tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20786452
Tiểu thuyết
16.08.2016
Lê Khánh Căn
Huế ngày ấy



Ngay lập tức, hai người nhảy tới lục túi Tám Lạng và Kếu, tưóc ngay súng lục, dao găm của chúng và lấy giẻ nhét đầy miệng chúng. Một bóng đen khác nhảy tới cởi trói cho Lựu. Bỗng có tiếng kêu ngạc nhiên khe khẽ: “Trời ơi, cô Lựu”.


Lựu quay lại nhìn trong bóng tối, cái khuôn mặt quen quen, cái dáng người quen quen, cái khuôn mặt mà cô hằng mơ tưởng bỗng hiện ra. Lựu kêu lên: “Anh Út”, rồi ngã lăn vào tay Út, ngất đi.


IV


       Long đang ngồi một mình trên chiếc ghế tựa dài kê trong phòng khách nhà Hanh. Mấy lâu nay, vì buồn bã, anh đã tập hút thuốc lá và đến nay cảm thấy mình đã nghiện nặng. Anh lơ đãng giở chồng sách cũ từ hồi còn đi học, óc miên man nhớ lại những ngày qua. Tất cả những sự việc xảy ra gần đây làm anh càng ngày càng sống trong tâm trạng u uất, buồn rầu. Càng ngày anh càng thấy chán cái nếp sống của Hanh, cậu anh, người mà hồi nhỏ anh đã chịu ảnh hưởng giáo dục. Hanh hầu như không hay biết gì về những chuyện xảy ra chung quanh. Long lờ mờ cảm thấy rằng mặc dù Hanh vẫn làm việc cho hội đồng hương chính và vẫn mơ ước những địa vị thực tế trong cái xã hội rối loạn của vùng bị chiếm đóng này nhưng Hanh lại chỉ bấu víu vào những đạo lý xa xôi nào đó để suy nghĩ và hành động. Cái chết của Vân đã làm Long khổ sở, đau đớn và căm giận tên Phái lai nào đó đã giết Vân, nhưng hình như đối với Hanh cũng không gây xúc động gì nhiều cho lắm. Chỉ thấy Hanh nói với anh vài lời an ủi nhẹ nhàng, hình như Hanh cho rằng hai người chỉ mới yêu nhau và mới hứa hẹn, chưa thành lứa đôi chính thức thì cái chết của Vân cũng chưa phải là điều gì đánh phải lo buồn nhiều. Thậm chí, mới hôm qua đây, Hanh đã ướm thử Long xem anh có bằng lòng lấy vợ thì ông sẽ tìm manh mới vì ông hay sang trường Đồng Khánh sau vụ cô Phương đi mất nên cũng thấy có nhiều đối tương hay hay. Hình như ông cậu mình không có chút căm giận gì trước cái chết của Vân thì phải. Long nghĩ thế, nhưng cũng vội gạt đi, vì nghĩ rằng không thể đòi hỏi ở người khác cũng phải xúc động như mình trước cái chết của người yêu mình được. Nhưng cái điều làm cho Long càng ngày càng cảm thấy xa Hanh chính là những chính kiến mà Hanh phát biểu trước những sự việc xảy ra trong đời sống và nhất là trong thời cuộc. Long càng ngày càng thấy rõ rằng những câu nói chung chung, mơ hồ về đạo đức, về nhân phẩm, về cái tạm thời và cái vĩnh viễn, về cái tâm và cái vật v.v… là không đủ để giải thích đúng những sự thật đang diễn ra chung quanh.


       Long đang đắm chìm trong suy nghĩ, đống tàn thuốc lá trước mặt anh đã cao có ngọn, thì chợt Hanh đẩy cửa phòng khách bước vào:


       - Anh Long à. Có người rủ chủ nhật này đi chơi An Hòa đấy. Anh có đi không?


       Long ngạc nhiên nhìn Hanh, xưa nay cậu anh không mấy khi muốn đi chơi ra khỏi thành phố. Anh hỏi:


       - Cậu cũng đi ạ?


       Hanh uể oải gật đầu, đáp:


       - Nể ông ấy quá, tôi cũng đã nhận. Có anh đi nữa thì vui hơn. Kể cũng không lâu lắc gì. Đi một vòng, nhìn quang cảnh một tí rồi lại về ngay ấy mà. Chả là ở An Hòa mới lập lại một trường tiểu học, tôi cũng cần xem cho biết…


       Long thấy rằng đi ra khỏi cái thành phố ngột ngạt này cũng là một việc hay hay. Đi để đổi không khí một chút cho khuây khỏa. Nghĩ như thế anh liền đồng ý.


       Sáng chủ nhật hôm ấy, một chiếc xe hơi bóng lọn đỗ trước nhà Hanh. Hanh và Long cùng bước ra. Một người đã ngoài bốn mươi tuổi nhưng nom còn khá trẻ trai, nhanh nhẹn, vận âu phục màu hạt dẻ đeo chiếc cà vạt đen tiến lại bắt tay Hanh. Hanh giới thiệu:


       - Đây là ông Tòng, tỉnh trưởng. Còn xin hân hạnh giới thiệu với ngài, đây là ông Long, giáo sư toán lý trường Khải Định, cháu gọi tôi bằng cậu.


       Tòng nắm lấy tay Long lắc lia lịa:


       - Rất hân hạnh được làm quen với ông. Mời hai ông lên xe để ta đi thôi.


       Long hơi sửng sốt và hối hận. Anh tiếc rằng mình đã không hỏi trước Hanh xem ai là người mời Hanh đi chơi. Anh tự nhủ: nếu biết là lão này thì đời nào mình nhận lời. Bởi vì Long đã có lần nghe dư luận trong thành phố Huế này nói Tòng là Việt gian hạng nặng, đã ngầm làm tay sai cho Pháp ngay trước khi xảy ra chiến tranh. Chính Long cũng không lạ gì Tòng đã làm tuần phủ Huế -  Thừa Thiên và y đã có lần tới mới Hanh ra cộng tác với người Pháp ngay khi chưa nổ ra kháng chiến. Long còn nhớ rõ rằng chình mình đã đề ra ý kiến tố cáo con người ấy với chính quyền cách mạng nhưng Hanh đã từ chối lấy cớ ông không công nhận cái chính quyền ấy. Ấy thế mà bây giờ mình lại đi chơi với hắn, ngồi một xe với hắn. Nhưng Long cảm thấy bây giờ mà xin rút lui thì không tiện, không lịch sự. Anh nhìn lại Tòng một lần nữa: dáng điệu nhanh nhẹn của một con người đã có con lớn bằng anh làm anh phải chú ý. Anh tặc lưỡ nhủ thầm: Thôi thì đi một lúc cũng được, mình ngồi cùng xe với hắn chứ có phải đi chung một con đường với hắn đâu.


       Tòng lại vui vẻ nói:


       - Chúng ta ra vùng An Hoàn này thì cũng gần. Có thể nói vùng này tuyệt đối an toàn. Đồn Pháp bây giờ đóng ngay chỗ ga cũ. Bọn du kích Việt Minh không thể bén mảng tới vùng này được. Các ông có thể yên trí đi ngắm cảnh.


       Tòng không biết rằng cái câu hắn nói để trấn tĩnh hai người đồng hành lại làm cho họ lo sợ và hối tiếc đã dại dột nhận lời đi chơi. Nhưng cả hai không ai dám nói rằng mình sợ cả. Đã đến nước này, họ đành phải đi mà thôi.


       Chiếc xe hơi bóng loáng lướt nhanh qua các phố phường ngắn ngủi của thành phố Huế. Mới đó mà các vết tích của một cuộc chiến tranh ác liệt như đã bị xóa mờ gần hết. Các ụ chiến đấu, các chướng ngại vật đã bị nhổ đi gần hết. Phố xá bây giờ đã trở lại tấp nập hơn hồi người ta mới hồi cư. Nếu không có những xe nhà binh Pháp chạy tung bụi mù mịt lên hai bên đường thì có lẽ không ai nghĩ tới không khí chiến tranh. Đây rồi, nhà Mo Ranh đã mở lại, choáng lộn hơn trước. Làn khói đen đặc mà trận rơm ớt bôi lên tường của khách sạn lớn ấy đã bị quân đội Pháp cạo sạch và quét lên một lớp vôi mới màu hồng nhạt với những đường viền màu xanh diêm dúa. Đây rồi cầu Tràng Tiền, cái cầu xinh xắn duyên dáng nằm vắt ngang trên con sông Hương êm dịu, nên thơ. Cái nhịp giữa gãy gục của nó đã được trục lên và uốn thẳng lại. Từ trên cầu nhìn xuống, xa xa về phía cầu Bạch Hổ, những chiếc đò con đã thấy lượn lờ ngày càng nhiều. Gió mát trên sông làm Long thấy tỉnh táo, khỏe khoắn. Anh căng lồng ngực, hít những hơi thở dài, cảm thấy cuộc đi chơi dù sao cũng đem lại những phút thư thái. Chiếc xe hơi vẫn lướt nhanh qua dãy phố dọc bờ sông Hương trước thành Thuận Hóa cổ kính. Đường Trần Hưng Đạo đây rồi. Nhà sách Mai Lĩnh, Hương Giang, nơi Long vẫn thường hay lui tới mua sách. Có lần anh đã đứng trong hiệu này đến hàng giờ để xem sách nhờ khi chưa có tiền mua. Hiệu Mai Lĩnh bây giờ không bán sách nữa, cả hiệu Hương Giang cũng thế mà quay sang bán những thứ tạp hóa linh tinh gì không biết. Chủ nhân của các hiệu ấy là những người khác rồi chăng? Đây rồi, Trụ sở của Việt Minh Trung Bộ, cái trụ sở lúc đầu làm Long ghét cay ghét đắng nhưng về sau thì lại dửng dưng mỗi lúc phải đi qua đấy. Từ ngày cách mạng, mình chưa hề bước chân vào trong cái sân nhà ấy, Long tự nhủ như thế. Vì sao thế nhỉ? Mình cũng thù ghét Việt Minh đến thế ư? Không, kể ra thì lúc đầu có như thế thật. Nhưng càng về sau càng thấy là họ chẳng những không có gì đáng ghét mà còn đáng phục nữa. Chiếc xe đi qua con đường nhìn về phía cổng Thượng Tử, qua Phu Văn Lâu lúc nào không biết, Tòng bỗng cất tiếng: “Đây rồi, đến đây là tới con đường rẻ về An Hòa, đến đây có thể coi là ngoại ô rồi. Đến đây, chúng ta trở thành những người “fau bourgeois”, Tòng vừa nói vừa cười khúc khích. Hanh cũng cười theo như đáp lễ. Từ nãy đến giờ Hanh vẫn im lặng. Không ai biết ông đang nghĩ gì. Nhưng hình như ông không nghĩ gì cả thì phải. Long chỉ thấy cậu anh lim dim đôi mắt như buồn ngủ, như mệt nhọc vì không quen đi xa như thế này. Chợt Long nhìn thấy bên vệ đường một cái hố dài còn chưa lấp, bên trên là một mái đình quen thuôrc. Cái hố không có bàn tay người lấp, nhưng mưa nắng đã làm nhòa đi những nét do mai, cuốc tạo nên và lòng của nó cũng không còn sâu như trước. Long chợt nhớ ra chính mình đã tham gia ấy là nơi mình đã vào nói chuyện và ăn mấy miếng cơm nắm của mấy anh tự vệ. Long chịu không còn nhớ ra tên của ba người ấy. Nhưng anh thấy rằng ra ngoại ô thì những vết tích của cuộc kháng chiến hãy còn nhiều lắm. Kia là cả một cái ụ chướng ngại, không nằm ở ngang trên quốc lộ số 1 mà nằm ở dưới, ngăn con đường vào làng với đường số 1. Cái ụ có vẻ bé nhỏ như một con cóc ngồi chồm hỗm thế kia mà cũng đắp lên thì không biết để làm gì, ngăn ai, đánh ai! Ấy thế mà trên đầu ụ cũng có hai thanh đường ray xa lửa chọc thẳng lên trời như hai cái nòng súng dực ngược chĩa thẳng ra đường cái, vẻ khiêu khích đe dọa. Tòng chỉ vài cái ụ nói: “Các ông xem, rõ là trò trẻ con. Thế kia mà hòng ngăn xe tăng, đại bác thì ngăn làm sao, Việt Minh họ chỉ đem dân chúng ra làm vật hy sinh”.


       Hanh, Long đều không đáp, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng. Hanh đang lim dim đôi mắt như ngái ngủ, nghe Tòng nói vội ngẩng đầu lên nhìn, thoáng thấy hai thanh đường ray nhô lên Hanh nghĩ: Chung quy cũng chỉ tại dân trí thấp kém. Làm những cái chuyện ấy, phải là những người có tri thức mới làm được. Việt Minh họ nói kháng chiến, cứ kể ra nếu có lực lượng, nếu dân trí cao, nếu có giới thương lưu trí thức đứng ra làm hướng đạo, nếu mọi người đều biết nâng cao cái nhân phẩm… thì cũng có thể được đấy. Nhưng đằng này Việt Minh chỉ lo quyền lợi của đảng phái, họ không tôn trọng nhân phẩm, họ định tước đoạt tất cả. Họ định để chúng mình rồi cũng phải lam lũ như bọn dân đen mọi rợ hay sao? Kháng chiến! Kháng chiến cái gì? Mà rồi để làm gì. Để vong gia bại sản hay sao? Để mất hết nhân phẩm hay sao? Không, cái sinh tồn của dân tộc rồi sẽ vượt qua được hết… Nhưng Hanh cũng không nghĩ sâu hơn nữa, ông lại lim dim đôi mắt gật gù, gật gù như ngủ gật.


       Long thì trái lại, nghe câu bình phẩm của Tòng, anh lại thấy ghét cái con người ấy. Anh mỉa mai nghĩ thầm: Cứ thử cho ông xuống làm thử cái ụ ấy xem sao. Tôi đã đi đào hố rồi đấy ông ạ. Cuốc được nhát đất là bong tay lên đấy ông ạ. Người ta làm ra nó đâu có phải dễ dàng, đâu có phải là không tốn mồ hôi. Đứng ngoài mà bình phẩm, ai mà không chê bai, vạch lá tìm sâu được. Vật hy sinh! Chỉ có những người như ông mới làm vật hy sinh cho bọn Pháp thì có… Nhưng cứ kể thì những cái ụ như thế, những cái hố như thế mà để chặn xe tăng thì cũng có trẻ con thật. Long nhớ lại những ngày vỡ mặt trận, những ngày chạy loạn mà anh đã đi qua con đường này, những ngày quay trở lại thành phố tâm trang u uất, chán nả, bi quan của anh khi nghe tin Vân mất, khi anh thấy rõ là kháng chiến không còn có hy vọng gì nữa. Đột nhiên, Long thấy một nỗi buồn ngao ngán xâm chiếm hết cả lòng mình. Kháng chiến thì như thế đấy. Những cái hố, những cái ụ còn trơ ra ở vùng ngoại ô này, trước đây là do công sức hàng vạn con người, bây giờ thì để làm đề tài chế giễu cho những người như tỉnh trưởng Tòng. Và cùng với mồ hôi, còn bao nhiêu máu của hàng vạn người đã hy sinh. Trong đó có Vân của anh. Vân của anh bị bắn chết ở đâu? Có phải ở vùng gần đây không? Trời ơi, giá anh được biết cái chỗ ấy là ở đâu, giá anh được biết người ta chôn Vân ở mảnh đất nào…?


       Tiếng Tòng lại cất lên, làm đứt ngang dòng suy nghĩ của Long: “Thưa các ông, sắp đến rồi đấy nhé. Có lẽ chỉ còn nửa cây số nữa là tới đồn An Hòa. Đấy, các ông thấy không, tôi đã bảo đảm vùng này an toàn, bọn Việt Minh không hề dám bén mảng, nhất là giữa ban ngày ban mặt này”.


       Hanh và Long cùng ngẩng đầu lên nhìn. Xa xa đã trông thấy cái mái ngói đỏ mới lặp lại của nhà ga An Hòa, bây giờ đã biến thành đồn binh Pháp.


       Nhưng Tòng chưa kịp hí hửng. Chiếc xe đang bon bon chạy, tưởng như sắp nuốt hết cái đoạn đường ngắn cuối cùng, thì bỗng có tiếng súng liên thanh bắn chặn ngang đầu xe. Tiếng đạn rít lên, đâm thẳng vào mũi xe, đi luôn vào ổ máy làm bốc lên mùi xăng, mùi dầu khét lẹt. Người tài xế hoảng kinh vội hãm máy, tiếng phanh rít lên kèn kẹt, bánh xe như nghiến vụn cả mặt đường nhựt.  Pằng, một phát đạn làm vỡ tung cửa kính, anh lái xe gục xuống chết luôn trên vô lăng. Tòng, Hanh, Long tái mét mặt vì trận đột kích quá bất ngờ. Nhưng Tòng nhanh hơn đã mở được của xe, hắn khom mình rồi nhảy vội xuống đường, rút trong túi ra một khẩu súng lục bờ- rao- ninh nhỏ xíu, bắn mấy phát vu vơ vào chỗ bụi rậm bên đường rồi đâm bổ đầu chạy thẳng về phía đồn An Hòa. Hanh và Long líu ríu, mắc kẹt vào nhau, vướng nhau lúng túng trong xe, lúc vừa bước ra khỏi xe thì ba bốn Vệ quốc quân đã từ trong bụi rậm bên đường nhảy phóc tới bẻ quặt tay họ lại và dẫn đi luôn. Bỗng có tiếng thét: “Bắn, bắn theo cái thằng chạy. Thằng ấy mới là tỉnh trưởng. Đuổi theo nó”.


       Hai ba cái bóng Vệ quốc quân lao đuổi theo Tòng. Nhưng chậm quá rồi. Hắn đã chạy ra đến con đường rẽ ngoặt về đồn An Hòa. Và từ đồn binh Pháp đã nghe có tiếng súng liên thanh bắn xối xả vào chiếc xe vừa bị phục kích.


       - Dẫn hai tên này đi ngay. –Có tiếng người ra lệnh – Đi theo đường tắt ngoặt vòng đằng sau La Chữ. Đi mau lên không chúng nó đuổi theo kịp đấy. Hai tên Việt gian này đi nhanh lên, nếu không cho ăn kẹo đồng ngay bây giờ đấy.


       Một mũi súng lạnh ngắt thúc vào bên sườn Long làm anh đau điếng. Anh rùng mình, thở dài và bước thật nhanh cho kịp đám người đang dìu anh đi qua những bụi rậm, những đường mòn, ngang dọc rồi mù trước mắt. Hanh cũng không dám cưỡng lại một giay nào. Ông đã tỉnh hẳn ngủ, mồ hôi ông tuôn ra ớn lạnh cả lưng áo. Cứ thế đoàn Vệ quốc quân và hai người tù binh của họ đi xa dần đường cái, vượt qua đằng sau lưng làng La Chữ và đi vào một đám rừng thưa. Đến đây họ mới bắt đầu bàn với nhau về chuyến phục kích:


       - Anh Quý ơi, trong hai tên này không có tên nào là tỉnh trưởng à?


       - Không, thằng Tòng thì tôi biết. Tôi đã có lần thấy hắn lên chơi đồn điền Ngô Đình Khôi.


       - Sao cơ sở ở Huế báo sáng nay chỉ có xe thằng tỉnh trưởng, bây giờ lại thòi ra hai tên này? Hai tên này là những đứa nào?


       - Không biết, hỏi anh Thạc xem sao?


       Thạc quay lại:


       - Mình cũng không biết. Có lẽ cũng là Việt gian hạng nặng mới cùng đi chơi với tên Tòng.


       Long quay lại nhìn người vừa mới nói. Anh chợt thấy một cái mặt quen quen, không biết là đã gặp ở đâu. Nghĩ mãi, anh mới nhớ ra là anh đã gặp anh bộ đội trẻ măng này trước cổng đồng Mang Cá, lúc anh đi vơ vẩn ở đấy để mong gặp Vân. Long thở dài ngao ngán. Mình bị khép là Việt gian hạng nặng. Khổ thế! Đi chơi với tên Tòng.  Không biết người ta có hiểu cho lòng mình không. Trong thâm tâm, Long hy vọng người ta sẽ không cho anh là Việt gian. Anh thầm mong mỏi là người ta sẽ biết được những ý nghĩ của anh về kháng chiến, về Việt Minh, rằng người yêu của anh đã hy sinh vì kháng chiến, anh cũng có những người bạn thâm đi bộ đội và chính anh cũng đã mơ ước được lên chiến khu để sống đời chiến sĩ…


       - Minh “con” ơi, em chạy ngay về trước báo cho anh Thiện biết là không bắt được thằng Tòng nhưng lại bắt được hai tên Việt gian lạ mặt cùng đi với tên Tòng. Báo cho anh ấy biết là chiếc xe hơi đã bị phá hủy.


       Nghe Thạc ra lệnh, Minh “con” liên lạc chạy vụt đi trước.


       Nghe thấy tên Thiện, Long bỗng nảy ra nghi hoặc: Thiện nào nhỉ? Hay Thiện ấy. Có thể. Long muốn hỏi một tiếng, nhưng anh chợt nhớ rằng mình đang là tù binh trong tay họ, mình đang là một tên Việt gian trong tay họ, không ai cho phép mình hỏi một cách đường đột. Long lại thở dài ngao ngán. Đúng, mình đi chơi với tên Tòng, đầu sỏ Việt gian số 1 ở đây, người ta khép mình là Việt gian hạng nặng cũng phải mà thôi. Long thấy hối tiếc thì sự đã rồi. Anh nhìn những người Vệ quốc quân trạc tuổi anh đang cầm súng tuốt lưỡi lên đi chung quanh: đáng lẽ mình lúc này cũng ở trong hàng ngũ của họ mới phải, còn nói gì nữa. Nhưng hai tiếng Việt gian vẫn đè nặng lên tâm trí anh như một mũi dùi đen tối, lạnh buốt và đau nhói như mũi súng của anh bộ đội nào vừa thúc vào sườn anh lúc nãy. Không biết họ sẽ làm gì mình? Tra tấn chăng? Hay họ giết? Long rùng mình nhớ lại cảnh bắn và chém mấy tên Việt gian mà chính anh đã chứng kiến hồi chưa vỡ mặt trận. Long chợt thấy lạnh cả xương sống, mồ hôi toát ra thấm áo. Cái đầu mình cũng sẽ rơi xuống như thế, lăn lóc trong bụi đất, đôi mắt sẽ trợn trừng trước khi tịt hẳn lại, máu sẽ phụt lên và cái thân hình bị trói vào cọc sẽ nằm trơ ở đấy, không đầu cho đến khi được người ta tháo ra và ném xuống một cái hố đất đào vội nông choèn. Những người đi qua sẽ nhổ đánh toẹt vào cái đám đất không có ngọn ấy, cái mả của thằng Việt gian, bị chém chết. Ai biết cho anh là anh cũng có lòng tham muốn tham gia kháng chiến, anh cũng ghét quân xâm lược, anh cũng thù tên Pháp lai nào đó đã bắn chết người yêu của mình. Phải, chết thì ai rồi cũng chết. Nhưng chết mà như Vân thì ai mà không thương tiếc, ngậm ngùi, ai mà không cho là cái chết cao cả vì hy sinh cho Tổ quốc, cho dân tộc, cho đồng bào. Còn anh bị chém chết vì làm hại đồng bào mà bị chính tay đồng bào anh giết đi để trừ một con sâu mọt của dân tộc.


       Nhưng Long cũng thoáng có chút hy vọng. May ra gặp anh Thiện nào đấy mà đúng là Thiện bạn ta thì có thể trình bày đôi chút chăng. Ít nhất là nếu có bị khép tội là Việt gian thì cũng đã được nói nên cái nỗi lòng của mình cho thỏa trước khi chết. Biết đâu, Thiện hiểu cho mình mà xin cho mình… Long vội xóa ngay cái ý nghĩ ấy. Đời nào Thiện lại xin như thế. Ai có thể tin được một thằng đi chơi với tên Tòng, tỉnh trưởng Việt gian, mà lại nói là muốn tham gia kháng chiến được. Cũng không đời nào vì tình bạn mà Thiện xin tha cho mình được. Long chợt nổi cả gai ốc khi nghĩ tới lúc họ đưa mình tới trước mặt Thiện: một bên là một thằng Việt gian thảm hại, sắp bị chết chém, bị mọi người nguyền rủa, phải cúi đầu nhục nhã, hèn hạ, đốn mạt; một bên là người chỉ huy Vệ quốc quân oai hùng, ngang tàng, vì có chính nghĩa trong tay và nhìn hai cậu cháu một cách khinh bỉ xen lẫn một chút thương hại: đấy hai người ấy trước kia là bạn thân của nhau đấy, cùng cò những hoài bão như nhau đấy, cùng yêu một người con gái mà họ cho là đẹp nhất, trong trắng nhất, đáng yêu nhất của thành phố Huế đấy. Trong hai người ấy, tuy trước chơi thân với nhau nhưng Long vẫn ngầm tự kiêu căng rằng mình ăn nói văn hoa hơn, thơ văn mình bóng bẩy ý nhị hơn và cũng đã tự phụ là mình đã chiếm được trái tim của Vân trong khi Thiện cũng yêu Vân mà không được đáp lại. Bây giờ thì cái người đáng tự phụ không phải là mình mà là Thiện. Long thấy sợ cái phút phải gặp mặt Thiện, anh cảm thấy cái tủi hổ của mình và phân vân không biết có nên thổ lộ tâm tư của mình cho Thiện biết hay không? Tâm trí anh bị vò xé bởi những cảm nghĩ trái ngược, và đi dần tới chỗ hoảng loạn…


       Minh “con” chạy đi được chừng hơn nửa tiếng thì quay lại: chú bé liên lạc này vốn có thói quen là đi đâu có chút công việc gì cũng chạy như gió. Chú trở về hổn hển nói với Thạc:


       - Báo cáo anh, anh Thiện bảo nếu không phải thằng Tòng thì cứ khám giấy tờ rồi đưa lên chiến khu ngay. Anh ấy bảo anh chỉ cần cho chừng ba người áp tải, trói chặt tay lại. Còn cả tiểu đội thì về ngay tiểu đoàn bộ vì có việc khác cần bố trí làm ngay. Bảo những người áp tải hai đứa này lên chiến khu xong phải đưa giấy tờ của chúng nó lên trung đoàn bộ và báo cáo cho trung đoàn rõ kết quả. Hết.


       Quý và Ngọ lập tức được lệnh khám túi Hanh và Long. Hanh thì có đủ giấy tờ. Quý giơ cái thẻ công dân của hợp đồng chấp chánh Thừa Thiên cấp cho Hanh, khó nhọc lắm mới đọc được tên Hanh và chức vụ của ông. Quý lẩm bẩm: “Giáo sư là làm cái gì nhỉ? Ông giáo mà lại đi tu à? À cái này thì rõ đây: chứng nhận là ủy viên hội đồng chấp chánh lâm thời. Thằng này Việt gian hạng bự anh em ạ”.


       Rủi cho Long, anh không có một tí giấy tờ nào hết, ngoài cuốn sổ tay nhật ký của anh. Ngọ hỏi:


       - Còn thằng này, giấy tờ của mày đâu? Nuốt đi rồi hả?


       Long cố hết sức phân trần:


       - Thưa các anh tôi cứ tưởng đi chơi nên không mang gì hết. Tôi tên là Long, dạy học ở trường Khải Định, tôi xin nói thật hết…


       - Khoan đã, không phải lúc khai ở đây. Mày nói láo. Đi chơi cái gì. Bọn Việt gian chúng mày đi chỉ để hại dân, nghe chưa. Đi với thằng Tòng, với thằng ủy viên này mà bảo là đi chơi. Quyển sổ này là cái gì?


       Ngọ cầm quyển sổ đưa cho Thạc:


       - Thạc xem đi này, nó bảo là sổ nhật ký và xin lại.


       Thạc giở qua cuống sổ tay thấy đề mấy chữ: “Nhật ký, xin đừng xem” và bên trong những trang ghi lăng nhăng những chuyện nhớ nhung, yêu đương gì đó, liền nói:


       - Chẳng có gì, thôi cho lại nó cũng được. Nếu cần gì thì chắc lên trung đoàn người ta sẽ xem. Thôi giải hai đứa đi đi. Nhớ báo cáo ngay cho trung đoàn nhé.


       Quý, Ngọ và một chiến sĩ nữa tiếp tục dẫn Hanh và Long đi. Thế là chưa được gặp Thiện, Long nghĩ nửa như tiếc nửa như mừng thầm. Anh còn nghĩ: Họ để những ba anh Vệ quốc quân tuốt lưỡi lê đi áp tải chúng mình đi thì thừa quá. Gầy yếu như Hanh thì chạy đi đâu được, mình thì cũng chẳng tâm trí đâu nghĩ đến việc chạy.


       Đoàn người đang đi bỗng thấy dừng lại. Ngọ nói: “Này gần tới CK rồi đấy. Chỗ ngã ba này đi thế nào ấy nhỉ?”.


       Mọi người đang cắm cúi đi bỗng ngẩng đầu lên nhìn. Quả nhiên, trước mắt họ đã thấy hiện lên quả núi đồ sộ của chiến khu Hòa Mỹ, và cả một bãi lau sậy ngăn bên dòng Ô Lâu. Phong cảnh thật là hùng vĩ, Long nghĩ như thế, tiếc rằng mình không phải là người có quyền ngắm cảnh nữa. Lúc ấy mới vào khoảng năm giờ rưỡi chiều. Nhưng trên những sướn núi này in bóng lên sườn núi kia, màu xanh của lá cây non nhòa trong màu thẫm của cả rừng cây trong buổi chiều và những tia nắng quái vàng rộm, vẽ nên một bức tranh kỳ thú. Một vài đàn chim đã thấy bay sớm về trên núi. Phía dưới chân núi, đứng ở đây đã trông thấy mảnh đất bằng phẳng nhưng cao hơn mọi nơi của làng Hòa Mỹ. Từ những mái nhà lá thấp thoáng đã thấy bốc lên những làn khói lơ thơ màu lam nhạt. Mây và sương đang từ trên những đỉnh cao tỏa xuống rất nhanh, hoàng hôn ở vùng rừng núi này vốn ngắn ngủi. Con đường mòn đã thấy hơi ẩm ướt, nghe đâu đây đã vẳng tiếng rì rào của con sông Ô Lâu đang băng qua những ghềnh đầy đá tảng. Trong không khí thoáng có mùi mốc mốc, ẩm ẩm của gỗ mục vùng rừng núi.


       Quý cũng dừng lại ngắm nghía. Anh bỗng gắt nhẹ Ngọ:


       - Đi mãi đường này mà còn hỏi. Rẽ tay trái là lên CK. Còn rẽ phải là về Hưng Long, cơ sở của ta. Chó có rẽ đường này mà được tề nó gô lại.


       Ngọ bỗng chép miệng nói:


       - Quái thật có mấy thằng tề ác ranh con ở cái làng Phong Thái ấy mà đội trừ gian vẫn chưa diệt đi cho rồi. Nể chúng nó chắc. Làm mình đi qua đây cứ sợ lạc về phía ấy.


       - Nể gì. Bọn ấy ở ngay bên cạnh đồn Phong Thái và có đến bốn bốt hương dũng bảo vệ. Đêm đến chúng nó ngủ cả trong đồn. Ngày, có động chúng nó cũng rút vào đấy. Khó xơi đấy chứ, ai chả muốn mượn cái chỗ đội nón của chúng.


       Long thấy Hanh như chú ý lắng tai nghe những câu trao đổi giữa mấy người lính áp giải và cũng đưa mắt chú ý nhìn về phía cái làng Phong Thái mà Quý vừa giơ tay chỉ trỏ. Mọi người còn đang ngắm nghía thì bỗng từ phía làng Hưng Long thấy có một đám người khác cũng đi lên. Long để ý nhìn thì thấy đấy là một tốp du kích đang tiến tới. Hình như họ cũng áp giải hai tù binh thì phải. Bỗng thấy Quý reo lên: “Đội trừ gian lại chộp được hai tên tề nào rồi chắc. Này Ngọ ơi, đợi họ ta cùng đi một thể”.


       Thật là một cuộc đụng chạm khá bất ngời đối với Long. Đoàn người từ phía Hưng Long vừa đi tới, Long chưa kịp nhìn kỹ họ vì anh còn đang trong tâm trạng hoảng hốt lo buồn, thì bỗng có tiếng người nói: “Ơ, cái anh này mà cũng… Thế nào, gian khổ không chịu nổi hay sao mày phải theo Tây?”.


       Long quay sang nhìn người vừa nói, hình như là anh ta nói về mình và nghe giọng hơi quen quen. Đúng rồi, chính là cái anh thợ điện ấy. Long chợt nhớ ngay ra tên anh ta là Út, cái tên mà trước đây anh lần mò nghĩ mãi không ra. Đi với Út, vẫn là hai anh thợ điện nữa, một người lầm lì cục mịch, một người có vẻ láu táu và hay nói. Cùng đi với họ còn có một cô gái quê lạ mặt trông có vẻ tiều tụy đau khổ. Long chợt thấy xấu hổ, ngượng nghịu như khi ăn vụng bị bắt quả tang. Anh nhớ lại những lời anh đã nói và đã hứa với các anh thợ điện trong cái buổi đào công sự ấy. Thế mà hay, họ là những người trừ gian, còn anh thì bị cho là đứng trong hàng ngũ Việt gian…


       Trong đám hai tên mà Quý trưởng là tề vừa bị bắt, bỗng có tên cao lều nghều nói bật ra một câu: “Kìa, cậu cả, tưởng anh hùng thế nào chứ cũng bị bắt lên đây à? Có còn đi bệnh bọn đàn bà hàng tôm hàng cá nữa không? Bây giờ chúng ta là bạn đồng cảnh nhá?”.


       Một mũi súng thúc vào lưng hắn và một tiếng quát: “Im” ngắn gọn làm hắn im bặt.


       Long quay sang nhìn hắn: Kếu! Đúng, chính là cái tên Kếu đã từng làm cho anh phải cáo ốm không đi dạy học trong mấy ngày đêm. Nhìn hắn, Long thấy hắn vẫn nhơn nhơn, không có vẻ gì xấu hổ, ngượng ngùng cả. Long chua chát nghĩ: Ấy đấy, những thằng đốn mạt như thế bây giờ lại có quyền nói là bạn… đồng cảnh với ta. Mà nó nói đúng chứ không sai. Cũng là Việt gian cả. Nhưng Long cảm thấy cần nói nên một câu để cho những người Vệ quốc quân biết rằng ít nhất anh cũng không phải là hạng người như Kếu. Long trợn mắt nhìn Kếu nói to:      


       - Nói cho anh biết rằng tôi không đời nào là bạn đồng cảnh với anh được nghe không. Những hạng như anh mới là Việt gian, còn tôi, tôi bị bắt là vì một sự… không may.


       Kếu lồng lên trong sợi dây thừng trói quặt tay hắn về đằng sau:


       - À, mày bảo sao. Bị gô lên đây mà còn giở giọng con nhà ra à? Chính mày ấy, mày mới là Việt gian hạng nặng.


       Bao quát cả hai:


       - Thôi, im hết. Việt gian lại bới Việt gian, không biết xấu.


       Kếu còn lải nhải:


       - Thằng ấy chính là Việt gian ghê gớm ở Huế đấy anh ạ. Hắn là bọn con nhà…


       Út nói:


       - Thôi, đi ngay. Mỗi đứa đi riêng ra, đứa nọ cách đưa kia năm bước. Cấm nói.


       Đi chừng một cây số qua những bãi lau sậy rậm ngợp, cả tốp người tới bên dòng Ô Lâu trong vắt. Mấy người Vệ quốc quân cho phép bốn tên tù binh được rửa mặt mũi chân tay rồi dắt họ lội qua sông, đưa họ vào một căn nhà lá có ngăn thành từng buồng nhỏ và có cửa phên khóa kín.


       Hanh và Long bị giam chung một buồng. Trong buồng không có gì cả, ngoài cái sạp bằng nứa nằm sát theo chân vách. Giường nằm của họ đấy. Họ đang thở dài ngao ngán thì thấy bóng một người Vệ quốc thò vào, vứt cho họ hai cái chiếu và hai cái chăn ngửa và nói: “Đợi đấy, một giờ nữa sẽ cho ăn cơm”.


       Hanh, Long cùng thấy đói, mệt rũ người ra. Không ai bảo ai, họ cùng nằm vật lên chiếc sạp nứa. Long lẩm bẩm: “Ngày đi tù đầu tiên trong đời mình”.


       Ánh sáng ban chiều đã tắt hẳn. Bóng tối như ùa vào trong căn phòng đóng kín. Tiếng muỗi vo ve trong đêm tối. Đêm hôm ấy, lần đầu tiên, họ nằm trên một chiếc “giường” không đệm, không màn, không chăn bông, không gối, và đầy rệp.


*


 


       Thắng và hai anh dân quân Nghi, Trọng đặt chân lên bờ sông Ô Lâu vào khoảng 9 giờ rưỡi sáng. Tối hôm qua họ ngủ ở Khe Me, một trạm chỉ cách Hòa Mỹ chừng 12 cây số đường mòn. Sáng nay, họ dậy sớm, tất cả đều nóng lòng muốn tới nơi mình sẽ ở và làm việc trong một thời gian chưa biết là bao lâu. Họ đã đi dọc sông Ô Lâu, có lúc trông thấy dòng sông trong vắt, có lúc đi lút người trong đám lau sậy rậm rạp, có lúc phải bỏ xa dòng sông để trèo qua những đỉnh đồi đất đỏ đầy sỏi, đá và sim dại.


       Và đây là chặng cuối cùng. Họ đã lách qua một đám lau sậy dài chừng trăm thước và bước xuống dòng Ô Lâu. Đến đây là chỉ còn có việc lội qua bên kia sông, qua những phiến đá mà vết chân người đã cọ sạch rêu, leo một bờ dốc dựng đứng nhưng đã được đẽo thành bậc, và thế là tới Hòa Mỹ, tới chiến khu, tới cái nơi mà trước đây Thắng chỉ hoàn toàn dùng trí óc để tưởng tượng ra hình ảnh của nó.


       Có tiếng người léo nhéo đằng sau lưng Thắng. Anh quay nhìn lại bờ bên này sông. Một đoàn người gồm ba người đàn ông và một người đàn bà trẻ tuổi mặc chiếc áo dài đen bên ngoài có khoác chiếc áo len ngắn màu trắng làm Thắng hết sức chú ý. Ai thế nhỉ? Ở đây mà có người ăn mặc như thế à? Dáng điệu thành thị của người đàn bà làm anh hết sức ngạc nhiên. Chị ta vống ở đây hay ở đâu mới tới? Thắng đột nhiên đứng thẳng người dậy, vuốt lại nếp áo, thả cái ống quần ka ki anh vừa xắn lên quá gối để rửa chân trên dòng sông, và giơ năm ngón tay chải lại mớ tóc mà sáng nay dậy quá sớm anh đã để rối bù.


       Phượng. Phải. Người đàn bà đi trong đám người mới tới ấy chính là cô giáo Phượng. Cô cũng chú ý tới đoàn người đang cọ rửa bên này bờ sông. Mới thoáng trông, cô đã chú ý ngay cái người mặc quần áo ka ki, đội mũ ca lô quân đội, đeo ba lô con cóc và có nét mặt sáng sủa kia là một người trí thức vốn sống ở thành phố, khác hẳn hai anh dân quân gánh thuốc và người liên lạc dẫn đường. Tự nhiên, Phượng cũng thấy cần có một thái độ lễ phép, cô không bước đi tự nhiên như trước, nhưng lại cố làm ra vẻ đi như tự nhiên, cố dướn thẳng người lên một chút.


       Trong lúc Phượng và đoàn người cùng đi với cô rửa tay rửa mặt trên sông, Thắng đã lễ phép hỏi:


       - Xin lỗi, chị ở đây đã lâu hay mới tới ạ?


       Phượng cũng lễ phép trả lời:


       - Thưa… ông, tôi mới ở Huế lên đây ạ. Còn ông thì ở đâu tới hay trước đã ở đây?


       Thắng đáp:


       - Thưa… chị, tôi cũng mới tới như chị tôi. Nhưng tôi ở Vinh vào.


       - Nghe giọng nói thì ông không phải người ở ngoài ấy nhỉ?


       - Vâng, tôi chính là người Huế. Xin lỗi chị, chị làm… công tác gì ở Huế đấy ạ?


       - Dạ, tôi dạy học trường Đồng Khánh. Tôi dạy trước cách mạng kia đấy. Sau khi mặt trận vỡ, tôi bị kẹt ở tận huyện Phú Lộc, không chạy ra được, đành phải về Huế. Đi dạy học lại được ít lâu thì bắt được mối liên lạc với cán bộ trước đây vẫn có… liên lạc với tôi, tôi đề nghị bố trí đường dây cho tôi lên chiến khu. Còn ông ở Vinh vào sẽ làm công tác… gì đấy ạ?


       - Thưa chị, tôi là bác sĩ quân y. À… à… tôi hỏi câu này khi không phải, chị có biết giáo sư Trần Công Hanh trước dạy ở trường Khải Định, nay có còn ở Huế không?


       - Thưa ông có. Ở Huế nhiều người biết… ông ấy vì bây giờ không những ông chỉ đi dạy học mà còn phụ trách chung của ngành giáo dục của tỉnh. Gọi là phụ trách cho oai thế thôi, chẳng qua chỉ là bù nhìn làm được gì đây. Chỉ có đi dạy học là còn có việc thật. Ông cũng quen… ông ta?


       - À… à… vâng… không… dạ… tôi là em…


       Thấy Thắng lúng túng và không nói hết câu, Phượng hiểu ngay và không hỏi nữa. Cô lảng ngay sang việc khác:


       - Bây giờ chúng ta phải lội qua sông mới tới đấy nhỉ? Nước chảy xiết quá. Không biết tôi lội qua có nổi không?


       Anh liên lạc nói xen vào:


       - Không sợ chị ạ, đường này bao nhiêu phụ nữ lội qua rồi. Nước chỉ lên trên đầu gối một ít, xắn quần áo cho khéo không bị ướt. Cố nhiên là đừng bước nhầm vào hòn đá nào còn lắm rêu, trượt một cái thì có thể ngã hoặc ít ra cũng ướt hết hai ống quần.


       Anh liên lạc vừa nói vừa liếc nhìn cái tà áo dài tha thướt của cô giáo Phượng. Dọc đường từ Huế ra đến đây, anh đã khổ tâm vì nó mà không dám nói vì anh thấy nể những người trí thức ở thành thị. Phượng liếc nhìn Thắng, một thoáng ngại ngần hiện lên khóe mắt rồi thong thả vén quần lên quá gối, lội xuống nước, để lộ ra hai bắp chân trắng muốt.


       Thắng lấy điệu bộ hết sức đứng đắn, anh hình như không để ý gì đến vẻ ngại ngần của Phượng, anh cũng xắn quần lên đi ngay, mắt chăm chú nhìn xuống dòng nước để dò những chỗ đi ít trơn nhất.


*


       Thân mừng rỡ một cách thật lòng khi gặp Thắng. Hai người bạn cũ ôm nhau thân thiết. Thân dắt Thắng đi giới thiệu với cơ quan hành chính tỉnh, với Ty Bào chế, Ty Thông tin, cơ quan trung đoàn bộ. Rồi nhân dịp có cả cô giáo Phượng mới lên chiến khu và y sĩ Y Ngông sắp chuyển vào Liên Khu 5, Thân đã đề nghị Tỉnh bộ Việt Minh cùng với Ủy ban hành chính tỉnh và trung đoàn bộ cùng mở một tiệc trà nhỏ để tống cựu nghênh tân.


       Gọi là tiệc nhưng cũng chỉ có nước chè, mấy bao thuốc lá đem từ Huế lên, và ít kẹo bánh thửa ở mấy cửa hàng bánh kẹo của chiến khu. Bữa tiệc làm ngay tại nhà Đại chúng, cơ quan hội hop công cộng của chiến khu do Ty Thông tin tỉnh quản lý, tức là ngôi nhà to mà Thắng đứng bên kia bờ sông đã trông thấy và đã thầm mong đây là bệnh viện của mình.


       Sự giới thiệu của Thân đã làm cả Thắng và Phượng ngạc nhiên, họ không ngờ ở chốn rừng núi này mà tập trung được nhiều người trí thức nổi tiếng của Huế như vậy.


       Thật không ngờ ở đây lại có thể có một buổi sinh hoạt đầy vẻ trí thức như thế này, Thắng nghĩ như thế và anh thấy trong lòng vui vẻ, cao hứng. Anh đọc cho mọi người nghe mấy bài thơ đã làm khi đi trên đường từ Vinh vào đến Hòa Mỹ, rồi anh say sưa nói:


       - Tôi có một nhật xét này, nếu không đúng các bạn bỏ quá đi cho. Tất cả mọi con đường đều dẫn tới chiến khu. Đúng thế. Tôi và một ông bạn bác sĩ nữa đã từ Vinh vào đến Quảng Trị và đến đây. Cô giáo Phượng đây thì từ Huế lên. Các bạn ở đây người thì từ ngành văn nghệ, người thì từ ngành y tế, người là giáo sư, người là kỹ sư, nhà báo, nhạc sĩ, họa sĩ, v.v… đều lên đây cả. Bằng những con đường khác nhau nhưng cuối cùng đều lên đây cả. Có thể nói là trí tuệ của Việt Nam đã theo kháng chiến mà lên các chiến khu. Cố nhiên, tôi còn gặp ở Khu 4 nhiều nhà trí thức có danh tiếng trong toàn quốc không thể kể hết tên ra được. Điều ấy đã chứng tỏ số đông những người trí thức chân chính đứng về phía nào rồi. Nhưng ông bạn bác sĩ của tôi vào công tác ở chiến khu Quảng Trị có nói rằng nhu cầu văn hóa của những người mà chúng tôi gặp dọc đường trên núi rừng Trường Sơn còn… ít quá, nếu không nói là thấp quá. Tôi thấy rằng lực lượng trí tuệ của chúng ta ở đây khá lớn. Tại sao chúng ta không lập một chi hội văn hóa văn nghệ kháng chiến ở đây như ở Khu 4 người ta đã làm? Đồng chí Thân, người bạn cũ của tôi, anh hãy giải thích cho tôi rõ vì sao như thế?


       Thân mỉm cười nhìn Thắng, cảm thấy thêm mến cái người thanh niên trí thức nhiệt tình sôi nổi ấy. Anh cũng thấy nhận xét của Thắng là đúng và đề nghị của Thắng đến lúc này đã có thể có tác dụng cụ thể. Anh khoan thai đáp:


       - Đúng lắm, anh bạn cũ của tôi ạ. Đề nghị của anh rất hợp thời. Trong Tỉnh bộ Việt Minh chúng tôi chưa bàn với nhau về việc này, nhưng ngay bây giờ, tôi có thể nói rằng riêng tôi tán thành việc lập một chi hội văn hóa và văn nghệ kháng chiến của tỉnh Thừa Thiên. Các bạn có mặt ở đây hôm nay thấy thế nào?


       Tiếng đồng ý nổi lên tứ phía và tiếng vỗ tay nổi lên giòn giã. Thân đã ngồi xuống bỗng đứng lên nói tiếp giọng chắc nịch và cảm động như chứa đựng niềm suy nghĩa đã có từ lâu lắm.


       - Các bạn, các bạn là những người trí thức, chúng tôi là những người cán bộ cách mạng. Đúng thế. Nhưng ngày nay thì tất cả chúng ta là những cán bộ cách mạng. Không phải chúng tôi không quan tâm tới sinh hoạt văn hóa. Nhưng các bạn thử nhớ lại xem, được như ngày nay là đã trải qua bao nhiêu gian khổ, bao nhiêu hy sinh.


       Thân đang nói bỗng nghẹn giọng. Trong một thoáng, hình ảnh Ngạc, vợ anh, hiện về trong trí nhớ. Và cùng với hình ảnh Ngạc, là hình ảnh mẹ anh ở lại trong cái làng còn nằm trong vòng kiềm chế của bọn tề ác và nghe người ta đồn là bà cụ đã lòa rồi, là hình ảnh của những đồng chí và bao người con ưu tú khác của Tổ quốc đã hy sinh trên mặt trận, sau lưng địch, trên chiến khu. Giọng Thân run lên vì xúc động:


       - Các bạn nhớ lại xem. Lúc mới lên đây chúng ta chỉ còn hai tấn gạo mà miệng ăn thì đến hai nghìn. Nhà cửa, lán trại đều chưa có. Các đường mòn đầy gai góc, muỗi rừng, rắn độc và voi hổ còn chạy từng đàn. Bộ đội thì lạc đơn vị chạy lung tung. Trèo lên cái dốc bên bờ sông Ô Lâu này còn ngã lên ngã xuống. Lúc ấy, tâm trí chúng ta phải xoay quanh vấn đề trọng đại nhất: làm sao xây dựng lại bộ đội để tiếp tục kháng chiến. Mà muốn xây dựng lại bộ đội thì phải có gạo ăn, có lán trại để ở, có nồi niêu để nấu, có công binh xưởng để chữa súng và đúc lựu đạn, có cán bộ để chỉ huy, nghĩa là phải có hàng trăm thứ. Vậy mà chúng ta hồi ấy, lúc vỡ mặt trận ấy, thì còn có gì? Có thể nói chúng ta chỉ có một vũ khí lợi hại nhất, ấy là việc động viên chính trị để giữ vững tinh thần bộ đội, cán bộ và nhân dân, và sở dĩ sự động viên của chúng ta có kết quả là vì chúng ta có chính nghĩa. Từ chỗ đó, chúng ta đã có tất cả những cái mà chúng ta có ngày nay, từ chỗ đó mà mọi con đường đều dẫn tới chiến khu như anh bạn cũ của tôi đây đã nói, từ chỗ đó mà lực lượng trí tuệ ở ngay chốn núi rừng này cũng lớn mạnh, từ chỗ đó chúng ta sẽ còn có nhiều hơn nữa, thắng lợi hơn nữa. Các bạn, chúng tôi rất coi trọng trí thức, không phải coi trọng bằng lời nói mà tự trong đáy lòng. Làm sao mà không coi trọng được khi mà chính chúng tôi cảm thấy cần phải học văn hóa và phải có văn hóa mới làm được công việc của cách mạng. Cái nhu cầu văn hóa mà bác sĩ Thắng vừa nhắc tới, chúng tôi thấy cần như cơm ăn nước uống, chúng tôi thấy cần cho tất cả mọi người, cho dân cày, cho thợ thuyền, cho những người binh nhì, binh nhất. Tôi nghĩ rằng, tại sao ta lại chỉ lập có hội văn hóa văn nghệ kháng chiến? Tại sao lại không nghĩ đến việc mở trường dạy văn hóa của chiến khu. Tôi sẽ là người ghi tên đi học đầu tiên. Giáo sư thì ở đây chúng ta không thiếu, có phải không các bạn…


       Thân đang nói hùng hồn, quay sang nhìn cô giáo Phượng định nói tiếp một câu gì, bỗng thấy lúng túng, thôi không nói nữa. Anh vừa thoáng thấy một cặp mắt rất đẹp nhìn anh, một cái nhìn chứa đựng sự cảm phục, sự trìu mến và như chứa cả ánh lửa của… tình yêu. Một cái nhìn tình tứ mà chính người nhìn không tự biết và không kìm chế nổi. Chỉ một thoáng rất nhanh thôi, nhưng Thân đã cảm thấy tất cả những điều đó. Anh cảm thấy anh không lầm, vì khi anh quay sang nhìn thẳng vào cô giáo trẻ tuổi thì chỉ một thoáng thôi, cặp mắt đang nhìn anh một cách tình tứ không giấu  kín được ấy bỗng ngượng ngùng nhìn xuống, hai hàng lông mi khẽ động đậy, và cặp má bỗng hơi ửng đỏ, Thân cũng thấy hơi ngượng nghịu, anh vội ngồi xuống quay nhìn đi phía khác và cảm thấy hơi sợ có người nào biết được nguyên nhân nỗi lúng túng của anh. Nhưng cả bàn tiệc, mải vỗ tay rầm rộ, tán thưởng những câu anh nói, chỉ có đôi mắt rất tinh của Thắng và Lân trông thấy nỗi lúng túng của Thân và hai gò má ửng hồng của Phượng.


       Tiệc tan, Thắng vỗ vai Thân hỏi:


       - Sơ ý quá, đến đây đã hai ngày mà quên chưa hỏi anh một tí việc riêng. Chị ấy cùng ở chiến khu đây với anh đấy chứ? Anh chị đã có cháu nào chưa? 


       Thân nắm lấy tay Thắng nói:


       - Vậy ra anh chưa biết? Nhà tôi mất rồi anh ạ. Mất trong khi đang có mang. –Giọng Thân lạc đi vì xúc động, anh hơi rơm rớm nước mắt. Anh ngậm ngùi kể lại cho Thắng nghe cái cảnh vợ anh chết bên bờ sông Nam Phổ rồi nói rõ – Chính lúc nãy, khi nói tới những hy sinh gian khổ, tôi nghĩ tới vợ tôi. Cũng lạ, chính anh là người duy nhất mà tôi đã kể lại tâm sự của tôi cho nghe đấy.


       Cảm ơn những lời an ủi của Thắng, Thân lững thững bước về cơ quan, bước những bước nặng trĩu. Lân đứng đợi anh ngoài cổng cơ quan Ty Thống tin từ đã lâu. Gặp anh, Lân hỏi nhỏ:


       - Nói câu này anh đừng giận nhé? Anh có tính chuyện… lập lại gia đình hay không?


       Thân hơi ngạc nhiên nhìn Lân. Trước khi mặt trận vỡ, người đồng chí này không mấy khi nói chuyện tâm tình với anh như thế. Trước đây, giữa họ vẫn thường có mâu thuẫn khi thảo luận về chủ trương chính sách, từ lâu cũng ít có dịp gần gũi nhau. Thân chợt nhận ra từ ngày mặt trận vỡ và nhất là từ ngày anh lên chiến khu sau Lân chừng vài ba tháng – thái độ của Lân đối với anh đã có nhiều thay đổi, và trong mọi chủ trương chính sách, họ dễ thống nhất ý kiến với nhau hơn trước. Tuy vậy, vì mỗi người mỗi cá tính và mỗi người có những sự quan tâm hơi khác nhau nên họ cũng ít khi nói chuyện, tâm sự với nhau. Thân thủng thẳng nói nên ý nghĩ của mình:


       - Lân ạ, mình cũng nghĩ rằng vài ba năm nữa, có thể mình cũng cần lập gia đình. Nhưng hiện nay thì không. Công việc thì còn bề bộn, tình hình quân sự rồi còn nhiều biến chuyển, lập gia đình bây giờ không tiện. Hơn nữa, vợ mình vừa mới mất một cách… đau đớn như thế, mình chưa có tâm trí đâu nghĩ tới chuyện lấy người khác. Bà cụ mình lại không có đây…


(còn tiếp)


Nguồn: Huế ngày ấy. Tiểu thuyết của Lê Khánh Căn. NXB Quân đội nhân dân, 2011. Nhà văn Châu La Việt gửi www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
xem thêm »