tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18411515
Những bài báo
30.07.2016
Nhiều tác giả
Những bài viết về Trần Văn Thắng với Đinh Đinh Trà Tân Cương Thái Nguyên



Người ngoại đạo Trần Văn Thắng làm ra chè 3 triệu đồng/kg


Loại chè có tên Đinh Đinh do anh Trần Văn Thắng (Thái Nguyên) làm ra có mức giá rất đắt nhưng vẫn hút hàng vì cách chế biến đặc biệt.


Tác giả của thương hiệu trà "siêu đắt" chính là anh Trần Văn Thắng ở xóm Hồng Thái 2, xã Tân Cương, TP. Thái Nguyên. Trong xưởng sản xuất trà ở xã Hồng Thái, anh Thắng biểu diễn cách pha trà một cách rất điêu luyện. Từ việc tráng ấm đến "rửa trà" đều theo những phương pháp của trà đạo. Anh Thắng bảo, dân gian cứ quan niệm nước pha trà phải sôi thì trà mới chín. Như thế là sai, nước chỉ nên sôi lăn tăn thì trà mới giữ mùi toả hương vị đậm được.


Trà “siêu đắt” chỉ được chế biến từ búp non.


Nhìn cách pha, cách uống ấy không ai nghĩ anh là "dân ngoại đạo". Thế nhưng, anh Thắng thành thật: "Tôi chỉ là người ngoại đạo mà thôi. Tôi không phải dân gốc đất chè, cách làm chè thì tôi càng không phải là con nhà nòi".


Anh Thắng quê gốc ở xã Xuân Kiên, Xuân Trường, Nam Định. Tuy nhiên trước đó ông bà và bố mẹ anh đã lập nghiệp ở Thái Nguyên. Họ chỉ là những người làm thuê cho các xưởng chè trong và ngoài xã. Nhưng sau này, anh Thắng quyết tâm sẽ xây dựng riêng cho gia đình một thương hiệu trà, một ha chè mà cả gia đình gom góp lại để mua là "nguồn sống" duy nhất cho hàng chục con người.


Ấy vậy mà "dân ngoại đạo" như anh Thắng đã nhanh chóng khẳng định chỗ đứng của sản phẩm trên thị trường địa phương. Trà do gia đình anh làm ra tuy không phải đặc sản nhưng lại được nhiều người yêu thích tin tưởng. Anh bảo: "Mình cứ thật thà trước đã. Làm trà phải sạch, sau đó bán với giá hợp lý và cân đo đong đếm cho đúng cân đúng lạng thì khách hàng mới đến với mình lâu dài".


Cũng ngần ấy năm, gia đình anh sống được không phải vì có bí quyết làm được loại trà ngon nào, mà đơn giản là trà làm ra phải sạch. Thế nên, khi nhiều tỉnh thành dính "phốt" làm trà bẩn thì xưởng sản xuất trà của anh Thắng vẫn bán được hàng.


Chăm chè như con mọn


Năm 2007, khi mở xưởng chế biến mới, anh Thắng quyết tìm cho mình một hướng đi mới bằng chính cây chè có trong vườn nhà. Và để có được loại trà thượng hạng thuộc loại "siêu đắt", anh đã phải kì công, hì hụi suốt đêm ngày bên những gốc trà.


Chè ngon không những phải thơm mà còn phải sạch.


Anh Thắng kể: "Loại chè nhà mình thuộc giống chè trung du nhưng cách chăm sóc thì khác nhiều lắm. Mình nghĩ cây chè cũng như con gà, nếu cho gà ăn cám tăng trọng thì nhanh lớn nhưng thịt không ngon. Cây chè cũng vậy, nếu bón phân hoá học thì vị sẽ kém ngon hơn. Thế là tôi quyết định ngừng bón phân hoá học và thuốc kích thích".


Nhưng sau đó, cây chè của anh bị sâu bệnh tấn công, toàn bộ 1ha chè gần như không còn lá. Vợ chồng anh phải dậy từ sớm tinh mơ đến từng gốc chè, vạch từng cái lá đã te tua để bắt sâu. Từ sáng đến tối, họ bắt được đến cả một chậu sâu. Thật là chăm chè như chăm con mọn. Ấy thế mà họ đã bước đầu thành công, lá chè xanh tươi nhưng rắn rỏi, vị ngọt và thơm hơn rất nhiều.


Trong một lần ngồi suy tư trong xưởng chế biến, anh phát hiện ra điều gì đó rồi đứng phắt dậy chạy ra đồi chè. Anh hái riêng cho mình những búp chè non (loại lá chưa nở) mang về sao sấy rất cẩn thận rồi đem pha. Thật kỳ lạ, đó là chén trà ngon nhất anh từng được uống. Đến nước thứ 4 mà nước trà vẫn sánh. Anh gọi vợ ra uống thử - chị Hường uống xong hỏi anh mua chè ở đâu? Anh trả lời, chè từ chính nương đồi nhà mình.


Bí quyết được khai mở, vợ chồng anh Thắng bắt đầu thuê thêm nhân công và trả lương cao chỉ với một việc là hái những búp chè chưa nở. Tất nhiên, những công đoạn chế biến cũng rất quan trọng để có được loại chè "siêu đắt" này.


"Siêu đắt" nhưng vẫn là... rẻ


Trà "siêu đắt" mà anh Thắng sản xuất ra có tên Đinh Đinh, hiện có giá 3 triệu đồng/kg. Tuy nhiên, theo anh Thắng, giá đó là còn rất rẻ so với thực tế vì mỗi cây chè chỉ cho được vài búp, và phải mất mấy ngày công mới hoàn thành được một cân. Cho nên, khách muốn mua nhưng không có để bán.


Từ ngày trà Đinh Đinh xuất hiện, nhiều chuyên gia về trà cũng tìm đến để thưởng thức và tìm hiểu cách chế biến. Anh Thắng không hề giấu giếm bất cứ bí quyết nào, bởi cách làm trà rất đơn giản như chế biến chè thường, cái hơn nhau chỉ là thái độ ứng xử với sản phẩm mình làm ra. Đó là không dùng chế phẩm để phơi sấy hay bất cứ một công đoạn nào.


Khi sao sấy chè, anh Thắng đặc biệt lưu ý không dùng bất kỳ một loại củi nào có mùi thơm. Lý giải điều này, anh Thắng cho rằng: "Khi sao sấy nếu củi có mùi thơm hoặc hắc thì khói sẽ ám vào chè làm biến đổi mùi. Từ biến đổi mùi sẽ chuyển sang 'đảo' vị. Cho nên, phải chọn được thứ củi không mùi và sao sấy đúng quy trình thì mới mong có được một sản phẩm tốt".


Cũng theo anh Thắng, trà Đinh Đinh của anh được nhiều vị lãnh đạo cao cấp ưa thích. Nhiều khách Tây và các chuyên gia trà của Trung Quốc, Nhật Bản cũng mua về nghiên cứu, thưởng thức hoặc làm quà. Tuy nhiên, băn khoăn của anh là không có đủ chè để bán.


Theo Kiến thức


Ông nông dân “pro”


Chị Hường, vợ anh Thắng đang chế biến chè đặc sản.


Chưa dám khẳng định thương hiệu chè "Thượng Ty" của gia đình anh chị Thắng - Hường ở xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên là thương hiệu nổi tiếng. Nhưng có thể chắc chắn rằng, ngay cả những khách hàng khó tính và sành chè nhất cũng sẽ hài lòng về chất lượng sản phẩm và phong cách phục vụ chuyên nghiệp của gia đình nông dân này.


Dù bán với giá cả "trên trời", nhưng muốn mua sản phẩm của gia đình anh Thắng không dễ. Từ đầu tháng chạp, xưởng chè của gia đình anh đã hết hàng. Ngay cả khách quen cũng phải đặt hàng trước Tết một vài tháng mới có.


Bình thường, đời sống một gia đình nông dân 6 người có nguồn sống từ 8.000 m2 đất vườn đồi tại vùng trung du khá chật vật. Gia đình anh Thắng cũng chỉ có bằng ấy đất chè, nhưng lại có cuộc sống khá sung túc nhờ cây chè. Nếu nói anh Thắng đang làm giàu bằng danh tiếng chè Tân Cương-Thái Nguyên cũng đúng, nhưng cho rằng anh đang làm giàu thêm danh thơm chè Tân Cương thì càng không sai. Và trong thực tế, những người nông dân biết nương vào sản vật của quê hương để làm giàu như anh Thắng không nhiều.


Hơn 10 năm trước, sớm nhận thấy nguy cơ danh tiếng chè Tân Cương bị mai một dần vì tình trạng lạm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, anh Thắng chuyển sang áp dụng quy trình sản xuất an toàn. Nhờ vậy, giá chè móc câu của gia đình anh luôn cao gấp đôi chè cùng loại.


5 năm trở lại đây, anh bắt tay sản xuất chè nõn (Thượng Ty), giá bán 350-600 nghìn đồng/kg, tùy thời điểm. Gần đây nhất, sản phẩm "chè đinh" do anh sản xuất có giá bán tới 2,5 triệu đồng/kg. Trong khi nhiều người làm chè phải chịu cảnh được mùa mất giá, anh Thắng lại có thể tự định giá sản phẩm của mình, sản xuất đến đâu hết đến đó. 


Tỉnh Thái Nguyên hiện nay có 17.000 ha chè, năng suất bình quân đạt 80 tạ búp tươi/ha, trong đó 70% sản phẩm tiêu thụ tại thị trường trong nước. Ngoài ra, còn rất nhiều sản phẩm của các vùng chè khác ăn theo danh tiếng chè Thái trôi nổi trên thị trường... Bởi vậy, để khách hàng chấp nhận mua chè giá cao hơn giá thị trường nhiều lần là một kỳ công của gia đình anh Thắng.


Trước hết phải kể đến khâu chọn giống. Trong khi nhiều nông dân phá chè trung du để trồng các loại chè giống mới, anh Thắng lại trung thành với cây chè trung du. Theo anh, chè trung du có ưu thế vượt trội: rễ cọc, lá dày, đủ sức chống chọi với giá rét để ra búp vào vụ đông, là vụ cây chè thường "ngủ" nhưng nếu biết để chè "thức" thì người sản xuất lại đạt lợi nhuận cao nhất trong năm.


Anh Thắng cho biết, tất cả công đoạn làm chè đều liên quan chặt chẽ với nhau, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm. Việc tưới tiêu, bón phân, trừ sâu phải được tính toán hợp lý để cây chè không bị khai thác quá sức và cho những sản phẩm tốt nhất.


Thu hái chè cũng cần áp dụng một số tiêu chuẩn nghiêm ngặt, tuyệt đối không để dập nát. Chè móc câu hái một tôm hai lá, chè nõn tôm chỉ hái phần búp nõn, còn chè đinh chỉ chọn những búp nõn còn đang ngậm chặt nhọn như chiếc đinh và tuyệt đối không để giập nát.


Để thu hái đủ búp tươi làm nguyên liệu chế biến 1 kg chè nõn cần 2 thợ giỏi hái trong vòng một ngày. Riêng 1 kg chè đinh thì phải cần tới 20 thợ. Chưa nói đến công đoạn khác, chỉ riêng việc tuân thủ các quy trình thu hái cầu kỳ như vậy cũng khiến nhiều người làm chè nản lòng, trở về với sản phẩm chè bình dân.


Không dừng lại ở sự nghiêm ngặt, cầu kỳ, mà anh Thắng đã đạt tới sự tinh tế trong công đoạn sao chè. Anh chia sẻ: để sao được mẻ chè ngon thì cảm giác của bàn tay quan trọng nhất, đó chính là bí quyết riêng của người làm chè. Chính bàn tay là “nhiệt kế” để điều chỉnh nhiệt lượng cả lò cho vừa phải. Riêng anh Thắng, chỉ cần nghe tiếng chè rơi trong tôn quay cũng biết được độ nóng của lò quay.


Đổi lại, anh Thắng có niềm tự hào là sản phẩm của gia đình có thể chinh phục được những khách hàng khó tính nhất. Đặc biệt, nếu gặp những ẩm khách thực sự sành chè, anh rất trân trọng, coi đó là cơ hội để tìm được những lời góp ý quý báu cho sản phẩm của gia đình.


Có lần, một khách hàng sành chè có tiếng ở Hà Thành đặt mua 1 kg chè đinh loại thượng hạng, anh và vợ tự đi xe máy gần trăm cây số về đưa hàng. Mục đích chủ yếu là để nghe đánh giá của khách hàng về chất lượng chè. Nhâm nhi xong một tuần trà, ông khách này chỉ buông một từ "được" và vui vẻ trả 2.500.000 đồng cho 1 kg chè.


Điều đáng nể phục ở người nông dân này còn thể hiện ở cách phục vụ khách hàng rất tận tình và chuyên nghiệp. Sản phẩm chè Thắng-Hường đến tay khách hàng đều được bảo đảm đúng chất lượng. Mọi yêu cầu về thời gian, chủng loại, kích cỡ đóng gói cũng đáp ứng theo nhu cầu của khách hàng. Nếu khách hàng đã đặt trước, dù có khan hàng và thị trường tăng giá đến đâu, anh vẫn bán đúng hợp đồng (dù là hợp đồng miệng). Bây giờ khách quen của anh Thắng có từ Nam ra Bắc, thậm chí còn có rất nhiều Việt Kiều mê trà Tân Cương cũng là khách hàng lâu năm của gia đình.


Từ năm 2008, anh Thắng đã đầu tư hơn 170 triệu đồng xây dựng xưởng chế biến chè. Vụ Tết năm nay, anh thầu thêm hơn 24.000 m2 đất chè của hàng xóm để sản xuất, đủ hàng bán cho khách quen. Nhiều người tôn vinh anh Thắng là nghệ nhân làng chè Tân Cương. Nhưng anh chỉ nhận mình là một nông dân chuyên nghiệp. Sự chuyên nghiệp rất đáng nể của một người nông dân thời hội nhập.


Hương Huyền


Anh Trần văn Thắng có những cân chè “siêu đắt”


Cái giá 700 nghìn đồng/kg chè đặc sản và 2,8 triệu đồng/kg chè đinh đang được một anh nông dân ở xóm Hồng Thái 2, xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên rao bán. Điều lạ ở chỗ, giá “khủng” như vậy mà cung vẫn không đủ cầu.


Tiếp chúng tôi trong căn nhà 3 tầng khang trang, vợ chồng anh Trần Văn Thắng - chị Ngô Thị Hường phấn khởi khoe: “Mình vừa tậu được cái ô tô, công việc kinh doanh thuận tiện hơn rất nhiều”. Ngắm những đồi chè xanh ngút mắt của gia đình anh và được tận mắt nhìn những chiếc lò sao chè đỏ rực lửa trong xưởng mới cảm nhận được thành quả của một gia đình nông dân dám nghĩ, dám làm gây dựng nên.


Sinh ra và lớn lên ở đất chè, từ nhỏ, anh Thắng đã cùng bố mẹ lên nương hái chè. Hương chè, vị chè dường như đã ngấm vào máu của anh. Năm 1991, sau khi lập gia đình, vợ chồng anh bắt tay vào phát triển kinh tế với tài sản 4 sào chè. Thời điểm đó, người trồng chè Tân Cương hầu như chỉ chú trọng đến năng suất mà chưa quan tâm nhiều đến chất lượng cũng như độ an toàn của sản phẩm chè: Bón phân và dùng thuốc trừ sâu để cây chè cho nhiều búp, lá xanh nõn, năng suất cao, diệt trừ sâu bệnh dễ dàng.


Làm thế nào để giữ được hương vị thiên nhiên của chè Tân Cương mà cây lại bền, không bị thoái hóa. Từ trăn trở ấy, năm 2001, anh quyết định chuyển đổi phương thức canh tác từ sản xuất chè truyền thống sang sản xuất chè hữu cơ, không sử dụng hóa chất trong suốt quá trình trồng, chăm sóc và chế biến.


“Chưa biết thế nào nên tôi chỉ dám thử nghiệm bón phân hữu cơ trên một diện tích nhỏ. Cây chè vốn đủ chất dinh dưỡng, cây khỏe, chống chọi được sâu bệnh, nay đột ngột bị giảm phân hóa học, cây trở nên yếu, dễ bị sâu tấn công. Nhìn cây xấu lắm, lá không còn màu xanh mướt, búp cũng giảm, vợ chồng tôi thấy nản”, anh Thắng nhớ lại.


Trời không phụ lòng người. Chỉ sau 2 lứa chè, những đồi chè của gia đình anh đã dần hồi phục, năng suất bắt đầu tăng lên. Và quan trọng hơn, là chất lượng chè đã được cải thiện đáng kể, vị đậm đà hơn, khác hẳn với loại chè “công nghiệp” trước đây. Từ kết quả ban đầu, anh mạnh dạn mở rộng diện tích chè sản xuất hữu cơ lên gần 1ha, chủ yếu là chè trung du (chè trồng từ hạt).


Anh Thắng tâm sự: “Chè là loại cây cực kỳ khó tính và rất nhạy cảm. Ngoài việc tuân thủ nghiêm ngặt quy trình chăm sóc, bón phân và phòng trừ sâu bệnh, việc hái búp vào thời điểm nào trong ngày cũng quyết định đến chất lượng của sản phẩm”.


Chè phải được hái từ sáng tinh sương đến giữa trưa, tuyệt đối không hái vào buổi chiều. Cũng theo anh: “Hái chè đúng cách là phải hái “một tôm hai lá, một cá hai chừa” để lấy được phần ngon nhất của búp chè, không được tham, lấy dài vì như vậy chất lượng chè sẽ không được như mong muốn. Có những thời điểm đành từ chối khách hàng, chứ không thể bán những sản phẩm không phải của mình, không kiểm soát được chất lượng, độ an toàn, có như thế mới giữ được chữ tín. Loại chè 2,8 triệu đồng/kg là hoàn toàn không tẩm ướp gì, đó là loại chè siêu sạch”.


Năm 2007, một Việt kiều đến tham quan xưởng sản xuất chè gia đình anh và đặt hàng anh làm chè đinh, thứ chè vị khách này từng được uống ở Trung Quốc. Anh bảo: “Mới đầu tôi chưa dám nhận lời, một phần vì từ trước đến giờ ở đây chưa có ai làm loại chè đó, một phần tôi ngại vì nếu thất bại sẽ làm ảnh hưởng đến thương hiệu chè Tân Cương”. Nhưng được sự động viên, khích lệ của gia đình, anh quyết định nhận lời và bắt tay vào làm thử. Và anh đã thành công. “Uống thử chén trà, nét mặt ông ấy (vị khách đặt hàng-PV) rạng rỡ hẳn. Ông ấy khen chè ngon, hương vị đậm đà hơn hẳn thứ chè trước đây ông ấy đã từng uống”, anh Thắng kể.


Qua câu chuyện của anh Thắng, tôi mới hiểu, để làm ra loại chè siêu đắt này từ việc hái sao, vò cũng rất cầu kỳ. Một ngày, một người hái giỏi, tích cực lắm cũng chỉ được khoảng 1kg búp chè, sau khi sao chỉ thu được 2 lạng chè thành phẩm, đảm bảo độ siêu sạch, siêu an toàn. Năm 2007, anh chỉ làm được khoảng 3kg chè đinh, nhưng đến năm 2010, anh đã làm được gần 50kg chè đinh, lợi nhuận thu về đáng kể. Xưởng chè của anh đã tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 9-10 công nhân với thu nhập ổn định 2 triệu đồng/người/tháng.


Với tinh thần dám nghĩ, dám làm này, tôi tin anh sẽ tiếp tục thành công và hương vị chè Tân Cương “danh bất hư truyền” sẽ còn bay xa.


Trang An


web.cema.gov.vn


Ký: Hoa chè thì trắng…


Không cần "vời" đến "thợ chè", chỉ cần nhìn những cánh chè khô là nhiều người đã có thể nói tên vùng chè. Thử hương vị chè, người ta thậm chí nhận ngay ra đó là sản phẩm của hộ gia đình nào. Sự khác biệt quyến rũ của chè Thái Nguyên không chỉ được kết tinh từ hương sắc đất trời mà còn từ cả nết của sớm hôm chịu thương chịu khó...


Từ lâu, việc thưởng trà đã được nâng lên hàng nghệ thuật. Trên thế giới, khó có thể thống kê hết những cuốn sách, những bài viết bàn về thú thưởng thức thanh nhã này. Và cũng rất hợp lẽ khi những người có tay nghề đạt đến trình độ nhất định trong chế biến chè được tôn vinh thành những nghệ nhân.


Tính đến nay, xứ chè Thái Nguyên đã có 160 làng nghề chè truyền thống ở tất cả các huyện thành, vùng chè nào của Thái Nguyên cũng có người làm chè giỏi, vậy nên, số nghệ nhân làm chè cũng không phải hiếm. Với những người nông dân thuần hậu này, danh hiệu nghệ nhân chẳng qua như một món đồ trang sức mà cuộc đời ban tặng. Họ thậm chí còn ngượng ngùng mỗi khi được gọi bằng danh xưng này. Sở dĩ, họ quen với cách gọi tên vợ ghép tên chồng, ngay cả "thương hiệu" của sản phẩm chè cũng giản dị và thật thà như vậy. Ví như chè "Thắng Hường", hẳn do nhà anh Thắng chị Hường làm ra... Nhờ làm chè giỏi mà họ trở thành nghệ nhân. Cũng không vì trở thành nghệ nhân mà chè của họ làm ra bán được giá cao hơn. Song, chắc chắn một điều, hai tiếng "nghệ nhân" sẽ nhắc nhở họ luôn có ý thức nâng cao tay nghề để mỗi mẻ chè họ làm ra đều đạt chất lượng tốt nhất.


Không như nhiều vùng chè khác đã hiện đại hóa trong mỗi công đoạn sản xuất, chế biến, người làm chè Thái Nguyên khư khư bảo thủ giữ nếp lao động thủ công. Hái chè thì hái bằng tay, đúng chuẩn "một tôm hai lá", búp hái đảm bảo có "lá đỡ" để cánh chè khi sao khô có hình thức đẹp, nhưng phần chừa lại cũng phải còn "lá đỡ" để quang hợp nuôi cây. Người hái chè giỏi trăm búp như một, để lại phía sau luống chè bằng tăm tắp như vừa dùng kéo xén tỉa. Mỗi lứa chè tuỳ từng giống, từng thời tiết mà kéo dài khoảng 25-32 ngày thì được thu hái. Muốn chè được ngon, cần hái ngay khi búp vừa đến lứa, trong vòng từ 1-3 ngày, chè quá lứa chất lượng giảm, mất giá ngay. Tại các vùng chè, hầu hết các hộ hái đổi công quay vòng. Nhiều khi vào vụ, phải thuê người hái, tiền công phổ biến tại các vùng chè đặc sản của thành phố Thái Nguyên vào khoảng 8-10 nghìn đồng/kg búp tươi hoặc khoán 12 nghìn đồng/ giờ. Hái chè thuê cũng là một nghề làm không hết việc, đến mức các chủ vườn phải đặt hàng trước còn khó thuê. "Kỷ lục" về hái chè nhanh được ghi nhận là khoảng 30kg/ ngày, nhưng rất hiếm người đạt như vậy, phổ biến ở mức 10kg. Năm nay, chè "mất giá", bán tươi tại vườn được 50 nghìn đồng/kg, ít hơn dịp này năm trước tới 20 nghìn. Chè khô "đổ buôn" có rẻ cũng "tiền tươi thóc thật" trên 220 nghìn đồng. Không mấy nhà trữ chè bán tết, vì chè vụ đông đã trở nên phổ biến, đủ chè mới, ngon phục vụ thị trường tết.


Mỗi buổi hái chè có thể ví là một ngày hội ở vùng chè. Trước khi hái, người ta chăng mái bạt kín cả vườn, tránh để chè ướt nếu gặp mưa hoặc mất nước khi trời nắng nóng. Có khi cả xóm hái trên cùng một khu vực, họ cười nói râm ran, trêu đùa vui nhộn. Trên những đồi mát, không cần dùng mái bạt thì họ chặt lá cọ cắm làm ô che nắng trông vô cùng đẹp mắt.


Mỗi ngày trong suốt cả năm, từ sáng sớm tới sẩm tối, bầu không gian của làng chè luôn phảng phấp mùi hương tinh khiết của búp nõn tươi non đang nhựa ứa đầu cành. Những người có việc vô tình ngang qua nơi đó cũng được mùi hương bao bọc rất lâu sau mới phai bớt. Ấy nhưng hương thơm của mỗi vườn chè lại không hoàn toàn giống như nhau, cho dù đó đều là hương của nhựa mới búp non, bởi lẽ mỗi giống chè lại mang một làn hương riêng biệt. Chè trung du thơm đằm. Kim Tuyên, Bát Tiên thơm ngát. Giống chè Nhật lại thoang thoảng hương sen vừa chớm hé. Người vùng chè rất nể phục những vị khách chỉ cần nhìn búp lá chè mà nói được tên chè, vì đó là sự thể hiện rất am hiểu và gắn bó với chè. Này nhé, chè trung du truyền thống vốn gieo hạt năm xưa sắc lá xanh đậm, mỗi chiếc lá hình bầu dục như những cặp mắt sóng sánh mời chào. Chè trung du còn có màu lá xanh, vàng, tím do quá trình lai tạp giữa các giống chè địa phương. Vậy nên, đừng nói chè trung du truyền thống phải màu này, sắc kia mới đúng. Bởi ngay tại vùng chè đặc sản Tân Cương, mỗi đồi chè đều mang riêng một hương, một vị, nhà này không giống nhà kia đã đành, ngay cả chè của một nhà cũng không hẳn như nhau.


Thu hái chè tại bản Na Sàng, xã Phú Đô, huyện Phú Lương


Nhìn búp chè lớn, lá dài rộng, lông tuyết nhiều, hương thơm tự nhiên, hẳn ai cũng nói ngay đó là giống chè Shan tuyết, từng quen thuộc trên những đỉnh núi mù sương nơi biên cương phía Bắc. Sẽ rất dễ nhầm vì chè Hùng Đỉnh Bạch cũng có lá thuôn dài, búp lớn phủ mướt lớp lông tuyết y như vậy, trong khi Hùng Đỉnh Bạch là giống chè quý có xuất xứ từ Phúc Kiến (Trung Quốc), vị rất đậm đà, mới được du nhập về.


“Chè nõn”, “chè đinh” hẳn là đặc sản quý của xứ chè với cách thu hái và chế biến cầu kỳ nên chưa nhiều người biết tới, vì thế, khi được hỏi về “tinh hoa Trà Việt”, thường thì câu trả lời sẽ là “chè cành”. Cần phải phân biệt rõ rằng “chè đinh”, “chè nõn” là trà, tức là những búp nõn đã qua chế biến, nguyên liệu từ những vườn chè chất lượng tốt nhất, chỉ hái phần búp chưa xòe lá, sau khi sao sấy sẽ được những cánh chè nhỏ, đanh, xoắn chắc, ánh đen như thép. Còn chè cành, đó là nói đến các giống chè được trồng từ cành ươm chứ không phải trồng bằng hạt như trước đây, phương pháp này thường áp dụng cho các giống chè nhập ngoại.


Để chen được vào trong “muôn sắc trà Việt”, chiếm được tình cảm của những người vốn đã quen với những hương vị tinh túy của trà, hẳn nhiên “chè cành” cần có những ưu điểm vượt trội. Một số giống chè sớm có chỗ đứng như Keo Am Tích lá dài, búp nhỏ, màu phớt tím và hương thơm ngát; Phúc Vân Tiên búp nhỏ màu vàng nhạt, hương thơm rất dịu nhẹ. Rồi những giống chè quý có cái tên dễ lưu lại trong trí nhớ như: Kim Tuyên, Tứ Quý, Tuyết Ngọc với hương thơm ngào ngạt, trồng ở những nơi có độ cao và nhiều sương mù thì hương vị lại càng thơm ngon.


 Nhưng dù bất cứ giống chè nào, muốn chè ngon thì búp tươi hái về phải được chế biến ngay trong ngày kẻo để lâu sẽ bị ôi. Thế là mỗi tối, các lò chè lại đỏ lửa, đôi bàn tay còn nguyên vết nhựa của cả một ngày miệt mài thu hái lại quện thêm mùi của củi lửa sao sấy chè. Dù đã có máy móc hỗ trợ, nhưng người làm chè Thái Nguyên vẫn chỉ tin vào chính đôi bàn tay của mình. Hiếm có đôi tay nào chịu nóng giỏi như tay người làm chè, họ trực tiếp bốc chè đang nóng bỏng trong lò quay để cảm giác chính xác hơn nhiệt độ hợp lý cho mẻ chè. Những người làm chè giỏi đến hàng nghệ nhân đều biết rất rõ rằng không thể áp dụng chung một công thức quy chuẩn trong sao sấy chè, bởi với mỗi lứa chè, thậm chí mỗi mẻ chè sao sấy dưới tác động khác nhau của thời tiết, sẽ đòi hỏi phải điều chỉnh thời gian và nhiệt độ khác nhau, đôi khi sự khác ấy chỉ tính bằng giây cũng đã quyết định đến hương vị của chè. Người làm chè gọi là "ốp sớm" hoặc "ốp muộn", quyết định tới màu sắc, hương thơm và độ khô giòn của chè búp. Không chỉ bằng mắt nhìn độ héo của chè, từ màu xanh non dần biến đổi dưới tác động của lửa, chuyển sang bàng bạc rồi xanh đen, còn cần sự mẫn cảm của bàn tay để quyết định cho thêm hay rút bớt củi trong lò. Đôi bàn tay người làm chè bốn mùa ngấm sâu hương chè thơm cùng nhựa chè trong từng nếp da, từng kẽ móng. Đôi bàn tay ấy là đặc điểm dễ nhận thấy nhất của người làm chè, cũng là nét duyên ngầm đằm thắm của sự chịu khó chịu thương.


Chè "móc câu" trăm cánh như một là niềm tự hào xưa nay về trình độ sao sấy của người Thái Nguyên. Nghệ nhân các vùng chè trong tỉnh không hề giấu nghề, sẵn sàng chia sẻ "bí kíp" làm chè cho những ai quan tâm. Thậm chí, họ còn tỉ mỉ hướng dẫn, giảng giải kỹ thuật tại các lớp dạy nghề cho nông dân. Nhưng kết quả không người nào làm ra được đúng hương vị của sản phẩm mẫu. Ngay cả các nghệ nhân cũng vậy, dù thực hiện đúng theo một quy trình nhưng mỗi người vẫn tạo ra mỗi sản phẩm. Sự khác biệt này tạo nét riêng cho sản phẩm chè của mỗi hộ, giúp mỗi hộ làm chè đều tự tạo cho mình "thương hiệu" riêng trên thị trường và khiến chè Thái thật phong phú, đa dạng.


Trong hoài niệm về chè Thái, những người sành chè vẫn không nguôi tấm tắc "giống chè vàng lá nhỏ trung du" xưa của vùng đất Tân Cương, ai từng uống một lần không bao giờ quên được vị chát ngọt đậm đà cùng hương thơm thanh tao vừa như có hương hoa chè lại như phảng phất mùi cốm mới. 


Vùng chè cổ dưới chân núi Guột, chính những cây chè cho búp đặc biệt thơm ngon với nhãn hiệu "Chè con hạc" từng giành chiến thắng trước các loại chè nổi tiếng thế giới trong một cuộc đấu xảo của trăm năm về trước, giờ vẫn đang trổ muôn vàn búp non. Những giống chè ngon nhất của thế giới, dù đến từ Ấn Độ hay Srilanca, dù lá rộng thân cao hay lá xanh búp nhỏ, cũng đã bén duyên trên các vùng chè xứ Thái, đang hòa quyện cùng bản giao hưởng mang tên "hương sắc Thái Nguyên".


Cũng có một cách nhìn nhận thuyết phục, rằng cái ngon của chè Thái bao gồm từ sự nâng niu những búp non căng tràn nhựa sống, ngon đến cả vị củi lửa hồn hậu quện trong mỗi búp chè. Cái ngon của chè Thái, là ngon của cảm nhận. Làm sao có thể phân tích rành mạch khi nó mang cả những giá trị thầm lặng không thể định lượng. Như, người ta có thể xác định hàm lượng  từng thành phần vi chất trong búp chè, nhưng chắc không ai giải thích được vì sao hoa chè thì trắng.


Lưu Thị Bạch Liễu


vannghethainguyen


Chè Đinh Ngọc, tuyệt phẩm chè xanh đất Tân Cương


Chè Tân Cương đinh ngọc là một trong những giá trị tinh thần to lớn không thể thiếu được của đất trời Thái Nguyên


Để làm được 1 kg chè Đinh Ngọc thành phẩm cần 15 nhân công  thu hái suốt buổi sáng.


Nghệ nhân Nguyên Văn Thái, xóm Hồng Thái 2 là một trong ba nghệ nhân ở Tân Cương làm được chè Đinh Ngọc


Ông Thái Chia sẻ bởi vì quá trình sao sấy đòi hỏi nghệ nhân phải là người có nhiều kinh nghiệm và họ phải cảm nhận được nhiệt độ sao che thai nguyen bằng chính đôi bàn tay của mình.


Hình dáng của chè Đinh Ngọc đặc biệt và dễ nhận biết: Nếu nhúm một ít chè Đinh, các búp chè sẽ móc vào nhau khó rời. Sợi chè Đinh nhỏ hơn 1 chiếc tăm và nhỏ hơn nhiều so với các sản phẩm chè khác. Đối với nghệ nhân Trần Văn Thắng, người được cho là vua chế biến chè Đinh Ngọc, những sợi chè thành phẩm qua bàn tay của ông vẫn thẳng tắp như những chiếc đinh.


Chè Đinh Ngọc sau khi chế biến được bảo quản cẩn thận


Sản phẩm chè xanh Tân Cương Đinh Ngọc của Minh Cường Green tea được đóng hộp carton cao cấp, sang trọng!


Nghệ nhân Trần Văn Thắng (Thôn Hồng Thái II, xã Tân Cương, TP Thái Nguyên) một trong 3 nghệ nhân có thể chế biến các sản phẩm chè Đinh, Đinh Ngọc cũng chính là nghệ nhân hiện đang được Minh Cường Green tea ký hợp đồng hợp tác, trực tiếp chế biến và hướng dẫn chế biến các sản phẩm Chè Đinh Ngọc mang thương hiệu Minh Cường Green tea.


Báo Thái Nguyên


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Huyền thoại tắm tiên Tây Bắc - Trần Vân Hạc 22.03.2017
Thi hoa hậu trong động Thiên Đường? - Nhiều tác giả 22.03.2017
Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ sau gần 50 năm ẩn dật - Lam Điền 20.03.2017
Người già chật vật kiếm sống và thách thức với kinh tế Việt Nam - Tư liệu 19.03.2017
Cần chính sách đãi ngộ xứng đáng - Nguyễn Mộng Giao 19.03.2017
Ghét người giầu, tiêu diệt người giầu như Pol Pot hay là khuyến khích họ, không làm hư hỏng họ?! - Nhiều tác giả 19.03.2017
Thu phí vỉa hè, Việt Nam có nên học người Pháp? - Tư liệu 16.03.2017
Cố nhà văn Hoài Anh đi xa đã 6 năm! - Nhiều tác giả 15.03.2017
Nhà văn Hoài Anh: Khi viết, tôi luôn tôn trọng lịch sử - Trần Hoàng Nhân 15.03.2017
​Gần 500 cựu chiến binh Trường Sa tưởng nhớ sự kiện Gạc Ma - Tư liệu 15.03.2017
xem thêm »