tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19012982
31.07.2016
Tư liệu
Ngô Thị Ngọc Dao

 


(1421 - 26 tháng 2, 1496)


Còn gọi là Quang Thục thái hậu (光淑太后), là một phi tần của Lê Thái Tông, mẹ đẻ của Lê Thánh Tông của triều đại nhà Hậu Lê.


 


Ngô Thị Ngọc Dao là người đã hết lòng cùng con chăm lo sự nghiệp đế vương, là một trong những chỗ dựa tin cậy của Lê Thánh Tông. Đại Việt sử ký toàn thư ghi rõ rằng, chính bà là người đã không quản đường sá dặm dài, cùng Lê Thánh Tông tiến hành cuộc tấn công vào đất Chiêm Thành, cuối năm 1470, đầu năm 1471[3].


 


Ngô Thị Ngọc Dao có nguyên danh là Bính, người làng Động Bàng, huyện Yên Định, phủ Thanh Hóa (nay là xã Định Hoà, huyện Yên Đinh, tỉnh Thanh Hóa)[4].


 


Ông nội bà là Ngô Kinh, gia nô của Lê Khoáng và sau đó là Lê Lợi, mất trước khởi nghĩa Lam Sơn. Sau được truy Thái phó Hưng quốc công. Cha bà là Ngô Từ, là gia nô của Lê Lợi, giữ vai trò cung cấp quân lương trong những ngày đầu khởi nghĩa Lam Sơn, khai quốc công thần nhà Hậu Lê.


 


Năm 1435, Ngô thị được 14 tuổi, con nhà lương thiện được tuyển vào cung. Lời nói thành giáo huấn, nết na hợp khuôn phép. Đối bậc trên đúng lễ độ, tiếp kẻ dưới có ân tình, được Lê Thái Tông rất mến yêu. Năm 1440, bà được phong Tiệp dư, ngự ở Khánh Phương cung.


 


Trước đây, Lê Thái Tông đã có 2 bà phi là Nguyên phi Lê Ngọc Dao, con gái của Đại tư đồ Lê Sát, và Huệ phi Lê Nhật Lệ, con gái của Tư khấu Lê Ngân. Khi Lê Sát và Lê Ngân bị xử chết năm 1437, hai người bị phế. Lê Ngọc Dao xuống làm dân thường còn Lê Nhật Lệ xuống làm Tu dung (修容). Sau đó Thái Tông sủng ái bà Dương Thị Bí và sinh ra con trưởng là Lê Nghi Dân vào năm 1439.


 


Năm 1440, Thái Tông bắt đầu sủng ái Nguyễn Thần phi và lấy cớ Dương phi kiêu ngạo nên truất làm Chiêu nghi (昭儀). Năm sau, một người con trai thứ hai là Lê Khắc Xương ra đời, nhưng mẹ là Bùi Quý nhân không được yêu mến. Cùng năm đó Nguyễn Thị Anh sinh được Lê Bang Cơ, liền truất Lê Nghi Dân, con của Dương chiêu nghi, khi ấy mới 2 tuổi, làm Lạng Sơn vương và lập Bang Cơ làm Thái tử kế nhiệm.


 


Năm 1442, ngày 20 tháng 7, Ngô tiệp dư sinh hạ người con trai Lê Tư Thành. Ngô Tiệp dư mới sinh vài tháng thì Lê Thái Tông qua đời. Lê Nhân Tông lên ngôi, phong Tư Thành làm Bình Nguyên vương. Nguyễn Thần phi trở thành Hoàng thái hậu, vì Ngô Tiệp dư là mẹ của thân vương, nên đặc cách thăng Sung viên coi việc phụng thờ ở Thái miếu.


 


Năm 1459, vào tháng 10, mùa đông, Lạng Sơn vương là Lê Nghi Dân gây biến. Hoàng thái hậu và Nhân Tông Tuyên hoàng đế bị giết hại. Bình Nguyên vương Tư Thành được cải phong làm Gia vương, Ngô sung viên vẫn sống bình yên cùng con trai trong cung.


 


Năm 1460, các đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Lăng, Lê Niệm, Nguyễn Đức Trung làm binh biến giết chết Lê Nghi Dân và đưa Gia vương lên ngôi, tức Lê Thánh Tông. Lê Thánh Tông tôn mẹ làm Thánh mẫu Hoàng thái hậu (聖母皇太后), ở Thừa Hoa điện.


 


Bà thường về ở Đông Triều, ăn chay niệm phật thanh đạm, sáng suốt, khỏe mạnh sống lâu rất là vui vẻ, lấy kiệm cần mà răn dạy người đời, lấy nhân hậu mà nhắc nhủ quan gia.


 


Năm 1496, ngày 26 tháng 2, Thái hậu qua đời, thọ 75 tuổi. Sau khi bái yến Lam Kinh, bà bị bệnh nặng rồi mất tại Thừa Hoa điện. Lê Thánh Tông đau buồn, truy tôn bà làm Quang Thục hoàng thái hậu (光淑皇太后).


 


Lúc Hoàng thái hậu mới bị mệt nặng, Lê Thánh Tông và Thái tử Lê Tranh ngày đêm chầu chực bên giừơng bệnh, thuốc thang cơm nước tự nếm trước. Trong thì cúng tổ tiên, ngoài thì nghe dân chúng cầu khấn các thần không thiếu nơi nào. Khi Thái hậu không cử động được nữa, không mong cầu được, Thánh Tông tự đặt hiệu mà gọi rồi kêu khóc, Hoàng thái hậu vì thế cố mở miệng muốn nói mà không ra tiếng. Việc khâm liệm, phạm hàm đều do Hoàng đế tự làm, viết điếu văn, đặt quan tài ở điện để viếng, định tháng 10 rước về Sơn Lăng, nhưng Thánh Tông hoàng đế cũng băng hà nên chưa làm lễ an táng được.


 


_____


 


^ Có thuyết là 1471


 


^ có thuyết là cửa Sót (nay thuộc huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh)


 


^ Lần giở trước đèn, Nhà xuất bản Thanh Niên, 2003, tr. 145.


 


^ Có người cho rằng quê bà ở làng Thịnh Mỹ (làng Mía), nay thuộc xã Thọ Diên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Xem [1].


 


Tham khảo


 


Nguyễn Q. Thắng & Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản KHXH, 1992.


 


Nguyễn Khắc Thuần & Lý Thị Mai, Lần giở trước đèn, Nhà xuất bản Thanh Niên, 2003.


 


Đại Việt sử ký toàn thư tập 2, Nhà xuất bản KHXH, Hà Nội, 1985.


 


Lê Quý Đôn toàn tập, tập 3 (Đại Việt thông sử), Nhà xuất bản KHXH, Hà Nội, 1978, tr. 125-126.


 


wikipedia


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dấu xưa danh tướng và đình chùa cổ Phú Nhuận - Hồ Tường 30.04.2017
Giữ độc lập cho bầu trời - Mai Thanh Hải 30.04.2017
42 năm thống nhất đất nước (30.4.1975-30.4.2017): Chuyện về giữ sân bay và tìm phi công ở Tân Sơn Nhất - Mai Thanh Hải 30.04.2017
Ủy ban kiểm tra Trung ương đề nghị kỷ luật ông Đinh La Thăng - Nhiều tác giả 27.04.2017
Kết luận về một số sai phạm của lãnh đạo Tập đoàn dầu khí Quốc gia Việt Nam PVC - Tư liệu sưu tầm 27.04.2017
Cuộc tấn công Quyến rũ của Trung Quốc đã kết thúc? - Tư liệu 27.04.2017
Tình cảnh những cựu binh Mỹ trở về từ Việt Nam - Kyle Longley 27.04.2017
Báo cáo về vụ nổi dậy ở Thái Bình 1997 - Tương Lai 27.04.2017
Trao đổi với Giáo sư Phan Huy lê về Sử Việt - Hà Văn Thùy 27.04.2017
Chuyện ít biết về cơn bão từng làm chết 3.000 người ở Sài Gòn - Nhiều tác giả 26.04.2017
xem thêm »