tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21051563
Tiểu thuyết
03.08.2016
Henryk Sienkiewicz
Trên sa mạc và trong rừng thẳm



Chương 21


-   Anh Staś  này, tại sao chúng ta cứ đi mãi, đi mãi, mà không thấy ông Smain đâu cả?


− Anh không biết. Chắc là ông ta đi nhanh lên phía trước để mau tới vùng có thể bắt được người da đen. Em muốn chúng mình được nhập ngay vào toán quân của ông ấy hay sao?


Cô bé gật mái đầu hoe hoe của mình tỏ vẻ rất mong muốn điều đó.


− Sao em lại muốn thế?


− Bởi vì có thể là ở cạnh ông Smain thì Gebhr sẽ không dám đánh thằng Kali tội nghiệp tàn tệ thế kia đâu.


− Smain cũng chẳng tốt gì hơn. Tất cả bọn chúng đều không hề biết thương tiếc gì nô lệ đâu em ạ.


− Thế ư anh?


Và hai giọt nước mắt lăn trên gò má đã gầy tọp đi của cô bé.


Đã là ngày đi đường thứ mười. Thoạt đầu Gebhr − bây giờ là thủ lĩnh của cả đoàn − dễ dàng tìm ra những dấu vết của gã Smain. Những vệt rừng cháy và những đống tro lửa trại đầy xương xẩu bị gặm nham nhở cùng với các thứ hài cốt khác chỉ ra con đường y đã đi qua. Nhưng sau năm ngày đi đường, họ gặp phải một khoảng đồng cỏ bị cháy rộng mênh mông, trên đó gió mang ngọn lửa đi khắp mọi hướng. Các dấu vết mờ nhạt đi và rối rắm hơn, vì hẳn là Smain chia toán quân của y ra thành nhiều đội nhỏ hơn để dễ dàng vây cầm thú và kiếm lương ăn. Gebhr không biết phải đi theo lối nào, và nhiều lần hình như là sau khi đi một vòng tròn lớn, cả đoàn lại quay trở lại chỗ xuất phát ban đầu. Rồi sau đó, họ gặp phải một khu rừng, sau khi vượt qua rừng, họ tiến vào vùng đá sỏi, nơi mặt đất là những phiến đá lớn hay những cục đá nhỏ trải đầy trên một khoảng không gian to lớn, khiến bọn trẻ nhớ lại những con đường lát đá của thành phố.


Ở đây rất ít cây cỏ. Thảng hoặc trong các khe nứt mới có một vài cây xương khô, trinh nữ, và hiếm hoi hơn nữa là một loại cây thân gỗ mảnh mai màu lục nhạt mà Kali gọi theo ngôn ngữ Ki Xvahiti bằng cái tên “m'ti”, loại cây này lá có thể dùng cho ngựa ăn. Trong vùng hoàn toàn không có khe hoặc suối, nhưng may thay, thỉnh thoảng trời bắt đầu đổ mưa, nên có thể tìm thấy nước trong các hõm đá.


Những toán quân của Smain đã xua sạch bọn thú rừng, và đoàn người cơ hồ có thể chết đói nếu như không có hàng lũ chim pentácca, bọn này cứ chốc chốc lại từ dưới chân ngựa bay vụt lên, còn về chiều, chúng đậu kín trên các cây, dày đến nỗi chỉ cần nổ súng về hướng thích hợp là đã có ngay vài con rụng xuống đất. Thêm vào đó, chúng chẳng nhát người chút nào, chúng để cho người ta đến thật gần rồi mới nặng nề và chậm chạp bay lên, đến nỗi con chó Saba chạy trước đoàn người có thể gần như ngày nào cũng tóm được loài chim này.


Mỗi ngày, Chamis hạ chừng hơn chục con bằng khẩu súng kíp cũ kĩ mà hắn đã lừa lấy được của một trong những tín độ Hồi giáo dưới quyền ông Hatim trong chuyến đi từ Omdurman tới Fasoda. Tuy nhiên, đạn thì hắn chỉ còn chừng hai chục viên, nên hắn lo ngại không hiểu sẽ ra sao khi số đạn đó bị cạn đi hết. Tuy các loài thú bị bạt đi, nhưng thỉnh thoảng giữa các khối đá cũng vẫn xuất hiện những bầy linh dương arien, giống linh dương tuyệt đẹp rất phổ biến trong toàn miền Trung Phi. Nhưng muốn săn linh dương arien thì phải bắn bằng khẩu súng của Staś , khẩu súng mà Gebhr không muốn đưa vào tay thằng bé chút nào.


Tên Sudan cũng bắt đầu lo ngại về chặng đường quá dài. Đôi khi hắn đã nghĩ tới việc quay trở về Fasoda, vì nếu như họ vượt qua Smain mà không gặp, thì rất có thể họ sẽ bị lạc lung tung trong những vùng hoàn toàn hoang dã, nơi chưa kể tới chuyện đói, mà trước hết là họ sẽ bị đe dọa tấn công bởi các loài dã thú cùng những người da đen còn hoang dã hơn nữa, những người đang nghẹt thở vì căm thù những cuộc săn lùng mà người ta dành cho họ. Song do không được biết rằng Xêki Tamala đã lên đường đi đánh nhau với pasa Êmin, bởi lẽ hắn không tham dự cuộc trò chuyện về việc ấy, nên hắn vô cùng lo sợ nghĩ đến chuyện quay trở về sẽ phải đối diện với viên êmia hùng mạnh, kẻ đã ra lệnh cho hắn phải mang bọn trẻ đến cho Smain, đồng thời còn gửi cho ông ta một bức thư nói rằng, nếu như hắn không hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ thì sẽ phải lên giá treo cổ. Tất cả những điều đó gộp lại khiến lòng hắn tràn ngập đắng cay và tức tối. Tuy nhiên, hắn không còn dám giận cá chém thớt trút những nỗi thù hận của mình lên Staś  và Nel nữa, ngược lại, tấm lưng của cậu bé Kali tội nghiệp ngày nào cũng phải tóe máu dưới làn roi ngựa của hắn. Người nô lệ trẻ tiến lại gần ông chủ của mình bao giờ cũng run rẩy và sợ hãi. Nhưng chỉ vô ích thôi việc cậu ôm chân và hôn tay chủ, chỉ vô ích thôi việc cậu dập đầu trước mặt chủ. Trái tim sắt đá không hề bị rung động bởi sự quỵ lụy cùng tiếng rên than, và y quất roi ngựa hoàn toàn vô duyên cớ xuống tấm thân của cậu bé bất hạnh. Đêm đêm y dùng gông gỗ khoét lỗ, gông chặt hai chân cậu bé để nó khỏi chạy trốn. Ban ngày cậu phải đi theo bên cạnh ngựa của Gebhr, bị dắt bằng sợi dây thừng, chuyện này khiến cho gã Chamis rất khoái trá. Nel nhỏ lệ khóc than cho nỗi bất hạnh của Kali, còn Staś  phẫn nộ trong lòng và đã mấy lần hăng hái bảo vệ nó, nhưng khi nhận thấy rằng điều đó chỉ càng khiến cho Gebhr bị kích thích hơn mà thôi, em đành nghiến chặt răng yên lặng.


Song cậu bé Kali vẫn hiểu được rằng hai thiếu niên nọ ủng hộ mình, và do thế, cậu yêu thương họ sâu sắc bằng trái tim tội nghiệp đầy đau khổ của cậu.


Từ hai ngày nay, họ đi theo một khe núi đá có hai bờ cao vút dựng đứng. Cứ trông cảnh những khối đá bị mang đi và vứt hỗn độn cũng có thể dễ dàng đoán rằng, trong mùa mưa khe này đầy nước, nhưng hiện nay lòng khe hoàn toàn khô khốc. Dưới chân hai bức vách đá có một ít cỏ mọc, nhiều cây gai, thảng hoặc đây đó còn có vài cây thân gỗ. Gebhr chọn cái họng đá này vì thấy nó cứ dốc lên mãi, nên hắn đồ rằng có lẽ nó sẽ dẫn lên một vùng cao nguyên nào đó, trên ấy hắn sẽ dễ nhận ra vết khói về ban ngày hoặc ánh lửa về ban đêm từ trại Smain. Nhiều chỗ, khe núi co thắt lại hẹp đến nỗi chỉ vừa đủ cho hai ngựa đi sóng hàng ngang, nhiều chỗ nó lại phình ra thành những lòng thung nho nhỏ hình tròn, dường như được những bức tường đá vây quanh, trên đó những con vượn ngồi đùa nghịch với nhau, vừa kêu léc chéc vừa nhe răng ra với đoàn người.


Lúc đó là năm giờ chiều. Mặt trời đã ngả về tây. Gebhr đã nghĩ tới chỗ trú đêm, tuy nhiên hắn còn muốn đi được tới một cái lũng núi nào đó để có thể dựng hàng rào bằng cây trinh nữ gai và xiêm gai vây quanh đoàn người và ngựa để chống lại sự tấn công của lũ dã thú. Con chó Saba chạy lên phía trước, sủa theo lũ vượn − bọn này trông thấy nó liền nhộn nhạo hoảng loạn − và chốc chốc lại mất hút sau một chỗ ngoặt của khe núi. Tiếng sủa của nó vọng lại to tướng, được dội đi dội lại.


Bỗng nhiên tiếng nó im bặt, rồi lát sau, nó chạy lao trở lại phía đoàn ngựa, lông cổ dựng ngược cả lên, đuôi cụp sát xuống. Bọn Bedouin và Gebhr hiểu rằng có cái gì đó đã khiến nó hoảng sợ, nhưng sau khi liếc nhìn nhau và muốn biết xem cái đó là cái gì, chúng vẫn tiến lên. Song vừa vượt qua một chỗ ngoặt nhỏ, chúng vội kìm ngay ngựa lại và đứng sững như bị hóa đá trước cảnh tượng vừa đập vào mắt chúng.


Trên một phiến đá không lớn lắm nằm ngay chính giữa lòng khe (chỗ này khe khá rộng) là một con sư tử đang nằm.


Khoảng cách từ chỗ chúng đến con thú nhiều lắm là chừng trăm bước. Nhìn thấy người và ngựa, con thú khổng lồ nhổm dậy trên hai chân trước và bắt đầu chăm chăm nhìn chúng. Mặt trời đã xuống thấp chiếu ánh nắng xuống cái đầu to tướng của nó, xuống vòng ngực xù lông, và trong ráng chiều đỏ rực, trông nó giống như một con nhân sư được dùng để trang trí lối vào các đền đài Ai Cập cổ đại.


Lũ ngựa khuỵu hai chân sau xuống, quay lùi trở lại. Người cưỡi thì kinh hồn và hoảng hốt, không hiểu cần phải làm gì, miệng họ chỉ thốt ra những tiếng kêu kinh hoàng và đầy bất lực: “Ôi Ala! Trời ơi! Lạy đức Ala!”.


Còn vị chúa tể của rừng từ trên cao nhìn xuống, bất động như được đúc bằng đồng.


Gebhr và Chamis đã từng nghe các khách thương buôn ngà voi và nhựa cây từ Sudan đến Ai Cập kể rằng, đôi khi sư tử nằm chắn ngang đường người đi, và đoàn người bắt buộc phải đi đường vòng để tránh. Song ở đây chẳng còn biết tránh đường nào. Chỉ còn cách thối lui và bỏ chạy, nhưng nếu vậy thì chắc chắn là con vật dữ tợn này sẽ lao đuổi theo họ.


Vì vậy những câu hỏi cuồng hoảng bật ra:


− Làm gì?


− Làm gì bây giờ?


− Lạy đức Ala! Có thể nó sẽ tránh đường chăng?


− Nó không tránh đâu.


Rồi im lặng lại bao trùm. Chỉ nghe thấy tiếng thở hổn hển của lồng ngực người và tiếng phì phò của ngựa mà thôi.


− Thả thằng Kali ra. − Chamis bỗng nói với Gebhr. − Chúng ta sẽ chạy trốn bằng ngựa, sư tử sẽ đuổi kịp nó trước tiên và chỉ thịt nó mà thôi.


− Làm đi! − Bọn Bedouin phụ họa.


Song Gebhr hiểu rằng, nếu làm như thế thì chỉ trong nháy mắt, Kali sẽ trèo ngay lên vách đá, còn sư tử sẽ đuổi theo ngựa, nên trong đầu óc hắn vụt nảy ra một ý định khác, vô cùng tàn bạo. Đó là đâm chết cậu bé rồi quẳng ra trước mặt, khi con thú dữ nhảy tới, nhìn thấy cái thây người đẫm máu, nó có thể dừng lại để cắn xé đã.


Hắn bèn kéo sợi thừng lôi Kali sát yên và đã vung dao lên, nhưng chính vào giây phút ấy Staś  đã giật ống tay áo rộng thùng thình của hắn lại.


− Mày làm gì thế, đồ khốn nạn?


Gebhr cố giằng ra, và giá như cậu bé túm lấy tay hắn thì hắn đã giằng ra được ngay lập tức, nhưng với ống tay áo thì không dễ như thế, cho nên vừa giằng nhau hắn vừa gầm lên bằng giọng đã ngạt đi vì điên cuồng:


− Đồ chó, nếu như thằng kia không đủ, thì tao sẽ chọc tiết cả chúng mày nữa! Ôi Ala! Tao sẽ chọc, sẽ chọc!


Staś  tái người đi, vì nhanh như chớp qua óc em nghĩ rằng, sư tử trước hết đuổi theo ngựa, sẽ có thể bỏ qua cái thây Kali, và nếu vậy thì chắc chắn trăm phần trăm là Gebhr sẽ lần lượt đâm chết ngay cả hai đứa.


Sức lực như tăng gấp đôi, em vừa kéo mạnh tay áo của tên kia vừa thét to:


− Đưa cho tôi khẩu súng!... Tôi sẽ giết chết sư tử!


Bọn Bedouin kinh ngạc khi nghe những lời này, nhưng Chamis, ngay từ hồi ở Port Said đã được biết Staś  bắn như thế nào, liền kêu lên:


− Đưa súng cho nó! Nó sẽ giết được sư tử!


Ngay lập tức Gebhr nhớ lại những phát súng trên mặt hồ Carôun, và vì mối nguy hiểm chết người hiện tại, hắn nhanh chóng bỏ qua ý phản kháng. Hắn vội vã trao súng cho cậu bé, còn Chamis mở ngay hộp đựng đạn và Staś  vốc đầy một vốc tay.


Rồi em nhảy xuống ngựa, lắp hai viên đạn vào súng, tiến lên phía trước.


Trong những bước đầu tiên, em bước đi như bị mê, chỉ nhìn thấy trước mắt cảnh tượng em và Nel với cái cổ bị cắt ngang bởi con dao của Gebhr. Nhưng mối nguy gần hơn và kinh khủng hơn khiến em quên đi những chuyện khác.


Trước mặt em là con sư tử. Trông thấy con thú, em tối sầm cả mắt lại. Em cảm thấy gò má và mũi lạnh buốt đi, chân nặng trịch như chì và ngực ngột thở. Em sợ. Hồi ở Port Said em đã từng được đọc − thậm chí ngay trong giờ học − về những cuộc săn sư tử, nhưng xem tranh trong sách là một chuyện, còn đứng đối diện với con quái vật này lại là chuyện khác hẳn, con vật mà giờ đây đang nhìn em dường như ngạc nhiên, cái trán rộng như một chiếc khiên nhíu lại.


Bọn Ả Rập nín thở, vì trong đời chúng chưa bao giờ trông thấy một cảnh tượng như thế này. Một bên là một thiếu niên bé nhỏ đứng giữa những khối đá cao vút trông lại càng nhỏ bé hơn, còn bên kia là một con thú khổng lồ, vàng rực trong ánh chiều, dữ tợn và đẹp tuyệt vời − “Ông chủ có cái đầu vĩ đại” − như dân Sudan thường gọi.


Staś  dồn toàn bộ ý chí cưỡng lại sự bất lực của đôi chân để bước tiếp lên phía trước. Tuy vậy có lúc em tưởng như trái tim em vọt lên tận cổ họng, song cảm giác đó chỉ kéo dài cho tới khi em nâng súng lên ngang mặt. Lúc này cần phải nghĩ tới chuyện khác. Tiến lại gần hơn nữa hay bắn ngay? Nhằm vào đâu? Khoảng cách càng ngắn thì phát đạn càng chắc chắn... Vậy thì tiến lên, lên nữa? Bốn mươi bước hãy còn xa quá!... Ba mươi!... Hai mươi! Hơi gió đã phả tới mùi hôi lộn mửa của con thú...


Cậu bé đứng dừng lại.


“Hoặc là đạn trúng giữa hai mắt hoặc là mình rồi đời!” − Em nghĩ thầm − “Nhân danh Cha và Con!...”


Con sư tử đứng dậy, vươn cổ và hạ thấp đầu xuống. Cặp môi của nó bắt đầu hé mở, đôi lông mày nhíu xuống sát mắt. Cái sinh linh nhỏ nhoi kia dám tiến lại quá gần, nó chuẩn bị cho bước nhảy, khuỵu hai chân sau xuống, bắp đùi run run...


Song chỉ trong một chớp mắt, Staś  thấy đầu ruồi khẩu súng hạ xuống ngang trán con thú, và em kéo cò.


Tiếng súng vang lên. Con sư tử chồm dậy dựng đứng suốt cả chiều cao thân hình trong một giây rồi đổ vật xuống, bốn chân giơ lên trời.


Trong cơn giãy chết cuối cùng, nó lăn khỏi tảng đá rơi xuống đất.


Staś  còn nhằm thẳng súng vào nó chuẩn bị sẵn sàng nhả đạn thêm mấy phát nữa, nhưng khi thấy những cái giật sững lại và cái thân màu hoe vàng ưỡn ra bất động, em liền mở súng và nạp thêm một viên đạn nữa.


Vách đá còn vang âm tiếng vọng, Gebhr, Chamis và bọn Bedouin không thể thấy ngay được chuyện gì đã xảy ra, vì đêm trước trời mưa, không khí còn ẩm khiến khói che mờ cả khe núi hẹp. Mãi tới khi khói tan đi, bọn chúng mới vui sướng kêu lên và muốn lao tới phía cậu bé, nhưng vô hiệu, vì không sức mạnh nào có thể khiến lũ ngựa tiến thêm một bước về phía trước.


Còn Staś  quay người lại, đưa mắt nhìn bốn tên Ả Rập, rồi chĩa thẳng cái nhìn vào Gebhr.


− Ôi, đủ rồi! − Cậu bé rít qua hai hàm răng nghiến chặt − Mày đã vượt quá mức rồi! Mày sẽ không bao giờ giết nổi Nel, không bao giờ giết thêm một ai nữa!


Và bỗng nhiên em cảm thấy một thứ lạnh khác hẳn, cái lạnh không phải nảy sinh từ nỗi sợ mà từ một quyết định kinh khủng, không gì lay chuyển nổi, với quyết định ấy trái tim trong lồng ngực em hiện thời như biến thành sắt thép.


Phải! Đây là bọn khốn nạn, bọn đao phủ, lũ giết người, còn Nel thì đang nằm trong tay chúng!...


− Mày sẽ không thể giết được Nel nữa đâu! − Em nhắc lại.


Em tiến lại phía bọn chúng − đứng lại − và đột nhiên nhanh như chớp, nâng súng lên ngang mặt.


Hai phát súng nối nhau vang động khe núi: Gebhr nhao xuống đất như bị cát, còn Chamis gục đầu xuống yên, đập trán vào cổ ngựa.


Hai tên Bedouin thét lên một tiếng khủng khiếp vì kinh hoàng, chúng nhảy phắt xuống ngựa lao lại phía Staś . Chỗ ngoặt chỉ cách phía sau chúng không bao xa, và giá như chúng chạy trốn về phía sau − điều mà Staś  thầm mong − thì hẳn là chúng đã có thể tránh được cái chết. Nhưng mù quáng vì hãi hùng và điên giận, chúng tưởng là sẽ tới được chỗ cậu bé trước khi cậu kịp thay đạn và sẽ dùng dao băm vằm cậu. Bọn ngu xuẩn! Chúng vừa kịp chạy được mười bước chân thì khẩu súng ghê gớm lại khạc đạn, khe núi lại âm vang những tiếng nổ mới, cả hai ngã gục mặt xuống đất, lăn lộn và giãy giụa như cá bị vứt lên cạn.


Một tên − bị bắn không được chính xác lắm trong lúc vội vã − còn cố chống tay nhỏm dậy, nhưng ngay lúc đó, Saba đã cắn ngập răng vào gáy hắn.


Một sự im lặng đầy chết chóc bao trùm.


Mãi sau, sự im lặng mới bị gián đoạn bởi tiếng thổn thức của Kali, nó quỳ sụp xuống đất, đưa hai tay ra trước mặt và kêu lên bằng tiếng Ki Xvahiti đứt đoạn:


Bvana kubva (ông lớn) giết sư tử, giết người xấu, đừng giết Kali.


Song Staś  chẳng để ý gì đến tiếng kêu van của nó. Cậu bé đứng lặng một lúc lâu, sững sờ, rồi khi nhìn thấy khuôn mặt trắng nhợt ra của Nel và đôi mắt nửa tỉnh nửa mê mở rộng đầy thảng thốt của cô bé, em liền nhảy vọt tới phía Nel.


− Nel! Đừng sợ!... Nel! Chúng ta được tự do rồi...


Quả thực các em đã được tự do, nhưng đang bị lạc trong vùng rừng thẳm hoang vu không một bóng người, trong những vực sâu khôn tả của “Lục địa đen”.


 


Chương 22


Khi Staś  và cậu thiếu niên da đen kéo được thây của những tên Ả Rập cùng cái xác nặng trịch của con sư tử bị giết sang hai bên khe núi thì mặt trời đã hạ xuống thấp hơn và chẳng mấy lúc nữa đã là đêm. Tuy nhiên, khó mà ngủ đêm bên cạnh xác chết, nên mặc dù Kali vừa chỉ vào con thú bị giết vừa xoa xoa bộ ngực vừa tặc lưỡi lặp đi lặp lại: “Msuri nyama” (tốt, thịt tốt), Staś  vẫn không để cho nó lo cái khoản “nyama” ấy mà bảo nó phải đi tóm bọn ngựa đã bị tiếng súng khiến cho hoảng sợ chạy bạt đi. Cậu bé da đen giải quyết chuyện này khéo léo vô cùng, thay vì chạy dọc khe núi đuổi theo chúng (nếu làm theo cách này thì hẳn là ngựa sẽ càng chạy xa hơn), cậu bé đã leo lên núi và rút ngắn đường bằng cách bỏ qua những chỗ quanh co của khe, chắn ngang đường chạy của lũ ngựa. Bằng cách đó, nó lẹ làng tóm ngay được hai con, còn hai con nữa đuổi quay trở lại phía Staś . Chỉ có những con ngựa của Gebhr và Chamis là không thể bắt được, tuy thế vẫn còn bốn con, chưa kể đến chú lừa đang thồ nặng hàng và cái lều, chú này đã tỏ ra có một sự bình thản hoàn toàn triết học đối với những biến cố kinh khủng vừa xảy ra. Bọn trẻ tìm được chú ta ngay sau khúc ngoặt, lúc chú đang rứt cỏ mọc trong lòng khe núi một cách rất tỉ mẩn, không chút vội vã.


Nói chung giống lừa ngựa Sudan vốn quen thấy các loài dã thú nhưng lại sợ sư tử, do vậy phải vất vả lắm mới có thể đưa chúng vượt ngang qua cạnh tảng đá nơi hẵng còn đọng một vũng máu đỏ. Ngựa vừa thở phì phò, lỗ mũi mở rộng, vừa vươn cổ về phía những tảng đá đẫm máu; tuy nhiên khi thấy chú lừa chỉ hơi cụp tai một tí, bình thản bước qua thì chúng cũng bước qua. Đêm đã gần buông xuống, nhưng bọn trẻ con đi đến gần một cây số mới dừng lại ở nơi khe núi phình rộng thành một cái thung lũng nhỏ, giống như một nhà hát có nhiều bậc hình vòng tròn, mọc đầy gai góc và những khóm trinh nữ nhiều gai.


− Ông chủ ơi! − Cậu bé da đen nói. − Kali đốt lửa, đốt một đống lửa to.


Rồi  lấy  thanh  gươm  rộng  bản  tước  được  từ  xác Gebhr, nó bắt đầu chặt gai góc và cả những cây gỗ nhỏ nữa. Sau khi nhóm lửa lên, nó còn chặt tiếp cho tới khi được một khối lớn, có thể dùng cả đêm.


Sau đó cùng với Staś , nó dựng túp lều nhỏ dành cho Nel ngay dưới một vách đá cao dựng đứng của thung lũng, rồi làm một hàng rào gai cao và rộng hình bán nguyệt


− gọi là dêriba − vây quanh. Qua chuyện của những nhà thám hiểm Phi châu, Staś  biết rằng khách bộ hành thường dùng cách này để tự vệ chống lại sự tấn công của các loài dã thú. Tuy vậy, ngựa thì không thể nhốt trong hàng rào được, nên bọn trẻ tháo yên cương ra, lấy các túi hàng và đồ hộp khỏi lưng chúng và buộc giằng hai chân để chúng không đi quá xa khi lần đi kiếm cỏ ăn và nước uống. Mêa lại tìm được nước ngay gần đấy, trong một khe đá trông giống như một cái bể chứa nhỏ, giữa những tảng đá ở phía bên đối diện. Có nhiều nước, đủ cho ngựa uống, đủ để nấu thịt chim mà Chamis bắn được lúc sáng. Trong gùi hàng, cùng chỗ với cái lều của Nel do con lừa thồ, bọn trẻ còn tìm thấy gần ba nồi ngô và vài nhúm muối, cùng một chùm củ sắn khô nữa.


Ngần ấy quá đủ cho một bữa ăn thịnh soạn. Tuy nhiên chỉ có Kali và Mêa là ăn nhiều. Cậu bé da đen vốn bị Gebhr bắt nhịn đói một cách tàn nhẫn, giờ đây ăn một lượng thức ăn bằng cả hai người thường. Song cũng vì vậy nó thành tâm biết ơn cô cậu chủ mới của mình, và ngay sau bữa ăn, nó quỳ sát đất trước mặt Nel và Staś , ra dấu rằng nó mong muốn được là nô lệ của họ cho tới trọn đời. Sau đó, nó cũng bày tỏ lòng thành kính đối với khẩu súng của Staś  vì hẳn nó nghĩ rằng, tốt hơn hết hãy lấy lòng một “ông vũ khí” nhiều sức mạnh như vậy là hơn. Sau rốt, nó nói rằng sẽ cùng với Mêa canh cho lửa khỏi tắt trong khi “ông lớn” và cô bé ngủ, rồi ngồi xếp bằng cạnh đống lửa, nó bắt đầu lẩm nhẩm một bài ca gì đó, lúc lúc lại láy đi láy lại những chữ: “Simba kufa! Simba kufa”, mà trong ngôn ngữ Ki Xvahiti có nghĩa là: “Sư tử bị giết”.


Song cả “ông lớn” lẫn cô bé không có lòng nào nghĩ tới chuyện ngủ. Theo lời yêu cầu khẩn khoản của Staś , Nel cố nuốt vài miếng thịt chim và mấy hạt ngô nấu mềm. Cô bé bảo rằng không muốn ăn cũng không buồn ngủ, mà chỉ khát thôi. Staś  thoạt đầu lo rằng cô bé bị sốt, nhưng em thấy tay cô bé rất lạnh, thậm chí quá lạnh nữa. Tuy nhiên, em cũng nài được Nel vào lều, nơi em đã chuẩn bị sẵn chỗ nằm cho cô bé, trước đó em đã tìm rất kĩ xem trong cỏ có con bọ cạp nào hay không. Staś  ngồi xuống tảng đá với khẩu súng trong tay, bảo vệ cho cô bé khỏi bị dã thú tấn công, nếu như lửa không đủ khiến chúng sợ. Em vô cùng mệt mỏi và kiệt sức. Em cứ lặp đi lặp lại trong lòng: “Ta đã giết chết Gebhr và Chamis, ta đã giết bọn Bedouin, đã giết con sư tử và đã được tự do”. Nhưng những lời ấy dường như là của ai đó thì thầm với em, chứ bản thân em không thật hiểu rõ ý nghĩa của chúng. Em chỉ có cảm giác rằng cả hai đã được tự do, nhưng đồng thời cũng đã có một cái gì đó thật kinh khủng xảy ra khiến em lo lắng không yên, và đè nặng lên ngực em như một tảng đá. Về sau, những ý nghĩ của em bắt đầu đờ ra. Em nhìn thẫn thờ một lúc lâu những con thiêu thân đang bay vòng quanh ngọn lửa, rồi bắt đầu ngủ gật và thiếp đi những giấc ngắn. Kali cũng ngủ gà ngủ gật, nhưng cứ chốc chốc lại tỉnh giấc để ném thêm cành cây vào đống lửa.


Đêm sâu thẳm và rất tĩnh mịch, điều thật hiếm thấy trong vùng nhiệt đới. Chỉ nghe tiếng lách cách của những cành gai đang cháy và tiếng réo phù phù của ngọn lửa soi sáng những rạn đá vây quanh thành một vòng bán nguyệt. Mặt trăng không chiếu được ánh sáng xuống lòng khe, nhưng trên trời nhấp nhánh những vì sao vô danh dày đặc. Không khí trở nên mát lạnh khiến Staś  chợt tỉnh, cố rũ bỏ cảm giác nặng nề ngái ngủ và bắt đầu lo lắng, không hiểu Nel có bị lạnh hay không.


Song em lại yên tâm ngay khi nhớ ra rằng em đã đưa cô bé vào lều và cho ngủ trong tấm chăn dạ mà bà Dina mang theo từ Phaium. Em còn nghĩ ra rằng, suốt ngần ấy ngày đi từ sông Nin theo đường dốc lên mãi − mặc dù độ dốc không nhiều − nhưng hẳn giờ đây chúng đã lên đến vùng khá cao, nơi bệnh sốt rét không còn đe dọa như ở vùng lũng sông ẩm thấp nữa. Cái lạnh cảm thấy được trong đêm hình như cũng khẳng định điều này.


Và ý nghĩ ấy khiến em thêm vững lòng. Em tiến đến gần lều để xem Nel có ngủ say không, rồi quay lại, ngồi xuống bên đống lửa và lại bắt đầu thiu thiu ngủ, rồi thiếp đi.


Bỗng nhiên tiếng gầm gừ của Saba − con chó trước đó nằm ngủ ngay dưới chân em − khiến em choàng tỉnh.


Kali cũng mở mắt và cả hai lo lắng nhìn con chó đang căng thẳng toàn thân như một sợi dây đàn, tai vểnh lên, mũi phập phồng đánh hơi về phía mà cả bọn vừa đi đến, mắt nhìn đăm đăm vào bóng tối. Lông cổ và lông lưng nó xù lên, ngực căng phồng không khí mà vừa gầm gừ, nó vừa hít vào.


Chàng nô lệ trẻ tuổi vội vàng ném thêm cành khô vào đống lửa.


− Ông chủ! − Nó thì thào. − Cầm súng đi! Cầm lấy súng đi ông!


Staś  cầm lấy khẩu súng bước ra đứng phía trước lửa để trông rõ hơn khe núi tối mịt. Tiếng gầm gừ của Saba đã chuyển thành tiếng sủa rời rạc. Suốt một hồi lâu không thể nghe được gì hết, rồi tai Staś  và Kali lại nghe vọng từ xa tiếng vó trầm đục, dường như có những con thú to lớn nào đó đang phi nhanh về phía ngọn lửa. Tiếng chân ấy, giữa cái tĩnh mịch của đêm thanh, đập vào đá vọng lại thành những tiếng vang mỗi lúc một to hơn.


Staś  hiểu rằng một nỗi nguy hiểm chết người đang tiến lại. Nhưng đó là cái gì? Có thể là trâu rừng, cũng có thể là một đôi tê giác đang tìm lối thoát ra khỏi khe núi? Trong trường hợp ấy, nếu như tiếng súng không làm chúng sợ mà quay đi, thì cả bọn không thoát chết, bởi vì những giống vật này, vốn không ít dữ tợn và hăng máu hơn bọn thú ăn thịt, hoàn toàn không sợ lửa, sẽ chà đạp tất thảy mọi thứ chúng gặp trên đường...


Nhưng nếu như đó lại là toán quân của gã Smain, sau khi gặp những cái thây người trong khe núi, đang săn tìm kẻ giết người thì sao? Bản thân Staś  cũng không biết giữa cái chết nhanh chóng và một cảnh nô lệ mới − cái nào là tốt hơn. Em thoáng nghĩ, nếu như chính gã Smain có mặt trong toán quân này thì y sẽ không giết chúng, nhưng nếu như không có mặt y thì bọn tín đồ Hồi giáo ấy sẽ giết chúng trong chớp mắt, hoặc tệ hơn, còn hành hạ chúng một cách tàn nhẫn trước khi giết chết nữa kia. “Ôi!” − Em nghĩ thầm. − “Lạy Chúa hãy cho đó là thú chứ đừng là người.”


Trong khi đó, tiếng vó câu mạnh lên rồi chuyển thành tiếng sầm sập của những móng guốc, và cuối cùng, từ trong bóng tối hiện ra những cặp mắt lấp lánh sáng, những cái mũi dãn rộng, cùng những chiếc bờm rối bời do chạy nhanh.


− Ngựa! − Kali kêu lên.


Đó chính là những con ngựa của Gebhr và Chamis. Cả hai lao tới với tốc độ khủng khiếp, rõ ràng chúng bị một nỗi sợ hãi nào đó đuổi theo, nhưng sau khi vào được trong vòng ánh sáng và trông thấy những người bạn của mình, chúng liền nhảy dựng lên hai chân sau, rồi vừa kêu lên rừ rừ vừa bổ móng xuống mặt đất và đứng yên lặng như thế một lúc lâu.


Song Staś  không rời súng khỏi má. Em chắc rằng, ngay sau lũ ngựa sẽ nhô ra cái đầu xù lông của một con sư tử hay cái sọ bẹt của một con báo gấm. Nhưng em chỉ hoài công chờ đợi. Lũ ngựa dần dần bình tĩnh trở lại, hơn nữa, một lúc sau Saba cũng thôi không còn đánh hơi mà khoanh khoanh mấy vòng một chỗ như loài chó thường làm, nằm xuống cuộn mình thành một vòng tròn và nhắm mắt lại. Hẳn là nếu như có một con dã thú nào đó đuổi theo lũ ngựa, thì khi cảm thấy hơi khói hoặc trông thấy ánh lửa, nó đã rút lui từ xa rồi.


− Chắc phải có gì đó khiến chúng nó sợ lắm. − Staś  nói với Kali. − Nếu không, chúng nó đã chẳng dám chạy ngang qua xác người và sư tử đâu.


− Ông chủ ơi! − Cậu bé nói. − Kali biết chuyện gì xảy ra rồi. Nhiều, nhiều linh cẩu và lang núi đi vào khe, đến chỗ các xác chết. Ngựa chạy trốn chúng, nhưng linh cẩu không đuổi theo chúng, vì còn ăn thịt Gebhr và những tên kia...


− Cũng có thể, nhưng bây giờ cậu hãy đi tháo yên cương ngựa, cởi các bình và túi mang lại đây! Đừng có sợ, có khẩu súng này bảo vệ rồi!


− Kali không sợ! − Cậu bé đáp.


Rồi xô một ít rào gai ngay sát vách, nó bước ra ngoài hàng rào; trong khi đó, Nel bước ra khỏi lều.


Lập tức Saba nhổm dậy và cọ mũi vào cô bé để đòi được vuốt ve như thường lệ, song cô bé vừa chìa tay ra đã rụt lại ngay như kinh tởm điều gì.


− Anh Staś , có chuyện gì vậy? − Cô bé hỏi.


− Chẳng có gì cả. Mấy con ngựa kia quay trở lại thôi. Tiếng chân chúng khiến em thức dậy đấy à?


− Em đã dậy từ trước và muốn ra khỏi lều, nhưng...


− Nhưng sao?


− Em sợ rằng anh sẽ giận.


− Anh? Giận em?


Nel ngước mắt lên nhìn cậu bé bằng một cái nhìn là lạ trước đó chưa hề có bao giờ. Trên nét mặt Staś  thoáng qua một nỗi ngạc nhiên lớn, vì trong lời nói và cái nhìn của cô bé, cậu đọc thấy một nỗi sợ sệt rõ ràng.


“Con bé sợ mình rồi!” − Em thầm nghĩ.


Và trong giây lát đầu tiên, em cảm thấy như thoáng lên một ánh hài lòng. ý nghĩ rằng sau hành động mà em vừa làm, ngay cả Nel cũng đã xem em không chỉ là người hoàn toàn khôn lớn, mà còn là một chiến sĩ gieo rắc nỗi hãi hùng xung quanh mình − khiến em thấy hơi thinh thích. Nhưng cảm giác đó chỉ tồn tại trong chốc lát, vì cảnh sống đau khổ đã khiến cho trí tuệ em phát triển và nảy nở óc nhận xét. Do vậy, em thấy được rằng, trong cặp mắt đầy lo lắng của cô bé, bên cạnh nỗi sợ hãi dường như còn có cả sự ghê tởm đối với những gì vừa xảy ra, đối với máu vừa đổ, đối với sự tàn bạo mà hôm nay cô bé được chứng kiến. Em chợt nhớ lại rằng, vừa mới rồi cô bé rụt tay lại không muốn vuốt ve Saba, con chó đã cắn chết hẳn một tên Bedouin. Phải! Chính Staś  cũng cảm thấy trên ngực mình đè nặng một cơn ác mộng.


Hồi ở Port Said, đọc sách về những chàng săn thú người Mỹ ở miền Viễn Tây giết hàng tá người Inđian da đỏ là một chuyện, còn tự tay làm việc đó và phải trông thấy cảnh những người vừa mới đây còn sống, giờ đã lăn lộn giữa những cơn co giật trong vũng máu lại là chuyện hoàn toàn khác. Phải! Chắc hẳn Nel đang mang trong tim đầy nỗi sợ hãi, song đồng thời cả sự ghê tởm nữa, sự ghê tởm sẽ còn lại mãi mãi.


“Con bé sẽ sợ mình.” − Staś  nghĩ thầm. − “Nhưng trong đáy lòng, không hề chủ ý, Nel sẽ không bao giờ thôi oán trách mình về chuyện đó, và đó là phần thưởng mà mình được nhận sau khi đã làm tất cả mọi việc vì cô bé.”


Nghĩ thế, một nỗi cay đắng ghê gớm cuồn cuộn dâng lên trong lồng ngực em, em hiểu rất rõ rằng, giá như không có Nel, thì hoặc là em đã bị giết từ lâu, hoặc là đã trốn thoát từ đời nào rồi. Chính vì cô bé, em đã chịu đựng tất cả những gì mà em phải chịu, ấy thế mà tất cả những nỗi khổ hạnh và đói khát đó chỉ để mang lại mỗi một việc là giờ đây đứng trước mặt em hình như không phải là cô em bé bỏng kia nữa, mà là một đứa bé kinh hoàng đang ngước mắt nhìn em, không phải với vẻ tin cậy như xưa mà là với nỗi sợ hãi đáng ngạc nhiên. Đột nhiên, Staś  cảm thấy mình thật bất hạnh. Lần đầu tiên trong đời, em thấm thía thế nào là nỗi tủi thân. Mặc dù không muốn, lệ vẫn ứa ra mắt và giá như không có chuyện dù thế nào đi nữa, vị “chiến sĩ dữ tợn” này cũng không được khóc − hẳn em đã khóc òa lên rồi.


Song em cố nén và hỏi lại cô bé:


− Em sợ ư, Nel?... Cô bé khẽ đáp:


− Cứ... sờ sợ thế nào ấy.


Staś  bèn bảo Kali mang tấm nệm dưới yên lại, dùng một tấm phủ lên tảng đá lúc nãy em ngồi ngủ gật, chiếc thứ hai trải xuống đất và nói:


− Ngồi xuống đây cạnh anh bên đống lửa... Đêm lạnh quá phải không em? Nếu em buồn ngủ thì tựa đầu vào anh mà ngủ.


Song Nel vẫn nhắc lại:


− Cứ sờ sợ thế nào ấy...


Staś  cẩn thận dùng tấm chăn bọc lấy người cô bé, và một hồi lâu chúng cứ ngồi lặng đi như thế, tựa vào nhau, được ánh lửa hồng chiếu sáng, ánh lửa chập chờn trên các tảng đá và nhóng nhánh phản chiếu từ những mảnh mica trên các hòn đá.


Từ bên ngoài hàng rào vọng lại tiếng thở rừ rừ của ngựa và tiếng cỏ sột soạt trong miệng chúng.


− Nghe anh đây, Nel... − Staś  cất tiếng. − Anh buộc phải làm như thế... Gebhr dọa sẽ đâm chết chúng mình nếu như con sư tử không chịu dừng ở xác Kali mà tiếp tục đuổi theo chúng. Em có nghe không?... Em hãy biết là hắn không những chỉ đe dọa riêng anh, mà cả em nữa. Và hắn sẵn sàng làm chuyện đó. Nói thật với em, nếu như không có lời đe dọa đó, thì dù đã từ lâu anh hằng nghĩ tới chuyện này, anh cũng sẽ không bắn chúng nó đâu. Anh nghĩ là mình không thể... Nhưng hắn đã vượt quá mức rồi! Em thấy trước đó hắn hành hạ Kali tới mức nào rồi chứ? Còn Chamis? Hắn bán đứng chúng mình mới đểu giả làm sao! Thêm nữa, em có biết nếu như không tìm thấy Smain thì chúng nó sẽ làm gì không? Gebhr sẽ hành hạ chúng ta, hành hạ em hệt như đối với Kali thôi. Thật kinh khủng khi nghĩ rằng hắn sẽ dùng roi ngựa đánh em, hắn sẽ giày vò cả hai chúng mình, rồi sau khi chúng mình chết, hắn sẽ quay về Fasoda mà nói rằng chúng mình bị chết vì sốt rét... Nel, không phải anh làm như thế vì tàn bạo đâu, nhưng anh phải nghĩ cách cứu em... Anh chỉ nghĩ đến em mà thôi...


Trong giọng nói của Staś  lộ rõ sự tủi thân đang tràn ngập lòng em. Nel cảm nhận được điều đó, cô bé nép sát vào người em, sau khi nén nỗi xúc động em bèn nói tiếp:


− Anh nào có thay đổi gì đâu, anh sẽ chăm lo và bảo vệ em như trước kia thôi; khi chúng nó còn sống thì chúng mình không có một chút hi vọng nào thoát thân. Nhưng giờ đây chúng mình có thể chạy trốn tới Abixinia. Người Abixinia là người da đen và hoang dã, nhưng họ là tín đồ Thiên Chúa và là kẻ thù của bọn phiến loạn. Chỉ cần em khỏe mạnh thì chắc chắn chúng mình sẽ làm được chuyện đó, vì từ đây tới Abixinia không bao xa. Thậm chí, nếu như chúng mình không thành công đi nữa, dù cho chúng mình có rơi lại vào tay Smain, thì em cũng đừng sợ là hắn sẽ trả thù chúng mình. Trong đời hắn chưa bao giờ gặp Gebhr cũng như bọn Bedouin ấy cả, hắn chỉ biết có mỗi mình Chamis, nhưng Chamis đối với hắn có là gì đâu! Chúng mình cũng không cần phải nói với Smain là Chamis đi cùng với chúng mình làm gì. Nếu như chúng mình tới được Abixinia thì chúng mình sẽ thoát, mà dù không thoát đi nữa, thì ít nhất em cũng sẽ không bị khổ hơn, chỉ sướng hơn thôi, so với vừa rồi, vì trên thế giới có lẽ không có ai ác hơn bọn chúng... Đừng sợ anh nhé, Nel!...


Và muốn cô bé thêm tin tưởng, đồng thời cũng muốn cổ vũ thêm, em bắt đầu vuốt tóc cô bé. Nel vừa lắng nghe vừa rụt rè ngước cặp mắt lén nhìn em. Rõ ràng cô bé muốn nói gì đấy, nhưng cô chần chừ, do dự và lo sợ. Mãi sau, cúi thật thấp mái đầu, khiến tóc xõa che mất hoàn toàn khuôn mặt, cô bé mới hỏi bằng giọng còn khẽ hơn lúc trước và hơi run run:


− Anh Staś ...


− Sao hả em?


− Bọn họ có tới đây không?...


− Ai kia? − Staś  ngạc nhiên hỏi lại.


− Bọn kia... những người bị giết ấy.


− Em nói gì thế, Nel?


− Em sợ, sợ lắm!...


Và đôi môi nhợt nhạt của cô bé run lên.


Im lặng. Staś  không tin là những người chết có thể trở dậy, nhưng vì đang là đêm, xác chết của bọn chúng lại cách đấy không xa, nên em cũng chợt cảm thấy rờn rợn: Một cơn rùng mình chạy dọc sống lưng.


− Em nói gì thế, Nel? − Cậu nhắc lại. − Đấy hẳn là bà Dina dạy em sợ ma... Những người chết không...


Em không kịp nói hết câu, vào chính giây phút ấy diễn ra một chuyện thật rùng rợn. Giữa đêm trường tĩnh mịch, trong cái thẳm sâu của khe núi, từ phía những cái xác đang nằm, chợt vang lên một tiếng cười kinh rợn, không phải của con người, trong tiếng cười đó rung lên cả nỗi tuyệt vọng lẫn niềm sung sướng, cả sự tàn nhẫn, cả nỗi đớn đau, cả tiếng nức nở và sự giễu cợt, tiếng cười chói tai và bệnh hoạn của những người điên khùng và mất trí.


Nel thét lên, dùng hết sức bấu chặt lấy cánh tay Staś . Tóc Staś  cũng dựng đứng cả lên. Con chó Saba bật dậy sủa vang.


Song cậu bé Kali ngồi cách đấy không xa vẫn bình thản ngẩng đầu lên và nói gần như vui vẻ:


− Đó là linh cẩu đang cười giễu Gebhr và sư tử đấy.


(còn tiếp)


Nguồn: Trên sa mạc và trong rừng thẳm. Tiểu thuyết của Henryk Sienkiewicz. Nguyễn Hữu Dũng dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan. NXB Văn học in nhiều lần. NXB Hội Nhà văn in lần thứ 25 kỷ niệm 100 năm ngày tác giả từ trần (1916-2016).


www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »