiếp – Mà mẹ thấy cô ấy thế nào, lấy về rồi ai đỡ đần cho mẹ ở làng sau này?


       - Tau già rồi, biết có sống đến khi kháng chiến thành công mà về làng không. Cô giao Phượng thì tau thấy cô nớ người thành thị mà cũng dịu dàng, tuy không bằng con Ngạc mô, nhưng cũng dễ thương. Tau thì răng cũng được, tuỳ ý mi cả để vài năm nữa cũng được. Nhưng mi cũng liệu mà trả lời cho người ta biết chứ, người ta cũng đã hai mươi sáu, hai mươi bảy tuổi rồi còn chi nữa.


       Thân cười vỗ vai mẹ:


       - Trả lời thế nào bây giờ hả mẹ. Thôi, con không trả lời đâu, mẹ liệu nói sao thì nói.


       - Việc của mi, tau nói răng được.


       - Mẹ không nói được thì thôi. Cứ để thế chắc cũng không sao đâu mẹ ạ.


       Mẹ đi rồi, Thân vội đi ăn cơm, trong lòng miên man những suy nghĩ. Ăn cơm xong, để tự trấn tĩnh, anh lên lấy cuốn sách tiếng Pháp, tiếp tục học như thường lệ.


       Nhưng anh vừa giở được mấy trang sách thì thấy Phượng từ bên nhà khách của tỉnh bộ bước sang. Cô lấy dáng hết sức tự nhiên, gật đầu chào Thân rồi bước hẳn vào trong phòng anh, cô nói:


       - Dạ, muốn hỏi anh cho rõ thêm về việc mở trường văn hoá… Em đã sang hỏi Ủy ban hành chính tỉnh, họ bảo rằng việc này chưa có dự trù tài chính, nhưng nếu bên… đoàn thể có chủ trương dứt khoát thì việc lập cũng không khó.


       Thân nhận thấy ngay là Phượng đã hơi ngập ngừng khi chọn tiếng để xưng hô với anh và cô đã xưng em sau một giây suy nghĩ. Anh cũng thấy lúng túng trong cách xưng hô, anh quên cả việc mời cô ngồi, anh đáp:


       - Thế à? Bên hành chính họ nói đúng đấy, việc này chưa có dự trù từ trước. Nhưng tôi đã bàn với Thường vụ tỉnh, anh em đều đồng ý cả, có thể trích quỹ chi bất thuờng của tỉnh ra một ít là có thể lập được. Kể cũng không tốn kém là bao. Nhà cửa thì có thể huy động bộ đội cùng cán bộ và đồng bào địa phương đi lấy tre nứa lá làm giúp vài buổi là xong. Mấy hôm nay… cô thấy sống ở chiến khu khác hẳn ở Huế chứ. Cô có điều gì thắc mắc không?


       - Không, em thấy rất thoải mái, dễ chịu. Em được gặp những người rất tốt, cái đó ở Huế thì lại hiếm, nhất là trong giới những người giàu có.


       Phượng liếc nhìn sang quyển sách tiếng Pháp của Thân, cô hỏi:


       - Anh đang học tiếng gì đấy ạ?


       Thân hơi ngạc nhiên nhưng cũng đáp:


       - Tôi học tiếng Pháp cô ạ!


       Phượng ngạc nhiên nhìn Thân rồi xuýt xoa đáp:


       - Thế ư! Thật là không ngờ. Kháng chiến đánh Tây như thế, ở chiến khu như thế mà anh ngồi học được tiếng Pháp!


       Thân đáp:


       - Tôi nghĩ rằng ta đánh Tây nhưng có chống cái nền văn hóa chân chính, tiến bộ của nước Pháp đâu. Tôi thấy cần học để sau này còn đọc sách, báo, tài liệu về lý luận cách mạng, những thứ ấy in bằng tiếng Pháp nhiều, ta mới dịch được ít quá.


       - Dạ, anh học từ bao giờ đấy ạ. Bây giờ anh học đến đâu rồi?


       - Tôi học ngay từ ngày còn ở trong tù kia cô ạ. Có lần đang học thì phải bỏ dở vì vượt ngục, lại có lần đang học thì bị lộ, cai ngục lấy mất sách và phạt giam ca sô mất mốt tuần. Sau cách mạng tưởng là học được, thế mà hóa ra lại bận bù đầu. Từ ngày lên chiến khu, trừ mấy tháng đầu còn quá bận, gần đây tôi đã học lại được.


       - Ở trong tù mà các anh cũng học được. Lạ nhỉ?


       Thân đáp:


       - Vâng, học được chứ -  Rồi Thân kể cho Phượng nghe về cách học của các chính trị phạm ở trong tù, từ việc anh em nhặt những tờ giấy đi vệ sinh về rửa kỹ đóng thành vở, việc ra những tờ báo có thể nhét vừa trong đôi đũa ăn cơm, ra những cuống sách nhét vừa trong những bao diêm, và cách cất giấu tài tình những tài liệu bị cấm ngặt ấy. Phượng vừa nghe Thân kể vừa nhích bước lại gần anh lúc nào không biết. Anh vừa kể xong thì chợt thấy Phượng đã đứng ngay bên cạnh mình từ hồi nào, cô đang cúi xuống mân mê mấy trang sách học tiếng Pháp của anh, mùi tóc gội bằng dầu thơm và mùi nước hoa còn phảng phất trong cái áo len màu trắng mà cô mặc bên ngoài chiếc áo dài màu đen bỗng phảng phất ngay bên cạnh Thân. Thân thấy cái hơi ấm áp của người đàn bà bên cạnh anh có mãnh lực làm anh hơi ngây ngất. Anh ngồi lặng yên, không dám động mạnh, trong lòng cũng muốn kéo dài cái phút giây ấy. Nhưng Thân chợt thấy sợ. Anh cảm thấy nếu cứ kéo dài mãi thì câu chuyện tình cảm giữa anh và Phượng sẽ trở thành sự thật và sẽ dần tới một kết quả mà anh không mong muốn cho nó trong lúc này. Anh cố làm điệu bộ tự nhiên, giả vời như quên một câu chuyện gì quan trọng cần bàn ngay với Thường vụ tỉnh rồi lịch sự xin lỗi Phượng, anh đứng dậy đi ngay. Từ hôm ấy, anh cố hết sức tránh gặp mặt Phượng, nhất là những khi chỉ có hai người. Nhưng anh càng tránh, Phượng lại càng như bị sức hút của anh kéo tới, cô cảm thấy một ngày không được gặp mặt Thân, dù chỉ là trông thấy thoáng qua mà không được nói với anh một câu nào, cũng là một ngày buồn tẻ, bứt rứt.


      


V


 


       Quỳ bước chân lên chiếc đò dọc sẽ đưa anh từ phá Cẩu Hai của huyện Phú Lộc qua phá Tam Giang ra tận Quảng Điền mà lòng không khỏi hồi hộp cảm động. Anh vừa nhận được giấy triệu tập lên chiến khu Hòa Mỹ để dự cuộc họp này quan trọng lắm, có cả đồng chí Nguyễn Chí Thành, Ủy viên Trung ương Đảng, phụ trách cả phân khu Bình Trị Thiên dự. Cuộc họp sẽ kiểm điểm tình hình, nhiệm vụ, nhận định về hình thái và giai đoạn của cuộc kháng chiến Thừa Thiên, đồng thời học tập liên hệ thư Hồ Chủ tịch gửi các đồng chí Trung Bộ. Quỳ nhất định phải có mặt vì anh được tỉnh ủy phân công vào ba huyện miền nam từ ngày vỡ mặt trận và anh sẽ phải báo cáo trước hội nghị về tình hình phong trào ở đây.


       Quỳ lên đến Hoa Mỹ, ngủ được chừng ba tiếng đồng hồ thì phải thức dậy ngay để đi họp. Hội nghị tỉnh ủy mở rộng khai mạc ngay trong cơ quan tỉnh ủy. Đúng như trong giấy triệu tập đã nói, đồng chí Nguyễn Chí Thành, Ủy viên Trung ương Đảng, phụ trách phân khu Bình Trị Thiên đã tới dự. Ngoài ra, các đồng chí trong tỉnh ủy đều đủ mặt.


       Thân nhìn qua những khuôn mặt quen thuộc ấy một cách trìu mến. Trước những giây phút quan trọng như hôm nay, anh thường xúc động nghĩ tới tình đồng chí, nghĩ tới lý tưởng cộng sản cao cả đã đoàn kết tất cả những con người có cá tính rất khác nhau ấy đứng chung dưới một ngọn cờ, chịu chung một kỷ luật thép của tập thể. Anh giới thiệu đồng chí Nguyễn Chí Thành rồi khai mạc hội nghị, nói rõ lý do triệu tập cuộc hội nghị hôm nay. Theo anh thì hội nghị này quan trọng ở chỗ nó phải thảo luận nhận định chung của Trung ương sau trận Thu Đông ở Việt Bác, liên hệt với tình hình riêng của Thừa Thiên để định ra phương châm hoạt động trong giai đoạn mới. Anh đề nghị trung đoàn trưởng Lương báo cáo tình hình quân đội trước.


       Lương cảm động đứng dậy. Người chỉ huy quân sự vốn là giáo sư ấy có dáng người mảnh khảnh, nét mặt rất hiền. Ra mặt trận, anh rất kiên quyết và dũng cảm, anh thường xuống trực tiếp nắm các tiểu đoàn, có khi xuống tới đại đội chủ công để chỉ huy tác chiến. Nhưng trước hội nghị này, anh lại thấy lúng túng, ngượng ngập, thành ra hơi nói lắp. Anh chỉ lên bản đồ, từ lâu anh đã có thói quen làm như thế, rồi nói:


       - Các đồng chí. Xin báo cáo về tình hình địch trước tiên. Theo Phòng Quân báo của trung đoàn thì tính đến cuối tháng 12 năm 1947, quân địch ở Thừa Thiên có trên dưới ba nghìn sáu trăm tên, trong đó có khoảng hai nghìn bảo vệ quân đóng rải ra đến bảy mươi vị trí, không kể những vị trí trong thành phố Huế. Chúng chiếm giữ các đường giao thông quan trọng, các đầu cầu, các địa điểm quan trọng về kinh tế, chính trị. Chúng có bốn sân bay ở Phú Bài, Huế, Phú Ốc, Mỹ Chánh. Ở Huế chúng có bộ tư lệnh lực lượng Pháp ở miền Trung Kỳ do tướng Lo- bơ- rít chỉ huy và quan năm Đờ- la Rốc- cơ giúp việc. Còn bộ chỉ huy lực lượng Pháp ở Huế -  Thừa Thiên thì do quan tư Cốt- xtơ cầm đầu. Đồn địch đóng khá dày, có đồn chỉ cách nhau một cây số, có xã có đến ba đồn. Chiến thuật của chúng hiện nay chủ yếu là càn quét để bình định. Có vùng trong một tháng bị chúng càn đi quét lại đến trên hai mươi lần. Chắc các đồng chí đã biết, tôi xin phép không nhắc lại tỉ mỉ, ví dụ như những cuộc vây quét. Vùng Niêm Phò, vùng Nam Dương, vùng Cổ Bi, Thanh Tân, vùng Bảng Lãnh, Bình Điền, La Ngoi, các trận triệt hạ cả làng Triều Dương, Vĩnh Nẩy, Nam Phổ, quê của đồng chí Thân đây mà các đồng chí đều biết cả. Còn về ta thì như thế nào? Trung đoàn Cao Vân sau khi tan rã đã được lập lại. Hiện có gần một nghìn ba trăm chiến sĩ không kể quân du kích bằng một phần ba của đại đội, khoảng ba trăm năm mươi khẩu, phần lớn là súng trường. Như các đồng chí đã biết, ngay sau khi vỡ mặt trận, ta đã đánh ngay vào đồn Hộ Thành trong thành nội của Huế cuối tháng 3 năm ngoài, năm ngày sau thì diệt đồn Đất Đỏ ở ngay gần chiến khu ta đây. Chín ngày sau đó nữa, ta lại phục kích trên sông Phò Trạch thu được hai súng cối 81 ly. Chúng ta còn đánh những trận oanh liệt như trận chống càn ở Võ Xá, tiêu diệt được gần sáu mươi tên địch, trong đó có ba mươi ba tên Pháp và một quan hai, trận đánh các đồn Mỹ Chánh, Phò Trạch, Ưu Điềm hồi kỷ niệm Cách mạng tháng Tám năm ngoái đây và trận tấn công đồn Xóm Xoài, diệt gần năm mươi địch, trong đó có một quan ba Pháp. Và mới đây là những trận thắng ở Mỹ Lợi, Hà Thành, Dưỡng Mong, Hói Mít ở ba huyện miền nam. Tổng cộng cho đến nay thì ta đã đánh địch khoảng tám mươi trận, trong đó có khoảng ba mươi trận tấn công vào đồn địch, hai lăm trận chống càn, mười trận quấy rối, tám trận địa lôi và hai trận tao ngộ chiến, diệt và làm bị thương khoảng nghìn tên địch, trong đó khoảng một phần ba là quân Pháp. Đấy là không kể những trận lẻ tẻ, phục kích lẻ tẻ, chống càn lẻ tẻ, diệt tề trừ gian của dân quân du kích mà con số nếu cộng lại thì lên đến hàng nghìn không kể hết được. Còn bên ta thì khoảng bốn trăm năm mươi chiến sĩ hy sinh, hai trăm năm mươi chiến sĩ bị thương, không kể dân quân và nhân dân bị tàn sát…


       Lương ngừng lại một lúc, mỉm cười như ngượng nghịu hỏi:


       - Kể nhiều con số quá, e các đồng chí ngán.


       Thân đáp:


       - Không sao, chúng ta là những người hiểu đằng sau những con số ấy cụ thể là những gì rồi. Anh cứ nói tiếp đi.


       - … Bây giờ xin báo cáo về việc phát triển trung đoàn 101. Trường tiểu đội trưởng đã mãn khóa được hai lớp, tổng cộng đào tạo được sáu mươi cán bộ. Tân binh đợt mới đây tuyển được trên hai trăm người. Đáng biểu dương nhất là tiểu đoàn 18 khi bị thua ở trận Trò Chỉ còn có hai trung đội, nay vào ba huyện miền nam đã phát triển thành sáu trung đội và lập làm ba đại đội. Mới đây, như tôi đã báo cáo, họ đã lập được chiến công lớn ở Mỹ Lợi, Hà Thanh, Dưỡng Mong. Tiểu đoàn Thuận Hóa do đồng chí Kháng chỉ huy thì nay được bổ sung đầy đủ và gồm bốn đại đội. Tiểu đoàn 16 trước chỉ còn một đại đội hoạt động ở Hương Trà và thỉnh thoảng cho đột nhập lẻ về Huế thì nay đã được bổ sung lập thành ba đại đội và vừa lập chiến công ở Hói Mít. Trung đoàn còn đang lập một tiểu đoàn mới, việc lập cũng gần xong, hiện nay nói chung là tốt. Báo cáo hết. Đề nghị anh Hải kết luận vấn đề tư tưởng cán bộ và bộ đội.


(còn tiếp)


Nguồn: Huế ngày ấy. Tiểu thuyết của Lê Khánh Căn. NXB Quân đội nhân dân, 2011. Nhà văn Châu La Việt gửi www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
xem thêm »