tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21055871
Tiểu thuyết
18.11.2016
Henryk Sienkiewicz
Quo Vadis



CHƯƠNG 44


Quầng lửa của thành phố đang rực cháy lan khắp bầu trời rộng đến hết tầm mắt nhìn. Từ sau những ngọn đồi, vầng trăng rằm tròn ủng to tướng nhô lên, dường như bị ánh lửa hun nóng, nhuốm màu đồng nung và hình như ngơ ngác nhìn cái thành đô bá chủ thế giới đang bị thiêu huỷ. Trên khoảng mênh mông nhuốm hồng của bầu trời, long lanh những vì sao cũng màu hồng, song ngược với những đêm thông thường, đêm nay đất sáng hơn trời. Mang hình một đống lửa khổng lồ rực cháy, Roma soi sáng cả vùng Kampania. Trong ánh lửa đỏ bầm nhìn rõ cả những ngọn đồi xa hơn nữa của thành phố, những toà biệt thự, những thần miếu, những pho tượng và những đường máng dẫn nước từ những ngọn núi lân cận hướng về thành phố; trên những đường máng nước ấy nghìn nghịt những người là người, họ đang tìm chỗ náu thân ở đó hoặc đến đó để nhìn đám cháy.


Trong khi đó, hung thần lửa kinh khủng mỗi lúc lại chiếm lĩnh thêm những khu phố mới. Không còn nghi ngờ gì nữa, có những bàn tay tội ác nào đó đã đốt cháy thành phố, vì mỗi lúc lại có thêm những đám cháy mới bùng lên ở những địa điểm cách trung tâm đám cháy chính rất xa. Từ những ngọn đồi, trên đó thành Roma được dựng lên, ngọn lửa như những làn sóng biển tràn xuống các vùng thung lũng; nơi dày xít những ngôi nhà năm sáu tầng, đầy nghẹt những nhà gỗ, những lều quán, những khán đài lưu động bằng gỗ được dựng lên cho thích ứng với những trò chơi đủ loại, và rốt cuộc là những kho chứa gỗ, dầu ôliu, ngũ cốc, hồ đào, quả thông mà hạt được dùng để nuôi sống đám dân nghèo, cùng những kho quần áo mà thảng hoặc khi các vị hoàng đế muốn ban ơn, người ta lại đem phân phát cho đám tiện dân sinh sống trong các ngõ hẻm chật chội. Chính ở đó, ngọn lửa tìm được đủ chất cháy để biến thành hàng tràng tiếng nổ gần như liên tiếp, và với một tốc độ chưa từng thấy, nó ngốn trọn từng đường phố một. Những người đang hạ trại ở ngoại thành hoặc đang đứng trên các máng dẫn nước dựa theo màu lửa mà đoán được đang cháy thứ gì. Chốc chốc, hơi gió điên cuồng lại mang từ biển lửa rừng rực tung lên cao hàng nghìn hàng triệu những quả hồ đào và hạnh nhân đang cháy đỏ, chúng vọt lên trời như một đàn bướm rực rỡ đông không tính xuể, và vỡ toác ra với những tiếng kêu giòn giã trong không khí, hay cuốn theo chiều gió để rồi rơi xuống những khu phố mới, những đường máng nước hay những cánh đồng vây quanh thành phố. Mọi ý định cứu hỏa đều có vẻ vô vọng, trong khi đó sự xáo động mỗi lúc một tăng thêm, vì một bên đám thị dân đang chạy trốn cố vượt tất cả các cổng thành để ra ngoài, còn một bên thì đám cháy lại thu hút hàng nghìn người từ những vùng lân cận, những cư dân của những thị trấn nhỏ, những nông dân cùng các mục dân nửa phần hoang dã của vùng đồng bằng Kampania, bọn này thậm chí còn hy vọng cướp của nữa.


Tiếng kêu la: "Roma đang tận số!" không rời khỏi miệng đám đông, mà sự tận số của thành đô, vào thời ấy, cũng đồng thời là sự tận số của quyền thống trị, sự tháo cởi của tất thảy những riềng mối cho đến nay vẫn ràng buộc dân chúng thành một khối. Đám tiện dân, mà đa số là nô lệ và người tứ xứ kéo đến, không có lợi lộc gì trong sự thống trị của đế quốc La Mã, sự sụp đổ của nó đối với họ lại là sự giải thoát khỏi xiềng xích, nên đây đó họ trở thành mối đe dọa. Bạo lực và cướp bóc bắt đầu lan tràn. Dường như duy nhất chỉ còn cảnh thành phố bị thiêu huỷ là có thể thu hút sự chú ý của mọi người và có thể kìm hãm chưa để nổ ra cuộc tàn sát sẽ nổ ra ngay lập tức sau khi thành phố chỉ còn là đống tro tàn. Hàng trăm nghìn nô lệ chợt quên đi rằng ngoài các thần miếu và những bức tường thành La Mã còn hàng chục chiến đoàn đóng khắp nơi trên thế giới - dường như họ chỉ chờ có khẩu lệnh và thủ lĩnh là ra tay. Người ta nhắc đến tên tuổi Xpactakux, song Xpactakux còn đâu nữa, dân chúng bắt đầu tập hợp và tự vũ trang bằng tất cả những gì họ kiếm được. Những tin tức kinh khủng nhất lan truyền khắp các cổng thành. Một số người khăng khăng bảo rằng chính thần Vunkan theo lệnh của thần vương Jupiter đang triệt phá thành phố bằng ngọn lửa lấy dưới âm ty; kẻ khác lại nói rằng đó là nữ thần Vexta trả thù về chuyện ni cô đồng trinh Rubria. Những người tin vào chuyện đó không muốn cứu chữa gì hết, họ chỉ vây quanh các thần miếu cầu xin các vị thần linh thương xót. Song loan truyền rộng rãi hơn cả là dư luận cho rằng chính Hoàng đế đã ra lệnh đốt cháy Roma để thoát khỏi mùi xú uế bay lên từ khu Xubura và để có thể dựng nên một thành đô mới mang tên Norônia. Ý nghĩ này khiến dân chúng sôi lên sùng sục. Vinixius nghĩ rằng, nếu như có lãnh tụ nào lợi dụng sự bùng nổ lòng căm thù này, thì giờ tận số của Nero sẽ điểm sớm hơn nhiều năm.


Người ta cũng đồn rằng Hoàng đế đã phát điên, ra lệnh cho lính cấm vệ và bọn đấu sĩ đánh vào quần chúng, tàn sát tất cả. Một số người viện cả thần thánh ra thề rằng theo lệnh của gã Râu Đỏ, thú dữ đã được thả sổng ra khỏi tất cả các chuồng thú. Người ta đã nhìn thấy trên phố những con sư tử với cái bờm rực cháy và những con voi điên, những con bò tót giày xéo lên dân chúng. Trong những điều đó cũng có một phần sự thật, vì tại một số nơi, trước cảnh đám cháy đang lan lại gần, lũ voi phá tan chuồng thú thoát ra ngoài và kinh hoàng chạy thục mạng về hướng ngược với ngọn lửa, như một cơn bão tàn phá tất cả mọi thứ dọc đường. Những tin tức công khai nói rằng hàng chục người chết cháy trong lửa. Quả thực người chết rất nhiều. Có những người mất toàn bộ gia sản hoặc mất hết những sinh linh thân yêu nhất, tuyệt vọng tự lao mình vào ngọn lửa. Những kẻ khác bị khói làm chết sặc. Ở trung tâm thành phố, một bên là đồi Kapiton, một bên là các ngọn đồi Quirynan, Viminan và Exquilin, cũng như vùng nằm giữa Palatyn và đồi Caelius, nơi có những đường phố sầm uất nhất, đám cháy bùng ra cùng một lúc tại nhiều địa điểm, đến nỗi hàng đám người chạy trốn lửa về một phía nào đấy bất ngờ gặp phải một bức tường lửa lan từ phía ngược lại đành chịu chết kinh hoàng trong biển lửa.


Trong nỗi kinh hoàng, hoang mang và lộn xộn, rốt cuộc người ta không còn biết phải chạy đi đâu. Đường nghẽn đầy đồ đạc, tại những chỗ vốn hẹp, đường hoàn toàn tắc nghẽn. Những người trốn lửa tại Bãi Chợ và những quảng trường, nơi về sau này sẽ xây dựng nhà hát Flavian, gần miếu thờ Thần Đất, gần hàng hiên Livia và phía trên cao hơn nữa, chung quanh Thần miếu Junon và Luxyna, cũng như giữa Clivux Vibriux và cổng thành Exquilin cũ, bị hàng rào biển lửa vây kín chung quanh, đều bị chết hết vì nóng. Về sau, ngay tại những chỗ mà ngọn lửa không lan đến, người ta tìm thấy xác hàng trăm người bị hoá thành than, mặc dù đây đó những kẻ bất hạnh ấy đã nhổ bật các phiến đá hoặc tự chôn đến nửa người xuống đất để tránh cái nóng. Gần như không một gia đình nào ở trung tâm thành phố được cứu thoát hoàn toàn, vì vậy dọc theo các tường thành và bên tất cả mọi cổng thành, trên mọi nẻo đường đi đều vang lên tiếng gào thét tuyệt vọng của đàn bà gọi tên những người thân yêu bị chết mất xác trong đám đông hay ngọn lửa.


Và cứ thế, trong khi một số người cầu xin lòng thương hại của các vị thần thì những kẻ khác lại nhục mạ các thần trước thảm họa khủng khiếp này. Người ta thấy những cụ già quay về phía thần miếu Jupiter Xtator vung tay thét lên: "Người là đấng độ thế, hãy cứu vớt lấy bàn thờ của Người và thành đô đi!". Tuy nhiên, nỗi tuyệt vọng chủ yếu quay ngược trở lại chống các vị thần La Mã cổ xưa, những vị mà theo người ta quan niệm, phải có trách nhiệm chăm lo chu đáo hơn đến thành phố so với các thần khác. Họ đã tỏ ra bất lực nên phải bị người ta nguyền rủa. Ngược lại, khi trên đường phố Via Arinavia xuất hiện một đoàn các tăng lữ Ai Cập rước pho tượng nữ thần Izyđa mà người ta cứu được trong cái thần miếu nằm cạnh Porta Caelimontan, thì dân chúng liền nhập vào đám rước, bám vào xe và đẩy nó đến tận cổng thành Appia, rồi nhấc tượng ra, rước vào đặt trong thần miếu thờ thần Marx, đồng thời nện cho các vị tăng lữ thờ thần Marx một trận khi họ định cưỡng lại. Tại những nơi khác người ta gọi tên các thần Xerapix, Baan hoặc Jehova. Đám tín đồ của các vị thần này sống đầy rẫy trong các ngõ hẻm thuộc địa hạt khu Xubura và Zatybre, khiến cho những cánh đồng nằm cạnh tường thành vang rền tiếng gào, tiếng kêu. Song trong những tiếng kêu ấy hình như vang lên thanh âm thắng lợi, nên khi có một đám người góp giọng vào dàn đồng ca ngợi ca vinh quang của đấng "Chúa tể thế gian", thì những người khác bực mình vì sự ồn ào vui vẻ kia liền dùng sức mạnh dập tắt nó đi. Đây đó vang lên những bài ca kỳ lạ và trang trọng do những người đàn ông tráng niên, đàn bà, trẻ con và những cụ già hát, người ta không hiểu được ý nghĩa của những bài ca đó, song trong đó cứ chốc chốc lại lặp lại những lời: "Đang đến kia vị quan toà trong cái ngày giận dữ và thảm thương". Làn sóng người sôi động và không ngủ, như mặt biển nổi sóng cồn, cứ thế quay cuồng mãi quanh cái thành phố đang cháy.


Song không gì cứu vãn nổi, cả những lời thoá mạ, nỗi tuyệt vọng lẫn những bài ca. Thảm họa này dường như Định Mệnh, không sao cưỡng nổi, không thể van xin, một thảm họa hoàn toàn. Gần nhà hát Pompeius bốc cháy những kho chứa gai và dây chão mà người ta cần dùng rất nhiều cho các hý trường, các đấu trường và tất thảy mọi loại máy móc được sử dụng trong các trò vui thế vận, bốc cháy cả những toà nhà lân cận, nơi chứa các thùng nhựa dùng để bôi trơn các dây chão kia. Suốt mấy giờ liền, toàn bộ phần thành phố nằm cạnh cánh đồng thần Marx được một ngọn lửa vàng tươi rực rỡ chiếu sáng, đến nỗi suốt một hồi lâu, những người xem nửa mê nửa tỉnh vì kinh hoàng ngỡ rằng trong cơn hoạn nạn chung này, ngay cả trật tự ngày đêm cũng bị đảo lộn, họ ngỡ như đang nhìn thấy ánh mặt trời. Song sau đó, một ánh sáng đỏ bầm màu máu đã át tất cả những màu lửa khác. Dường như có những vòi lửa và những cột lửa khổng lồ vọt lên bầu trời đã bị nung nóng bỏng, xoè rộng trên cao thành những chùm lông và hoa lửa, gió xé chúng ra biến thành những sợi chỉ vàng và những sợi tóc lửa, rồi mang mãi đi xa bên trên vùng đồng bằng Kampania, đến tận dãy núi Anban. Đêm mỗi lúc một sáng thêm, ngay cả không khí không những chỉ chứa đầy ánh lửa mà thậm chí đầy những ngọn lửa. Sông Tyber chảy trôi đi như một dòng lửa sống động. Thành phố bất hạnh biến thành một địa ngục. Đám cháy mỗi lúc một chiếm lĩnh những khoảng không gian rộng lớn hơn, tấn công những ngọn đồi, tràn ngập vùng đồng bằng, nhận chìm các thung lũng, điên cuồng, gào thét và thiêu huỷ.


 


CHƯƠNG 45


Người thợ dệt Makrynux, chủ ngôi nhà mà người ta mang chàng Vinixius vào, rửa ráy, mặc quần áo cho Vinixius và cho chàng ăn, sau đó chàng hộ dân quan trẻ tuổi ấy lấy lại sức hoàn toàn, chàng tuyên bố rằng ngay trong đêm ấy chàng sẽ tiếp tục đi tìm ông Linux. Ông Makrynux, một Kito hữu cũng khẳng định lại lời lão Khilon, rằng cùng với thầy tu tuổi tác tên là Klemenx, ông Linux đã tới Oxtrianum, nơi Sứ đồ Piotr rửa tội cho một đám đông các tín đồ của giáo thuyết mới. Những người Kito giáo trong khu phố này được biết rằng ông Linux giao quyền quản lý nhà ông cho một người tên là Gaiux nào đó đã từ hai hôm nay. Đối với chàng Vinixius, điều đó là bằng chứng chứng tỏ rằng Ligia và bác Urxux không có mặt ở nhà và chắc chắn họ cũng đã cùng ông Linux đi tới Oxtrianum rồi.


Ý nghĩ ấy khiến chàng nhẹ cả người. Là một người già nua tuổi tác, ông Linux khó có thể hàng ngày đi bộ từ khu Zatybre ra mãi khu vực bên ngoài cổng thành Nomentan, rồi từ đó lại trở về Zatybre, nên chắc hẳn mấy ngày đó ông đã lưu lại ở nhà một trong số các đạo hữu bên ngoài thành, và cùng với ông có cả Ligia và bác Urxux nữa. Nhờ vậy họ đã thoát được hỏa hoạn, và đám cháy nói chung cũng không lan sang sườn bên kia của ngọn đồi Exquilin. Vinixius ngỡ như trong tất cả những sự việc đó có sự an bài của Chúa Crixtux; chàng cảm thấy sự bảo trợ của Người đối với chính bản thân chàng, và với trái tim tràn ngập hơn bao giờ hết lòng biết ơn, chàng thầm hứa với Người trong tâm tưởng rằng suốt đời chàng sẽ báo đền ơn Người trước những bằng chứng hiển nhiên của những ân phước kia.


Tuy nhiên chính điều ấy càng khiến chàng nóng lòng muốn đi ngay tới Oxtrianum. Chàng sẽ tìm được Ligia, tìm được ông Linux, ông Piotr và sẽ đưa họ về một miền xa xôi nào đó, đến một mảnh đất nào đó của riêng chàng, thậm chí đến tận Xyxilia. Roma đang cháy và sau vài ngày nữa nó sẽ chỉ còn là một đống tro tàn, vậy họ còn ở lại đây làm gì trước thảm họa và đám người đang náo động? Nơi ấy họ sẽ sống giữa những đám nô lệ bị đày ải, nơi ấy họ sẽ được vây bọc giữa sự yên ả của làng quê và sẽ sống thanh bình dưới đôi cánh che chở của Chúa Crixtux, họ sẽ được ông Piotr ban phước lành. Chỉ cần tìm ra họ nữa mà thôi.


Nhưng đó không phải là chuyện dễ. Vinixius vẫn còn nhớ rõ chàng đã phải vất vả thế nào mới lần được từ đường Via Appia tới khu Zatybre, chàng đã phải chật vật biết bao mới tới được con đường Portova, nên giờ đây chàng quyết định sẽ đi vòng thành phố theo phía bên kia. Đi theo đường Khải Hoàn, dọc theo sông, có thể đến được tận cầu Emilius, từ đó, bỏ qua Pinxiux, xuôi cánh đồng thần Marx, men theo các khu vườn Pompeius, Lukullo và Xaluxtius, có thể đến được Via Nomentan. Đó là con đường ngắn nhất, song cả ông Makrynux lẫn lão Khilon đều khuyên không nên đi theo đường ấy. Cho tới lúc này, ngọn lửa chưa lan tới khu này của thành phố, nhưng tất cả các Bãi Chợ và đường phố đều có thể bị tắc nghẽn vì người và các thứ đồ đạc của họ. Lão Khilon khuyên nên đi qua Ager Vatykanux đến tận Porta Flaminia, tới đó sẽ vượt sông, rồi tiếp tục đi dọc bên ngoài tường thành, bên ngoài khu vườn Axylius, về phía Porta Xalaria. Sau một lúc ngần ngừ, Vinixius đồng ý với lời khuyên ấy.


Ông Makrynux phải ở lại để canh nhà, song ông đã cố tìm được hai con la mà họ có thể dùng để lên đường tiếp tục đi tìm Ligia. Ông cũng định cấp thêm cho một người nô lệ nữa đi cùng nhưng Vinixius từ chối, vì chàng nghĩ rằng toán quân cấm vệ đầu tiên mà chàng gặp được trên đường đi sẽ tuân theo lệnh chàng, giống như lần vừa rồi.


Lát sau, cùng với lão Khilon, chàng lên đường vượt qua Pagux Janiculenxix về hướng đường Khải Hoàn. Ngay cả tại đây, những chỗ trống cũng đã biến thành khu hạ trại, tuy nhiên họ vẫn len qua được, ít vất vả hơn, vì phần lớn dân chúng chạy trốn theo đường Portova dồn về phía biển. Qua cổng Xeptymian họ đi dọc con đường nằm giữa dòng sông và những khu vườn Đomixia tuyệt đẹp, những cây trắc bá của nó bị đám cháy hắt ánh đỏ rực trông như nhuộm trong ráng chiều. Đường mỗi lúc một thoáng người hơn, chỉ thảng hoặc họ mới phải đương đầu với dòng dân đi ngược lại mà thôi. Vinixius thúc la đi nhanh hết sức, còn lão Khilon theo sau chàng suốt dọc đường cứ lầm bầm tự nhủ:


"Thế là đám cháy đã nằm lại phía sau và đang làm nóng rát lưng ta. Chưa bao giờ trên con đường này ban đêm lại sáng tỏ đến thế. Lạy thần Zeux! Nếu Người không trút mưa rào xuống dập tắt đám cháy này thì điều đó có nghĩa là Người không còn yêu gì Roma nữa cả. Sức người không thể dập nổi đám cháy nhường kia. Cả một thành đô được cả Hy Lạp lẫn toàn thế giới phụng sự kia mà! Ấy vậy mà giờ đây bất kỳ một tên Hy Lạp nào cũng có thể nướng đậu trong đám tro than của thành phố! Ai ngờ được chuyện ấy kia chứ!... Sẽ không còn Roma và sự thống trị của La Mã nữa rồi... Khi đám tro tàn này nguội đi, kẻ nào muốn dẫm lên và huýt sáo sẽ được bình an mà huýt sáo tuỳ thích. Lạy các thần linh! Huýt sáo giễu cả cái thành đô thống trị thế giới thế này! Kẻ nào trong đám dân Hy Lạp hay ngay cả bọn dân man rợ nữa lại có thể ngờ được điều ấy?... Vậy mà hắn có thể cứ huýt sáo, bởi vì đám tro tàn dù là còn lại sau đống lửa của bọn mục đồng hay sau một thành phố đã bốc cháy thì cũng chỉ là một đống tro tàn, chóng hay chầy rồi gió cũng thổi tung hê đi hết mà thôi".


Vừa lầm bầm, thỉnh thoảng lão lại vừa quay nhìn về phía sóng lửa với bộ mặt vừa vui mừng vừa dữ tợn. Rồi lão lại lẩm bẩm tiếp:


"Nó đang chết! Đang chết! Sẽ không còn có nó trên mặt đất nữa. Giờ thì thế giới biết gửi đi đâu ngũ cốc, ôliu và tiền bạc của mình kia chứ? Ai sẽ cướp bóc vàng và ép ra những giọt nước mắt của thế giới? Cẩm thạch tuy không cháy nhưng sẽ nát vụn ra trong lửa. Kapiton thành gạch vụn và Palatyn đang thành gạch vụn. Hỡi thần Zeux! Roma vốn là mục đồng mà các dân tộc khác như đàn cừu. Khi mục đồng đói lòng, hắn chọc tiết một con cừu, chén thịt nó và dâng lên Người tấm da, hỡi vị cha đẻ của tất thảy các thần! Còn giờ đây, hỡi vị thần Dồn Mây Mù, ai sẽ chọc tiết cừu cho Người, Người biết trao chiếc roi chăn dắt vào tay ai đây? Bởi Roma đang cháy thưa cha, như chính Người đã dùng sét của Người thiêu cháy vậy".


- Quàng lên! - Vinixius giục lão - Ngươi làm gì thế?


- Tôi đang khóc thương Roma, thưa ông chủ - lão Khilon đáp - một thành đô thần vương như thế!(1)...


Hồi lâu họ cứ đi trong im lặng, lắng nghe tiếng gầm réo của đám cháy và tiếng xao động của những cánh chim. Giống bồ câu vốn làm tổ hàng đàn hàng lũ trong những toà biệt thự và những thị trấn khắp vùng Kampania, cùng đủ loại chim đồng, từ biển và từ vùng núi lân cận, bay hàng đàn như đui như mù lao vào đám lửa, chắc hẳn chúng tưởng nhầm ánh lửa cháy là ánh sáng mặt trời.


Vinixius là người đầu tiên phá vỡ im lặng:


- Khi đám cháy bùng nổ, ngươi đang ở đâu?


- Tôi đang đến thăm ông bạn Euryxius, thưa ông chủ, ông ta đang giữ một quầy hàng cạnh Đại Hý trường. Tôi đang suy ngẫm về giáo thuyết của đức Chúa Crixtux, thì vừa lúc người ta bắt đầu kêu lên: "Cháy!". Người ta tụ tập chung quanh hý trường vừa để cứu hỏa vừa vì tò mò, nhưng đến khi ngọn lửa trùm lên cả hý trường, đồng thời lại xuất hiện ở một vài nơi khác, thì người ta phải nghĩ ngay tới chuyện tự cứu lấy bản thân.


- Ngươi có trông thấy những kẻ ném đuốc đang cháy vào các nhà không?


- Có gì mà mắt tôi không thấy, hỡi cháu nội của ngài Eneas! Tôi đã trông thấy người ta dùng gươm để dọn đường trong đám đông; tôi đã trông thấy những đám đánh nhau và gan ruột người bị dẫm đạp nhầy nhụa trên đường. Ôi, thưa ngài, giá ngài nhìn thấy cái đó hẳn ngài ngỡ rằng bọn man rợ đã chiếm lĩnh được thành phố và đang tàn sát. Bốn chung quanh người ta gào lên rằng đã tới hồi tận thế mất rồi. Một số kẻ hoàn toàn mất tinh thần, không còn muốn trốn chạy và chờ đợi một cách vô hồn cho đến khi ngọn lửa ngoạm lấy chúng. Bọn khác điên khùng lên, bọn khác nữa hú hét lên vì tuyệt vọng, song tôi cũng trông thấy cả những kẻ hú hét lên vì sung sướng, bởi vì, thưa ngài, trên đời này có biết bao kẻ đốn mạt, không hề biết đánh giá đúng cái tốt đẹp của sự thống trị an bình của chúng ta và của những quyền chính đáng, cho phép các ngài được tước đoạt hết của tất cả mọi người những gì họ có thể chiếm làm của mình. Loài người không biết sống hoà hợp với ý chí các vị thần linh!


Quá bận tâm tới những ý nghĩ riêng tư, Vinixius không nhận thấy sự châm chọc rung ngân trong những lời của lão Khilon. Cơn rùng mình kinh hoàng chạy xuyên dọc suốt người chàng khi nghĩ rằng Ligia có thể rơi vào đám hỗn loạn đó, trên những phố xá kinh khủng đó, nơi người ta chà đạp lên ruột gan của con người. Vậy nên mặc dù đã tới mười lần chàng hỏi lão Khilon về tất thảy những gì lão có thể biết, chàng vẫn còn quay lại hỏi lão lần nữa:


- Vậy nhưng chính mắt ngươi đã trông thấy họ tại Oxtrianum chứ?


- Tôi đã trông thấy, thưa con trai của nữ thần Venera, tôi đã trông thấy nàng trinh nữ, bác Ligi tốt bụng, ông Linux thánh thiện và đức Sứ đồ Piotr.


- Trước khi có đám cháy chứ?


- Trước đám cháy, hỡi Mitro!


Song trong lòng chàng Vinixius lại nảy sinh lòng ngờ vực, không hiểu lão Khilon có bịa chuyện không, chàng bèn kìm con la, nhìn lão Hy Lạp vẻ đầy đe dọa rồi hỏi:


- Thế nhà ngươi làm gì ở đó?


Lão Khilon bối rối. Mặc dù cũng giống như nhiều người khác, lão ngỡ rằng một khi Roma tiêu huỷ thì cũng chấm dứt sự thống trị của La Mã, nhưng lúc này lão đang đối mặt với Vinixius, lão chợt nhớ ra rằng chính chàng đã cấm lão dòm ngó những người Kito, đặc biệt là ông Linux và Ligia, với một lời đe dọa khủng khiếp nếu lão vi phạm.


- Thưa ngài - lão nói - sao ngài lại không tin rằng tôi yêu mến họ? Chính thế! Tôi có mặt tại Oxtrianum, bởi vì bản thân tôi đã nửa phần là Kito hữu, Piron đã dạy tôi phải đánh giá phẩm hạnh cao hơn triết lý, nên càng ngày tôi càng gắn bó với những con người đức hạnh. Ngoài ra, thưa ngài, tôi nghèo khó, và trong khi ngài, thưa thần Jupiter, đang chơi bời ở Anxium, thường khi tôi phải chịu đói lòng trên những trang sách, vậy nên tôi đành phải ngồi bên tường thành tại Oxtrianum, bởi lẽ những Kito hữu, mặc dầu bản thân họ cũng nghèo, nhưng bố thí nhiều hơn tất thảy các công dân La Mã cộng lại.


Đối với Vinixius, lý lẽ này hoàn toàn đủ nên chàng bèn hỏi tiếp với vẻ ít dữ tợn hơn:


- Và ngươi không biết thời gian ấy ông Linux sống tại đâu chứ?


- Đã một lần ngài trừng phạt tôi tàn khốc, thưa ngài, về tội quá tò mò.


Vinixius im lặng tiếp tục đi.


- Thưa ngài - lát sau lão Khilon lên tiếng - ngài không thể tìm nổi nàng trinh nữ nếu như không có tôi, vậy một khi ta tìm được nàng, ngài sẽ không quên nhà hiền triết nghèo khổ này chứ ạ?


- Ngươi sẽ nhận được một ngôi nhà với vườn nho ở gần Ameriola - Vinixius đáp.


- Tạ ơn người, hỡi Herkulex! Với trại nho sao?... Cảm ơn Người! Ồ, phải! Với trại nho!


Lúc này họ băng qua ngọn đồi Vatykan đỏ rực trong ánh lửa, rồi sau khi qua Naumakhia họ rẽ phải để vượt qua cánh đồng Vatykan tiến đến bờ sông, và vượt qua sông đi tới Porta Flaminia. Đột nhiên lão Khilon ghìm con la lại và bảo:


- Thưa ngài! Tôi chợt nghĩ ra một ý hay!


- Nói đi! - Vinixius bảo.


- Ở giữa đồi Janikun và đồi Vatykan, bên kia khu vườn Agrypina, có những hầm ngầm, nơi người ta khai thác đá và cát để xây dựng Hý trường Nero. Thưa ngài, xin ngài hãy nghe tôi! Thời gần đây, bọn Do Thái, mà như ngài biết đấy, chúng sinh sống rất đông ở khu Zatybre, bắt đầu rình mò gắt gao những người Kito giáo. Ngài chắc nhớ là thuở sinh thời Hoàng đế Klauđius hiển linh đã từng xảy ra những vụ lộn xộn đến nỗi Hoàng đế buộc phải đuổi cổ bọn chúng ra khỏi Roma. Hiện nay, một khi đã quay trở về và nhờ có thế lực của Auguxta mà chúng cảm thấy được yên ổn, thì chúng lại càng quấy phá tín đồ Kito hữu dữ hơn. Tôi biết rõ chuyện đó lắm! Tôi trông thấy mà! Chưa có một đạo luật nào chống dân Kito được ban bố, nhưng chính bọn Do Thái đã kiện với ngài đô trưởng rằng dân Kito giết chóc trẻ con, thờ bọn lừa và truyền bá một giáo thuyết chưa được Viện Nguyên lão công nhận, và chính bọn chúng đã đánh đập họ và tấn công vào các nhà nguyện của họ hung tợn đến mức dân Kito giáo buộc phải che giấu chúng những hoạt động của họ.


- Nhưng nhà ngươi muốn nói điều gì? - Vinixius hỏi.


- Rằng, thưa ngài, các khu nhà nguyện tồn tại công khai ở khu Zatybre, nhưng để tránh bị theo dõi, dân Kito giáo phải cầu nguyện một cách bí mật, họ tụ tập nhau lại trong các lều hoang ở ngoại thành hoặc trên các đấu trường bỏ trống. Những kẻ sinh sống ở khu Zatybre đã chọn đúng chỗ này, nơi được hình thành vì lý do xây dựng hý trường, cùng nhiều ngôi nhà khác nhau dọc sông Tyber. Giờ đây, khi thành phố đang bị tiêu huỷ, chắc hẳn các tín đồ của Chúa Crixtux đang cầu nguyện. Chúng ta sẽ tìm ra bọn họ, đông vô kể, trong các hầm ngầm dưới đất, vì thế tôi xin ngài, chúng ta sẽ rẽ vào đó trên đường đi.


- Thế mà nhà ngươi lại nói rằng ông Linux đã rời tới Oxrtrianum! - Vinixius sốt ruột thốt lên.


- Còn ngài thì hứa cho tôi một ngôi nhà có trại nho ở gần Ameriola - lão Khilon đáp - vậy nên tôi muốn tìm kiếm nàng trinh nữ khắp mọi nơi, những nơi mà tôi hy vọng tìm thấy nàng. Khi đám cháy bùng nổ họ có thể quay lại khu Zatybre... Có thể họ đã đi vòng quanh thành phố giống như chúng ta lúc này đang làm vậy. Ông Linux vốn có một nếp nhà, có thể ông ấy muốn được ở gần nhà hơn để nhìn xem đám cháy có lan tới khu này hay không. Nếu như họ quay trở về, thì tôi xin thề với Perxefon, thưa ngài, rằng chúng ta nhất định sẽ tìm thấy họ đang cầu nguyện trong hang ngầm, tệ nhất thì chúng ta cũng thu được những tin tức nào đó về họ.


- Ngươi nói phải, vậy hãy dẫn đường đi! - Chàng hộ dân quan nói.


Không ngần ngại, lão Khilon quành về bên trái, về hướng ngọn đồi. Hồi lâu sườn đồi che khuất đám cháy cho họ, nên mặc dù những chỗ cao gần đấy vẫn ngập trong ánh sáng, nhưng chính họ lại chìm trong bóng tối. Bỏ qua hý trường, họ rẽ sâu hơn nữa về bên trái và lọt vào một chốn giống như một khe núi, trong đó hoàn toàn tối đen. Nhưng trong bóng tối đó Vinixius trông thấy nhiều đèn lửa chập chờn.


- Bọn họ đấy! - Lão Khilon thốt lên - Hôm nay bọn họ sẽ đông hơn bao giờ hết, bởi vì những nhà nguyện khác đã bị thiêu huỷ hoặc đang dày đặc khói giống như cả khu phố Zatybre.


- Phải, ta có nghe tiếng hát - Vinixius nói.


Quả thực từ một lỗ hổng tối tăm bên trên vọng ra những giọng người đang hát, còn những ánh đèn lần lượt thay nhau mất hút vào trong ấy. Song từ những khe núi bên cạnh mỗi lúc một hiện ra những bóng người mới, và lát sau Vinixius cùng lão Khilon lọt vào giữa một đám đông người.


Lão Khilon xuống la, gật đầu với một thiếu niên đang bước đi bên cạnh và bảo:


- Ta là tăng lữ của Chúa Crixtux, một giám mục. Ngươi hãy trông la cho chúng ta, ngươi sẽ được ta ban phước lành và rửa sạch mọi thứ tội lỗi.


Rồi không chờ trả lời, lão ấn dây cương vào tay cậu bé và cùng với chàng Vinixius nhập vào toán người đang đi.


Lát sau, họ đi vào hang ngầm dưới đất, lần mò theo ánh đèn mờ ảo chập chờn trong cái hành lang tối tăm cho đến khi tới được một cái vòm hang rộng rãi, nơi trước kia hẳn người ta đã khai thác đá, vì các vách hang được tạo thành từ những phiến đá với những vết toác mới tinh khôi.


Ở đây sáng hơn trong hành lang, vì ngoài những cây đèn cầy và đèn nhỏ còn có các ngọn đuốc cháy rần rật. Trong ánh đèn đuốc, Vinixius trông thấy một đám đông người đang quỳ gối vươn hai tay lên trời. Chàng chẳng thấy Ligia, Sứ đồ Piotr và ông Linux đâu cả. Ngược lại, vây chung quanh chàng là những khuôn mặt trang trọng và đầy xúc động. Trên một số khuôn mặt hiện rõ vẻ chờ trông, lo lắng và hy vọng. Ánh đèn lửa nhảy nhót trong lòng trắng của những đôi mắt đang ngước nhìn lên, mồ hôi tuôn chảy trên những vừng trán nhợt nhạt như phấn; một số người đang ca hát, những kẻ khác thành tâm gọi cầu tên Chúa Crixtux, một vài người đấm ngực thình thình. Có thể đoán được rằng người ta đang chờ trông một cái gì đó trọng đại sắp xảy ra sau phút chốc nữa thôi.


Đột nhiên những người hát im bặt và trên đầu đám người, trong một cái ô cửa hình thành sau khi lấy đi một phiến đá khổng lồ, chợt hiện ra khuôn mặt ông Kryxpux, quen thuộc với Vinixius, khuôn mặt gần như mê hoảng, tái nhợt, sùng tín và khắc nghiệt. Mọi cặp mắt đều hướng về ông, dường như chờ đợi những lời động viên và hy vọng, còn ông, sau khi chào đám người, bắt đầu cất tiếng nói vội vã, gần giống như những tiếng kêu la:


- Các ngươi hãy than tiếc đi cho những tội lỗi của các ngươi, bởi giờ đã đến rồi! Đấy, đức Chúa đã trút ngọn lửa huỷ diệt xuống cái thành phố tội ác và trác táng này như xuống một thành Babilon mới. Đã điểm rồi giờ phút xét xử, giận dữ và thảm họa... Chúa đã báo trước rằng Người sẽ đến và các ngươi sẽ được trông thấy Người. Nhưng Người sẽ không đến đây như con chiên đã từng hiến máu chuộc tội cho các ngươi, mà như một vị quan toà kinh khủng, nhân danh công lý của Người, dìm những kẻ có tội và bất tín vào vực thẳm... Thảm thương thay cho những kẻ có tội, vì đối với chúng sẽ không còn có lòng nhân từ nữa... Con đã thấy Người kia rồi, hỡi Chúa Crixtux! Những cơn mưa sao đang sa xuống mặt đất, vầng thái dương tối tăm đi, mặt đất há ra những vực thẳm khôn cùng, những hồn ma của những người đã quá cố thức dậy, và Người đi giữa tiếng kèn, giữa đoàn thiên sứ, giữa tiếng sấm và làn chớp giật. Con đã thấy và đang nghe thấy tiếng Người kia, hỡi Chúa Crixtux!


Ông chợt câm bặt và ngửa mặt lên dường như đang dõi nhìn một cái gì xa xôi và khủng khiếp. Và chính lúc ấy, trong cái hang ngầm chợt vang rền tiếng ầm ầm câm đặc, một, hai rồi mười tiếng. Đó là tiếng của hàng dãy những ngôi nhà cháy trụi đang sập đổ trong tiếng ầm ầm giữa một thành phố đang rừng rực cháy. Nhưng phần lớn những người Kito giáo xem tiếng động đó là tín hiệu rõ ràng báo giờ kinh khủng đã tới, vì trong số các tín đồ ấy, lòng tin vào sự xuất hiện lần thứ hai và nhanh chóng của Chúa Crixtux cùng với sự tận thế được truyền bá rất rộng, lúc này lòng tin ấy được củng cố thêm bởi hỏa tai của thành đô. Vậy nên nỗi sợ Chúa Trời trùm lên đám người. Nhiều giọng nói lắp đi lắp lại: "Ngày phán xét!... Người đang đến kia rồi!". Nhiều người lấy tay che mặt vì tin rằng chỉ giây lát nữa thôi mặt đất sẽ rung lên dưới chân, và từ những vực thẳm của nó, những bầy thú dữ của địa ngục sẽ kéo ra để lao vào những kẻ có tội. Những kẻ khác kêu lên: "Lạy Chúa Crixtux, xin hãy thương tình. Hỡi Người chuộc tội, xin Người hãy nhân từ...", còn một số người nữa lớn tiếng thú tội, và cuối cùng có những người ôm chặt lấy nhau, để có được bên mình những trái tim gần gũi trong giờ phút kinh khủng.


Song cũng có những khuôn mặt chứa chan nụ cười thiên giới, thanh thản và không hề biểu lộ nỗi sợ hãi. Nhiều chỗ vang lên những lời bàn tán trong cơn cuồng tín, người ta bắt đầu kêu to những câu không ai hiểu nổi bằng những thứ ngôn ngữ khó hiểu. Từ một góc hang tối đen có ai đó kêu lên: "Hãy tỉnh dậy đi, kẻ nào còn đang ngủ!". Bên trên tất cả là tiếng kêu của ông Kryxpux: "Cẩn thận đấy! Cẩn thận đấy!".


Tuy nhiên thỉnh thoảng im lặng lại bao trùm, dường như ai nấy đều nín thở chờ xem điều gì sẽ xảy ra. Vào những lúc đó, có thể nghe rõ tiếng ầm ầm xa xa của những khu phố đang sụp đổ. Rồi lại vang lên tiếng rền rĩ, lời cầu nguyện, bàn tán và tiếng kêu cầu: "Hỡi Người chuộc tội, xin Người hãy thương tình!". Chốc chốc ông Kryxpux lại lên tiếng, ông kêu lên: "Các ngươi hãy chối bỏ đi những của cải trần thế, bởi vì chỉ chốc nữa thôi sẽ không còn đâu mặt đất dưới chân các ngươi! Hãy chối bỏ đi những tình yêu trần thế, bởi Chúa sẽ không nhận những kẻ nào yêu vợ con hơn yêu Người! Thương thay cho kẻ nào yêu thương vật được sáng tạo hơn Người sáng tạo! Đáng thương thay cho kẻ giàu! Đáng thương thay những kẻ xa hoa! Đáng thương thay những kẻ trụy lạc! Đáng thương thay cho chồng, cho vợ, cho con!...".


Đột nhiên, một tiếng rền mạnh hơn tất thảy những tiếng động trước kia làm rung chuyển cả khu mỏ đá. Tất cả mọi người đều nằm lăn ra đất, dang tay thành hình chữ thập, mong dùng cái dấu hiệu này tự vệ trước những loài quỷ dữ. Im lặng bao trùm, trong đó chỉ nghe những hơi thở gấp gáp, những tiếng thì thầm đầy kinh hoảng: "Crixtux, Crixtux, Crixtux!", và đâu đây có tiếng khóc trẻ thơ. Đúng vào lúc đó, bên trên cái biển người đang nằm rạp, chợt vang lên một giọng nói thật bình tĩnh:


- Bằng an cùng các người!


Đó là tiếng của Sứ đồ Piotr, người vừa mới bước vào hang. Nghe thấy tiếng ông, lập tức nỗi sợ hãi của mọi người qua đi, hệt như nỗi hãi hùng của đàn chiên con qua nguy khi người chăn chiên xuất hiện. Người ta nhổm dậy, những người ở gần nép vào chân ông, như tìm kiếm chỗ nương tựa dưới cánh ông, còn ông giơ đôi cánh tay trên đầu họ và nói:


- Sao các người lại sợ hãi trong lòng? Ai trong các người có thể đoán trước được những điều gì sẽ đến với mình trước khi giờ phút điểm? Chúa đã dùng lửa trừng phạt thành Babilon, nhưng đối với các người, những kẻ đã chịu lễ rửa tội, những kẻ đã được máu của chính con chiên chuộc cho mọi lỗi lầm, thì sẽ là lòng nhân từ của Người, các người sẽ chết với tên Người trên môi. Bằng an cùng các người!


Sau tiếng nói dữ tợn và thiếu lòng nhân của ông Kryxpux, những lời của ông Piotr đến với những người có mặt tựa như mật ngọt. Thay cho nỗi sợ Chúa, tình yêu Chúa tràn ngập lòng người. Họ lại tìm thấy được một đức Chúa Crixtux mà họ hằng yêu qua những lời kể của đức Sứ đồ, không phải như một vị quan toà chẳng chút nhân từ mà là một con chiên ngọt ngào và kiên nhẫn, mà lòng nhân trăm lần vượt quá sự dữ của nhân loại. Một cảm giác nhẹ nhõm xâm chiếm toàn bộ đám người, nỗi vui sướng cộng với lòng biết ơn đức Sứ đồ tràn ngập muôn trái tim. Nhiều giọng nói từ các phía khác nhau vang lên: "Chúng tôi là chiên con của Người, xin Người hãy chăn dắt chúng tôi!". Những kẻ được ở gần hơn thì nói: "Xin đừng bỏ chúng tôi trong ngày hoạn nạn!". Và họ quỳ quanh chân ông. Nhìn thấy thế, Vinixius tiến lại gần, nắm lấy mép chiếc áo choàng của ông, chàng cúi đầu nói:


- Xin Người hãy cứu lấy con! Con tìm kiếm nàng trong khói của đám cháy cũng như trong đám người dày đặc, nhưng chẳng nơi đâu con tìm nổi nàng. Song con vẫn hằng tin rằng Người sẽ có thể mang nàng trả về cho con.


Ông Piotr đặt tay lên đầu chàng:


- Con hãy tin - ông nói - và hãy đi cùng ta.


(Còn tiếp)


Nguồn: Quo Vadis, tiểu thuyết của Henryk Sienkicvicz - Nobel Văn học 1905.


Nguyễn Hữu Dũng dịch và giới thiệu. NXB Văn học in lần đầu 1985-1986, sau đó tái bản nhiều lần. Những lần mới nhất là: năm 2011; năm 2016- Kỷ niệm 100 năm ngày mất của Đại văn hào Ba Lan. Lời bạt của nhà văn Triệu Xuân: Nhà văn, Dịch giả Nguyễn Hữu Dũng và Quo Vadis.



Dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan: Henryk Sienkicvicz. Quo Vadis. Anstwwy InstytutWydawniezy. Warszawa - 1977.


www.trieuxuan.info


 


 







(1) Nguyên văn: một thành đô của Jupiter như thế!




 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.Chương 34
6.Chuong 32 & 33
7.Chương 30 & 31
8.Chương 28 & 29
9.Chương 27
10.Chương 26
11.Chương 25
12.Chương 24
13.Chương 23
14.Chương 22
15.Chương 21
16.Chương 17, 18, 19 & 20
17.Chương 15 & 16
18.Chương 14
19.Chương 12 & 13
20.Chương 10 & 11
21.Chương 8 & 9
22.Chương 7
23.Chương 5 & 6
24.Chương 3 & 4
25.Chương 2
26.Chương 1
27.Lời Giới thiệu
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »