tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20527081
26.01.2009
Vũ Bằng
Bốn mươi năm nói láo (3)

Phần 4: Báo hại


ZÂN MỚI, TỜ BÁO ĐẦU TIÊN CỦA PHÁP


LÚC QUAY VỀ HÀ NỘI


Kháng  chiến chống Pháp. Tiêu thổ. Gậy tầm vông đánh thực dân. Ở Hà Nội, hầu hết dân chúng đều tản cư về các miền quê. Để thông tin tức, có tờ “Cứu Quốc”, nhưng vì buổi ban đầu tổ chức không thể hoàn bị đúng như ý muốn được, dân chúng ở đồng bằng có khi nửa tháng, hay hơn nữa, mới được đọc một tờ. Về sau, hoặc các cơ quan, hoặc tư nhân từng vùng, từng khu ra báo, nên ngành báo lại được vãn hồi phần nào. Nhưng vì mọi nỗ lực đều dồn vào đánh giặc, thêm nữa lại thiếu giấy, thiếu nhà in, nên báo chí không thể nào phát triển như lúc ban đầu.


Ở Hà Nội, sống với Tây, có nhiều phương tiện hơn gấp bội, ngành báo cũng không phồn thịnh hơn mấy tí. Thay vì những máy lô can do Tàu làm ở Khâm Thiên, Ô Đống Mác và chữ in đúc ở Chợ Lớn gửi ra, các máy in Tây của người ta bỏ đấy để chạy, cũng không in được tờ báo nào trông ra hồn. Có một tờ làm cho người ta lưu ý: tờ “Thời Sự” của ông Tổng trấn Nghiêm Xuân Thiện, trong có Trần Trung Dung thủ vai chính và Nguyễn Đình Thuần (nguyên Tổng trưởng Phủ Tổng thống, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng của bà Ngô Đình Nhu) giữ vai chạy cờ. Ngay lúc đó, Trần Trung Dung đã tỏ ra khôn hết sức: là người Việt mà chỉ đề cao Mỹ, mặc dầu lúc ấy đang sống dưới chế độ Pháp. Ngày nào Trần Trung Dung cũng viết một bài xã luận in theo kiểu “cưỡi ngựa” dài thòng hết trang nhất, tiếp theo sang trang tư, ca tụng Mỹ đáng mặt bá chủ hoàn cầu, ví thử có ai muốn ca tụng phõ vào một đôi câu cũng hết lời mà nói.


Tôi không hiểu nghe hát như thế thì Mỹ có toại ý không, nhưng chắc chắn là Pháp không mấy bằng lòng. Thế rồi chẳng biết từ đâu đến một quả mìn, một buổi sáng kia, nổ ở trong nhà máy nhà in “Thời Sự”. Đó là một lời cảnh cáo? Hay là có kẻ điên rồ nào nghịch ngợm đặt mìn ở nhà in của bà Nghiêm Xuân Thiện giỡn chơi?


Dù sao, đi với Pháp mà chỉ ca tụng Mỹ hoài như thế cũng có phần nguy hiểm: không chơi được. Chắc hẳn Bùi Xuân Học, nguyên chủ nhiệm “Ngọ Báo”, nguyên chủ nhiệm “Việt Báo” và “Loa”, nghĩ ngầm như thế cho nên anh không thèm chơi cái trò “dở trăng dở đèn”. Một là tài, hai là sỉu; đã chịu chơi thì chơi thẳng thừng, chơi không ngán, chơi không cần úp mở.


Giữa lúc tôi đang sửa nhà bị tàn phá vì chiến tranh, Bùi Xuân Học hớt hoảng đến giơ bàn tay ướt như tay ma ra bắt tay tôi lia lịa, và báo cho biết anh ta nhận làm cho Cao ủy Pháp một bán tuần báo lấy tên là “Zân Mới” (nhớ là viết bằng chữ Z). Bây giờ không biết ở Hà Nội, Bùi Xuân Học có còn không, nhưng bao giờ tôi cũng nhận rằng, dù là tập đoàn Hoàng Tích Chu muốn chê anh thế nào thì chê, chớ riêng đối với tôi thì anh luôn luôn là một người bạn tốt. Ai cũng biết Học có cái tội hay nói dối. Vì thế, được anh loan báo sắp ra tờ “Zân Mới” và rủ tôi về hợp tác, tôi nghi ngay là câu chuyện ấy “chẳng qua cũng nằm trong chiến dịch nói dối trường kỳ” của anh và không nghĩ đến làm gì. Không ngờ hôm sau, anh bưng đến cho tôi một máy phát thanh, các thứ vải cùng một số tiền đáng kể gói vào trong bọc giấy nhật trình mà không đưa một điều kiện hay một yêu sách gì.


Làm tờ “Trung Việt Tân Văn” khỏe như thế nào thì tờ “Zân Mới” cũng khỏe như thế. Làm tổng thư ký tòa soạn, tôi chỉ phải điều đình với Văn Hồng Thịnh về việc in, rồi mặc cho compô muốn mi thế nào thì mi. Mỗi ngày, viết một cái tin chiến sự, và dịch một tiểu thuyết Pháp đăng ở cuối trang hai, còn bao nhiêu bài vở khác thì do Cao ủy Pháp cung cấp. Hai người viết chính yếu lúc đó là Soubrier (Văn Tuyên) và Lê Tài Trường. Tòa soạn đặt ở trên gác căn nhà số 18 phố Hàng Ngang, một căn gác rộng mông mênh mà chỉ kê có một cái bàn nhỏ xíu. Mỗi tuần, tôi ngồi ở bàn ấy độ nửa ngày, còn thì tạt lại nhà in viết đủ loại sách cho Văn Hồng Thịnh và nhà in “Cây Thông” của Đỗ Văn Giao. Bè bạn có dăm người; khi nào buồn quá thì Học và tôi đóng cửa gác lại, lấy các thứ rượu ra mời nhau uống. Có khi đang chén thù chén tạc như thế thì Văn Tuyên đeo kính trắng, mặc đồ lớn, đập cửa thình thình đi vào, cho biết những chỉ thị mới, nhưng trước khi nói lên những chỉ thị ấy, chúng tôi thường đứng dậy, nghiêm chào. Bùi Xuân Học, lúc ấy đã lớn tuổi, nhưng vẫn thích nghịch ngợm như con nít. Không phải anh chỉ hát bửa thế mà thôi, lắm khi anh còn giỡn một cách bừa bãi nhiều hơn thế, và cái thú nhất đời của anh là uống rượu, đi hút ở nhà anh Hòa Tường, rồi biệng xiệng như Tây say, đi trong hoàng hôn hát mấy câu tiếng Pháp tả cái buồn của người lính nhớ cái mái nhà phủ tuyết trong có người vợ bé nhỏ đợi chồng đi sang Việt Nam không biết sống chết ra sao.


Tòa báo, gồm có hai người thường trực, lúc nào cũng êm đềm như một khúc sông không cầu. Mấy con trai của Học đều cho đi Pháp hết. Như thế được hơn một năm, vì lý do “không tiết lộ”, Cao ủy Pháp không trợ cấp cho tờ “Zân Mới” nữa. “Tội gì mà ra!”, Bùi Xuân Học nói oang oang lên như vậy với ngay chính Văn Tuyên và ngay số đó, đóng cửa, không kèn, không trống, không thương, không tiếc.


Nghỉ ít ngày tôi lại làm một tờ tuần báo của Hội đồng An dân (lúc này không còn bác sĩ Trương Đình Chi nữa) tên là tờ “Việt Thanh”. Làm tờ báo này cũng ngon lành lắm, nhưng phải viết bài: Vũ Công Nghị, nguyên chủ nhiệm báo “Tiểu Thuyết Tuần San” thu bài, sửa chữa, rồi cho in. Đôi khi mới tạt đến báo quán tán chuyện lăng nhăng, tôi ngồi nhà viết từng tập bài xếp đống đấy, đến kỳ đưa, rút lấy một vài bài ra. Gọi là góp chút duyên với các chiến sĩ quốc gia, đem lại độc lập cho Tổ quốc, nhưng tiền nhuận bút thì… đưa trước!


TỪ “LIÊN HIỆP” ĐẾN “TRẺ”,


QUA “TIẾNG DÂN”


… Là vì thời thế bất trắc lắm. Theo thông cáo quân sự thì ngày nào ta cũng thắng mà địch cũng thua, nhưng không hiểu thực tế trớ trêu ra sao, dân tình mỗi ngày một chán nản, một mặt vì rối ren ở trong nước nhiều quá, mà mặt khác thì kinh tế lại bắt đầu suy sụp dữ. Bao nhiêu tướng tài của Pháp hoặc thua, hoặc chết, không ít; chánh phủ Pháp bèn quyết định đưa tướng De Lattre sang diệt Cộng. Tướng này vừa đến, thiên hạ thì thầm không biết bao nhiêu chuyện hư hư thực thực: đánh tốt, nhưng hách lắm; nước không nóng không dùng; các sĩ quan cận vệ không đứng thẳng như cây cột xi măng để chào, cho về ngay một nước. Hầu hết đều chỉ chú ý tới De Lattre về điểm đó, nhưng không biết rằng ông là một võ tướng để tâm đến văn hóa rất nhiều. Vì thế cho nên vừa đến Việt Nam được một tuần, nghiên cứu vấn đề, ông đã kêu mật vụ và thông tin Pháp lên tiếp xúc, và chỉ thị phải ra một tờ báo lớn để làm cơ quan chánh trị và quân sự cho quân đội Pháp, đồng thời tẩy nặng cái óc sợ Cộng của dân chúng Việt Nam, làm cho họ tin tưởng nơi tài bách chiến bách thắng của quân đội Pháp.


Văn Tuyên, một tay bút cừ của đài Pháp Á, ngày nào cũng đẻ ra một bài chửi Cộng đáng ghét, nhưng mà lại duyên dáng không chê được, được chỉ định để làm tờ báo đó. Sau một cuộc hội kiến với De Lattre, Văn Tuyên về đến nhà cuống cả lên, suýt rơi kính gọng vàng, (và cố nhiên quên hát cả bài Tiến quân ca) giục tôi đi thu xếp nhà in và xúc tiến tổ chức tòa soạn để kịp ngày ra báo, vì De Lattre không phải là chuyện đùa đâu! Thêm nữa, Văn Tuyên còn cho biết báo “Liên Hiệp” phải là một tờ báo xuất sắc có tên chủ nhiệm, chủ bút đàng hoàng, chớ không thể ẩu như “Zân Mới” được. Ý anh muốn để tên anh là chủ nhiệm và tên tôi làm chủ bút. May đến lúc cuối cùng có một anh bạn sẵn sàng đứng tên chủ bút thay tôi: đó là Huỳnh Văn Phẩm. Bắt đầu, báo in tạm ở nhà in “Cây Thông” của Đỗ Văn Giao. Thợ thì mới tập xếp chữ; máy thì có một cái khổ demi raisin và hai cái minerve lô can, cho nên công việc lúc ban đầu bê bối, khó khăn như đi vào Ba Thục: xếp chữ, cho đúc rồi chở bát chữ đến nhà Văn Hồng Thịnh để in. Còn tòa soạn thì chỉ vẻn vẹn có một bàn bốn năm người ngồi chung, vừa viết bài, vừa sửa mô rát. Mô rát chi chít những phốt, sửa ba bốn lần, lỗi vẫn còn sót lại như trấu! Một tờ báo chưa xuất bản mà đi đâu cũng ầm lên là báo “của Tây”, thêm nữa lại in xấu, cố nhiên là không chạy. Nhưng Văn Tuyên có một đức tính đáng kể là kiên nhẫn; mặc dầu vậy, anh vẫn vui vẻ và cổ xúy anh em cố gắng. Thay đổi lề lối làm việc; thay đổi nhà in; luôn luôn tìm những mục mới lạ để thông tin tức và bình luận, tờ “Liên Hiệp” khá dần dần, để đến lúc có tin động viên dân chúng đánh giặc thì báo bắt đầu chạy, được người ta tranh nhau tìm đọc. Là vì, có tiền mà lại được ưu tiên, “Liên Hiệp” có những tin tức, sắc lịnh động viên sốt dẻo và ngày nào cũng in thêm hai trang phụ để đăng những tin đó, mà ai cũng cho là “cần thiết cho mọi gia đình”.


Cùng lúc ấy, Mỹ bắt đầu đến Việt Nam và đặt Phòng Thông tin ở Hà Nội, đầu đường Hàng Trống, và bắt đầu xem xét dân tình cũng như tìm hiểu tâm lý quần chúng Việt Nam. Giám đốc Donell và phó giám đốc Metcaffe, một hôm, nhờ một nhân viên người Nam tiếp xúc với tôi và mời đến chơi tại Phòng Thông tin. Hỏi thì mới biết rằng họ biết tôi là vì văn phòng chính ở Sài Gòn cho họ biết, ra Hà Nội, nên tiếp xúc với những ký giả, văn sĩ nào, mà sở dĩ văn phòng ở Sài Gòn biết tôi là vì họ đã mở cuộc điều tra và đã biết tôi qua những bài báo viết cho tuần báo “Mới” của Phạm Văn Tươi (tức Tú Xe sau này), do Lê Văn Siêu làm chủ bút.


Lần đầu tiên, tôi gặp Phạm Văn Tươi ở báo “Tiếng Dân” của Cung Mạnh Đạt. Đạt có anh em làm thầu khoán, có tiền, bắt đầu mua một cái măng xét báo hàng ngày của Nguyễn Thăng Long ở Hải Phòng: báo “Ngày Mai”. Làm được ít lâu, Đạt vào Nam vận động với chánh phủ Nguyễn Văn Tâm xin một tờ báo cho chính mình, lấy tên là “Tiếng Dân”, bỏ tờ “Ngày Mai”, làm tờ báo mới và tổ chức luôn cả nhà in để in lấy báo. Tôi làm thư ký tòa soạn, mời các anh em còn lại như Thượng Sỹ, Trần Kim Dần, Lê Tất Tiên… về cộng tác. Báo chạy một cách bình thường vì không có gì đặc biệt, một mặt vì Đạt sợ làm ngổ quá thì hại công việc làm ăn của anh em trong nhà anh, và mặt khác cũng vì Nguyễn Văn Tâm lúc ấy rất hung hăng, báo nào mà không nịnh Tây ra mặt thì không những đóng cửa mà lại còn nhốt là đằng khác.


Phạm Văn Tươi đến tìm tôi tại nhà báo ở đường Wiélé hai lần, nhưng đến lần thứ ba mới gặp. Hồi đó, trời nắng gắt. Thấy Phạm Văn Tươi khoác cái áo ở tay, đi ở cầu thang lên, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, tôi xúc cảm về sự chí tình của anh, bèn nhận lời viết cho tờ “Mới”. Tươi là một người có học, nói khó nghe, nhưng tỏ ra thông thạo về nghề báo cũng như nhiều vấn đề khác thuộc đủ lãnh vực nên tôi có biệt nhỡn, và cũng vì thế tôi đã viết nhiều loạt bài đứng đắn và luôn luôn tìm cái mới lạ để đáp lại cảm tình thắm thiết của Lê Văn Siêu và Phạm Văn Tươi.


Loạt bài “Miếng ngon Hà Nội” cũng như những bài “Tết thủy tiên” đặc biệt Việt Nam, mà sau này nhà xuất bản “Nguyễn An Ninh” và “Thế Giới” thâu thập lại in thành sách, đều bắt đầu đăng trên báo này. Lúc ấy, Tổng giám đốc Thông tin Mỹ là Gregory, qua sự điều tra của nhân viên người Việt, biết tôi; do đó mới có viên giám đốc và phó giám đốc ở Bắc mời tôi nói chuyện. Thoạt đầu, chúng tôi nói chuyện về động viên. Thành thực mà nói, lúc ấy, tôi không ngại Nguyễn Văn Tâm mà cũng chẳng sợ Tây, vì tôi biết là có đủ sức để đối phó với họ; còn Mỹ thì mới bước lên đất Bắc chưa đáng kể, nên tôi không ngại gì mà không nói thực những điều tôi biết và tôi nghĩ: “Dân chúng Việt Nam, theo tôi, không tán thành động viên một tí nào. Vẫn biết rằng ở nước nào cũng thế, thanh niên đến tuổi trưởng thành thì phải ra lính, giúp nước, bảo vệ biên thùy, nhưng ở trong trường hợp đất nước tôi thì khác hẳn, vì bất cứ một người nào cũng quan niệm rằng chánh phủ Tâm động viên họ không phải vì quyền lợi của đất nước, mà chính là vì quyền lợi của người Pháp mà các chánh phủ Việt Nam từ trước đến nay đều là tay sai”.


Nghe thấy tôi trả lời như vậy, giám đốc Thông tin Mỹ ở Hà Nội nhìn tôi, có vẻ ngạc nhiên. Tôi cũng không cần lưu ý lắm, viện cớ bận việc, ra về. Mấy hôm sau, Metcaffe mời tôi đi uống rượu; đó là một điều rất lạ vì người Mỹ khác hẳn người Pháp và người Đức, ít khi tự nhiên lại mời ai đi ăn uống, chơi bời như vậy. Nhưng tôi cứ đi và, để tỏ ra người Việt chịu chơi hơn ai, ngay lúc ra về, tôi mời Metcaffe đến ăn cơm Việt Nam tại nhà riêng. Cũng từ đó, chúng tôi thân mật với nhau hơn, và đến tận lúc ấy Metcaffe mới cho tôi biết là phòng giám đốc có ý muốn có sự hợp tác của tôi trong công việc viết sách và viết báo…


Nói cho thực, lúc ấy tôi không mê tiền. Ngoài việc làm “Tiếng Dân” và “Mới”, tôi ưa sống cho chính mình, sống với nội tâm, nay đi kiếm những bức tranh Tàu về treo, mai tìm cây thế về trồng hay gửi ra ngoại quốc mua một cặp yến tím về nghe nó hót, nên thấy người Mỹ nói thế tôi cũng không tha thiết lắm. Tuy nhiên, trước sự thiết tha có vẻ chân thành của Metcaffe và Donell, tôi cũng cứ nhận lời. Và, sau đó, tôi cũng dành mỗi ngày mấy tiếng đồng hồ viết văn, dịch sách cho Phòng Thông tin Mỹ, để xem đồng đô la Mỹ nó ra thế nào, vì cho tới lúc đó, tôi quê một cục, vẫn tưởng rằng Mỹ tiêu toàn vàng, chớ không tiêu giấy bạc. Tôi tin như thế là vì thuở nhỏ đi coi phim “La Ruée vers l’Or” của hề Charlot, tôi thấy vàng ở nước Mỹ nhiều hơn đá sỏi; sau này, đọc sách và coi báo, lại thấy Mỹ nổi tiếng giàu nhứt thế giới, mạnh nhứt thế giới, nên tôi suy luận một cách ngớ ngẩn là Mỹ không tiêu tiền giấy. Những nước như Pháp, Việt, Nhật, Tàu… mới tiêu loại tiền tồi tệ đó, chớ Mỹ mạnh nhứt, giàu nhứt thế giới cũng tiêu tiền giấy thì chẳng hóa ra “cá mè một lứa” hay sao?


Thế là tôi viết sách cho Thông tin Mỹ. Vẫn biết người Mỹ làm cái gì cũng phải rõ ràng, sạch sẽ, khoa học, bài vở phải đánh máy không tẩy tẩy, xóa xóa lèm bèm, tôi mặc kệ, làm như không biết, viết tay được cuốn nào đưa luôn cuốn ấy và tôi đã vỡ mộng khi nhận được những cái chèque đưa ra ngân khố để lãnh tiền Việt Nam! Nhưng mà thôi, cũng được đi: so với Pháp và Việt, Mỹ lúc đầu cũng chịu tiêu. Họ có một bảng kê khai những sách cần viết và cần dịch; hết cuốn này, tôi tiếp tục làm cuốn khác, và họ nhận hết. Và Metcaffe đã có lần bảo tôi là “Phòng Thông tin có thể cứ nhắm mắt mà nhận sách của ông Vũ Bằng” (nous prenons les manuscrits de M. Bằng les yeux fermés). Sau đó ít lâu, tôi một mình làm “comic” – một loại báo bằng bàn tay, in toàn tranh vẽ, kèm những lời ghi chú theo kiểu báo nhi đồng Spirou – để đóng thành từng kiện, chuyển cho Thông tin Việt Nam phổ biến trong dân chúng. Mỗi tối, cơm nước xong xuôi, tôi ngồi làm một vài cái báo như thế, chỉ ghi lời, còn vẽ ra sao, mặc họ ở Sài Gòn lo liệu lấy.


Một hôm, tổng giám đốc Gregory ở Sài Gòn ra Hà Nội, mời tôi sang Phòng Thông tin nói chuyện, có Metcaffe và Donell cùng dự thính. Sau một tiếng đồng hồ nói chuyện về văn hóa, nghệ thuật, tâm lý của quảng đại quần chúng Việt Nam, Gregory đưa ra một đề nghị: dịch một ít sách vui của Mỹ cho dân chúng Việt đọc. Ông hỏi tôi đã đọc cuốn “L’Oeuf et Moi” chưa. Tôi gật đầu. Ông nhờ tôi dịch. Tôi nói:


- Tôi không dịch.


Gregory trợn tròn con mắt, hỏi:


- Sao lại không dịch?


- Là vì thế này: người Việt Nam cười khác người Mỹ. Tôi không biết người Mỹ xem cuốn “L’Oeuf et Moi” thì cười ra sao, chớ tôi dám chắc rằng nếu dịch cuốn ấy ra thì người Việt Nam không thể nào cười được, dù có cù vào nách họ.


Gregory lại tròn mắt lên:


- Sao lại không cười?


Thấy “tác phong Mỹ” của Gregory lúc ấy hiện ra rõ rệt, tôi muốn sửng cồ lên ngay, nhưng cố nén lòng, trả lời một cách châm biếm nhưng lễ độ:


- Thưa ông Gregory, người Việt Nam không cười là bởi vì họ không buồn cười. Thế thôi, và hết. Ông mời tôi đến đây là để nhờ tôi dịch sách chớ không phải tôi đến xin ông việc hay để ông chất vấn tôi. Chào ông.


Và tôi đứng dậy, bắt tay ra về. Thái độ của Metcaffe lúc ấy làm cho tôi cảm động. Sau này tôi còn có cảm tình với người Mỹ chút nào một phần cũng là do thái độ của ông và của Donell khi ấy. Cả hai người thấy tôi đứng dậy về, tiễn tôi ra đến cửa, giữ lại một hồi lâu và bảo nhỏ: “Đó là ông tổng giám đốc của chúng tôi, ông ta hơi khùng. Anh đừng để ý. Vì chúng tôi, anh cứ dịch cuốn “L’Oeuf et Moi” đi, ông ta muốn làm gì, tùy ý”. Nể lời của hai người Mỹ hiểu người Việt hơn Gregory một chút, tôi nhận lời. Nhưng mặc dầu vậy, tôi nhất định không chịu dịch, và đưa cho một người bạn dịch trong hai mươi hôm, lấy tám mươi ngàn đồng đi chơi tếu. Lúc ấy, người Mỹ chưa tính mỗi trang bao nhiêu chữ như bây giờ, cứ một trang giấy lớn viết tay, dù chữ to hay chữ nhỏ cũng trả một trăm năm mươi đồng. Tôi không theo thông lệ ấy: liệu số trang và giá trị cuốn sách mà đặt giá, và lần nào nói giá thì Phòng Thông tin Mỹ ở Hà Nội cũng bằng lòng ngay.


Làm như thế chừng một năm, tôi nghỉ viết sách và bắt đầu giúp bài vở, hình chụp cho hai tạp chí “Trẻ” và “Thế Giới Tự Do” về các công trình như viện ung thư, trường đại học, trường âm nhạc, hay các thắng cảnh như hồ Gươm, hồ Tây, chùa Non Nước… Thông tin Mỹ làm việc với một chương trình vạch sẵn, cứ theo đúng chỉ thị mà làm, không co giãn, không thay đổi, cho nên dù là các tạp chí “Trẻ”, “Thế Giới Tự Do” in đẹp, giấy tốt, tặng không độc giả mà độc giả vẫn cứ dửng dưng. Lại thêm công việc phát hành, phổ biến rất kém nên hai tờ báo ấy gần như không được ai lưu ý, để rồi thì đem ra bán cho các hàng ve chai từng ký hay từng tạ. Nhưng nước Mỹ giàu, có thèm đếm xỉa đâu đến những món chi tiêu lặt vặt đó? Các ký giả cứ viết bài, cứ lãnh tiền. Ngoài các phóng sự, điều tra, phỏng vấn… Phòng Thông tin Mỹ còn yêu cầu tôi viết thêm truyện ngắn nữa và tôi cũng viết, viết thật nhiều, thật nhanh, kiểu Do Thái bắt đầu cuộc chiến Ai Cập, đánh mau và đánh mạnh, vì tôi quan niệm làm báo cướp tiền như thế không thể trì hoãn được.


Quả vậy, thời kỳ viết văn, viết báo ngon lành như thế kéo dài thêm không được bao nhiêu lâu nữa: Mỹ hạ giá văn chương xuống còn có một trăm đồng một trang giấy viết. Tôi không hợp tác nữa, mặc dù Donell vẫn còn yêu cầu viết thêm loại sách để phổ biến trong các trường tiểu học.


Lúc đó, sự hiện diện của người Mỹ ở Việt Nam đã rõ rệt hơn. Pháp bắt đầu lúng túng. Báo chí của ta trải qua một thời kỳ đặc biệt hoang mang vì tình thế rối ren gây ra bởi những thất bại liên tiếp của quân đội Pháp. Trong khi ấy, tôi vẫn hợp tác thường trực với tờ “Liên Hiệp”, nhưng tôi đến tòa báo rất ít, vì bao nhiêu công việc đã có anh em phụ trách giùm. Tôi để tâm nhiều hơn đến hai tờ “Tiểu Thuyết Thứ Bảy” và “Phổ Thông Bán Nguyệt San” mà tòa soạn lúc ấy chỉ có hai người là ông Vũ Đình Long và tôi. Sau hàng chục năm chỉ lo về việc điều khiển báo, ông Long lại bắt đầu viết lại và chính trong thời kỳ này, ông đã phóng tác nhiều vở kịch cổ điển của Pháp như Le Cid, Polyeucte, Britannicus… Còn tôi thì một mặt viết thêm nhiều truyện dài, truyện ngắn như “Chớp bể mưa nguồn”, “Tân Liêu trai”, “Khúc ngâm trong đất Hà”, và mặt khác đi tìm mua các tác phẩm của những nhà thơ, nhà văn mới nổi như Hoa Thu, Hoàng Cầm cho báo thêm khởi sắc. Lúc này, Nguyễn Hữu Trí làm thủ hiến, nhiều người cấp dưới dựa thế ông nay tố chuyện này, mai tố chuyện kia, muốn đóng cửa “Tiểu Thuyết Thứ Bảy”, “vì có nhiều bài thân kháng chiến”. Thừa dịp ấy, bọn hạ cấp đến tâng công với ông Vũ Đình Long, một mặt giở cái giọng làm tiền, mặt khác lại manh tâm xông vào nhà Tân Dân để nắm lấy hai tờ “Tiểu Thuyết Thứ Bảy” và “Phổ Thông Bán Nguyệt San”, nhưng mưu định của họ không thể thành, vì ông Vũ Đình Long là một người ngoài mặt hiền lành, không muốn sanh chuyện lôi thôi, nhưng bên trong thì cương quyết lạ lùng, không để cho ai khống chế. Ông bàn với tôi đóng cửa hai tờ báo để cho bọn mật thám đỡ lôi thôi. Thực ra, ông Long muốn đóng cửa hai tờ báo ấy đã lâu, vì lúc ấy không những người giúp việc đã thiếu, công việc nhà in lại không có gì, mà sự giao thông chuyên chở, cũng như vấn đề kỹ thuật, gặp khó khăn nhiều quá. Tình hình trong nước xuống thấp vô cùng. De Lattre bắt đầu gặp những thất bại liên tiếp; con trai ông chết; dân chúng bắt đầu tính đến chuyện di cư vào trong Nam. Huỳnh Văn Phẩm và anh em làm mãi tờ “Liên Hiệp” bắt đầu thấy chán, tản mác đi đây đó lần lần. Cố nhiên là tôi cũng theo anh em từ biệt Văn Tuyên, nhưng giữa Văn Tuyên và tôi, tình giao hữu không hề bị sứt mẻ chút nào. Sau này, đóng cửa tờ “Liên Hiệp” vào Nam, Văn Tuyên làm phòng báo chí cho Cao ủy Pháp, chúng tôi vẫn có dịp gặp gỡ nhau và làm việc với nhau trên tờ “Dân Chúng”, trước khi Văn Tuyên bị Ngô Đình Diệm trục xuất về Pháp, vì bị coi là “thành tích bất hảo”. Nhưng đó là chuyện sau.


Tạ từ “Liên Hiệp” và nghỉ hợp tác với Thông tin Mỹ, tôi chỉ còn hai tờ “Tiểu Thuyết Thứ Bảy” và “Phổ Thông Bán Nguyệt San”. Ông Vũ Đình Long và tôi làm việc tằng tằng để đợi cơ hội thuận tiện thì đóng cửa. Báo không lỗ vì ông Long là một người tính toán rất hay; nhưng dù sao, thì cả hai tờ báo ấy cũng chỉ là những bóng ma của một thời vàng son đã qua rồi. Tôi đi lại với ông Long cho đến giờ chót, và đến bây giờ, tôi vẫn tự mãn là đã cư xử với ông chung thủy từ đầu cho đến chót, tức là lúc ký hiệp định Genève, ông bùi ngùi tiễn tôi xuống Hải Phòng rồi quay trở lại, để không còn bao giờ anh em còn nhìn thấy nhau!


Nguồn: Vũ Bằng Toàn tập, tập I. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu, trọn bộ 4 tập hơn 4000 trang, khổ 16 x 24 cm. NXB Văn học, 1- 2006.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
Nghệ sỹ Ưu tú Đoàn Quốc với những cống hiến lặng lẽ - Trịnh Bích Ngân 07.08.2017
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
xem thêm »