tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20555501
Tiểu thuyết
03.08.2016
Anh Đức
Hòn đất



- Chắc là vậy... Ngạn tháo lấy cây đèn pin móc ở thắt lưng. Anh bấm đèn soi chân Thẩm. Con bé Thúy giờ cũng rón đến coi. Thẩm giơ tay nắm lấy tay con bé Thúy, bảo nó ngồi xuống cạnh anh. Vết thương của Thẩm đã được băng kỹ. Máu không còn chảy nữa. Khi Ngạn cúi nhìn vết thương, anh nghe Thẩm khẽ nói:


 


- Tao biết, tao không hề gì đâu... Miểng mọt chỉ chém sơ qua bắp chuối thôi. Phải chú ý coi sóc cho thằng Bé, cái tay của nó nát quá. Thằng nhỏ ngon lắm, không rên la gì hết!


 


Ngạn bước tới chỗ thằng Bé nằm. Anh bấm đèn nhìn. ống tay áo rách nát đã được cắt gọn, cánh tay thằng Bé được băng giáp tới sườn, và máu sẫm bết dính các lớp băng lại. Bàn tay phải còn lại của thằng Bé cứ cấu chặt xuống mặt chiếc đệm. Đôi mắt thằng Bé nhắm nghiền, miệng thở phập phào. Da mặt nó hơi tái lại, nhưng đôi môi vẫn tươi bậu, hênh hếch. Nó nằm đây tợ như nằm ngủ chớ không phải bị thương. Cái khuôn mặt trẻ thơ ấy tưởng như không phải đang đau đớn, tưởng như hãy còn vương tiếng cười khanh khách khi nó trườn giỡn với thằng út em nó trên bãi biển hay hí hửng vụt la ré khi cùng cha nó kéo lên khoang ghe một vạt lưới đầy cá. Nó còn nhỏ quá. Nhìn cặp mắt nhắm nghiền, đôi môi tươi bậu hênh hếch kia. Ngạn có cảm giác tim anh như bị một bàn tay nào bóp mạnh, rồi khi bàn tay đó thả ra, máu trong huyết quản anh như sôi lên. Đầu anh nhức nhói hình dung ngay tới bóng mấy thằng giặc lom khom trí những khẩu mọt - chê lên mặt ruộng. Rồi thì cái bộ tịch loay hoay ngắm nghía của thằng pháo thủ, cùng những trái lựu đạn đuôi chia, bộ chân súng có bàn rộng bè như chân vịt từ đó không rời ra khỏi đầu Ngạn nữa. Mãi đến lúc anh nghe thấy có tiếng anh Hai Thép gọi ở trước hang, anh mới đứng dậy. Anh khẽ bảo Quyên bấy giờ đang ngồi kéo lại ống tay áo, sửa lại áo quần cho thằng Bé:


 


- Mấy ảnh kêu họp kìa. Đi Quyên! Con Thúy nãy giờ vẫn còn ngồi nép vào vai Thẩm, Quyên nói với nó:


 


- Thúy ở lại chơi với cô Năm, với mấy chú, nghe?


 


- Dạ. Tất cả đảng viên hiện có mặt trong hang đều được triệu tập. Nhưng khi các đảng viên đã đến ngồi vây quanh thì anh Hai Thép lại nói:


 


- Ban nãy tôi định triệu tập các đồng chí đảng viên họp trước, nhưng có lẽ không cần, mình cứ họp tất cả anh em, trừ anh em đang có nhiệm vụ canh gác và trông coi thương binh. Các đồng chí thấy sao?


 


- Đồng ý, nên họp tất cả! Ba Rèn chạy đi gọi anh em lại. Anh Hai Thép lên tiếng:


 


- Không nói thì các đồng chí cũng biết lần này địch đánh lớn. Có thể nói đây là một trận càn quy mô hơn hết trong tỉnh. Sau khi đụng độ với ta ở ngoài Vạn Thanh, giặc đã tràn vô xóm. Ban nãy, chúng tôi có đứng trên Hòn coi thì thấy rõ ý đồ tụi nó định vây hang. Hiện tụi nó đã chiếm suối nước, và vòng quân của địch đã ngăn cắt chúng ta với trong xóm. Mới đây, anh em gác trên Hòn về cho biết có mười tàu mặt dựng vừa tới đậu cặp bãi, cách bờ chừng một cây số. Theo tôi tụi nó sẽ đánh hang. Tình hình là như vậy, nên chúng ta phải tìm cách đối phó... Giữa lúc Hai Thép đang nói, thình lình có những tiếng nổ vang rền cắt ngang lời anh. Bụi cát trên vòm hang vụt đổ xuống rào rào. Mọi người đều nhổm bật dậy. Không ai biết là cái gì. Kế đó tiếng nổ dội đến liên tiếp làm cho những gộp đá bên trên đều rung chuyển như sắp đổ sụp. Ngạn nói:


 


- Tôi nghi nó thụt mọt - chê 81 lên triền Hòn!


 


- Có lẽ! Anh Ba Rèn phủi tay:


 


- Ối, mình ở đây dẫu nó có bỏ bom tấn mình cũng khỏi sợ! Tiếng nổ vẫn tiếp tục không ngớt. ở trong hang mọi người nghe tiếng rền vang dội rất lâu, có đến mười phút sau mới dứt. Ai cũng lấy làm bực vì không biết bọn chúng đang làm gì. Mãi một lúc sau, Đạt nhỏ từ ngoài chạy xổ vào, la:


 


- Tụi nó bắn cà - nông lên Hòn quá sức. Bắn gẫy cây gẫy cối hết. Cháu núp sau mô đá, nghe tiếng miểng nó đi rẻng rẻng. Hai Thép hỏi Đạt:


 


- Còn tụi ở dưới xóm có động tĩnh gì không?


 


- Tụi nó siết chặt hơn hồi nãy. Quân nó đóng dày chung quanh đây hết. Từ chân Hòn mình trở ra chừng hai công đất đều có tụi nó!


 


- Ở gần miệng hang thì sao?


 


- Nó chưa vô sát miệng hang. Hai Thép nói:


 


- Tụi này bắn đại bác lên Hòn để dọn dẹp đây. Kiểu này thế nào nó cũng đánh vô. Tôi đề nghị bố trí ngay bốn tổ ba ba. Một tổ ở ngoài miệng hang, hai tổ thủ ở trong. Nên tập trung lựu đạn và tôm - xông cho các tổ đó. Ba Rèn và Ngạn đi bố trí liền đi. Còn bao nhiêu ở lại đây, tôi sẽ phân công. Anh Ba Rèn và Ngạn đứng lên. Hai tổ du kích và hai tổ của đội võ trang được chọn đi ngay. Ra cửa hang, Ngạn nói với anh Ba Rèn bấy giờ đã rút cây mã tấu cầm lăm lăm:


 


- Anh Ba à, anh thủ ở ngách, để tụi tôi trấn ngoài bìa cho.


 


- Được mà điều tôi dặn: nếu chú chịu với nó không xiết thì cứ rút. Tụi tôi đón nó.


 


- Đồng ý! Ngạn cùng hai tổ của mình đi qua khỏi các bùng binh, luồn ra miệng hang. Anh chọn những mô đá có lợi thế tốt nhất ở hai bên. Tới phụ trách một tổ và anh phụ trách một tổ. Tổ của Tới được phân cho hai khẩu tôm - xông và bảy quả MK3. Tổ của Ngạn thì có một tôm - xông, một trường mát và tám lựu đạn, cũng là lựu đạn MK3. Bố trí xong, Ngạn thấy Đạt ở trong hang chạy ra hớn hở:


 


- Chú Hai biểu em ra đây với mấy anh.


 


- Vậy hả? Tốt lắm! Vậy em ở đây với anh. Cây cạc - bin của em được bao nhiêu đạn?


 


- Bốn mươi lăm viên!


 


- Nghe nói em bắn "cạc" khá lắm hả? Đạt cười ngượng nghịu:


 


- Em bắn cũng được thôi. Chắc không bằng anh đâu!


 


- Anh chỉ bắn mát, chớ "cạc" anh ít bắn lắm! Đạt nói:


 


- Anh bắn mát giỏi thì nhứt định anh bắn "cạc" giỏi. Cây "cạc" bắn dễ trúng lắm. Mà bắn cây gì cũng vậy, em gẫm mình tỉnh thì bắn trúng. Ngạn nhìn bộ mặt chất phác dễ thương của Đạt, cười hỏi:


 


- Thường thường thì em có tỉnh không?


 


- Em tỉnh chớ! Đạt đáp dứt khoát.


 


Nghe Đạt đáp. Ngạn tin ngay là cậu ta nói thật. Đối với cậu thanh niên mười tám tuổi này, từ lâu Ngạn đã đem lòng thương mến. Mỗi lần gặp anh Tám trên huyện, Ngạn để ý thấy Đạt hay đi cắm câu, đi bẫy chim. Ngoài nhiệm vụ bảo vệ, Đạt còn ra sức cải thiện để anh Tám có được bữa ăn khá. Chính cậu ta đã đãi Ngạn mấy bữa cá nướng và chim cu đất "rô - ti" ngon lành. Nhưng điều khiến Ngạn thương Đạt hơn cả là hiện nay Đạt không còn cha mẹ. Mẹ Đạt chết khi sinh ra Đạt. Cha Đạt là cán bộ xã hồi kháng chiến, năm năm mươi tám bị bọn Diệm bắt đập đầu vứt xác trong bàu rừng. Hài cốt của cha Đạt và những người khác được chính chị em Quyên, Sứ gom về, bây giờ cũng hãy còn để chung trong hang. Nay Đạt chỉ còn có bà ngoại, trên sáu mươi tuổi, hiện ở bên Lình Quỳnh. Đạt đi bảo vệ anh Tám được hai năm. Nghe đâu có lần bà ngoại Đạt nhớ Đạt quá cứ đi lần mò kiếm nó thăm. Ngạn hỏi:


 


- Chiều hôm qua về Lình Quỳnh, em gặp bà ngoại rồi hả?


 


- Em gặp rồi... Ngoại em mừng quýnh, cứ ngồi rờ mình mẩy em mà khóc. Rồi ngoại em đi kiếm đu đủ hườm về nạo trộn gỏi cho em ăn. Em khoái ăn gỏi đu đủ trộn tôm xé lắm. Lần nào về ngoại cũng làm cho em ăn "đã" thôi.


 


- Món đó anh cũng khoái lắm.


 


- Ngạn nói.


 


- Em có đem về cho mấy anh năm xâu tôm lụi của ngoại em gởi... Ngạn đặt tay lên khẩu cạc - bin của Đạt, hỏi:


 


- Cây "cạc" em lên đạn chưa? Đạt gật đầu:


 


- Em lên rồi, nhưng đã khóa lại. Ngạn dặn:


 


- Em lựa chỗ núp chỗ day trở cho thiệt ngon đi! Đạt ngắm nghía chỗ mình, nói:


 


- Em ngồi đây được rồi! Đạt nâng khẩu cạc - bin lên, chĩa ra miệng hang, nhắm nghiền mắt trái. Cậu ta nheo mắt mấy lượt, đoạn liếm môi, bảo:


 


- Ở đây bắn sướng lắm! Đạt để súng dựa vào đùi, mở lấy bi - đông nước ra uống. Hớp mấy hớp nước, Đạt đưa bi - đông về phía Ngạn:


 


- Anh uống? Ngạn chỉ bi - đông nước đeo bên thắt lưng mình nói:


 


- Anh có đây...


 


- Dừng lại một giây, anh bảo:


 


- Uống nước in ít thôi nghe Đạt. Khi khát lắm hãy uống! Rồi Ngạn cũng dặn tất cả:


 


- Anh em nhớ phải tiết kiệm nước đấy. Trong hang có rất ít nước. Còn cơm khô, cốm dẹp của mỗi người là lương thực chính, đừng có buồn miệng đem ra nhai chơi đó! Tới hỏi:


 


- Ở trong hang có gạo mà?


 


- Có, nghe nói có hai giạ gạo. Nhưng hai giạ thì cao lắm là chịu được ba bốn ngày.


 


- Ba bốn ngày thì nó rút mất rồi, sợ gì?


 


- Chuyện đó chưa biết được. Ví dụ tụi nó vây riết mình độ một tuần lễ thì sao? Nghe Ngạn hỏi thế, không ai nói chi nữa. Mọi người lựa chỗ, ngồi im. Tất cả các mũi súng đều chĩa ra miệng hang. Ngạn đăm đăm nhìn cái lối mòn trên bãi cỏ cú. Anh nhìn những cây dừa đứng yên, những tàu lá dừa nhẫy nhượt, loáng nắng. Thấp thoáng vài tên lính áo quần xám xịt đang tới lui khuân vác những thứ gì không trông thấy rõ. Anh nghe tiếng xoong chảo khua loảng xoảng, tiếng la ó nhốn nháo từ xa vẳng tới và có cả tiếng dừa rụng bịch bịch.


2


Quyên bấm đèn pin cho chị Sứ coi lại những cà - om nước. Nhìn chị mình lòn bàn tay rà vuốt từng cái cà - om, Quyên hồi hộp hỏi:


 


- Sao, nó có rỉ chảy nữa không chị?


 


- Hơi ri rỉ... Và Sứ bảo:


 


- Em đứng đây, để chị chạy đi lấy tấm ni - lông. Phải cho mấy cái cà - om này vào ni - lông túm lại mới được. Nếu có chảy thì cũng chảy ra ni - lông.


 


Sứ chạy đi, lát sau chị trở lại tay cầm tấm vải nhựa rộng của chị. Chị mở tấm vải nhựa ra:


 


- Rọi đèn coi! Ánh đèn pin trong tay Quyên bật lên, quơ quơ soi tấm vải nhựa màu cánh gián. Sứ chăm chú nhìn rồi nói:


 


- Không sao, không bị lủng... Chị Sứ đem tấm vải nhựa trải xuống một chỗ phẳng nhất. Quyên soi đèn cho chị mình lần lượt khuân từng cái cà - om đặt xuống. Khuân xong tám cái cà - om nước, Sứ túm bốn chéo góc tấm vải nhựa, buộc lại. Vừa buộc chị vừa chép miệng:


 


- Phải Năm Nhớ nó không đập bể một cái thì có phải bây giờ được chín cà - om nước không! Buộc xong, chị đứng lên, bảo Quyên:


 


- Thôi, đi coi lại mấy khạp gạo coi! Hai chị em đi vào tận trong một cái hang xẻo nhỏ ở bên phía tay trái. Chợt trong hốc hang bên tay mặt có tiếng thở khì khì của tên chủ trại đáy và tiếng nói lí rí của mụ vợ. Nghe tiếng người nói đi ngang, mụ vợ cất tiếng nói như rên:


 


- Mấy ông ơi, cho vợ chồng tôi xin miếng nước! Quyên cấu tay chị:


 


- Nó xin nước kìa!


 


- Chuyện này để còn hỏi anh Hai đã? Quyên bước dấn tới, nói lớn:


 


- Xin nước uống à? Khoan đã!


 


- Trời... Ai như cô út Quyên đó phải không?


 


- Tiếng con mụ trại đáy kêu lên


 


- Tôi lạy cô, cô út ơi, xin cô làm ơn làm phước, xin cô nói giùm vài lời cho vợ chồng tôi được nhờ. Quyên không ngờ mụ Ba Phi nhận ra được tiếng mình. Cô vừa ngạc nhiên vừa bực bội:


 


- Lạy lạy cái gì, tôi không nói giùm gì được đâu. Chừng nào đem ra cho đồng bào xét xử, chừng đó mấy người muốn xin sao đó thì xin! Mụ Ba Phi càng thêm hoảng sợ:


 


- Đem ra xử... Trời ơi, vậy vợ chồng tôi làm sao mà sống cho đặng hở trời! Kêu thế xong, mụ đàn bà vùng khóc rống. Chợt có tiếng thằng chồng nạt: Nín, tao bảo nín. Quyên nghe thế, nghĩ bụng:


 


“À, thằng này gan, để coi mày gan được bao lâu? " Hai chị em tạt vào cái hang xẻo, thăm gạo. Sứ giở nắp, vốc gạo lên ngửi. Chị mừng rỡ nói:


 


- Còn tốt! Lia ánh đèn pin qua hai miệng khạp đầy gạo, Quyên thấy hơi vững dạ. Cô thì thào:


 


- Hai khạp này được ba giạ không chị?


 


- Không tới ba giạ đâu! Từ trong hang xẻo đi ra, chị Sứ vẫn lo lắng:


 


- Gạo thì có đấy, nhưng làm sao nấu cơm? Không thể lấy nước dự trữ đem nấu cơm được.


 


- Vậy thì làm sao bây giờ?


 


- Chị tính bữa nay thì mình đã có cơm đem theo, còn ngày mai đành rang gạo cho anh em ăn, được không?


 


- Cùng lắm thì cũng phải làm như vậy... Hai chị em Quyên, Sứ trở ra hang lớn gặp anh Hai Thép, trình bày cho anh nghe về tình hình gạo nước. Anh Hai Thép cười bảo:


 


- Thì tùy hai cô thôi, có ít tính theo ít chứ biết sao!...


 


Nhưng gì thì gì cũng phải ưu tiên cho anh em bị thương. Phải nấu cháo cho anh em đó! Sứ và Quyên bắt đầu mò mẫm đi kiếm mấy hòn đá đem vào góc hang, kê bếp. ở đây có xoong nồi, cả củi khô chẻ sẵn phòng khi giặc càn quét. Sứ móc bật lửa, quẹt xạch xạch. Chị lúi húi, một lúc sau bếp lửa mới chịu cháy. Quyên nhấc cái xoong nhỏ đi lấy gạo nấu cháo. Đem cái xoong vô đặt lên bếp xong, cô ngồi ấp hai bàn tay vào má, nhìn ngọn lửa nhảy nhót. Con bé Thúy từ chỗ anh Thẩm mon men đi ra. Nó đến sau lưng Quyên, đưa tay lên ôm cổ Quyên. Quyên quàng tay ra sau như cõng lấy nó. Con bé thỏ thẻ:


 


- Dì út nấu cơm cho con ăn đó hả? Quyên day lại, bậm trợn:


 


- Nấu cho mày? Không ở nhà với ngoại, vô đây cơm gạo đâu mà cho mày ăn. Nấu cháo cho chú Thẩm với chú út đó chớ! Con bé Thuý cười lỏn lẻn trên cổ Quyên. Sứ hỏi con:


 


- Nãy giờ con ngồi chơi với chú Thẩm có nghe chú ấy rên không? Con bé lắc đầu:


 


- Chú Thẩm đâu có rên! Nó buông cổ Quyên ra, tới ngồi bên mẹ nó, thủ thỉ:


 


- Má ơi, chú Thẩm nói chuyện đời xưa cho con nghe hay ghê lắm!... Chú nói hồi xửa hồi xưa có một con nhỏ con của vợ chồng người đốt than. Một hôm, má nó đau nặng. Nó nghe người ta nói ở trong rừng có một thứ lá trị bịnh hay lắm. Con nhỏ đi lơn tơn vô rừng kiếm hái lá đó. Ai dè hái được lá thuốc đó rồi, nó không nhớ đường về nữa. Nó đi lạc, gặp một cái nhà ở giữa rừng, chủ nhà là một bà già giàu có sung sướng lắm. Bà già đó rủ nó ở lại và hứa sẽ nhận nó làm con, sẽ cho nó vòng vàng, cho nó ăn uống đủ thứ... mà nó không chịu, tay nó cầm bó lá thuốc cứ nằng nặc hỏi thăm đường về. Lát sau, bà già hiện hình thành một cô tiên đẹp thôi là đẹp... Khi con bé Thúy mới nói đến chỗ:


 


“một cô tiên hiện ra đẹp thôi là đẹp... ", khi đôi môi nhỏ của nó còn đang xuýt xoa về cái vẻ đẹp tuyệt trần của nàng tiên nọ, thì phía ngoài hang chợt có tiếng súng nổ vang. Trung liên rộ lên hàng tràng dài giòn giã. Tiếp đó, những phát ga - răng nổ "bầm bầm bầm". Con Thúy vụt ôm mẹ nó chặt cứng. Quyên đứng phắt dậy:


 


- Chắc tụi nó mò vô cửa hang rồi! Sứ nói:


 


- Sao chỉ nghe súng của tụi nó mà chưa nghe súng của mình? Sứ mới dứt lời đã nghe tiểu liên tôm - xông bắn từng loạt ngắn "tạch tạch tạch", và tiếng súng trường, tiếng cạc - bin nổ "đoàng đoàng" từng phát một. Quyên la lên:


 


- Đó, đó, mấy ảnh bắn rồi! Đoạn Quyên chạy vụt ra. Sứ gọi giật:


 


- Quyên! Quyên! Nhưng Quyên vẫn không quay lại. Cô gặp anh Hai Thép và một số anh em ở ngách hang. Hai Thép nói:


 


- Nên ra thêm một tổ nữa, đi với tôi.


 


- Tôi.


 


- Tôi. Quyên sấn tới giơ tay đòi đi nhưng anh Hai Thép kéo cô qua một bên, làm cô tiu nghỉu. Hai anh du kích bước ra, đi theo Hai Thép. Chú Tư Nghiệp xách cây súng ngựa trời nói với anh Hai Thép:


 


- Cho tôi ra làm một phát này coi, ông!


 


- Còn một cây nữa đâu?


 


- Đây!


 


- Đem ra ngoài luôn đi! Tổ do Hai Thép dẫn đầu đi ra gần tới ngoài thì nghe tiếng Ba Rèn cười rúc rắc sau gộp đá:


 


- Thôi mấy cha ơi, cứ ở trỏng nghỉ cho khỏe, chưa tới lượt tôi mà đâu đã tới lượt mấy cha! Tụi nó vô bao nhiêu bị tổ chú Ngạn ở ngoài đó vật chết rồi. Cha nào muốn coi thì lại đây coi. Tụi nó nằm trước hang cả đống đây nè!


 


- Đâu, đâu? Ai cũng giành chen tới các gộp đá. Hai Thép ghé mắt nhìn qua kẽ đá hở. Anh đếm được sáu thằng giặc nằm rải dọc ngoài cửa hang. Hầu hết chúng đều nằm ngã ngửa, súng vất bên cạnh. Đạn địch vẫn bắn "cháo cháo" vào cửa hang. Quanh những cái thây sõng sượt, đạn cắm chít chịt, tóe từng bụm khói nhỏ cỡ bàn tay. ánh nắng mặt trời chiếu qua kẽ hở các tàu lá dừa. Bóng lá dừa in xuống các thây chết những vệt đen dài, coi sắc tợ những lưỡi gươm. Đạn địch bắn xối xả, bay sướt sượt qua vành nón sắt của các tên lính chết. Những khuôn mặt của bọn này trông đen đúa, láng nhờn, gây cho mọi người một cảm giác tởm tởm, buồn bã, bởi chúng đã chết rồi mà đạn phía bên chúng vẫn không tha, vẫn bấu quanh và lát lát có một viên bắn xuyên qua một bàn chân khiến cho bàn chết đó lại giật lên một cái. Anh Hai Thép sốt ruột nhìn những khẩu ga - răng Mỹ báng đen mun, nòng bạc sáng loáng nằm bên các thây chết. Mấy khẩu tôm - xông báng đỏ au, mấy xanh - tuya đạn mới xanh còn dính trên mình chúng. Đó đều là những thứ mà anh và anh em ước ao bấy lâu, có khi nó là đầu đề cho cả một câu chuyện, một cuộc cãi vã, và có khi nó còn hiện ra ngay trong giấc mơ của anh nữa. Bây giờ, các võ khí Mỹ ấy hiện sờ sờ trước mắt, thật sự, tưởng như có thể với tay mà lấy được. Nhưng rõ là bây giờ bọn giặc đang bắn để giữ các thứ đó không cho anh em xông ra cướp. Anh Hai Thép nôn nao mong sao cho hỏa lực địch dịu bớt. Anh nghĩ nếu tụi nó bắn lơi một chút thì thế nào cũng xông ra được. Nhưng lưới đạn của địch vẫn còn rất dày. Quanh trước miệng hang, đạn kêu "choé choé" như chuột lắc cắn ổ. Hai Thép ngó một lúc, chịu không nổi, quay lại bảo Ba Rèn:


 


- Phải tổ chức ra kéo súng vô hang mới được! Ba Rèn gật đầu.


 


Hai người lách men ra ngoài tổ của Ngạn. Đạn xẹt vô hang chạm đá, nhoáng lửa. Họ phải đi mon men theo các mô đá, nhảy thoắt từ sau mô đá này sang phía sau các mô đá khác. Anh Hai Thép đến bên Ngạn, hỏi:


 


- Sao, nó bắn rát quá không ra nổi hả? Ngạn lắc đầu. Vẻ mặt anh suy tính, căng thẳng. Trong lúc đó, Đạt ngồi chồm hổm dưới chân anh thì cứ nhăn mặt năn nỉ:


 


- Trời ơi, cứ để em bò ra... Em nhỏ con, nó không bắn trúng đâu mà... Cho em ra đi! Em ra nghe anh, em bò ra à? Đạt vừa nói vừa dợm mình nằm rạp xuống. Ngạn nhíu mày không đáp. Đạt ngỡ là Ngạn đã đồng ý, liền chống khuỷu tay trái xuống đất tính bò tới. Ngờ đâu Ngạn nghiêm nghị nói rành rọt từng lời:


 


- Tôi không cho chú đi. Chú không được đi, nghe chưa? Đạt nghe Ngạn bảo thế thì không dám trườn tới. Cậu ta cắn môi như sắp khóc:


 


- Anh không cho em đi, đây một chút nữa tụi nó tới lấy hết cho coi!


 


Ngạn không nói gì cả. Hồi nãy, anh em trong tổ cũng đòi bò ra, Ngạn đã không cho. Anh thấy đạn địch bắn khít quá, để anh em bò ra rất dễ trúng đạn. Những khẩu súng Mỹ ngoài cửa hang có quý thật, nhưng nếu vì những khẩu súng ấy mà để mất đi một vài anh em thì Ngạn không dám có ý nghĩ đánh đổi. Anh nghĩ:


 


“Súng kia còn có thể kiếm ra được, chứ một anh em mình mất đi khó kiếm lại được lắm". Anh cũng có ý định tự mình bò ra thì tốt hơn, vì anh tin mình trườn thành thạo hơn. Nhưng rốt cuộc chính anh cũng không dám tự cho phép mình làm điều ấy. Anh không sợ chết, nhưng anh sợ cái chết không đáng, và anh thấy cuộc chiến đấu này còn ngày mai, ngày kia nữa chứ không phải anh chỉ có mặt bấy nhiêu rồi ngã quay lơ ra. Đối với Đạt, lòng anh lại càng không cho phép. Đạt nằn nì đến sắp khóc để được anh cho bò ra, nhưng chính vì Đạt quyết tâm như thế, mà anh càng muốn giữ Đạt lại. "Nó mới có mười tám tuổi, không thể để nó chết được! " Ngạn nghĩ vậy. Anh còn thấy hiện ra trước mắt mình mớ tóc bạc phơ của bà ngoại Đạt, thấy ánh hy vọng cuối cùng còn lại của một bà cụ già sáu mươi hai tuổi không thể nào để cho tắt nốt đi được.


 


- Tôi ra!


 


Lại có tiếng một người thốt lên, giọng kiên quyết. Đó là chú Tư Nghiệp. Người du kích trạc bốn mươi tuổi này nói xong cởi phăng áo. Chú cởi luôn cả quần dài, chỉ còn mặc một chiếc quần cụt. Tất cả những động tác chuẩn bị của chú như nói rằng chú đã quyết rồi và chú có thể làm được việc ấy. Chú hỏi:


 


- Anh em nào có dây dù hay dây gì gom lại cho tôi mượn coi!


 


- Chi vậy?


 


- Tôi cầm dây bò ra ngoài buộc vô súng, mấy cha ở trong này cứ nắm mối dây kéo vô. Ngạn lắc đầu:


 


- Thôi chú Tư, khoan ra đã chú!... Lát đây thế nào nó cũng tấn công... Tôi tính... Tư Nghiệp hậm hực:


 


- Nếu nó tấn vô thì nó lượm súng lại ráo. Như vậy kể như mình hút gió. Ngạn bảo:


 


- Không đâu, nếu nó tấn công mình sẽ đánh cho nó dội lại như lần trước, không cho nó kịp lấy thây, lấy súng. Và lần này khi nó dội lại, tôi đề nghị mình sẽ ào ra giựt súng liền. Tôi sẽ cùng Tới, Trọng bắn kềm cho anh em lấy súng đạn, anh em đồng ý không? Hai Thép gật gù tán thành ý kiến Ngạn. Ai cũng cho đó là cách tốt nhất. Ngạn nói tiếp:


 


- Nếu làm thì phải làm thiệt mau... Còn bây giờ thì thôi, cho nó bắn "đã" đi, mình cứ ngồi nghỉ. Lát nữa đánh bật nó rồi, hễ tôi phóng ra là anh em theo tôi liền nghe!


 


- Được rồi! Đạt nghe cái kế hoạch chớp nhoáng đó thì nét mặt cậu ta hớn hở lại. Tư Nghiệp lẩm bẩm:


 


- Làm vậy được. Nhưng phải cho lẹ đa. Thế là mọi người ngồi đợi một cuộc tấn công mới của địch. Kế hoạch của Ngạn đề ra vừa táo bạo, vừa chắc ăn, khiến cho ai cũng vừa thích thú vừa hồi hộp. Trong lúc ấy, đạn địch vẫn bắn xối xả vào hang. Ngạn móc cái bì thuốc nhỏ nhỏ xinh xinh, lấy thuốc cuộn một điếu. Nguyên cái bì thuốc này do Quyên may cho anh. Vải túi là vải dù pháo sáng mà cô nhặt được trên bờ biển, của bọn khối xâm lược Đông Nam á tập trận năm ngoái thả xuống. Ngạn nhớ lại lúc anh cầm cái túi này của Quyên đưa cho, anh đã reo lên:


 


- A, hoan nghinh! Thì Quyên lườm anh:


 


- Ghiền thuốc mà không biết kiếm cái gì đựng, người ta mới tội nghiệp may cho đó. - Rồi Quyên còn cấu tay anh


 


- Chớ không phải "xúi" ông hút nhiều nữa đâu nghe "ông"?


 


Mỗi lần móc thuốc từ trong bì ra vẫn hút, anh lại tủm tỉm nhớ lại câu nói đe đó của Quyên. Giữa những phút căng thẳng gay go, những câu nói như vậy chừng như đến với anh rõ hơn. Như lần anh bị bắt. Lúc chúng dắt anh đem bắn và lúc anh nung nấu cái ý định tự giải thoát, thì Quyên chính là cái bóng người vẫy gọi, thúc giục anh nhiều nhất. Hầu như anh luôn có cảm tưởng là không đời nào anh lại chết mà không gặp lại Quyên cho được. Bây giờ cũng thế, dù cuộc xô xát sắp tới có quyết liệt đến dường nào, anh cũng tin rồi sẽ bình yên, sẽ ngó thấy lại khuôn mặt trái xoan đầy đặn của Quyên. Anh tin thế nào cũng sẽ được nhìn lại đôi mắt to đen luôn mở trố như ngạc nhiên, và rồi anh lại đặt cằm mình lên mớ tóc dày mướt mượt cứ ngan ngát cái mùi hương của những bông cau non tơ. Mà tất cả những cái ấy thực ra nào có phải chỉ là Quyên! Người con gái anh thương yêu đó vốn chỉ là cái biểu tượng kết đọng lại của bao nhiêu thứ khác.


 


Trong Quyên hình như có trái măng cụt ngọt thau, có những cây tre vàng nắng, có lá cành li - ki - ma xanh um, có tiếng nói yêu thương âu yếm của các mẹ già cùng tiếng bập bẹ ngây thơ của các em bé. Thật là trong Quyên như chứa đựng đủ mọi thứ đó. Quyên là tiếng xạc xào của rừng dừa, tiếng sóng biển vỗ lên bờ bãi, tiếng thét của đoàn người đấu tranh, ánh đuốc bập bùng, tiếng khóc và tiếng cười vui. Quyên là cô, nhưng đồng thời cũng là anh em đồng chí khác. Mối thương yêu riêng tây này gắn liền Ngạn với cái chung quý giá là cách mạng, là cuộc sống mới giành lại được ở miền đất nằm kề biển cả này. Cứ mỗi một năm, mỗi một tháng, Ngạn lại càng thấy thương thêm những ngôi nhà sàn, những bà con Khơ me thật thà, những đàn cò trắng chiều nào cũng trở về lượn cánh trên đầu các cô gái đi đội nước suối Lươn, vây vẫy đôi bàn tay dịu nhĩu, cười nói râm ran. Mọi hình ảnh ấy giờ đây nổi lên rõ quá, gắn bó với Ngạn quá. Cho đến khi Ngạn ngó thấy những chiếc nón sắt nhô ra khỏi vườn dừa thì anh liệng vội tàn thuốc, nhét cất túi thuốc, khẽ kêu:


 


- Kia kìa, tụi nó ló ra rồi kia kìa! Tất cả mọi người mím chặt môi, gật đầu. Ngạn nhắc Đạt:


 


- Mở khóa súng chưa?


 


- Em mở rồi!


 


- Tôi nhắc lại, lát nữa khi tôi, Tới, Trọng vọt ra thì anh em vọt theo, không sớm, mà cũng không chậm, nghe chưa? Miệng nói với anh em, mắt Ngạn dõi nhìn bọn giặc đang nổ súng và tiến tới. Chúng đi lom khom, súng cắp nách bắn bừa vào miệng hang. Ngạn áng chừng bọn giặc cỡ khoảng hai trung đội. Đi trước là bọn biệt kích, coi rất táo tợn. Ban đầu chúng còn đi, về sau chúng chạy tới như ngựa sải. Ngạn trông thấy một thằng ở trần, ngực đeo lòng thòng những sợi dây bùa và một vật gì lóng lánh. Vừa lúc đó Ba Rèn chợt kêu lên:


 


- Thằng Xăm! "A, đúng nó rồi! "


 


Ngạn nhận ra và anh nheo mắt giương tôm - xông bắn ngay một loạt. Tên trung úy biệt kích ác ôn chợt đứng sững, vai phải rủ xuống. Chỗ ấy cách miệng hầm chừng mười bước. Ngay lúc đó hai thằng giặc nhảy vụt đến xốc nách thằng Xăm, lặt lìa chạy đi. Tiếp theo loạt súng của Ngạn là những loạt súng của Tới, Trọng, Đạt bắn chĩa vào đám giặc đang ùa tới. Bọn chúng té nhào, la rú. Ngạn bắn hết băng đạn còn lại, đóng ngay một băng mới vào, lia tiếp. Bọn giặc xổ tới liền bị hất lật ngửa, nằm sát miệng hang. Nhưng chúng chưa bỏ chạy. Bọn còn lại lùi lũi xông lên. Tới mở một trái MK3, để chậm tới ba tiếng mới vụt ra. Trái lựu đạn Mỹ nổ vang động, khói che kín cửa hang. Ngạn thét:


 


- Một trái nữa! Quả MK3 thứ hai của Trọng ném vụt tới đám giặc vừa nhổm dậy. Quả này nổ ra đã chặn đứng ngay cuộc xung phong. Bọn giặc ùa trở lại hết cả. Ngạn thoáng thấy hai tên biệt kích cõng xác tên Xăm chạy xồng xộc. Ngạn nổ theo một loạt ngắn. Chúng vẫn còn vác thằng Xăm chạy. Anh nhảy phắt ra, lia thêm một loạt nữa và thét to:


 


- Xung phong! Rồi anh phóng vụt ra miệng hang. Tới, Trọng cũng lao theo. Ba Rèn, Hai Thép và anh em ùa cả ra kéo súng, chạy vội vào. Chú Tư Nghiệp và Đạt lúi húi tháo mở xanh - tuya trên những xác giặc, mãi một lúc sau khi vừa mở được hai cái xanh - tuya đạn và mấy băng tôm - xông thì địch đã bắt đầu dừng lại bắn trả. Hai người bò vào hang dưới làn đạn rát rạt của địch và làn đạn của anh em từ trong hang bắn ra yểm hộ. Đạt bò như một con ếch, hai cái đùi mập chắc của Đạt cứ co lên duỗi xuống, còn một tay Đạt lôi hai cái xanh - tuya đạn. Chú Tư Nghiệp bò chậm nhưng kỹ hơn, đôi chân dài ngoẵng đầy lông của chú cứ chòi chòi, đạp đạp. Ngạn vừa bắn vừa theo dõi hai người. Chỉ còn có mấy với tay nữa là tới miệng hang. Hai Thép khích lệ:


 


- Ráng chút nữa! ... Rốt cuộc hai người bò vào đến nơi, mình mẩy sây sát, đầu gối đều rớm máu, nhưng không bị trúng viên đạn nào. Đôi mắt của Đạt sáng ngời. Cậu ta kéo hai dây xanh - tuya đạn ga - răng vô hốc hang, dựa lưng vào vách đá ngồi thở và cười, cái miệng cậu ta chành bành. Còn chú Tư Nghiệp thì đặt hai bàn tay nơi đầu gối, thở dốc:


 


- Đạn nó đi biết nóng lưng nghe! Chú cầm một băng đạn tôm - xông lẩy ra một viên coi thử. Đạn mới tinh, vàng chóe, sau đít có một chấm sơn tím. Chú đưa viên đạn lên mũi ngửi rồi nói:


 


- Mẹ, thơm nhản hết sức mấy cha! Bộ nó mới khui đạn thùng ra mà! Chú chuyền các băng đạn cho anh em bắn tôm - xông và hỏi:


 


- Lấy được mấy cây súng?


 


- Sáu cây, năm ga - răng, một tôm - xông. Ba Rèn đáp, và phát ngay cho Tư Nghiệp một khẩu ga - răng kẹp đầy những lam đạn óng ánh nơi dây đai. Tư Nghiệp mừng quá, đưa tay run run đỡ lấy cây súng nặng trĩu mà bụng dạ cứ bán tín bán nghi, ngỡ như chiêm bao. Chú ôm cây súng vuốt ve từ nòng tới báng. Ba Rèn nói:


 


- ạng thấy đời ông tươi chưa? Mới vác "ngựa trời" đó mà bây giờ ông cầm ga - răng rồi!


 


- Thì phải tươi vậy mới được chớ... Có gan làm giàu mà! ‰, súng này phát luôn chớ ta?


 


- Phát luôn. Mình còn lấy nữa, thiếu gì!


 


- Tôi được thủ cây ga - răng này thì chơi với nó có chết cũng mát bụng. Ngạn cười, móc vắt cơm ra. Trời đã gần đứng bóng. Ai cũng chợt thấy đói bụng, liền lấy cơm vắt hồi hôm ăn nghiến ngấu. Mọi người đang ăn nửa chừng thì Quyên từ trong luồn ra. Cô cầm một xâu tôm búi nướng, rút chia cho từng người. Chia hết xâu tôm, Quyên ngồi nép vào vách đá, hớn hở rờ coi những cây súng mới lấy được. Lát sau, cô đến bên Ngạn, hai tay đặt lên ngực mình như nén nỗi hồi hộp hãy còn dâng đầy:


 


- Hồi nãy, em thấy anh chạy vụt ra!


 


- Em ngồi ở gộp đá phía sau anh à? Quyên gật đầu. Cô chăm chú nhìn Ngạn bẻ cơm đưa lên miệng ăn ngon lành. Lát sau, Quyên nói giọng giận dỗi:


 


- Mấy anh không tin tưởng em, không chịu cho đánh chác gì hết!


 


- Không phải không tin đâu, tại chưa cần đó thôi. Chừng nào cần tới em thì em đánh, đừng nóng.


 


3


Thằng Xăm từ từ mở hé mắt... Hắn thấy bả vai trái đau ê ẩm dưới lớp băng. Hồi nãy, hai viên đạn tôm - xông đã ghim vào đấy. Nhưng hai viên đạn đó chưa giết chết hắn. Bây giờ hắn tỉnh lại dần. Nằm trong lều vải, hắn nhớ lại sự việc vừa xảy đến. Cái khuôn mặt của tên Việt cộng nhú lên sau mô đá đã nổ súng vào hắn hình như là hắn có gặp ở đâu rồi. Nhưng hắn không nhớ rõ. Làm sao hắn có thể nhớ cho hết được hàng trăm người mà hắn đã giết hoặc đã giết hụt. Tuy nhiên hắn ngờ ngợ kẻ bắn hắn là một trong số người đã từng giáp mặt với hắn mà hắn đã để sẩy. Đây là lần đầu tiên hắn bị bắn, phải bỏ cuộc. Hắn nghĩ bụng:


 


“Đáng lẽ mình phải bóp cò trước nó". Một tên chuẩn úy y tá trưởng đeo kính ngồi nhổm bên cạnh hắn, bảo:


 


- Vết thương của trung úy không sao đâu.


 


- Không sao hả?


 


- Không... Nhưng có thể hơi lâu lành...


 


Xăm không hỏi nữa. Hắn đưa tay lên ngực, rờ rẫm cái hình mặt chằn có nanh ngà, mê muội nghĩ rằng nếu không có cái mặt chằn ấy, chắc đâu hắn đã còn sống. Lâu lắm rồi hắn mới trở lại Hòn Đất, mà lần này hắn lại bị đánh trả dữ dội. Đó là điều hắn không ngờ. Qua cái bãi chông ban sáng và hai lần thọc vào hang đều bị đánh giạt ra, hắn thấy Hòn Đất hôm nay có cái gì không giống với Hòn Đất thuở hắn còn làm xếp bót. Hắn ngạc nhiên và tức giận lồng lộn. Hắn nghĩ:


 


“Không thể như thế được đâu, tao sẽ bắn nát đầu tụi bay! " Hắn liếc nhìn vết thương rồi đột ngột hỏi tên y tá trưởng:


 


- Đã bắt đầu đánh vô hang nữa chưa?


 


- Thưa anh Hai chưa!


 


- Sao không đánh?


 


- Chưa có lịnh của Bộ chỉ huy. Xăm vụt nhổm dậy, nghiến răng trèo trẹo:


 


- Đ. mẹ, gần một ngàn thằng mà không vô hang được, để tụi nó bắn mình cứ té sụm sụm, tức muốn ói máu.


 


- Thưa anh Hai, tụi nó núp trong hang đó có thế lắm! Xăm nín lặng. Hắn thấy tên chuẩn úy y tá trưởng nói đúng. Thật, đánh vô cái hang đó đâu phải dễ, thì chính việc hắn bị thương nằm đây đã nói rõ điều đó.


 


- Hồi trưa có mấy ông cố vấn Mỹ đi trực thăng xuống. Nghe đâu mấy ổng cho lịnh cứ vây siết, thì tụi nó thế nào cũng chết đói chết khát. Tôi cũng mới được lịnh của mấy ổng biểu bỏ thuốc độc xuống suối... Tên Xăm nghe nói, giật mình nhổm dậy, hỏi lại:


 


- Bỏ thuốc độc à? Tên y tá gật đầu. Xăm lo lắng ra mặt. Hắn nói:


 


- Rồi nước đâu mình uống? Dân trên Hòn không biết, uống chết hết còn gì?


 


- Ngăn suối lại, bỏ thuốc độc ở khúc gần hang thôi! Thằng Xăm ngả đầu xuống. Hắn nghĩ tới mẹ hắn và Cà Mỵ. Hồi sáng, khi kéo quân đến, hắn có ghé qua nhà. Mẹ hắn hỏi hắn với giọng không hằn học, mà có vẻ hơi mừng là khác. Thành ra hắn đâm vui. Bây giờ, hắn chợt nảy ra cái ý nghĩ giá hắn được về nằm ở nhà thì chắc sướng hơn nằm trong cái lều oi bức này. Hắn liền nói với tên y tá:


 


- Tao muốn về nhà bà già tao nằm quá! Tên này lắc đầu:


 


- Không được, anh Hai nằm ở đây để còn làm thuốc chớ. Chừng nào vết thương anh Hai lành miệng thì có thể về.


 


- Nhắm vài ngày nữa lành miệng chưa?


 


- Vài ngày nữa thì chắc khá! Tên Xăm nằm im, không nói chuyện nữa. Xung quanh hắn vẫn dậy lên những tiếng ồn ào. Bọn lính đang ăn ơm. Vòng vây của chúng bao quanh hang có tới hai lớp. Lớp ở gần hang và một lớp ở gần xóm. Vào giờ này, bọn lính ở xóm la cà thả rểu vào các nhà dân. Một toán lính bảo an đến quán thím Ba ú ngồi nói chuyện om sòm. Thím Ba ú tay không rời được cái cóng đong rượu. Hôm nay, thím tỏ ra là một người chủ quán vui tính hết sức. Thím gọi bọn lính bằng cậu, nói chuyện với chúng ngọt xớt:


 


 


- Mấy cậu đi như vầy mỗi tháng lãnh được mấy ngàn?


 


- Mấy ngàn? Một ngàn tám chớ mấy! Thím coi nhắm bấy nhiêu đó có đủ đút lỗ miệng không? Thím Ba ú liền trố mắt, vẻ ngạc nhiên:


 


- Một ngàn tám à, bộ mấy cậu nói giỡn sao chớ? Một ngàn tám làm sao sống! Vậy vợ con chắc lãnh riêng?


 


- Lãnh riêng cho mà ham. Nội vụ chỉ có bấy nhiêu đó thôi, bà ơi! Thím Ba ú liền buông xuôi hai tay lên bắp vế, chặc lưỡi:


 


- Vậy mà lâu nay tôi cứ ngỡ mấy cậu ăn lương tệ gì cũng cỡ ba ngàn sắp lên! Bọn lính đều cười về sự hiểu lầm của thím Ba. Một người hạ sĩ tuổi trạc hăm lăm, mặt mày đen đúa, tóc bờm xờm trổ tới mang tai, uống hết ly rượu, chép chép miệng ngó thím Ba:


 


- Thím làm như tụi Mỹ nó không biết tiếc tiền!


 


- Nghe nói Mỹ nó giàu lắm mà?


 


- Thì tụi nó giàu chớ... Bởi giàu nên nó mới bỏ tiền ra mướn tụi tôi đi đây. Nhưng nó dại gì mướn giá cao. Chỉ có tụi tôi là dại... Người hạ sĩ nói tới đó chợt dừng lại đưa bàn tay luồn vào mớ tóc bờm xờm của mình, vẻ mặt coi mòi chán ngán và rầu rĩ lắm. Thím Ba ú hỏi y:


 


- Xin lỗi, cậu người xứ nào?


 


- Tôi gốc gác ở Mặc - cần - dưng! Thím Ba ú sững sờ:


 


- Ủa, té ra cậu ở Mặc - cần - dưng, tức làng Bình Hòa?


 


- Phải, thím biết xứ đó sao?


(còn tiếp)


Nguồn: Hòn đất. Tiểu thuyết của Anh Đức. Rút từ Anh Đức – Tác phẩm được Giải thưởng Hồ Chí Minh. NXB Văn học, 2007.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
xem thêm »