tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21302070
Tiểu thuyết
16.08.2016
Henryk Sienkiewicz
Trên sa mạc và trong rừng thẳm



Chương 23


Những sự kiện lớn lao của ngày hôm trước cùng những ấn tượng ban đêm khiến Staś  và Nel mệt mỏi đến nỗi, khi đã thiếp đi, cả hai ngủ một giấc say như chết, mãi đến gần trưa hôm sau cô bé mới tỉnh giấc bước ra khỏi lều. Staś  bật dậy sớm hơn một chút trên tấm đệm trải gần đống lửa, và trong khi chờ đợi cô bạn nhỏ, em bảo Kali chuẩn bị bữa ăn sáng, bữa ăn vì quá muộn nên đồng thời cũng là bữa trưa.


Ánh sáng chói lọi ban ngày xua tan những nỗi hãi hùng của đêm, cả hai tỉnh dậy không những chỉ được nghỉ ngơi mà còn được củng cố tinh thần. Nel trông khá hơn và cảm thấy người khỏe hơn, và vì cả hai đều muốn đi càng xa chỗ bọn Sudan bị bắn chết càng tốt, nên ngay sau khi ăn, cả bọn lại lên ngựa tiến về phía trước.


Vào giờ này, tất cả những người bộ hành trên đất Phi châu đều dừng lại nghỉ trưa, thậm chí cả những đoàn chỉ gồm toàn người da đen cũng phải nấp vào dưới bóng các cây to, vì đó là những “giờ trắng” − tức là giờ nóng bức và im ắng − như người ta thường gọi. Trong những giờ đó, mặt trời thiêu đốt không thương tiếc và từ trời cao chòng chọc dòm xuống, dường như xoi mói tìm người để giết vậy. Mọi loài thú đều lẩn vào những bụi cây lớn nhất, tiếng chim hót ngừng hẳn, tiếng côn trùng nỉ non cũng vắng bặt, toàn thể thiên nhiên chìm trong im lặng, nín hơi lại, dường như muốn ẩn náu thật kín trước cặp mắt của lão trời già dữ tợn. Còn bọn trẻ thì vẫn đi theo khe núi, trong đó, một vách đá ngả bóng mát che kín, nên chúng có thể đi như thế lên phía trước mà không bị cháy nắng. Staś  không muốn rời khe núi còn vì lẽ ở trên cao chúng có thể bị toán quân của Smain nhìn thấy ngay từ xa; hai nữa, trong khe núi dễ tìm thấy nước uống tại các hõm đá lớn, còn ở những nơi lộ thiên, nước bị ngấm vào đất, hoặc bị ánh sáng mặt trời biến thành hơi.


Con đường liên tục dẫn lên cao − mặc dù không nhiều lắm. Trên vách đá ở nhiều chỗ, có thể trông thấy những vệt lưu huỳnh màu vàng. Nước trong các khe đá cũng nhiễm màu lưu huỳnh, khiến hai trẻ nhớ lại rằng ở Omdurman, các tín đồ của Mahdi dùng mỡ trộn với lưu huỳnh để bôi lên đầu. Ngược lại, tại một số chỗ khác lại thoảng mùi mèo xạ, còn những nơi dây leo nhiều tầng rủ xuống từ các rạn đá cao lại ngào ngạt mùi hương vani thơm ngát. Các vị khách bộ hành tí hon rất sẵn lòng dừng chân trong bóng mát của những bức rèm che điểm hoa đỏ thắm và hồng lam ấy; cùng với các loại lá cây, chúng cung cấp thức ăn cho ngựa.


Không thấy bóng dáng một loài vật nào, chỉ thỉnh thoảng, trên các đỉnh đá mới có những con khỉ ngồi chồm hỗm, trên nền trời trông chúng giống như những vị thần linh ngoại đạo huyền thoại mà ở ấn Độ người ta thường trang trí riềm của các thánh đường. Những con đực đầu bù xù những lông, nhe răng ra với Saba hoặc chúm môi lại thành hình tròn vo biểu lộ sự kinh ngạc và tức giận, đồng thời nhảy nhót không yên, vừa hấp háy mắt vừa gãi sườn. Còn Saba, đã quá quen với hình bóng thường xuyên của chúng, hoàn toàn chẳng thèm để ý gì tới những điều đe dọa ấy.


Bọn trẻ đi hăng hái. Niềm vui giành lại được tự do trút bỏ khỏi lồng ngực Staś  cơn ác mộng thường vẫn khiến em ngạt thở đêm đêm. Giờ đây, em chỉ nghĩ xem phải làm gì nữa, phải làm gì để đưa Nel và bản thân ra khỏi địa phận mà trong đó chúng bị đe dọa phải quay trở lại sống kiếp sống nô lệ trong tay bọn phiến loạn, làm sao để có thể xoay trở trong chuyến đi dài ngày vượt qua vùng rừng thẳm, khỏi bị chết đói, chết khát, và sau nữa: Đi đâu bây giờ? Nhờ ông Hatim, em biết rằng từ Fasoda đến biên giới Abixinia tính theo đường thẳng thì không quá năm ngày đường, và em tính rằng khoảng cách đó dài độ một trăm dặm Anh[1].


Kể từ ngày khởi hành khỏi Fasoda đến giờ đã gần hai tuần lễ trôi qua, nên hẳn là các em đã không đi theo đường thẳng, mà vì đi tìm Smain, chúng lại phải vòng nhiều về phía nam. Em nhớ lại rằng, ngày đi đường thứ sáu, các em vượt qua một con sông không phải sông Nin, rồi sau đó trước khi miền đất bắt đầu đi lên cao dần, chúng đi ngang qua một vùng lầy lội rộng lớn nào đó. Trong trường học ở Port Said, người ta dạy địa lí châu Phi rất kĩ, và trong trí nhớ của Staś  còn đọng lại cái địa danh Balorơ, tên của vùng ngập nước thuộc một con sông ít người biết tên là Xốphat, đổ vào sông Nin. Tuy em không hoàn toàn chắc chắn là đã đi ngang qua chính vùng ngập nước nọ, nhưng em cho rằng có lẽ là như thế. Em nghĩ rằng, muốn bắt nô lệ thì Smain không thể tìm ở phía đông Fasoda, vì vùng đó đã hoàn toàn bị cạn người bởi quân phiến loạn và dịch đậu mùa, hắn phải tiến về phía nam, trong vùng cho tới nay chưa có cuộc càn người nào hết. Từ đó, Staś  rút ra kết luận là đoàn em đi theo vết của Smain, và thoạt đầu ý nghĩ ấy khiến cho em bàng hoàng hoảng sợ.


Em bắt đầu cân nhắc xem có nên bỏ khe núi hay không (bởi khe núi mỗi lúc một vòng về phía nam) để tiến thẳng về phía đông. Song sau một lúc suy nghĩ em bỏ ý định đó. Phải, theo em, việc đi theo dấu vết bè lũ Smain (nhưng cách chúng chừng hai ba ngày đường) là an toàn nhất, bởi lẽ Smain không khi nào lại mang món hàng người đó quay trở lại theo con đường quanh co đã đi mà không hướng thẳng tới sông Nin. Staś  cũng hiểu rằng, chỉ có thể tới được Abixinia từ phía nam − về phía ấy đất nước này tiếp giáp với rừng hoang, chứ không phải từ biên giới phía đông − nơi đang bị quân phiến loạn canh phòng nghiêm ngặt.


Suy nghĩ như vậy, em quyết định sẽ đi thật xa về phía nam. Rất có thể về phía ấy sẽ chạm trán với người da đen, những người từ bờ sông Nin chạy trốn đến, hoặc là những người bản xứ. Nhưng giữa hai cái dở thì Staś  thà chọn phải đương đầu với người da đen hơn là với các tín đồ của Mahdi. Thêm vào đó, em cũng tính đến chuyện nếu gặp những người chạy trốn hoặc cư dân bản xứ thì Kali và Mêa sẽ có thể là những người trợ thủ đắc lực. Chỉ cần nhìn thoáng qua cô thiếu nữ da đen cũng có thể đoán được cô thuộc về bộ lạc Đinca hoặc Sinlúc, vì cô có cặp chân rất dài và rất mảnh mai, đôi chân đặc thù cho các bộ lạc này − những bộ lạc sinh sống dọc hai bờ sông Nin và lặn lội như cò như sếu trong những vùng ngập nước của dòng sông. Ngược lại,


Kali − mặc dù dưới tay Gebhr đã trở nên giống như một bộ xương − lại có vóc dáng hoàn toàn khác. Thân hình chắc nịch và lực lưỡng, hai cánh tay khỏe mạnh, còn hai bàn chân thì lại nhỏ so với chân Mêa.


Vì nó hoàn toàn không nói được tiếng Ả Rập, còn tiếng Ki Xvahiti − thứ tiếng gần như có thể dùng nói với toàn bộ Phi châu, thứ tiếng mà Staś  đã học được chút ít nhờ những người Dandiba lao động ở vùng kênh đào − thì nó nói rất kém, nên hẳn là quê nó ở một vùng xa xôi nào đó.


Staś  quyết định tìm hiểu xem nó thuộc địa phương nào.


− Kali này, dân tộc của cậu là gì? − Em hỏi.


− Vahima, − Cậu bé da đen đáp. − Dân tộc vĩ đại lắm, đánh nhau với những người Xamburu xấu bụng và lấy trâu bò của chúng[2].


− Làng của cậu ở đâu?


− Xa, xa lắm!... Kali không biết ở đâu.


− ở đó có giống như vùng này không?


− Không. ở đó có con nước lớn và nhiều núi lắm.


− Các cậu gọi tên con nước ấy là gì?


− Chúng tôi gọi là “Con Nước Đen”.


Staś  nghĩ thầm rằng có thể cậu bé quê ở vùng sông Anbe Nianđa, cho tới nay vẫn nằm trong tay pasa Êmin, nên muốn kiểm tra xem có đúng thế không, bèn hỏi tiếp:


− Ở vùng đó có phải có một thủ lĩnh da trắng, người có những cái thuyền nhả khói đen và nhiều quân lính hay không?


− Không đâu. Người già ở chỗ chúng tôi nói rằng đã trông thấy người da trắng (nói tới đây Kali xòe các ngón tay ra đếm), một, hai, ba lần!... Đúng thế! Có ba người mặc những cái áo dài trắng. Họ đi tìm ngà... Kali không được trông thấy họ, vì chưa có trên đời, nhưng cha Kali đã tiếp họ và cho họ nhiều ngà lắm.


− Cha của cậu là ai?


− Là vua của người Vahima.


Điều này khiến Staś  khoái chí, vì như thế cậu có người hầu vốn là một hoàng tử.


− Cậu có muốn gặp cha không?


− Kali muốn gặp mẹ.


− Cậu sẽ làm gì khi gặp người Vahima, và họ sẽ làm gì?


− Người Vahima sẽ phục xuống lạy Kali.


− Thế thì cậu hãy dẫn chúng tớ tới chỗ họ, cậu sẽ ở lại với họ và sẽ trị vì kế vị vua cha, còn chúng tớ sẽ tiếp tục đi thẳng tới biển.


− Kali không biết đường đi tới chỗ họ và sẽ không ở lại với họ, vì Kali yêu mến ông lớn và con gái của mặt trăng.


Staś  vui vẻ quay lại nói với cô bạn:


− Nel, em được phong là con gái của mặt trăng rồi đấy. Song nhìn thấy cô bé, em lại buồn xỉu đi, vì em chợt nghĩ rằng, với khuôn mặt tái nhợt và gần như trong suốt của mình, cô bé gầy gò này quả thực có vẻ là một sinh linh từ mặt trăng xuống hơn là người trần thế.


Cậu bé da đen im lặng một lúc rồi nhắc lại:


− Kali yêu bvana kubva, vì bvana kubva không giết Kali chỉ giết Gebhr, lại cho Kali ăn nhiều nhiều.


Và bắt đầu vừa xoa xoa bộ ngực, nó vừa lặp đi lặp lại với vẻ khoái chí lộ rõ trên mặt:


− Nhiều thịt, nhiều nhiều thịt!


Staś  còn muốn biết thêm tại sao cậu bé lại trở thành nô lệ của bọn phiến loạn, nhưng hóa ra, kể từ cái đêm người ta tóm được nó trong cái hố đào dành cho những người mắc bệnh sốt rét, nó đã qua không biết bao nhiêu tay chủ, đến nỗi không thể nào luận ra nổi từ câu chuyện kể của nó xem nó đã phải lang thang qua những nước nào và người ta đã đưa nó qua những chặng đường nào để tới tận Fasoda, Staś  chỉ lưu ý tới những điều nó nói về “Con Nước Đen”, bởi vì nếu nó gốc người vùng Anbe Nianda, Anbe Etvac Nianda hoặc Victoria Nianda − những vùng thuộc các quốc gia Uniôrô và Uganđa, thì chắc hẳn nó phải nghe nói tới Pasa Êmin, tới quân đội và các tàu chiến của ông ta, những chiếc tàu khiến cho người da đen kinh ngạc và sợ hãi. Tanganaica thì quá xa, nên chỉ còn có giả thuyết rằng dân tộc của Kali cư trú ở đâu đó gần hơn. Vì lẽ đó, việc gặp gỡ người Vahima không phải hoàn toàn là chuyện không thể xảy ra.


Sau mấy giờ đường, mặt trời bắt đầu hạ xuống thấp. Cái nóng giảm đi đáng kể. Bọn trẻ đến được một lòng thung rộng rãi, có nước và hơn chục cây vả dại, chúng bèn dừng lại cho ngựa nghỉ và lấy thêm dự trữ. Vì nơi đây vách đá đã thấp hơn trước, Staś  bảo Kali lên cao để xem thử chung quanh đây có vết khói nào hay không.


Kali thực hiện ngay mệnh lệnh, và trong chớp mắt nó đã leo lên đỉnh vách đá. Sau khi ngắm kĩ tứ phía, nó tuột xuống theo một thân dây leo to tướng và nói rằng không thấy vết khói, nhưng lại thấy có “nyama” (thịt). Dễ đoán ra rằng nó không nói về loài chim pentácca mà muốn nói tới loài thú nào đó to hơn, vì nó trỏ vào khẩu súng của Staś  rồi lại đặt hai ngón tay lên đầu ra dấu rằng đấy là súc vật có sừng.


Đến lượt Staś  trèo lên cao, thận trọng nhô đầu lên khỏi đỉnh vách đá, quan sát khu vực trước mắt. Không có vật gì chắn tầm nhìn xa của em, vì rừng rậm cây cao trước kia đã bị cháy, còn rừng non mọc lên từ mặt đất màu tro xám thì mới chỉ cao được vài phân. Nhìn hút tầm mắt chỉ thấy có vài cây gỗ lớn mọc thưa thớt với những cái thân ám khói. Dưới bóng một trong những cây như thế có một đoàn linh dương gơnu đang gặm cỏ, loài linh dương này có thân mình giống như ngựa, còn đầu lại giống trâu. Mặt trời chiếu qua những chiếc lá bao báp rải những vệt nắng nhảy nhót linh động trên những cái bờm màu nâu của chúng. Có chín con cả thảy. Khoảng cách không quá một trăm bước chân, nhưng vì gió đang thổi từ phía chúng vào khe núi nên chúng vẫn gặm cỏ bình thản, không hề ngờ tới nỗi nguy hiểm ở gần. Muốn cung cấp thịt cho cả đoàn, Staś  bắn hạ con vật đứng gần nhất, con vật ngã lăn ra đất như bị sét đánh. Những con còn lại chạy túa đi, cùng với chúng là một con trâu rừng đồ sộ mà trước đấy cậu bé không nhận ra, vì nó nằm khuất sau một tảng đá. Không phải vì cần thiết mà chẳng qua chỉ vì máu thợ săn, nên cậu bé nhân lúc con vật giơ sườn ra liền phóng cho nó một phát đạn. Sau tiếng nổ, con trâu loạng choạng rất dữ, kéo lê thân sau, nhưng vẫn chạy tiếp được, và trước khi Staś  kịp thay đạn, nó đã khuất sau những chỗ lồi lõm của địa hình.


Trước khi khói kịp tan hết, Kali đã ngự lên mình con linh dương và dùng lưỡi dao của Gebhr phanh bụng nó ra. Muốn nhìn kĩ hơn con vật, Staś  tiến lại phía nó − và em kinh ngạc quá đỗi, vì ngay lúc đó, thằng bé da đen đưa cho em lá gan hãy còn đang bốc hơi nóng hổi của con linh dương trong hai bàn tay đẫm máu.


− Sao cậu lại đưa cho tớ? − Cậu bé hỏi.


Msuri, msuri! (Tốt, tốt!) Bvana kubva ăn ngay đi!


− Mày ăn thì có! − Staś  đáp, phẫn nộ vì lời đề nghị ấy. Kali chẳng cần phải đợi nhắc tới lần thứ hai, ngay lập tức nó bắt đầu dùng răng rứt từng miếng gan tươi nuốt một cách thèm thuồng, và khi thấy Staś  đang nhìn nó với vẻ kinh tởm, nó liền nhắc đi nhắc lại giữa hai lần nuốt chửng: “Msuri! Msuri!”


Nó chén như thế hết già nửa lá gan, sau đó bắt tay vào việc xẻ thịt con linh dương. Nó làm việc đó cực kì thành thạo và nhanh nhẹn, chẳng mấy chốc tấm da đã được lọc ra, các tảng thịt được tách ra khỏi lưng. Khi đó Staś  hơi ngạc nhiên, là tại sao con Saba không có mặt bên cạnh cái công việc này, liền huýt sáo miệng gọi nó tham gia bữa tiệc trọng thể gồm thân trước của con vật.


Song Saba hoàn toàn không xuất hiện, ngược lại Kali đang cúi mình trên con linh dương lại ngẩng đầu lên nói:


− Con chó lớn chạy theo con trâu rồi.


− Cậu trông thấy à? − Staś  hỏi.


− Kali trông thấy.


Nói rồi, nó đặt tảng thịt thăn của con linh dương lên đầu, hai đùi mang trên hai tay, bước về khe núi. Staś  còn huýt sáo thêm vài lần nữa và chờ con chó, song thấy rằng làm chuyện đó chỉ vô ích, em cũng đi trở về theo sau thằng bé. Trong khe, Mêa đang bận chặt cây gai làm hàng rào, còn Nel đang dùng những ngón tay nhỏ nhắn của mình vặt lông con chim pentácca cuối cùng.


− Anh huýt gió gọi Saba đấy à? Nó chạy theo các anh mà.


− Nó đuổi theo con trâu rừng mà anh bắn trúng, và anh đang rất lo đây. − Staś  đáp. − Đó là một loài vật rất hăng máu, và khỏe đến nỗi sư tử cũng không dám tấn công. Sẽ không lành với Saba nếu nó đánh nhau với một đối thủ như thế.


Nghe thấy thế, Nel vô cùng lo lắng, cô bé nói rằng sẽ không đi ngủ, chừng nào Saba chưa quay về. Nhìn thấy nỗi lo phiền của cô bé, Staś  đâm ra tự trách mình đã không biết giấu nỗi nguy hiểm đó và cố tìm cách an ủi Nel.


− Lẽ ra anh đã mang súng đi theo nó. − Em nói. − Nhưng chắc là cả hai đã đi rất xa, đêm lại sắp đến, sẽ không trông rõ vết đâu. Con trâu đã bị trọng thương, anh tin rằng nó sẽ gục thôi. Mà ít nhất nó cũng bị yếu đi nhiều vì mất máu, nếu nó có lao vào Saba thì Saba cũng còn kịp bỏ chạy... Phải! Có thể phải đến đêm nó mới quay trở về, nhưng thể nào nó cũng sẽ quay về.


Nói thế, song em không hoàn toàn tin vào những điều mình nói, vì em nhớ lại những điều đã đọc được về sự hăng máu vô cùng của giống trâu rừng châu Phi, ngay cả khi đã bị thương rồi, con vật vẫn có thể chạy đường vòng quay trở lại phục cạnh đường thợ săn đi, rồi bất ngờ tấn công, chọc sừng vào người anh ta và tung bổng lên không. Với Saba cũng dễ dàng xảy ra chuyện như thế, chưa nói tới những mối nguy hiểm khác đang đe dọa con chó trên đường trở về trong đêm tối.


Chỉ một lát sau, màn đêm buông xuống. Kali và Mêa làm hàng rào, đốt lên một đống lửa và lo bữa tối. Saba vẫn chưa thấy về.


Nel mỗi lúc một thêm buồn phiền, và sau cùng bật khóc. Staś  phải bắt buộc cô bé đi nằm và hứa sẽ thức chờ Saba, rồi khi trời rạng sáng sẽ thân chinh đi tìm con chó dẫn về. Nel đành đi vào lều, nhưng chốc chốc lại ló đầu ra khỏi cửa lều hỏi xem con chó đã về chưa. Mãi đến quá nửa đêm, khi Mêa bước ra thay cho Kali canh lửa, cô bé mới thiếp đi.


− Tại sao con gái mặt trăng lại khóc? − Kali hỏi Staś , khi cả hai ngả lưng xuống tấm vải phủ mông ngựa. − Kali không muốn thế.


− Cô bé thương Saba, con chó chắc đã bị trâu giết rồi.


− Cũng có thể chưa bị giết chết đâu. − Cậu bé da đen nói.


Rồi cả hai im lặng, và Staś  ngủ thiếp đi, rất say. Song em thức dậy ngay khi trời hãy còn tối, vì cái lạnh bắt đầu hành hạ. Lửa đã lụi, Mêa, người có nhiệm vụ canh giữ lửa đã ngủ quên, và một lúc nào đó đã không tiếp thêm cành khô vào đống lửa nữa.


Tấm đệm nơi Kali nằm trống rỗng.


Staś  tự mình tiếp thêm củi rồi lay cô gái da đen và hỏi:


− Kali đâu rồi?


Cô bé nhìn em một lúc lâu chưa tỉnh hẳn, sau mới bảo:


− Kali lấy kiếm của Gebhr đi ra ngoài hàng rào. Em nghĩ là nó muốn chặt thêm củi, nhưng sau đó nó không quay về.


− Nó đi đã lâu chưa?


− Lâu rồi.


Staś  chờ một lát, nhưng vẫn không thấy cậu bé da đen đâu, em vô tình tự hỏi thầm:


− Nó trốn rồi chăng?


Và trái tim em thắt lại bởi một cảm giác khó chịu, cảm giác mà sự vô ơn của con người thường gây ra. Chính em đã bênh vực và bảo vệ Kali khi suốt ngày tên Gebhr hành hạ thằng bé, rồi sau đó cũng chính em đã cứu thằng bé thoát chết.


Bao giờ Nel cũng tốt bụng đối với Kali và thường khóc thương cho sự bất hạnh của nó, cả hai đối xử với thằng bé thật hết lòng. ấy thế mà nó lại bỏ trốn! Chính nó đã nói rằng nó không biết làng mạc của người Vahima nằm về phương nào, rằng nó không biết đường đi tới đó, thế mà nó vẫn bỏ trốn. Staś  chợt nhớ lại những chuyện đọc hồi còn ở Port Said về các cuộc hành trình ở Phi châu, cũng như chuyện kể của các lữ khách về sự ngu ngốc của người da đen, những kẻ ném cả hàng hóa và bỏ chạy ngay trong những trường hợp sự chạy trốn mang tới cho họ cái chết cầm chắc. Dĩ nhiên, chỉ với một thanh gươm Sudan của tên Gebhr là thứ vũ khí duy nhất trong tay, Kali sẽ phải chết đói, hoặc trở thành một miếng mồi cho các loài dã thú nếu như không rơi lại vào tay của bọn phiến loạn.


Ôi! Thằng vô ơn và ngốc nghếch!


Staś  bắt đầu nghĩ xem cuộc hành trình thiếu Kali sẽ khó khăn vất vả hơn bao nhiêu, còn công việc thì lại nặng nhọc hơn bao nhiêu. Cho ngựa uống nước và thả đi ăn buổi tối, căng lều, dựng hàng rào, cảnh giới khi đi đường để lương ăn và đồ đạc không bị rơi mất, lột da và xẻ thịt thú săn được − tất cả những công việc ấy, thiếu chàng thanh niên da đen thì sẽ trút lên vai em, và tự trong thâm tâm em phải tự nhận rằng em không có khái niệm gì về một số công việc, thí dụ như việc xẻ thịt thú.


“Ha! Biết làm thế nào được?” − Em tự nhủ − “Phải làm thôi!...”


Lúc đó, mặt trời đã nhô lên từ sau đường chân trời và ngày bắt đầu ngay trong chớp mắt, như vẫn thường thấy ở vùng nhiệt đới. Một lúc sau, nước rửa mà Mêa đã chuẩn bị ban đêm cho cô chủ bắt đầu reo lóc bóc dưới mái lều, báo hiệu Nel đã dậy và đang mặc quần áo. Lát sau, cô bé bước ra, đã ăn mặc chỉnh tề nhưng hãy còn đang cầm lược trên tay và đầu tóc hãy còn bù xù.


− Saba đâu? − Cô bé hỏi.


− Nó vẫn chưa về.


Đôi môi của cô bé bắt đầu run.


− Có thể nó sẽ về. − Staś  nói. − Em có nhớ là hồi qua sa mạc, đôi khi nó bỏ đi những hai ngày liền, nhưng sau đó bao giờ cũng theo kịp chúng ta chứ?


− Anh bảo là anh sẽ đi tìm nó cơ mà?...


− Anh không thể.


− Vì sao, anh Staś ?


− Vì anh không thể để em một mình với Mêa ở lại trong khe núi.


− Còn Kali?


− Không có Kali.


Và em nín lặng, không biết có nên nói cho cô bé biết toàn bộ sự thật hay không. Song vì chuyện đó không thể giấu được, nên em nghĩ rằng tốt hơn hết là nói ngay lập tức.


− Kali lấy thanh kiếm của Gebhr − Em nói, − Và bỏ đi mất từ hồi đêm, không hiểu đi đâu. Ai biết được là nó có trốn đi hay không. Người da đen thường làm vậy đấy, nhiều khi để đánh đổi lấy cái chết. Anh tiếc cho nó... Nhưng rất có thể là nó sẽ hiểu ra rằng nó làm chuyện ngốc nghếch và...


Lời của cậu bé bị gián đoạn bởi tiếng sủa đầy mừng rỡ của Saba, tiếng sủa tràn ngập trong khe núi. Nel vứt ngay cái lược xuống đất chạy ra đón, nhưng gai góc của hàng rào đã giữ cô bé lại.


Staś  vội vội vàng vàng dỡ tung hàng rào, nhưng trước khi cậu kịp mở thông hẳn thì trước mặt cậu đã hiện ra trước tiên là Saba, rồi sau đó là Kali, long lanh, ướt đẫm sương như vừa qua một trận mưa to vậy.


Một niềm sung sướng tràn ngập trong lòng hai trẻ, và khi Kali − mệt không kịp thở, vào được bên trong hàng rào, thì Nel đã dang hai vòng tay trắng muốt của mình ôm vòng lấy cái cổ màu đen và dùng hết sức siết chặt lấy nó. Còn Kali thì nói:


− Kali không muốn thấy cô bé khóc, nên Kali đã đi tìm được con chó.


− Kali tốt quá! − Staś  vừa đáp vừa vỗ vỗ vào vai thằng bé − Thế cậu không sợ gặp sư tử hay báo ban đêm hay sao?


− Kali sợ, nhưng Kali cứ đi. − Cậu bé đáp lại.


Những lời này càng khiến cho trái tim bọn trẻ yêu mến nó hơn nữa. Theo lời yêu cầu của Nel, Staś  lấy trong bị ra một chuỗi hạt cườm bằng thủy tinh mà ông lão Hi Lạp Kaliôpuli đã cung cấp cho bọn trẻ khi rời Omdurman và dùng nó trang điểm cho cái cổ của Kali, còn cậu bé da đen sung sướng vì món quà tặng, rất tự hào nhìn Mêa và nói:


− Mêa không có chuỗi hạt cườm, còn Kali có, vì Kali là “Đại thế giới”.


Như thế là sự quên mình của cậu bé da đen đã được tặng thưởng. Còn Saba thì lại bị mắng một trận nên thân, trong đó, lần thứ hai kể từ khi phục vụ cô chủ Nel, nó được biết rằng nó là một con chó rất xấu xí, và nếu như lần sau nó còn làm một chuyện tương tự thế này thì nó sẽ bị buộc dây dắt đi như một chú chó con. Vừa nghe những lời mắng mỏ đó, nó vừa ngoe nguẩy đuôi, khiến người ta có thể hiểu theo cách nào cũng được. Tuy nhiên, Nel vẫn khẳng định rằng, qua mắt nó, có thể thấy rõ là nó xấu hổ, và rõ ràng là nó đã đỏ mặt, có điều không thấy được vì người nó phủ đầy lông đó thôi.


Sau đó là bữa ăn sáng gồm có những quả vả dại ngon tuyệt và thịt linh dương. Trong bữa ăn sáng, Kali thuật lại chuyện phiêu lưu của mình. Staś  thì dịch câu chuyện từ tiếng Ki Xvahiti mà Nel không hiểu sang tiếng Anh. Hóa ra con trâu còn chạy rất xa. Kali khó tìm thấy vết vì đêm qua không trăng. May thay hai hôm trước trời đổ mưa và mặt đất không rắn lắm, nên dấu chân của con vật bị thương in hằn trong đất. Kali tìm theo dấu chân bằng cách lần mò bằng ngón chân của mình và đi mãi rất lâu. Mãi sau con trâu ngã xuống và hẳn là nó ngã xuống chết ngay, vì không hề có dấu vết gì nói lên có trận đấu giữa nó với Saba. Khi Kali tìm thấy cả hai, Saba đã xơi hết một phần chân trước của con trâu, và mặc dù không thể ăn thêm được nữa, nó vẫn không cho phép hai con linh cẩu và mấy con lang núi tiến lại gần miếng mồi, bọn này đành đứng chầu rìa chung quanh, chờ cho con thú ăn thịt khỏe hơn này kết thúc bữa tiệc và bỏ đi.


Cậu bé than phiền rằng, con chó gầm gừ cả với nó nữa, nhưng nó dọa rằng “ông lớn” và cô bé sẽ giận, và nắm lấy cổ dề kéo con chó rời khỏi con trâu, về tới khe núi mới bỏ tay ra.


Câu chuyện về chuyến phiêu lưu ban đêm của Kali kết thúc tại đó, cả bọn vui vẻ lên lưng ngựa tiếp tục lên đường.


Chỉ riêng cô Mêa chân dài, mặc dù lặng lẽ và nhẫn nhục, vẫn ghen tị ngắm nghía chuỗi vòng cổ của chàng da đen trẻ tuổi và buồn bã nghĩ thầm: “Cả hai người là Đại thế giới, còn mình chỉ có một cái vòng bằng đồng đeo ở mỗi một chân thôi!”.


Chương 24


Suốt ba ngày sau đó, bọn trẻ toàn đi theo khe núi ngược lên mãi. Ban ngày nói chung là nóng bức, ban đêm hoặc lành lạnh hoặc oi nồng. Đã gần tới mùa mưa. Phía sau đường chân trời đùn lên đây đó những đám mây trắng ngần như sữa nhưng dày đặc tầng tầng lớp lớp. Nhiều phía trông thấy những làn mưa và những chiếc cầu vồng xa xa. Gần sáng ngày thứ ba, một đám mây như thế vỡ ra như một chiếc thùng chứa bị tuột mất đai ngay trên đầu chúng, tắm cho cả bọn một trận mưa ào ạt và ấm áp, nhưng may mắn là không kéo dài. Sau đó thời tiết lại đẹp tuyệt và cả bọn có thể tiếp tục đi. Lũ chim pentácca xuất hiện với số lượng nhiều đến nỗi không cần phải xuống ngựa, Staś  cũng bắn hạ được năm con, quá đủ cho cả bọn − kể cả Saba − một bữa no nê. Cuộc hành trình trong bầu không khí trong lành hoàn toàn không mệt nhọc chút nào, đồng thời sự phong phú về thú vật và nước uống đẩy xa ám ảnh của nỗi lo đói khát. Nói chung, mọi chuyện đều thuận lợi hơn là chúng mong, vì thế Staś  lúc nào cũng vui vẻ và đi bên cạnh cô bạn nhỏ, cậu trò chuyện, thỉnh thoảng lại nói đùa:


− Em biết không, Nel. − Cậu nói khi cả bọn dừng chân tạm nghỉ dưới một cây mít to tướng, trong lúc Kali và Mêa đang cắt những quả mít trông giống như những quả dưa bở khổng lồ. − Đôi khi anh cứ ngỡ như mình là một hiệp sĩ giang hồ lang thang vậy.


− Hiệp sĩ lang thang là gì hả anh? − Nel quay mái đầu tuyệt đẹp của mình hỏi lại Staś .


− Hồi xửa hồi xưa, vào thời trung cổ, có những vị hiệp sĩ như thế. Họ chu du khắp thế giới để tìm kiếm những chuyện mạo hiểm. Họ đánh nhau với cả rồng và bọn khổng lồ, và em biết không, mỗi người đều có một công nương của lòng mình, công nương này được họ chăm lo và bảo vệ.


− Vậy em là một công nương như thế chăng? Staś  suy nghĩ một giây rồi đáp:


− Không. − Em hãy còn bé quá. Tất cả đám công nương kia đều là người lớn cả.


Cậu hoàn toàn không hề nghĩ rằng, có thể chưa có vị hiệp sĩ lang thang nào lại thực hiện được nhiều kì công cho công nương của họ hơn là cậu đã thực hiện cho cô em gái bé bỏng của mình. Đối với cậu, những điều cậu làm đều chỉ là tất nhiên phải thế mà thôi.


Nhưng những lời của cậu lại khiến cô bé Nel phật ý, cô bĩu môi đanh đá và nói:


− Thế mà hồi trong sa mạc, anh lại nói là em hành động như một người mười ba tuổi kia đấy.


− Chỉ một lần thôi. Còn em thì mới có tám tuổi.


− Thế thì mười năm nữa em cũng sẽ mười tám tuổi.


− Ghê nhỉ. Còn anh những hai mươi tư rồi. Vào tuổi đó người ta không nghĩ đến công nương, mà nghĩ tới những chuyện khác để hành động. Hiểu chưa?


− Thế anh sẽ làm gì?


− Anh sẽ là kĩ sư hoặc thủy thủ, còn nếu như ở Ba Lan có chiến tranh, anh sẽ đi đánh nhau như ba anh vậy.


Cô bé hỏi, vẻ lo lắng:


− Thế nhưng rồi anh sẽ trở lại Port Said chứ?


− Trước hết cả hai chúng ta phải trở lại cái đã.


− Về với ba! − Cô bé hòa theo.


Và mắt cô bé nhòa đi bởi nỗi buồn nhớ. May thay, vào lúc ấy, có một đàn vẹt tuyệt đẹp bay tới, thân hình chúng màu xám với cái đầu màu hồng hồng và một mảnh lông màu hồng dưới cánh. Bọn trẻ lập tức quên ngay cuộc nói chuyện vừa rồi để đưa mắt dõi theo chúng.


Đàn chim lượn trên một chòm cây xương khô rồi đậu xuống một cây sung Ai Cập mọc cách đấy không xa, và ngay lập tức, trong đám lá cành liền vang lên tiếng chim nghe giống như những cuộc bàn bạc lắm lời hay một đám cãi nhau.


− Đây là giống vẹt dễ dạy nói nhất. − Staś  bảo. − Giá như chúng mình dừng chân lâu lâu một chút, anh sẽ cố bắt cho em một con.


− Ôi anh Staś ! Cảm ơn anh! − Nel vui sướng đáp − Em sẽ đặt tên cho nó là Đaxi...


Trong lúc đó, Mêa và Kali đã cắt xong mít chất lên lưng ngựa và đoàn bộ hành nhỏ bé lại lên đường. Song sau giờ ngọ, trời lại bắt đầu nhiều mây và chốc chốc lại có một cơn mưa ngắn lướt qua, khiến các hõm đá và khe đá ngập tràn nước. Kali báo trước là sẽ có mưa lớn, nên Staś  chợt nghĩ rằng rất có thể các khe núi đang ngày một hẹp lại sẽ không phải là một chỗ trú đêm đủ an toàn, vì rất có thể nó sẽ biến ngay thành một dòng suối. Do vậy em quyết định sẽ trú đêm trên cao, quyết định đó khiến Nel rất vui sướng, nhất là khi chàng Kali được phái đi thám thính quay trở về báo rằng, cách đây không xa có một khu rừng nhỏ gồm nhiều loại cây khác nhau, trong đó có rất nhiều khỉ nhỏ, trông không xấu xí và quằm quặm như những con vượn mà bọn trẻ gặp cho tới nay.


Do vậy, khi đến được một chỗ vách đá thấp và thoai thoải, bọn trẻ bèn đưa ngựa lên khỏi khe, và trước khi trời tối, chúng đã chuẩn bị được chỗ trú đêm. Chiếc lều của Nel được dựng ở một nơi cao ráo, dưới chân một tổ mối lớn, tổ này che kín hoàn toàn một phía, khiến cho việc làm hàng rào trở nên dễ dàng.


Gần đấy có một cây gỗ khổng lồ có những cành cây xòe rộng với lá cây dày, có thể làm một nơi trú mưa tốt. Phía trước hàng rào chỉ có những bụi cây mọc thưa thớt, còn xa hơn nữa là một khu rừng dày đặc, chằng chịt dây leo, trên đó vút cao lên những ngọn cây của một giống cọ kì dị nào đó, trông tựa như những đuôi công xòe rộng vậy.


Staś  được Kali cho biết rằng trước mùa mưa thứ hai trong năm, nghĩa là vào mùa thu, trú đêm dưới những cây cọ loại ấy là không an toàn, vì những quả cây khổng lồ chín nẫu của chúng có thể bất ngờ rụng xuống từ một chiều cao đáng kể với một sức va đập mạnh đến nỗi có thể giết chết người, thậm chí cả ngựa nữa. Tuy nhiên, bây giờ đây các quả ấy hẵng đang mọc thành chùm, và từ xa trông lại, trước khi mặt trời lặn xuống, có thể thấy rõ những chú khỉ tí xíu đang ẩn hiện dưới những tán cây, đuổi theo nhau bằng những bước nhảy vui vẻ.


Cùng với Kali, Staś  chuẩn bị sẵn một đống củi lớn có thể đủ dùng cả đêm, và vì rằng, chốc chốc, lại nổi lên những cơn gió nóng thổi rất mạnh, nên cả hai củng cố thêm hàng rào bằng những chiếc cọc mà cậu bé da đen dùng kiếm của Gebhr vạt nhọn và đóng xuống đất. Sự thận trọng đó hoàn toàn không thừa chút nào, vì những cơn lốc mạnh rất có thể sẽ phá tung những cành cây gai góc dùng làm hàng rào, giúp cho bọn thú dữ dễ dàng tấn công.


Tuy vậy, ngay sau khi mặt trời lặn, gió lại ngừng, không khí trở nên oi bức nặng nề. Ban đầu, có những vì sao ẩn hiện đây đó trong những kẽ hở giữa các đám mây, nhưng sau đó đêm trở nên đen đặc, đến nỗi cách một bước chân đã không trông thấy gì cả. Những nhà bộ hành trẻ tuổi quây quần chung quanh đống lửa, lắng nghe tiếng chí chóe cãi cọ của lũ khỉ đang họp chợ trong khu rừng lân cận. Phụ họa theo chúng là tiếng tru của bầy lang núi và vô vàn những thanh âm không quen khác, trong đó có thể nhận thấy vẻ lo sợ và hãi hùng trước những gì bóng tối trong rừng hoang che giấu, đe dọa mỗi một sinh vật.


Bỗng nhiên, mọi vật im bặt đi, từ trong những chốn sâu thẳm tối tăm nào đó chợt vang lên tiếng gầm gào của sư tử.


Lũ ngựa vừa nãy gặm cỏ trong khu rừng non cạnh đấy xích lại gần vùng ánh sáng, nhảy cẫng trên các chân trước bị buộc vào với nhau, còn con Saba ngày thường vốn can trường là thế nay cũng dựng đứng cả lông lên, cụp đuôi lại và nép sát vào con người, rõ ràng nó trông đợi ở họ một sự chở che.


Tiếng gầm lại vang lên một lần nữa, dường như vọng lên từ dưới mặt đất, một tiếng gầm sâu thẳm, nặng nề, gắng sức, dường như con vật phải khó khăn lắm mới ép được tiếng gầm thoát ra khỏi buồng phổi lớn của mình. Tiếng gầm trườn sát mặt đất, lúc thì mạnh lên, lúc lại yếu đi, đôi khi chuyển thành những tiếng rên rỉ ồm ồm, câm lặng và buồn thảm.


− Kali! Thêm củi vào đống lửa! − Staś  bảo.


Cậu bé da đen vội vàng ném ngay một ôm cành cây vào đống lửa, làm bốc lên cả hàng chùm tia lửa, sau đó ngọn lửa mới vọt lên cao.


− Anh Staś  này, sư tử không tấn công chúng mình, phải không anh?...


Nel vừa thì thầm vừa kéo tay áo cậu bé.


− Không. Nó không dám tấn công đâu. Em trông, hàng rào cao thế kia cơ mà...


Nói thế, quả thực em tin rằng nguy hiểm không đe dọa cả bọn, nhưng em lại lo sợ cho lũ ngựa, bọn này đang mỗi lúc một nép mình vào hàng rào cây và có thể phá vỡ hàng rào như bỡn.


Trong lúc ấy, tiếng gầm gào đã chuyển thành tiếng rống vang động, khiến cho tất thảy mọi loài sinh vật đều kinh hoàng, còn thần kinh của con người − ngay cả những con người không hề biết sợ hãi là gì − rung lên như những khung cửa kính trong tiếng đại bác gầm xa xa.


Staś  nhìn thoáng qua Nel, trông thấy cái cằm đang run run và cặp mắt ướt nước mắt của cô bé, cậu liền nói:


− Đừng sợ em! Đừng khóc!


Cô bé đáp lại như hồi nào trên sa mạc:


− Em không khóc đâu... chỉ có mắt em ra... mồ hôi! ối! Tiếng kêu cuối cùng ấy bật ra từ miệng cô bé, bởi chính vào lúc ấy, từ phía rừng vang lên một tiếng rống còn mạnh hơn tiếng rống thứ nhất, vì ở đây gần hơn. Lũ ngựa bắt đầu gần như xô đẩy hàng rào, và nếu như không có những cái cọc làm bằng cành cây xiêm gai dài và cứng như thép thì hẳn là chúng đã phá đổ hàng rào rồi. Saba vừa gầm gừ vừa run như dẽ, còn Kali thì lắp bắp:


− Ông chủ! Hai con! Hai con!...


Còn hai con sư tử, cảm thấy sự có mặt của nhau, bèn rống lên liên tục, dàn hợp xướng kinh khủng ấy kéo dài triền miên trong bóng tối, khi con này ngừng thì con kia tiếp tục. Một lát sau, Staś  không còn có thể nhận ra tiếng của chúng phát từ đâu nữa, bởi tiếng vọng cứ dội đi dội lại trong khe núi, vang uôm uôm giữa những khối đá, vang động dưới thấp và trên cao, tràn ngập trong rừng dày và rừng thưa, khiến cho bóng đen đầy ắp tiếng kinh động và sự hãi hùng.


Cậu bé chỉ biết chắc được một điều là mỗi lúc chúng một tiến lại gần. Kali cũng hiểu rằng lũ sư tử đang chạy quanh khu trại, mỗi lúc một khép những vòng hẹp hơn, và rằng chỉ có ánh lửa là còn khiến chúng chưa dám tấn công, đành dùng tiếng gầm rống để biểu lộ sự phẫn nộ và e ngại của chúng mà thôi.


Rõ ràng thằng bé cũng nghĩ rằng nguy hiểm đang đe dọa lũ ngựa vì nó vừa xòe ngón tay ra tính toán và nói:


− Sư tử giết một, giết hai con, không giết hết cả, không giết hết cả đâu!...


− Thêm củi vào! − Staś  nhắc.


Ngọn lửa lại bùng lên sống động, tiếng rống bỗng ngừng bặt. Nhưng Kali chợt ngẩng đầu nhìn lên trời và lắng tai nghe ngóng.


− Cái gì thế? − Staś  hỏi.


− Mưa! − Cậu bé da đen đáp.


Đến lượt Staś  lắng nghe. Những tán cây che kín cái lều và toàn bộ hàng rào nên chưa có giọt mưa nào rơi xuống đất, nhưng ở trên cao nghe rõ tiếng lá xạc xào. Vì bầu không khí oi nồng không hề có một hơi gió nhỏ, nên dễ dàng hiểu được rằng, đó là tiếng mưa đang bắt đầu lay động lá cành.


Tiếng rì rào mỗi lúc một mạnh thêm và một lát sau bọn trẻ trông thấy những giọt nước chảy từ các lá cây xuống, trong ánh lửa nom chúng giống như những viên ngọc to tướng màu hồng. Đúng như Kali báo trước, cơn mưa rào đã bắt đầu. Tiếng rì rào chuyển thành tiếng rào rào. Mỗi lúc nước rơi xuống một nhiều và một lúc sau, những sợi dây nước bắt đầu tuôn xuống từ lá cành.


Đống lửa lụn đi. Kali thêm hàng ôm củi cũng chỉ vô ích. Bên trên, những cành cây ướt chỉ nhả khói mù mịt, phía dưới than kêu xèo xèo, ngọn lửa khi thì lóe lên, khi lại lụn đi.


− Nếu mưa có làm tắt lửa thì hẵng còn hàng rào bảo vệ chúng mình. − Staś  nói cho Nel yên lòng.


Rồi em dắt cô bé vào lều, lấy chăn phủ kín người cô bé, còn em vội vàng bước ngay ra ngoài, bởi những tiếng rống lại vừa nổi lên. Lần này chúng vang lên gần hơn rất nhiều, trong tiếng gầm rống đó nghe như có niềm sung sướng.


Mưa mỗi lúc một mạnh thêm. Những giọt mưa gõ sầm sập trên lá cây nabắc cứng và dậy lên rào rào. Giá như đống lửa không ở ngay dưới tán cây thì đã tắt ngay lập tức, nhưng lúc này thực ra nó cũng chỉ còn tỏa khói là chính, trong đó leo lét những lưỡi lửa mỏng manh màu xanh biếc. Kali đành chịu thua và không tiếp thêm củi vào đống lửa nữa. Ngược lại, nó khoanh một sợi dây thừng xung quanh thân cây và nhờ đó leo lên mỗi lúc một cao hơn.


− Cậu làm gì thế? − Staś  kêu lên.


− Kali leo lên cây.


− Để làm gì? − Cậu bé thét lên, bực mình vì sự ích kỉ của thằng bé da đen.


Một tia chớp kinh hoàng sáng lóe rạch nát bóng tối, tiếng trả lời của Kali bị chìm trong tiếng sấm bất thần làm rung rinh cả bầu trời và khu rừng. Gió lốc đột ngột nổi lên, làm lay động những cành cây, thổi tung trong nháy mắt đống lửa, túm lấy những cục than hãy còn hồng rực nằm dưới tro và mang nó vào phía rừng, kéo theo hàng bó tia lửa.


Bóng tối dày đặc bao trùm lên khu trại. Cơn dông tố nhiệt đới kinh khủng hoành hành trên mặt đất và trên bầu trời. Sấm liền theo sấm, chớp nối theo chớp. Những đường sét đỏ bầm rạch nát bầu trời đen như mực. Trên những phiến đá gần đấy xuất hiện một quả cầu sáng xanh kì lạ, nó lăn dọc theo khe núi, rồi sau đó bùng nổ trong một thứ ánh sáng lóa mắt và một tiếng nổ kinh khủng đến nỗi tưởng chừng các khối đá cũng phải nát vụn thành muôn ngàn mảnh do bị chấn động.


Rồi bóng tối lại bao trùm.


Staś  lo sợ cho Nel, mò mẫm lần vào lều. Được tổ mối và cái thân cây khổng lồ che đỡ, túp lều vẫn hãy còn đứng được, nhưng chỉ cần một cơn lốc mạnh đầu tiên nào đó cũng có thể rứt đứt dây chằng và mang chiếc lều đi tới tận cuối đất cùng trời. Mà gió lốc lúc thì yếu đi, lúc lại giật lên với một sức mạnh cuồng bạo, mang theo những đợt sóng nước mưa cùng hàng thúng lá và cành cây gãy từ khu rừng cạnh đấy. Staś  cảm thấy tuyệt vọng. Em không biết nên để Nel lại trong lều hay đưa cô bé ra ngoài. Nếu để trong lều thì cô bé rất có thể sẽ bị vướng dây nhợ và bị cuốn đi cùng với những cuộn vải bạt, còn nếu đưa ra khỏi lều thì Nel bị ướt, đồng thời cũng có thể sẽ bị cuốn đi, bởi lẽ bản thân Staś  − người mạnh hơn hẳn Nel mà cũng phải vất vả lắm mới đứng vững chân nổi.


Chính cơn lốc đã quyết định vấn đề, vì một giây sau đó đã cuốn bay nóc lều đi mất. Vách lều bằng vải không còn có thể che chở ai được nữa. Chẳng còn cách nào khác, phải chờ cho cơn dông tạnh đi, giữa bóng tối mịt mùng, trong khi đó hai con sư tử đang lởn vởn xung quanh.


Staś  đồ rằng có lẽ cả chúng cũng phải ẩn tránh mưa to trong khu rừng gần đấy, nhưng em chắc khi ngớt mưa chúng sẽ lập tức quay trở lại. Tình thế càng nghiêm trọng hơn vì gió lốc đã phá sạch sành sanh hàng rào gai.


Tất cả những cái đó đe dọa cả bọn sẽ bị chết đến nơi. Khẩu súng của Staś  không thể làm gì được. Nghị lực của em cũng thế. Trước bão tố, sấm sét, gió mạnh, mưa rào, bóng đêm, trước những con sư tử có thể đang phục sẵn chỉ cách đấy vài bước chân, em cảm thấy hoàn toàn bất lực và không chút vũ khí tự vệ. Bị giằng xé bởi gió lốc, vách lều vải ướt sũng giội nước vào các em từ bốn phía, Staś  quàng vai Nel, dìu Nel ra khỏi lều, rồi cả hai áp sát vào thân cây nabắc chờ đợi cái chết đến hoặc chờ Thượng đế rủ lòng thương.


Chính vào lúc đó, giữa hai cơn gió giật, trong tiếng mưa rơi sầm sập, văng vẳng tới tai hai trẻ tiếng gọi của Kali:


− Ông lớn, lên cây, lên cây đi!


Đồng thời một đầu dây thừng ướt lướt thướt dòng từ trên cao xuống chạm vào vai cậu bé.


− Buộc lấy cô bé, Kali sẽ kéo lên! − Cậu bé da đen kêu lên tiếp.


Staś  không ngần ngừ một giây. Em lấy vải đệm quấn xung quanh người Nel cho dây thừng khỏi siết vào thân cô bé, rồi buộc dây thừng vòng quanh thắt lưng cô bé, dùng hai tay nâng bổng cô lên cao và gọi:


− Kéo!


Những cành đầu tiên của cây mọc khá thấp, nên cuộc hành trình trong không khí của Nel chỉ kéo dài không lâu. Bằng hai cánh tay mạnh mẽ của mình, Kali đỡ lấy cô bé, đặt vào giữa thân cây và một cành cây to tướng, nơi có thể đủ chỗ cho nửa tá sinh linh nhỏ bé như Nel. Không có cơn gió nào có thể thổi bay cô bé đi khỏi chỗ ấy nữa. Thêm vào đó, mặc dù nước đang chảy dọc thân cây, nhưng cái thân cây to hơn mươi bộ ít nhất cũng có thể che cho cô bé tránh khỏi những đợt sóng nước mưa mới do gió lốc tạt xiên vào.


Sau khi đã bố trí chỗ ngồi an toàn cho cô bé, cậu bé da đen lại thả dây xuống cho Staś , nhưng vị thuyền trưởng này, người cuối cùng chịu rời khỏi con tàu đắm, lại ra lệnh kéo Mêa lên trước.


Kali hoàn toàn không phải kéo cô bé vì chỉ trong nháy mắt cô bé đã bám dây thừng leo lên thoăn thoắt, thành thạo và khéo léo như chị em ruột của loài vượn vậy. Staś  thì vất vả hơn, nhưng vốn là vận động viên thể thao tốt, em hoàn toàn có thể thắng được trọng lượng bản thân cùng với khẩu súng và hơn chục viên đạn đựng đầy trong túi.


Thế là bộ bốn đã tụ họp đông đủ trên cây.


Dù trong tình thế nào, Staś  cũng đã quen với việc trước tiên phải lo cho Nel, lúc này cũng thế, em kiểm tra xem cô bé có thể bị ngã hay chăng, liệu chỗ ngồi có đủ rộng không và liệu cô bé có thể ngả lưng được chăng. yên tâm về chuyện đó rồi, em mới bắt đầu vắt óc nghĩ cách chống mưa cho cô bé. Nhưng không có cách nào cả. Giá là ban ngày thì còn dễ dựng cho cô bé một cái mái gì đó che đầu, nhưng lúc này đây, bóng đêm đang dày đặc đến nỗi bọn trẻ hoàn toàn không trông thấy nhau.


Nếu như cơn dông tạnh đi và có thể đốt lên chút lửa, có thể hong khô quần áo cho Nel thì hay quá. Staś  bắt đầu nghĩ rằng, bị ướt đến tận da như thế này, hẳn ngày mai cô bé sẽ bị trận sốt rét đầu tiên tấn công cho mà xem.


Cậu e ngại rằng gần sáng, sau cơn dông, trời sẽ trở lạnh như đêm trước. Tuy vậy, cho tới lúc này, gió giật vẫn là gió nóng, và mưa như bị hâm nóng vậy. Staś  chỉ ngạc nhiên vì sự dai dẳng của cơn mưa, bởi em biết rằng những cơn dông vùng nhiệt đới càng dữ dội bao nhiêu lại càng chóng qua bấy nhiêu.


Mãi một lúc lâu sau sấm mới im dần, gió dịu bớt, mưa tuy đã kém phần nặng hạt hơn trước, song vẫn dày đến nỗi tán lá cây nabắc không còn có thể che chở gì cho bọn trẻ nữa. Từ phía dưới vang lên tiếng nước réo ào ào, dường như cả khu rừng đã biến thành một cái hồ vậy. Staś  nghĩ thầm rằng hẳn là chúng không thể thoát chết nếu còn ở trong khe núi. Em cũng rất đau lòng khi nghĩ tới số phận của Saba, nhưng không dám nói chuyện với Nel. Em vẫn còn hi vọng rằng con chó thông minh sẽ tìm được chỗ trú an toàn trong những khối đá nhấp nhô trên bờ khe núi. Song em không có cách nào đến cứu con chó cả.


Bọn trẻ đành ngồi bên nhau trên những cành cây xòa ra nhiều phía, chịu ướt và chờ đợi bình minh. Mãi vài tiếng đồng hồ sau, không khí mới bắt đầu se lạnh và mưa mới chịu ngừng. Nước hẳn là cũng đã chảy xuôi hết xuống những chỗ trũng vì không còn nghe thấy tiếng nước lõm bõm và lao xao nữa. Từ mấy hôm trước, Staś  đã để ý thấy Kali biết nhóm lửa ngay cả bằng những cành củi ướt, nên em định bảo cậu bé da đen tuột xuống đất và thử xem có nhóm được chăng. Nhưng đúng vào lúc em quay sang phía thằng bé thì xảy ra một chuyện khiến cho máu dường như đông lại trong huyết quản của bốn đứa trẻ.


Sự im lặng sâu thẳm của đêm bỗng bị rách toạc ra bởi tiếng ngựa hí kinh hoàng, khủng khiếp, đầy đau đớn, hãi hùng và tuyệt vọng trước cái chết. Trong bóng tối có cái gì đó lăn lộn, tiếng thở khò khè cụt lủn, tiếng rên rỉ câm lặng, tiếng thở hổn hển, tiếng hí lần nữa, còn kinh khủng hơn rồi sau đó tất cả im lặng trở lại.


− Sư tử, ông lớn ơi! Sư tử đang giết ngựa! − Kali thì thào.


Có cái gì đó thật kinh khủng trong cuộc tấn công ban đêm, trong sự hoành hành của loài quái vật và trong sự giết chóc bất thần những con vật không chút tự vệ này, khiến cho Staś  thoáng hãi hùng và quên mất khẩu súng. Nhưng nói cho cùng thì bắn trong bóng tối dày đặc này để được cái gì cơ chứ? Cùng lắm chỉ khiến cho bọn dã thú phải sợ ánh lửa và tiếng súng mà bỏ lại những xác ngựa đã bị giết để đuổi theo những con ngựa còn sống sót đang chạy hoảng loạn đi cách xa trại, nếu như những cặp chân bị trói giằng có thể cho phép chúng chạy xa.


Staś  rùng mình nghĩ đến những gì có thể xảy ra nếu như cả bọn còn ở lại dưới kia. Nép chặt vào người em, Nel đang run lên cầm cập như bị cơn sốt rét đầu tiên; dù sao cây gỗ cao ít ra cũng đã tránh cho chúng khỏi bị dã thú tấn công. Nói đúng ra, chính Kali đã cứu cả bọn thoát chết.


Đó thật là một đêm kinh khủng − kinh khủng nhất trong toàn bộ cuộc hành trình.


Cả bọn ngồi nép như những con chim bị ướt hết lông trên cành cây, lắng nghe những gì đang diễn ra bên dưới. Phía dưới im lặng được một lúc, nhưng chỉ lát sau lại vang lên tiếng gầm gừ, vẳng tiếng gì như tiếng nhai tóp tép, tiếng chép lưỡi khi rứt từng miếng thịt, cùng tiếng thở hào hển và tiếng ầm ào của những con quái vật.


Mùi thịt tươi và mùi máu xộc lên đến tận cây, vì lũ sư tử mở tiệc cách hàng rào không quá hai mươi bước chân.


Bọn chúng tiệc tùng lâu đến nỗi cuối cùng khiến Staś  phát khùng lên. Em tóm lấy khẩu súng và nổ về hướng những tiếng động đó.


Nhưng đáp lại em chỉ có tiếng rống đứt đoạn đầy giận dữ, sau đó vang lên tiếng xương gãy răng rắc trong những bộ răng khỏe mạnh. Trong đêm thẳm sáng lên những cặp mắt màu xanh lét và đỏ đọc của lũ linh cẩu cùng lang núi đang chờ tới lượt chúng.


Và cứ thế, những giờ phút của cái đêm dài dằng dặc ấy trôi đi.


(còn tiếp)


Nguồn: Trên sa mạc và trong rừng thẳm. Tiểu thuyết của Henryk Sienkiewicz. Nguyễn Hữu Dũng dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan. NXB Văn học in nhiều lần. NXB Hội Nhà văn in lần thứ 25 kỷ niệm 100 năm ngày tác giả từ trần (1916-2016).


www.trieuxuan.info







[1]  Mỗi dặm Anh (đường bộ) bằng 1.609,344 mét.




[2]  Cali nói sai ngữ pháp hoàn toàn, ở đây, trong chừng mực có thể, chúng tôi cố gắng diễn đạt sự thô sơ trong ngôn ngữ cậu bé .


 




 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 11.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
xem thêm »