tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21047615
Tiểu thuyết
04.08.2016
Bạch Diện Nguyễn Văn Cư
Hà Nội xưa và nay



Từ vụ án Phan Bội Châu đến Xô Viết Nghệ Tĩnh


Cụ Phan Bội Châu được các đồng chí trong nhóm văn thân ở Nghệ An cử xuất dương sang Trung Quốc và Nhật Bản để mưu cuộc đánh Pháp, giành độc lập cho nước nhà. Hồi bấy giờ cụ vẫn giữ quan niệm quân chủ và ủng hộ Cường Để, một hoàng thân của nhà Nguyễn. Tuy ở nước ngoài song cụ vẫn giữ liên lạc với các văn thân, các nghĩa sĩ trong nước. Những cuộc bạo động chống Pháp trong nước đều có cuộc dự mưu của cụ, như vụ Hà thành đầu độc, vụ ném bom Hanoi Hôtel. Cụ đã bị những hội đồng đề hình của thực dân Pháp mấy lần kết án tử hình vắng mặt. Thực dân Pháp cố lùng bắt cụ từ bên Trung Quốc để báo thù, nhưng không sao bắt được, cuối cùng chúng lợi dụng được một tên mật thám đắc lực lừa bắt được cụ. Tên mật thám ấy là Nguyễn Thượng Huyền, thường gọi là cử Huyền, khét tiếng ăn chơi ở chốn Hà Nội. Hắn là cháu gọi cụ Nguyễn Thượng Hiền là bác, người cùng xuất dương với cụ Phan Bội Châu và cùng bôn ba với cụ Phan khi ở Trung Quốc, khi sang Nhật Bản. Về sau này cụ mệt mỏi vào tu trong một ngôi chùa ở Bắc Kinh để nghiên cứu đạo Phật. Bọn mật thám biết rõ lai lịch của cử Huyền nên lợi dụng hắn để lừa bắt cụ Phan Bội Châu.


Cử Huyền đỗ cử nhân năm 1915 tại trường thi Nam Định, tức là khoa Ất Mão, khoa thi cuối cùng tại Bắc kỳ. Các cụ nhà nho vẫn gọi là khoa thi “ngật ngưỡng” hay “ngất ngưởng”, vì ai đi thi khoa này bị hỏng là mất gỡ, không còn thi cử được nữa.


Về văn chữ Nho, cử Huyền chỉ đáng đỗ tú tài, nhưng hắn làm được bốn phép tính, luận quốc văn và đặt được câu văn chữ Pháp nên được lấy đỗ cử nhân, năm ấy hắn mới có mười bảy tuổi. Hồi hắn còn tập văn ở nhà hay viết nhầm chữ nọ ra chữ kia, như chữ “Vệ” là nước Vệ, hắn viết ra chữ “nha” là nha môn. Khi hắn đi thi, người nhà vẫn lo, sợ viết sai nhầm, nhất là phạm húy vua thì phải tội. Sau khi thi đỗ cử nhân, hắn giấu chuyện đỗ được là nhờ các môn Quốc ngữ và Pháp văn, bịa ra chuyện “có thần đến giúp làm văn”[1]. Về sau cử Huyền ra làm báo Trung Hòa, rồi Hữu Thanh, dịch truyện cổ tích của nhà văn Grim, viết tiểu thuyết “Bên hiếu bên tình” bán cho nhà xuất bản. Hắn kết bạn thân với Đào Trinh Nhất (con Đào Nguyên Phổ). Hai người thường hay đi hát cô đầu, thiếu tiền đi vay, trước còn vay những bạn bè và bà con anh em trong họ, sau không ai cho vay nữa, vì người ta biết hai anh chỉ vay tiền để đi hát cô đầu. Không vay được của bà con, cử Huyền liều mạng đến vay của một anh sét-ti Ấn kiều ở phố Hàng Gai, một tay chuyên sống bằng nghề cho vay nặng lãi. Cử Huyền viết văn tự đứng vay, khi có tiền cả Đào Trinh Nhất và cử Huyền góp nhau trả. Nhưng rồi lãi mẹ đẻ lãi con, không đủ tiền trả nợ, anh sét-ti Ấn kiều dọa đưa cử Huyền ra tòa kiện và bỏ tù (hồi bấy giờ Pháp vẫn còn thi hành việc bỏ tù các con nợ). Đương lúc cử Huyền lo sốt vó về nợ thì mật thám Pháp đến lợi dụng, bố trí cho hắn trốn sang Trung Quốc làm con chim mồi để bắt các nhà yêu nước Việt Nam đương hoạt động ở Hoa Nam, cần nhất là lừa bắt được cụ Phan Bội Châu cho chúng. Thực dân Pháp dò biết tung tích của Đào Trinh Nhất và Nguyễn Thượng Huyền[2], nên cho cử Huyền sang Trung Quốc, rồi về sau này cho Đào Trinh Nhất và Hoàng Tích Chu sang Pháp để theo dõi những người Việt Nam hoạt động chính trị trên đất Pháp. Cử Huyền trốn sang Trung Quốc năm 1923, những người biết hắn đều nổi lên dư luận là hắn đi làm mật thám cho Pháp. Đào Trinh Nhất thông tin cho cử Huyền biết dư luận ấy, hắn liền gửi về cho Nhất một bài thơ chữ Nho:


Nhất biệt long thành dĩ cách niên,


Mộ vân xuân thụ tứ thê nhiên;


Trái đài lũy lũy quân tu phá;


Hận hải mang mang ngã dục điền.


Sương dã trẩm qua do thử nhật;


Ca lâu đối ẩm cách hà thiên?


Bàng lâu nhược hữu nhân tương vấn,


Sở thủy Ngô sơn vạn lý thuyền!


 


(Đại ý bài thơ này là: Rời khỏi Hà Nội đã một năm rồi, tấm lòng nhớ bạn vẫn ngùi ngùi. Đài nợ chồng chất cao, bạn nên phá nó đi; bể hận mênh mang tôi đương cố lấp đầy. Từ nay tôi gối giáo nằm sương ngoài đồng nội, chẳng biết đến ngày nào chúng ta lại có dịp ngồi uống rượu với nhau ở nhà cô đầu. Những người quen biết hỏi đến tôi thì bạn nói là tôi nay cưỡi con thuyền đi muôn dặm trong khoảng núi Ngô sông Sở).


Đào Trinh Nhất đưa bài thơ này cho mọi người xem để cải chính dư luận nói cử Huyền làm mật thám cho Pháp, nhưng không ai tin, vì một người quen chơi bời đến nỗi công nợ phải đi trốn thì cho là đi làm bậy thôi, chứ còn làm được sự nghiệp gì nữa. Cách mấy tháng sau, tin cụ Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt được đưa về Hà Nội, Đào Trinh Nhất chuồn vào Sài Gòn mất. Theo tin tức của các báo Trung Quốc hồi bấy giờ như tờ Đại công báoHoa tự nhật báo, thì cụ Phan Bội Châu tin dùng cử Huyền làm thư ký riêng cho ở luôn bên cạnh và đi đâu thường đem hắn đi theo. Hôm cụ đi thăm mộ liệt sĩ Phạm Hồng Thái, cử Huyền thuê chiếc xe ô-tô hắn tự cầm lái, đưa cụ đi. Khi trở về, hắn làm bộ đi nhầm đường đưa luôn cụ Phan Bội Châu vào tô giới Pháp ở Quảng Châu. Lập tức bọn mật thám Pháp đã được cử Huyền báo tin trước, chờ đón sẵn nên bắt được cụ. Khi tin này tung ra, thanh niên Việt kiều ở Trung Quốc lùng tìm cử Huyền để giết khiến hắn hoảng sợ trốn đi nơi khác mất.


Khi mật thám đưa cụ Phan Bội Châu vào nhà pha Hỏa Lò, chúng để cụ ở trong một buồng riêng, canh gác cẩn thận và giữ rất kín. Chúng bảo với nhân viên làm việc trong nhà pha là bắt được một người tên Lâm Đắc Phụ từ Trung Quốc đưa về. Nhưng một nhân viên có ý tinh tế, thường hay đi lại thăm các cụ Lương Văn Can và Lê Đại, nói cho các cụ biết rằng: “Mới đây mật thám bắt được một ông già râu rậm, nói tiếng Nghệ, mặc quần áo Trung Quốc, đưa từ Quảng Châu về, giam giữ rất kín”, các ông ngờ ngay là cụ Phan Bội Châu, liền nhờ nhân viên này đưa một người trong bọn các cụ vào tận nơi để thăm xem cho đích xác. Người được đưa vào là cụ Cát Thành ở phố Hàng Gai, một giáo viên cũ của Đông Kinh nghĩa thục đã nhiều lần tiếp xúc với cụ Phan Bội Châu từ trước. Cụ Cát Thành bị đày ra Côn Đảo, học được nghề làm các đồ mỹ nghệ bằng đồi mồi như hộp thuốc lá, hộp thuốc lào, bao kính, gọng kính, xuyến, nhẫn và cụ mở cửa hàng bán các hàng này ở nhà số 1 phố Hàng Gai (hồi bấy giờ phố Hàng Gai kéo dài ra tận gần bể nước và cột đồng hồ đầu đường Lê Thái Tổ ngày nay). Cụ Cát Thành đem theo các món đồ bằng đồi mồi vào nhà pha nhờ nhân viên kia giới thiệu với viên giám ngục Pháp để chào bán, vì anh này sắp được về Pháp. Nhân đó cụ Cát Thành được đưa qua buồng giam cụ Phan Bội Châu và nhận được đích xác. Khi ra về, cụ báo tin cho các cụ Lương Văn Can và Từ Long biết. Lập tức các cụ nhóm họp gồm cụ Dương Bá Trạc cùng nhiều cụ nữa và cả sinh viên trường cao đẳng rồi gây phong trào đòi ân xá cho cụ Phan Bội Châu. Sinh viên, học sinh, công nhân, trí thức, tiểu thương tiểu chủ đều hưởng ứng, thực dân Pháp không thể giấu mãi vụ giam giữ cụ Phan Bội Châu nên phải lập hội đồng đề hình do tên Bride làm chánh án để xét xử. Phiên tòa xử cụ Phan Bội Châu kéo dài hơn tuần lễ, người Hà Nội, người các tỉnh kéo đến tòa xem rất đông. Thực dân Pháp phái sen-đầm, đội xếp ra giữ trật tự, cản bớt số người vào trong tòa, ngoài cửa tòa án càng đông người đến xem, nhưng không được vào.


Trước tòa, cụ Phan Bội Châu nói tiếng Nghệ rất dõng dạc. Cụ bác hết những lời viên quan tòa buộc cụ phải chịu trách nhiệm về các vụ bạo động xảy ra tại Hà Nội như vụ Hà thành đầu độc, vụ ném bom vào khách sạn Hà Nội mà hồi bấy giờ các hội đồng đề hình đã kết án xử tử cụ vắng mặt. Viên chánh án Bride có ý muốn y án cũ. Lúc bấy giờ trong số người dự xem phiên tòa có cụ Nguyễn Khắc Doanh, thường gọi là cụ Tú Doanh người Nam Định, xông ra trước vành móng ngựa xin chịu chết thay cho cụ Phan. Hai viên luật sư Pháp là Bomard và Lare được Hội đồng luật sư cử ra cãi cho cụ Phan, thấy nhân dân Việt Nam ngưỡng mộ cụ Phan nên cũng cố sức bào chữa cho cụ. Cuối cùng Hội đồng đề hình tuyên án cụ Phan khổ sai chung thân. Những hôm tòa xử án, người đi xem càng ngày càng đông. Những người không vào trong tòa được, đều tranh nhau mua báo để xem tin. Bấy giờ có ba tờ báo hàng ngày là Thực nghiệp dân báo, Trung Bắc tân vănKhai hóa nhật báo, nhưng chỉ có tờ Thực nghiệp dân báo là tiến bộ, tường thuật kỹ những phiên tòa xử. Sau đó nhà báo lấy những tin và bài đăng báo in thành cuốn sách khổ 13x18 khoảng độ hơn 20 trang, đề bìa là “Vụ án Phan Bội Châu”, người mua xem tới tấp. Họ xô đổ cả cửa nhà báo để mua. Sự ngưỡng mộ cụ Phan thúc đẩy mọi người họp mít-tinh đòi ân xá cụ Phan. Các nhân sĩ Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Sài Gòn, Đà Nẵng đều đánh điện sang bộ thuộc địa Pháp đòi ân xá cụ Phan. Trong số điện này, tại Hà Nội có người Pháp là hai viên luật sư Bonard, Lare và một chủ báo Pháp Minh trí Đông Dương (Argns Indochinais) là Clémantio. Chính phủ Pháp phái Varen sang làm Toàn quyền Đông Dương. Hắn vừa tới Hà Nội, những cuộc biểu tình của sinh viên, học sinh, tiểu thương, tiểu chủ nổ ra; nhiều biểu ngữ bằng chữ Pháp nêu lên các câu: “Ân xá cụ Phan Bội Châu”, “Đả đảo chính sách gậy gộc tại Đông Dương” căng lên. Varen theo nguyện vọng của nhân dân, tuyên bố ân xá cụ Phan Bội Châu nhưng buộc cụ phải đi an trí tại Huế.


Tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam ngày càng bột phát ngay từ năm 1924 khi làm lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh ở bãi chợ Hàng Da[3]. Thực dân Pháp đàn áp không nổi, nên các cuộc biểu tình đòi ân xá cụ Phan Bội Châu càng sôi nổi hơn nữa. Năm 1927, cụ cử Lương Văn Can từ trần, bọn mật thám đánh hơi biết rằng nhân dân Hà Nội sẽ tổ chức đám ma to để cổ xúy tinh thần yêu nước của mọi người, chúng bắt tang gia phải cấp tốc đưa đám cụ cử Can vào hồi 5 giờ chiều hôm cụ mất. Lập tức dân phố Hà Nội báo tin cho nhau, đến gần 4 giờ chiều, rất đông người đến tụ tập trước cửa nhà số 4 phố Hàng Đào (nhà riêng cụ cử Can), đứng lan cả sang phố Hàng Dép (nay sáp nhập là phố Hàng Bồ) và Hàng Ngang. Khi đám tang khởi hành, người đi đưa đám đông nghịt: học sinh, sinh viên, công nhân các xí nghiệp, công chức, tư chức, các chị em tiểu thương, các nhà công nghệ, các nhà buôn trong thành phố. Đám tang qua phố nào lại có thêm người đi đưa. Khi đám tang đến cửa ô Cầu Dền, số người đi đưa đông quá, thực dân Pháp huy động mật thám, đội xếp, lính khố xanh đến cản bớt số người đưa đám, nhưng không cản nổi. Hồi 6 giờ chiều đám ma tới ngã tư Bạch Mai - Quỳnh Lôi, thực dân Pháp sai lính khố xanh đứng chắn lối vào Quỳnh Lôi, chỉ cho con cháu tang gia đi theo quan tài vào nghĩa trang Hợp Thiện nhưng nhân dân cứ xông lên, vượt qua hàng rào lính khố xanh và mật thám. Một cuộc xung đột dữ dội xảy ra, nhân dân dùng gạch đá ném và đánh nhau với lính khố xanh và mật thám, vì bọn này dùng roi mây, dùi cui đàn áp nhân dân. Pháp gọi Hoàng Trọng Phu đem thêm lính cỏ đến để đàn áp, vì hồi bấy giờ từ Bạch Mai trở xuống thuộc phạm vi tỉnh Hà Đông, mà Hoàng Trọng Phu làm tổng đốc Hà Đông. Ô-tô của Hoàng Trọng Phu vừa đến chỗ xung đột, nhân dân biểu tình chửi om lên: “Bố con thằng Hoàng Cao Khải và thằng Hoàng Trọng Phu là tụi bán nước, làm tay sai cho Pháp. Mày hãy cút đi!”. Hoàng Trọng Phu thấy khí thế của nhân dân hăng hái quá không dám thò mặt ra, phải quay xe về và đem theo bọn lính cỏ lủi như chuột về nốt. Bọn lính khố xanh và bọn mật thám cảnh sát cũng phải rút lui trước sức đấu tranh hăng hái của nhân dân. Mọi người rầm rộ kéo vào nghĩa trang Hợp Thiện, bấy giờ đã 8 giờ tối, mọi người mua nứa ở tràn nứa đầu đường Quỳnh Lôi (nay là phía sau chợ Mơ) đốt lên làm đuốc sáng rực để làm lễ hạ huyệt. Trước khi hạ huyệt, cụ Lê Đại đứng đọc điếu văn nói về tinh thần yêu nước và cuộc đấu tranh của cụ cử Can cùng con cụ là Lương Ngọc Quyến. Bài điếu văn ấy kích động nhân dân để nối chí cụ Lương Văn Can.


     Sau đám tang cụ Lương Văn Can, tinh thần yêu nước nảy nở và lan rộng trong nhân dân Việt Nam. Nhân dịp này Nguyễn Thái Học và Phạm Tuấn Tài cùng một số bè bạn họp nhau bàn định lập một đoàn thể cứu quốc. Trong số đó có người đã vào Huế thăm cụ Phan Bội Châu và hỏi ý kiến cụ. Cụ cho biết từ năm 1925, khi ở Trung Quốc cụ đã lập ra Việt Nam Quốc dân Đảng, theo như tôn chỉ Trung Hoa Quốc dân Đảng của Tôn Trung Sơn (tức Tôn Dật Tiên). Anh em theo ý cụ Phan lập ra Việt Nam Quốc dân Đảng và đương tìm cách để liên lạc với tổng bộ ở Trung Quốc và liên lạc với Trung Hoa Quốc dân Đảng. Khi ấy ông Dật Công Phạm Tuấn Lâm, anh ruột Phạm Tuấn Tài có một người bạn là ông lang Hoa kiều tên là Hứa Gia Ngư sẵn sàng giúp đỡ trong việc bắt liên lạc này. Hứa Gia Ngư có người em trai là đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng sẵn lòng giúp đỡ. Việt Nam Quốc dân Đảng thành lập giữa năm 1927, được đông người tham dự, trong đó đại đa số là giáo viên, sinh viên, học sinh rồi một số công chức các sở Pháp, một số nhà buôn và một số dân biểu (như cụ Đặng Đình Điển, dân biểu Thái Bình). Một đảng viên là Đào Hưng được cử làm đại biểu ngoại giao sang Trung Quốc liên lạc, sau có thêm các đảng viên khác là Nguyễn Thế Nghiệp và vợ chồng Nguyễn Ngọc Sơn cũng đi lại vùng biên giới Hoa - Việt, thường phải đi xuyên rừng do bọn buôn thuốc phiện lậu dẫn đường. Việt Nam Quốc dân Đảng mới thành lập được một năm mà đã phát triển được nhiều đảng viên khắp ba kỳ - Đảng lập ra một nhà khách ở phố Hàng Bông sát với ngõ Tạm Thương lấy tên là “Việt Nam ô-ten” để làm chỗ liên lạc cho đảng viên các nơi về Hà Nội và làm cơ quan tài chính của Đảng.


Hồi 9 giờ tối hôm 9-2-1929 tức là 29 tháng Chạp năm Mậu Thìn (đêm 30 Tết) vụ ám sát tên thực dân Pháp Ba-danh xảy ra trước cửa nhà 110 phố Huế. Mật thám Pháp khủng bố, bắt bớ nhiều người phát hiện ra Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt Nam Quang phục hội, Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội và nhiều hội kín khác. Cuối năm 1929, thực dân Pháp lập hội đồng đề hình, cũng lại do tên Bride làm chánh án để xử vụ Việt Nam Quốc dân Đảng khiến nhiều người bị kết án tù từ 2 năm đến 10 năm và bị đày ra Côn Đảo. Riêng Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu, Nhã Tư Trạch và nhiều yếu nhân khác trốn thoát ngay từ khi Đảng mới bị khám phá.


Chiều ngày 9-2-1930 (11 tháng Giêng năm Canh Ngọ), Nguyễn Thái Học và một số yếu nhân trong Việt Nam Quốc dân Đảng kết hợp với lính khố đỏ nổi dậy tại tỉnh lỵ Yên Bái, giết chết một số võ quan Pháp. Cùng thời gian đó, cụ Nguyễn Khắc Nhu tức xứ Nhu chỉ huy cuộc chiến đấu tại Hưng Hóa và Lâm Thao (thuộc Phú Thọ). Cụ xứ Nhu bị hy sinh trong lúc chiến đấu sau khi đã làm cho binh lính Pháp bị thiệt hại nặng. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái tuy không thành công, song cũng gây cho thực dân Pháp tổn thất nặng. Nguyễn Thái Học trốn về Vĩnh Bảo và gây được cuộc nổi dậy tại đây. Thực dân Pháp dùng máy bay triệt hạ cả vùng này và lùng tìm hàng tháng mới bắt được Nguyễn Thái Học do tên Nguyễn Thành Dương tức đội Dương, một đảng viên đã phản bội làm chỉ điểm. Tất cả các nghĩa sĩ bị thực dân Pháp đem xử trảm tại Yên Bái vào ngày 16 tháng 6 năm 1930.


Nguyễn Khắc Trạch (con trai lớn cụ xứ Nhu) cũng là đảng viên Quốc dân Đảng và Nguyễn Thế Nghiệp, một đảng viên cũ sau này trở thành tay sai cho Pháp.


Đối với Việt Nam Quốc dân Đảng, thực dân Pháp cho là không nguy hiểm cho chúng bằng Đông Dương Cộng sản Đảng, vì là Đảng Quốc tế, các đảng viên là những người kiên cường bất khuất. Đảng thành lập ngày 3 tháng 2 năm 1930, có đảng viên khắp nơi trong nước và ngoài nước do cụ Nguyễn Ái Quốc lãnh đạo và liên lạc với các đảng viên Cộng sản quốc tế. Ngày 1-5-1930, hồi 10 giờ 30, tại trường Sinh Từ- Hà Nội (nay là trường Nguyễn Khuyến ở phố Nguyễn Khuyến), học trò vừa tan học ra khỏi trường thì có năm, sáu nam nữ thanh niên tung truyền đơn và trương cờ đỏ búa liềm và hát bài Quốc tế ca, báo hiệu cho mọi người biết, Đông Dương Cộng sản Đảng sẽ lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống thực dân Pháp. Từ hồi này trở đi, khắp nơi trong nước luôn có những cuộc tuyên truyền xung phong của Đảng, đỉnh Tháp Rùa giữa hồ Hoàn Kiếm thỉnh thoảng lại có lá cờ búa liềm tung bay trước gió vào dịp mùng Một tháng Năm và dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười.


Tháng 9 năm 1930, Hà Nội bị náo động hơn hồi tháng Hai: các chuyến xe lửa không nhận chở hành khách đến ga Vinh; những người từ Nghệ An- Hà Tĩnh bị mắc kẹt không ra Hà Nội được. Mới đầu thực dân Pháp giấu kín không cho các báo đăng tin tức gì về việc xảy ra tại Nghệ- Tĩnh, nhưng những người từ Thanh Hóa, Đồng Giao, Ninh Bình, Nam Định truyền tin nhau ra Hà Nội về các cuộc biểu tình Cộng sản rất hăng hái rất dữ dội. Tại Nghệ - Tĩnh, thực dân Pháp không thể bưng bít được nữa, chúng phải làm bản thông cáo đưa đăng các báo Việt Nam. Thông cáo của chúng đều cho là việc khởi loạn, việc xuẩn động của dân quê, nhưng nhân dân Hà Nội đều biết rõ rằng một chính quyền Xô-viết của nông dân đã được thành lập. Vụ này làm nông dân và công nhân khắp nơi trong nước phấn khởi và có tiếng vang khắp thế giới. Phóng viên các báo Pháp sang ta lấy tin, mở cuộc điều tra, viết thiên phóng sự và viết thành sách nói về cuộc Xô viết - Nghệ Tĩnh. Thực dân Pháp rất căm tức, chúng dùng máy bay ném bom xuống các làng ở Nghệ - Tĩnh, phái lính lê dương đi đàn áp. Chúng bắt được chiến sĩ cách mạng đem xử tử một cách rất dã man là sai lão Ngáo từ Huế ra, dùng thanh mã tấu chặt đầu từng người bị trói giật cánh khuỷu vào cái cọc và quỳ dưới đất. Hành động dã man của bọn thực dân càng làm sôi động nông dân, và lan rộng ra khắp nơi. Cuối cùng thực dân Pháp phải dùng chính sách mềm mỏng xoa dịu dân, rút lính lê dương về Hà Nội. Tiếp theo vụ Xô viết - Nghệ Tĩnh là các cuộc bãi công của công nhân Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định và tiếp đến là các cuộc biểu tình chống thuế của nông dân Tiền Hải, Nghĩa Hưng. Trong các cuộc bãi công biểu tình này đều trưng cờ đỏ búa liềm. Suốt từ năm 1930 đến Cách mạng Tháng Tám, các cuộc biểu tình Cộng sản và bãi công, bãi khóa luôn xảy ra khắp các nơi trong nước, nhất là năm 1940, cuộc Nam kỳ khởi nghĩa làm vang động khắp nơi trong nước và có tiếng vang ra cả thế giới. Các chiến sĩ Cộng sản bị bắt đem ra tòa xử, lại trở thành quan tòa kết án bọn thực dân Pháp đã bóc lột nhân dân ta một cách tàn tệ và đồng thanh hát bài “Quốc tế ca”.


NGHỀ LÀM BÁO TẠI HÀ NỘI


Dưới thời phong kiến, Hà Nội không có báo in và chuyên dùng chữ Nôm, nhưng cũng có nhiều loại báo: bích báo, là những bài vè làm theo lối văn lục bát chữ Nôm dán ở các điếm tuần ở góc phố Hàng Ngang và Hàng Bạc. Tác giả không ký tên kể về một sự việc xảy ra trong phố nào đó. Có khi hai ba ngày có một bài, có khi một ngày có hai ba bài và của nhiều tác giả khuyết danh. Do việc dán vè, điếm tuần ấy có tên là điếm vè. Ngoài ra, tại Quảng Văn Đình hay Quảng Minh Đình ở vào khoảng vườn hoa Cửa Nam ngày nay, thỉnh thoảng có yết thị, cáo thị của triều đình báo cho dân biết những việc Nhà nước sẽ làm hay cấm đoán một việc gì. Đó là loại công báo của Nhà nước phong kiến niêm yết cho dân được biết.


Sau khi thực dân Pháp chiếm Hà Nội được ít lâu, chúng mở nhà in rồi sau mở nhà báo. Trước hết là báo chữ Pháp, rồi sau mới có báo chữ Nho và chữ Việt. Trước khi nói đến nghề làm báo, cần nói đến nghề in bằng máy và lối in hoạt bản của Pháp mở tại Hà Nội.


Sau khi chiếm được toàn bộ Đông Dương gồm Việt Nam, Ai Lao (Lào), Cao Miên (nay là Căm-pu-chia), thực dân Pháp chia làm năm xứ: Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, Ai Lao và Cao Miên, mỗi xứ có một viên quan cai trị đầu xứ: Bắc kỳ có thống sứ, Nam kỳ có thống đốc, Trung kỳ, Ai Lao và Cao Miên đều có khâm sứ, vì ba nơi này có vua nên dùng từ khâm mà không dùng từ thống. Tất cả năm viên quan cai trị ấy đều dưới quyền viên toàn quyền là người có quyền lực tối cao. Thực dân Pháp dùng Hà Nội làm thủ đô cho cả năm xứ, nên xây phủ toàn quyền, mở các trường cao đẳng y học, luật học và lập Tòa án tối cao tại Hà nội.


Khi thực dân Pháp xây phủ toàn quyền, chúng xây cả vườn Bách thảo ngay bên cạnh, không khác cái “ngự uyển” của các vua chúa phong kiến. Vườn Bách thảo, ngoài các thứ cây ra, còn có các chuồng nuôi và nhốt các giống thú rừng, nên nhân dân ta quen gọi là vườn bách thú. Có người làm bài thơ vịnh vườn bách thú để chửi bọn thực dân và bọn tay sai của chúng:


Dưới rặng cây xanh một dãy chuồng,


          Mỗi chuồng nhốt một giống chim, muông:


          Khù khì vua hổ no nằm ngủ;


 Nhớn nhác dân hươu đói chạy cuồng;


           Lũ khỉ tham mồi bày lắm chuyện;


           Đàn chim dẩu mỏ hót ra tuồng;


           Lại còn bầy gấu đây kia nữa,


          Hì hục tranh nhau một cục xương!


Thực dân Pháp còn chiếm một làng làm nghề trồng hoa ở Thụy Khuê (nơi gần trường Chu Văn An hiện nay) xây nhà nghỉ mát cho viên toàn quyền để thỉnh thoảng nó ra chơi và bơi lội ở Hồ Tây, ta thường gọi là “Nhà tắm ông Bảy”. Gần nơi này là làng Châu Yên có cái miếu thờ một cô gái xấu số tên cô Son. Dưới thời Minh Mệnh, bọn quan lại các nơi hàng năm phải tuyển gái đẹp đưa vào Huế cho làm cung phi, ngự nữ tức là vợ lẽ, nàng hầu vua (Minh Mệnh có tất cả hơn một trăm vợ). Cô Son là một cô gái rất xinh đẹp ở với bố mẹ, chuyên nghề trồng hoa để bán. Bọn quan lại ở Hà Nội đem cô dâng cho Minh Mệnh. Bọn vua nhà Nguyễn vẫn gờm sợ người ngoài Bắc, vì là căn cứ của nhà Lê hay nói theo lối cổ là “Nước nhà Lê”, không khác bọn vua Mãn Thanh gờm sợ người Hán sau khi chiếm được Trung Quốc[4]. Tại Việt Nam, vua Minh Mệnh khi dùng con gái người Bắc, sai các thị nữ kiểm tra kỹ trong người và đầu tóc, không cho đeo hay giắt một thứ gì bằng kim khí trong người rồi bịt kín hai mắt lại dắt ra buồng ngủ của hắn. Cô Son bị tuyển vào cung đã lâu ngày nay mới được dịp ra “hầu vua”. Vốn tính ngây thơ, tò mò muốn xem mặt ông vua thế nào, cô vừa kéo cái khăn đen bịt mắt xuống để xem trộm, vừa lúc vua Minh Mệnh đương ngồi nhìn ngắm dung nhan cô. Minh Mệnh thấy cô kéo tấm vải che mắt ra nhìn trộm, liền cho về cung không dùng nữa. Ngày hôm sau, Minh Mệnh sai trả cô về Bắc cho bố mẹ[5]. Từ ngày bị thải về, cô Son uất ức thành bệnh rồi chết, dân làng vừa thương hại vừa mê tín cô là “bà cô” nên lập cái am nhỏ trong vườn nhà cô để thờ gọi là am cô Son.


Thực dân Pháp chiếm khu đất chỗ có am cô Son, cho một tên tư bản Pháp là Sơ-nay-de mở nhà in. Nhà in này còn nhỏ, chỉ có vài cái máy con đạp chân, anh em gọi là máy mi-ne (minerva)[6] và một cái máy to in được tám trang sách khổ 13x18, anh em thợ in gọi là máy “công tử”. Tên máy này chính là máy “công tự”, vì thân máy đúc theo hình chữ “công” là thợ (I). Máy in quay tay, phải dùng đến ba người: một người quay máy, một người đặt giấy và một người bắt giấy. Những máy in ấy đều là máy cũ mua lại của nhà in người Anh tại Hương Cảng, chữ Nho cũng mua ở Hương Cảng, chỉ có chữ Pháp, chữ Quốc ngữ và các dụng cụ nhà in bằng chì bằng gỗ mua ở Pháp. Nhà in bấy giờ chỉ in các giấy tờ sổ sách dùng trong các công sở của Pháp. Những giấy tờ sổ sách in về việc Nam chính (nghĩa là có liên quan đến người Việt Nam) phải in cả ba thứ chữ: chữ Pháp, chữ Nho hay chữ Nôm và chữ Quốc ngữ (chữ Nôm phải thuê thợ khắc ở phố Hàng Gai và Hàng Tiện, khắc cả một dòng). Về sau công việc in phát triển và cần phải chuyển nhà in vào trung tâm thành Phố nên Sơ-nay-de dọn nhà in đến nhà riêng của hắn ở số 77 phố Hàng Bông. Ngôi nhà này rất rộng, chung quanh có tường rào, trên tường thấp có chấn song sắt, trong tường là vườn rồi mới đến các căn nhà ở, toàn nhà một tầng, rất nhiều buồng. Nhà in sắm thêm nhiều máy và chữ nên kiêm cả việc in màu gọi là in thạch bản, tiếng nhà nghề gọi là in li-tô. Cuối năm 1891, anh chủ nhà in cho ra tờ báo đầu tiên lấy tên là Đồng Văn nhật báo, in bằng ba thứ chữ: Quốc ngữ, chữ Nho và chữ Pháp. Phần Quốc ngữ do Nguyễn Văn Vĩnh phụ trách; phần chữ Nho do Kiều Oánh Mậu còn phần chữ Pháp, hình như do người Pháp tên là Ba-but phụ trách. Ra được ít lâu, báo này đổi tên là Đăng Cổ trùng báo. Sau Ba-but ra tờ Đại Nam tân báo mời ông hoàng giáp Đào Nguyên Phổ làm chủ bút. Sơ-nay-de lại ra tờ Đông Dương tạp chí rồi tờ Trung Bắc tân văn giao cho Nguyễn Văn Vĩnh trông nom. Các nhà viết báo hồi bấy giờ đại đa số là các cụ nhà nho từ tú tài, cử nhân đến các cụ đỗ đại khoa như Đào Nguyên Phổ, Hoàng Tăng Bí, Dương Bá Trạc, Nguyễn Hữu Tiến, Mai Đăng Đệ, Nguyễn Đôn Phục, Nguyễn Đỗ Mục v.v… Số người có Tây học viết được Quốc ngữ rất hiếm, chỉ có vài ba người như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Phạm Duy Tiến. Các ông này sau khi viết xong phải đưa nhờ các cụ nhà nho xem lại, sửa chữa giúp rồi mới đưa in. Sở dĩ các cụ nhà nho viết được văn Quốc ngữ và mở đường cho ngành làm báo Việt Nam là vì các cụ được đọc nhiều sách tân thư của Trung Quốc. Đó là kho tài liệu và kho từ ngữ, kho kiến thức phổ thông do các nhà văn Trung Quốc như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Nghiêm Phục, Đàm Tự Đồng và nhiều nhà văn, nhà học giả Trung Quốc dịch những sách của Nga, Anh, Pháp , Mỹ, Đức, Ý, Nhật… đủ các thể loại văn học, khoa học, triết học, vv… Nhờ đọc nhiều tân thư, các cụ nhà nho tiến bộ rất nhiều. Tên các nước Âu Mỹ, ngày nay ta quen dùng do các cụ nhà nho phiên âm từ chữ Trung Quốc, như Nga (Nga-la-tư), Mỹ (Á-Mỹ-lợi-kiên), Phi (Á-Phi-lợi-gia), Pháp (Pháp-lan-tây, dưới triều nhà Nguyễn các nhà sử học của ta dịch là Phú-lang-sa), Ý (Ý-đại-lợi, ngày nay Trung Quốc dịch là Nghĩa đại lợi), Đức (Đức ý chí), Lập đào uyển (Le Ttonie), Đan Mạch (Denmark), Thụy Điển (Suede), Thụy Sĩ (Suisse), Ba Lan (Pologne), Na uy (Norege), Bỉ (Bỉ-lợi-thì, Belgique), Phần Lan (Finlande) và tên nhiều nước nữa. Lại có những từ trong các sách cổ Hán văn vẫn có mà người Trung Quốc và người Việt Nam không dùng, sau do người Nhật dùng, rồi Trung Quốc và Việt Nam dùng theo. Như hai chữ “cách mạng” (xưa gọi là cách mệnh hay cách mạnh), các nhà nho Trung Quốc và Việt Nam chỉ dám dùng vào một nghĩa rất thiêng liêng như “Thang Vũ cách mệnh” nghĩa là ông Thang và Vũ theo mệnh trời đánh đổ Kiệt, Trụ là hai ông vua tàn bạo, vì vua là “con trời”, hai ông Thang, Vũ theo mệnh trời làm việc cách mệnh. Khi ông Tôn Dật Tiên lãnh đạo cuộc lật đổ triều đình Mãn Thanh để lập Trung Hoa dân quốc, ông bị triều đình Mãn Thanh lùng bắt ráo riết phải lánh sang Nhật Bản. Tàu vừa ghé bến Hoành Tân, các báo Nhật đăng tin “Nhà cách mệnh Tôn Dật Tiên lánh sang Nhật Bản”. Từ bấy giờ trở đi các báo Trung Quốc mới dùng chữ “cách mạng” để dịch chữ “revolution” của Pháp. Cả từ kinh tế cũng có sẵn trong sách cổ chữ Hán là “kinh bang tế thế”, người Nhật thu gọn lại là kinh tế để dịch chữ “economie”, nhân đó các sách báo Trung Quốc dùng theo. Các cụ nhà nho ta cũng phổ biến các từ cách mạng, kinh tế trong các sách báo chữ Việt.


Báo Trung Bắc tân văn là tờ báo chữ Việt xuất bản hàng ngày tại Hà Nội. Báo in giấy khổ 60x90 gấp đôi lại thành bốn trang: trang đầu, về góc bên trái có bốn chữ Trung Bắc tân văn in bằng chữ to, phía dưới có bốn chữ Nho in nhỏ hơn. Bốn chữ ấy là tên báo, nhà báo quen gọi là măng-sét (manchette) dưới măng-sét là bài xã thuyết in bằng chữ cỡ 12. Đây là bài văn quan trọng nhất của tờ báo, phải do ông chủ bút hay những cụ nhà nho có học rộng biết nhiều, viết về đạo đức luân lý, về cách xử thế, có dẫn những lời nói của Khổng Tử, Mạnh Tử, của các nhà hiền triết. Có khi là một bài bình luận về tình hình chính trị thế giới hay thời cục Trung Hoa được đăng thay bài xã thuyết. Bài xã thuyết hay bình luận thường in trên hai cột báo, có khi hai cột rưỡi, hết bài xã thuyết mới đến bài tin tức thế giới dịch từ các báo Pháp, bản tin Reuter hoặc dịch từ báo Trung Quốc ra. Trong mục tin thế giới bấy giờ quan trọng nhất là tin Trung Hoa vì có cuộc nội chiến của bọn quân phiệt. Mục tin này nhà báo quen gọi là đơ-dem-ắc-tích (deuxième article) sắp chữ cỡ 10. In hết mục này sau mới in đến mục “Văn uyển” là mục chuyên đăng những bài thơ Đường luật do độc giả gửi đến hoặc do nhân viên tòa báo cao hứng ngâm vịnh. Đăng hết mục Văn uyển (thường là ba, bốn hay năm, sáu bài thơ) mới đăng mục Hài đàm, tức là một loại chuyện tiếu lâm nhưng không nói tục tĩu, mỗi ngày đăng một bài ngắn độ trên mười hay hai mươi dòng. Từng ấy bài mục là hết trang nhất. Trang nhì ba bốn cột đầu đăng tin vặt xảy ra tại Hà Nội. Những tin này khi mới bắt đầu có báo do sở Mật thám, sở Cẩm Hàng Trống, sở Cẩm Hàng Đậu gửi bản báo cáo bằng chữ Pháp đến cho nhà báo dịch ra đăng báo. Thường là những tin trộm cắp vặt, móc túi, tai nạn xe cộ, chó dại cắn người, những vụ cãi nhau đánh nhau,v.v… Nhà báo dịch mỗi tên lại có tiêu đề con, như Một xâu dài, đăng tin một đám xóc đĩa bị bắt, các con bạc đều bị trói tay người nọ với người kia giải về sở Cẩm biên phạt; Xe thổ tả , đăng tin một xe tay do người kéo vì cũ quá không sửa chữa nên bị gãy giữa đường. Ngoài ra những nhân viên trong nhà báo (riêng trong tòa soạn) có người quen hay người thân lấy vợ cho con giai, gả chồng cho con gái đăng một tin mừng tiêu đề là Hỷ tín hoặc có người, bạn có việc tang đăng tin chia buồn, tiêu đề Ai tín. Những tin vặt ấy có ngày chiếm hơn một phần tư trang nhì hoặc cả nửa phần trên trang nhì. Dưới các tin vặt và bài vở khác hoặc là truyện cổ tích hoặc là mục Tự do diễn đàn là quảng cáo các nhà buôn, các hiệu thuốc đông y và các ông lang, có khi là một bản cáo phó của một tang gia thuê đăng. Trang ba của tờ báo, nửa trên đăng quảng cáo của các rạp hát Đồng Lạc, Xán Nhiên đài, Quảng Lạc, Thắng Ý, Trăm năm, rạp chiếu bóng La-te, tiếp đến tin thời sự các tỉnh Hải Phòng, Nam Định, Hải Dương, Sơn Tây, Hà Đông, Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai, Lạng Sơn, v.v… và một số quảng cáo. Nửa dưới là một truyện dài, thường do bố con Nguyễn Văn Vĩnh dịch từ chữ Pháp ra như Đông-ky-sốt, Ba người ngự lâm pháo thủ, Hai mươi năm sau (do Nguyễn Hải, con Nguyễn Văn Vĩnh dịch) v.v… Những truyện Pháp không được người đọc ham xem, vì người biết chữ Pháp thì người ta đọc nguyên văn thấy thú hơn, còn người không biết chữ Pháp thì không muốn đọc vì không hợp với phong tục tập quán Việt Nam. Khi nhiều báo xuất bản, báo Trung Bắc phải để riêng ông Nguyễn Đỗ Thụ chuyên dịch tiểu thuyết Trung Quốc ra chữ Việt để câu dử độc giả như Song phượng kỳ duyên, Tái sinh duyên, Tục tái sinh duyên v.v… Trang tư đăng tin thời sự các tỉnh, tin thời sự trong Nam, thường trích lại tin của các báo xuất bản tại Sài Gòn và tin thời sự ở Nghệ An, Thanh Hóa, Huế. Trung Bắc tân văn có một nữ phóng viên ở Huế là bà Đạm Phương sử nữ thường viết nhiều tin ở Huế và một số bài đăng mục tự do diễn đàn cho nhà báo, phần còn lại của trang tư đăng nhiều quảng cáo.


Tờ báo hàng ngày bán mỗi số có hai xu, nhưng hai xu hồi bấy giờ rất to, có thể mua được một miếng giò lụa to bằng bàn tay, dày nửa đốt ngón tay và hai bát cơm đầy. Như vậy hai xu ngày xưa khá to. Báo mỗi ngày chỉ in ra độ một nghìn rưởi đến một nghìn tám trăm tờ, nhiều hôm bán không hết, còn ế lại một vài trăm tờ. Báo Trung Bắc tân văn mới xuất bản được nâng đỡ đủ mọi phương diện: giấy in báo giá rất rẻ, vào khoảng năm sáu hào một ram (500 tờ khổ 60x90), nhà báo chủ nhật ngày lễ nghỉ. Ngày xưa lắm lễ về đạo Gia tô, lại còn lễ kỷ niệm Gian-đa, lễ Quốc khánh Pháp; ngày lễ vào thứ bảy hay thứ hai thì báo nghỉ hai ngày liền, lễ vào ngày thứ sáu hay thứ ba, báo nghỉ ba ngày liền; lễ Nguyên đán âm lịch thường nghỉ sáu ngày, mùng Sáu tháng Giêng mới ra báo vì kiêng ngày mùng Năm là ngày nước. Tuy báo nghỉ nhiều nhưng đối với người mua năm vẫn tính đủ 30 ngày sáu đồng tiền báo năm, tiền băng, tiền tem, tiền công gửi; tính gọn là tám đồng một năm, các cơ quan nhà nước mua cho nhân viên xem và lưu trữ phải trả giá gấp đôi: 16 đồng một năm. Những tư nhân mua báo dài hạn thường là quan lại các phủ, huyện, án sát, tuần phủ, tổng đốc, các công chức cao cấp các tỉnh ở ngay thị xã hay các tỉnh lỵ, một số điền chủ địa chủ giàu có. Còn tại Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Hải Dương thường mua báo lẻ của các trẻ em đi bán rao hoặc của các hiệu sách nhận bán báo lẻ. Ngoài việc nâng đỡ nhà báo bằng cách mua năm, giá gấp đôi, thực dân Pháp còn nâng đỡ các báo bằng cách cho dùng điện thắp đèn chạy quạt không phải trả tiền, không hạn chế; cấp cho nhà báo mỗi tháng hai vé đi xe lửa hạng nhì hay hạng ba trên các tuyến đường ở Bắc kỳ; cấp cho nhân viên tòa báo một thẻ xem phim vĩnh viễn, một thẻ ưu tiên (coupe fil) khi có cuộc hội họp đông người.


     Báo bán giá hai xu một tờ, mà phải dùng nhiều người: thợ sắp chữ phải ba bốn chục người, thợ in hai máy mỗi máy năm người (một người đặt giấy, một người bắt giấy, ba người thay đổi nhau quay máy), hai người gấp báo (tờ báo in xong trước hết gấp đôi, cho trang hai trang ba áp vào nhau, rồi gấp đôi nữa để cuống tờ báo khớp với đầu tờ báo, xong theo chiều này gấp ba, cuối cùng gấp đôi lại để măng-sét ra ngoài. Báo bán lẻ giao cho cai báo để phân phát cho trẻ con đem bán lẻ các phố: cai báo được hưởng 5%, trẻ em được hưởng 10% về tiền báo bán được. Mỗi cuối chiều vào quãng 5 giờ, trẻ em nhận báo vừa chạy vừa rao tỏa ra các phố, nhà báo căn cứ vào số báo bán lẻ còn thừa ế bao nhiêu để quyết định số lượng in ngày hôm sau; còn những báo bán cho người mua năm đã có số lượng nhất định. Sau khi phát báo cho cai báo để bán lẻ, nhân viên nhà báo gửi báo cho các đại lý các tỉnh và người mua năm. Mỗi người mua năm có cái băng quấn bên ngoài và đề tên họ , địa chỉ, băng viết tay sẵn hoặc in sẵn hàng mấy trăm tờ, do đó khi người nào đổi chỗ ở, nhà báo thường đòi trả thêm hai hào về việc thay địa chỉ trên băng. Làm công việc quấn băng, gói báo đem ra bưu điện gửi, phải dùng đến năm người. Tòa trị sự phải dùng đến bốn người: một người quản lý có đứng tên trên báo để chịu trách nhiệm với chính quyền và tòa án, báo in ra ông này phải ký tên đưa nộp lưu chiểu (lệ của Pháp ngày xưa sau khi nộp lưu chiểu 24 giờ mới được phát hành báo, nhưng chỉ thi hành với tạp chí và tuần báo, còn báo hàng ngày được phát hành ngay); ông quản lý phải trông nom về mọi việc phát hành báo, bán báo, việc thu tiền quảng cáo; một ông trông về việc bán lẻ báo và tính tiền hoa hồng cho cai báo. Tòa soạn thường có từ sáu người đến tám người, kể cả ông chủ bút. Ông chủ bút chuyên xem lại các bài vở của nhân viên tòa soạn viết và bài của người ngoài gửi đến. Ông chỉ cần xem bài vở có hợp với tôn chỉ của tờ báo hay không rồi của ai ông giao trả người ấy và đồng ý cho đăng, bài không nên đăng thì xếp lại một tập. Nhân viên tòa soạn mỗi người phụ trách một mục: người chuyên viết xã thuyết, người chuyên dịch tin chữ Pháp, người chuyên dịch tin chữ Trung Quốc, người giữ mục Văn uyểnHài đàm, người chuyên đi lấy tin vặt và tòa án (phải hai người cộng tác), người chuyên đợi tin tức các tỉnh do phóng viên và cộng tác viên gửi về, người chuyên dịch chuyện đăng nhiều kỳ gọi là feuilleton. Người phụ trách mục nào phải sửa chữa câu văn của mục ấy, dùng chữ đặt câu cho chính xác, ngoài ra còn phải sửa chữa bản in thử sau khi thợ sắp chữ xong. Mỗi bản in sửa ba lần thật hết lỗi mới cho lên khuôn. Tuy tòa soạn đông người mà vẫn phải mua bài của người ngoài gửi đến: xã thuyết 5 xu một dòng chữ in, dài khoảng 6 phân chữ cỡ 12. Các bài khác 2 xu một dòng chữ cỡ 10; thơ không trả tiền. Đối với cộng tác viên và phóng viên các tỉnh, chỉ có Hải Phòng trả lương mỗi tháng 15 đồng, Hải Dương 8 đồng, Nam Định 10 đồng, tiền tem và các phí tổn các ông này phải chịu; còn các tỉnh nhỏ như Hà Đông, Sơn Tây, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Yên Bái, Lào Cai, Việt Trì, mỗi tỉnh một người nhà báo trả lương từ 3 đồng đến 6 đồng. Tại miền Nam, nhà báo trích lại tin của các báo xuất bản tại Sài Gòn.


(còn tiếp)


Nguồn: Hà Nội xưa và nay. Tập Ký của Bạch Diện Nguyễn Văn Cư. NXB Hội Nhà văn, 10-2015.


www.trieuxuan.info


 







[1] Trong cuốn tiểu thuyết Lều chõng, nhà văn Ngô Tất Tố có nói đến ông cử Kỹ học kém đòi đi thi, may có thần nhân hiện vào lều gà văn giúp nên đỗ cử nhân. Cử Kỹ tức là ám chỉ cử Huyền. Đoạn cuối ông nói đến những sự tồi tệ của hắn đã bị kiểm duyệt xóa bỏ. Chuyện thi cử ông miêu tả vào thời Hà Nội chưa bị Pháp chiếm đóng song ông ghép chuyện cử Huyền vào cho đậm đà câu chuyện thi cử thời xưa và nói tránh ra là cử Kỹ.




[2] Hồi Pháp thuộc, những người Việt Nam làm báo viết báo vẫn bị mật thám phái người theo dõi và bí mật lấy căn cước từng người.




[3] Hồi bấy giờ chợ Hàng Da cũ là bãi đất trống, công nhân và học sinh thiết lập bàn thờ và tụ tập làm lễ truy điệu rất đông. Hôm ấy trời mưa to và tối sầm xuống nhưng không ai rời hàng ngũ mặc dù bọn mật thám Pháp đến bắt phải giải tán.




[4] Theo cuốn “Thanh triều vi cung bí sử” thì vua Mãn Thanh khi muốn dùng cô cung phi người Hán phải sai thái giám đem một tấm lụa trắng vào cùng cô này rồi sai lột hết quần áo cô ta ra, không cho đeo trâm, xuyến vàng, ngọc rồi dùng lụa trắng quấn kín khắp người từ đầu đến chân, cõng đến buồng ngủ của vua rồi mới lột tấm lụa ra. Xong việc, tên thái giám lại lấy tấm lụa quấn kín cô ta lại, cõng trả về cung cô ta.




[5] Vua Minh Mệnh cho rằng cô gái người Bắc là dòng dõi vua Lê chúa Trịnh, hàng ngày ở trong cung gần gũi, biết mặt vua có thể nảy sinh ý đồ mưu sát nên không để thấy mặt được. Con Minh Mệnh là Thiệu Trị còn ngờ sợ cả các em ruột. Năm 1846, Thiệu Trị vào chơi vườn cơ hạ, thấy năm người em vào hầu, liền nổi giận, nói: “Không có lệnh tuyên triệu sao dám vào chỗ vua ngự, thế là có tội”. Rồi Thiệu Trị hạ lệnh phạt các em 5 năm tiền lương bổng, đánh đòn hai viên quản vệ vì không ngăn cản. Bọn lính gác vườn đều bị tội giảo giam hậu (nghĩa là phải thắt cổ, nhưng còn giam lại).




[6] Còn gọi là máy in pédal (TTĐP).




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »