tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21051646
Tiểu thuyết
18.11.2016
Henryk Sienkiewicz
Trên sa mạc và trong rừng thẳm



Chương 18


Khi họ bước vào nhà, Mahơđi đang nằm trên một chiếc đi-văng mềm giữa đám vợ của y, trong số đó


hai người đang phe phẩy những chiếc quạt lông đà điểu to tướng để quạt cho y, còn hai người khác đang khe khẽ gãi gan bàn chân y. Ngoài đám vợ y, chỉ có mặt thêm hai viên thống lĩnh là Apđulahi và Sêrip, vì vị thống lĩnh thứ ba là Ali Uled Helu đang dẫn quân lên phía bắc, đến xứ Bécberơ và Abu Hammét, những xứ sở trước đó đã bị quân khởi nghĩa chiếm được. Nhìn thấy những người vào, tiên tri đẩy đám vợ ra, ngồi dậy trên đi-văng. Iđrix, Ghebơrơ và hai tên Bêđuin rạp mặt xuống đất, rồi tiếp đó cứ quỳ mọp, hai tay bắt tréo trước ngực. Ông lão Hi Lạp gật đầu với Xtas ra hiệu cho em cũng làm như thế, nhưng cậu bé giả vờ không thấy, chỉ hơi khom mình và rồi vẫn đứng thẳng người. Mặt em tái đi, nhưng mắt sáng long lanh, từ toàn bộ dáng người, từ cái ngẩng cao kiên nghị và từ đôi môi mím chặt dễ dàng nhận thấy rằng trong người em đã có một quyết định không khoan nhượng, không gì trên đời này có thể khiến em thay đổi quyết định đó nữa. Rõ ràng ông lão Hi Lạp cũng nhận thấy điều đó, vì trên nét mặt ông hiện ra một nỗi lo lắng rõ rệt. Mahơđi nhìn lướt qua hai đứa bé, khuôn mặt béo nứt ánh lên nét cười thường có, rồi quay sang phía Iđrix và Ghebơrơ.


− Các người từ phương bắc xa xôi tới đây? − y nói.


 


Iđrix dập trán xuống đất.


− Bẩm vâng, thưa Mahơđi. Chúng con thuộc về bộ tộc Đangan, nên chúng con đã rời bỏ nhà cửa ở Phaium để được đến quỳ dưới chân đầy ân phước của Người.


− Ta đã trông thấy các người đi trong sa mạc. Con đường ấy thật là khủng khiếp, nhưng ta đã phái một thiên sứ tới để cảnh giới cho các người và bảo vệ cho các người tránh khỏi cái chết từ tay những kẻ vô đạo. Các người không nhìn thấy thiên sứ đâu, nhưng chính thiên sứ đã che chở cho các người đó.


− Xin đa tạ Người, thưa Người−chuộc−tội.


− Và các người đã mang tới cho Xmainơ những đứa trẻ này để ông ta đổi lấy bọn trẻ con của ông ta, những đứa trẻ mà bọn Thổ đang giam giữ cùng cô Phátma ở Port Xaiđơ?


− Chúng con chỉ muốn phụng sự Người thôi.


− Ai phụng sự ta cũng là phụng sự cho sự cứu rỗi của chính mình, nghĩa là các người đã tự mở đường lên thiên đường đấy. Phátma là người có họ với ta... Nhưng ta bảo thật cho các người rõ, khi nào ta chiếm được toàn bộ Ai Cập, thì khi đó cô ta cùng với con cái của cô ta cũng sẽ được tự do thôi mà.


− Vậy xin Người hãy xử với bọn trẻ này theo ý Người, thưa Đấng ban phước thánh...


Mahơđi khép hai mi mắt lại, sau đó mở ra, mỉm cười thân thiện và gật đầu ra hiệu cho Xtas.


− Hãy lại gần đây, cháu bé.


Xtas tiến lên vài bước đầy cương nghị, như những bước đi đều của người lính, cúi đầu chào lần thứ hai, rồi bật thẳng dậy như một sợi dây đàn và nhìn thẳng vào mắt Mahơđi chờ đợi.


 


− Các cháu có sung sướng là đã được đến với ta chăng?


− Mahơđi hỏi.


− Không, thưa tiên tri. Chúng tôi đã bị bắt cóc khỏi tay cha chúng tôi, dù hoàn toàn không muốn chút nào.


Lời đáp thẳng thắn này đã gây ấn tượng, cả cho viên thủ lĩnh vốn quen với sự nịnh nọt, lẫn cho những người có mặt tại đấy. Thống lĩnh Apđulahi nhíu mày. Ông lão Hi Lạp nhay nhay ria mép và bắt đầu bẻ đốt ngón tay, riêng Mahơđi vẫn không thôi cười mỉm.


− Thế nhưng, − y nói, − Các cháu đang được ở nơi ngọn nguồn chân lí. Cháu có muốn uống nước từ ngọn nguồn ấy chăng?


Một giây im lặng, Mahơđi cho rằng cậu bé không hiểu câu hỏi bèn lặp lại rõ ràng hơn:


− Cháu có muốn tiếp thu khoa học của ta chăng?


Nghe thấy thế, cánh tay Xtas đang đặt trước ngực chợt phát lên một dấu thánh như một người từ trên một con tàu đắm sắp sửa nhảy xuống nước vậy.


− Thưa tiên tri. − Em đáp. − Tôi không biết thứ khoa học của Người, nên tôi có thừa nhận nó thì chẳng qua cũng chỉ là vì sợ hãi, như một thằng hèn, như một người tồi tệ nhất mà thôi. Liệu Người có muốn những kẻ hèn nhát và đểu cáng thu nhận học thuyết của Người?


Trong khi nói thế, em vẫn nhìn thẳng vào mắt Mahơđi. Im lặng đến nỗi nghe rõ tiếng vo ve của đàn ruồi. Đồng thời cũng diễn ra một việc khác thường. Đó là việc Mahơđi bối rối và không tìm được ngay câu trả lời. Nụ cười biến mất trên khuôn mặt đang lộ vẻ lúng túng và khó chịu. y đưa hai tay với lấy quả bầu đựng nước pha mật để uống nhưng rõ ràng chỉ là để có thêm thời gian và che giấu bớt sự bối rối của mình.


Còn cậu bé dũng cảm thuộc dòng dõi những người từng bảo vệ đạo Thiên Chúa, giọt máu trung thành của những người chiến thắng ở Khôchim và thành Viên(1) thì cứ đứng nguyên đấy với cái đầu ngẩng cao chờ lời tuyên án. Gò má gầy gò bị rám bởi những cơn lốc cát sa mạc dậy lên màu hồng, mắt sáng long lanh, toàn thân run lên những cơn rùng mình nhiệt thành. “Đó” − Em nhủ thầm − “Dù những người khác có thừa nhận học thuyết của y, nhưng ta, ta sẽ không chịu từ bỏ lòng tin và linh hồn”. Và nỗi lo sợ vì những điều có thể và sẽ phải nổ ra giờ đây ẩn sâu vào tim em, chỉ có niềm sung sướng và tự hào tràn ngập trong lòng.


Mahơđi đặt quả bầu xuống và hỏi:


− Nghĩa là ngươi từ chối học thuyết của ta?


− Tôi là tín đồ Thiên Chúa như cha tôi...


...


− Kẻ nào bịt tai không nghe tiếng nói của Thượng đế,


− Mahơđi nói thong thả bằng giọng nói khác hẳn đi, − Kẻ đó chỉ là củi đốt mà thôi.


Nghe thấy thế, thống lĩnh Apđulahi, kẻ nổi tiếng về sự dã man và hà khắc, liền nhe bộ răng trắng nhởn như một con thú dữ, cất tiếng:


 


1. Khôchim hiện nay là một thành phố của ucraina, trước đây thuộc ba Lan. tại đó, năm 1621 quân côdắc và ba Lan, dưới sự chỉ huy của J.K. Khốtkiêvich đã mấy lần thắng quân Thổ đông hơn gấp bội. cũng tại đó, năm 1673, vua ba Lan J.xêbiexki cũng đã đánh tan quân Thổ. năm 1683, quân đội liên minh của ba Lan và các nước đồng mình đã giải vây cho thành viên, đánh tan quân Thổ − n.d.


 


− Lời nói của thằng bé này thật ngỗ ngược, xin Người hãy trừng phạt nó, hoặc hãy cho phép tôi được trị tội.


“Bắt đầu rồi đây!” − Xtas nghĩ thầm.


Song Mahơđi vốn lúc nào cũng muốn cho sự vinh quang về lòng từ tâm của y được truyền tụng không những chỉ trong số các tín đồ đạo Hồi mà lan ra toàn thế giới, nên y nghĩ rằng, một hình phạt quá hà khắc đối với một đứa trẻ có thể sẽ làm tổn hại đến thanh danh y.


y lần tràng hạt một hồi lâu và suy nghĩ, rồi nói:


− Không! Những đứa trẻ này bị bắt để mang tới cho Xmainơ, nên mặc dù ta không bao giờ thương lượng gì với bọn vô đạo, cần phải gửi chúng tới chỗ Xmainơ. Đó là ý muốn của ta.


− Sẽ làm theo ý muốn của Người! − Viên thống lĩnh đáp. Mahơđi trỏ tay chỉ Iđrix, Ghebơrơ và bọn Bêđuin:


− Hỡi Apđulahi, ngươi hãy nhân danh ta thưởng cho những người này vì họ đã vượt qua một quãng đường dài và nguy hiểm để phụng sự ta và thượng đế.


Rồi y gật đầu ra hiệu rằng buổi tiếp đã kết thúc, đồng thời ra lệnh cho ông lão Hi Lạp cũng ra về luôn. Khi đã ra đến chỗ tối trên bãi cầu nguyện, ông lão liền túm lấy tay Xtas lắc lấy lắc để vì tức giận và tuyệt vọng.


− Đồ khốn nạn! Mày đã giết chết đứa trẻ vô tội này rồi!


− Ông vừa nói vừa chỉ Nen. − Mày đã giết cả mày và có thể cả tao nữa đấy!


− Cháu không thể làm khác được! − Xtas đáp.


− Mày không thể! Mày hãy nhớ rằng hai đứa chúng mày sẽ bị đày ải tiếp trên một chặng đường thứ hai còn trăm lần tồi tệ hơn chặng đường vừa rồi. Đó là cái chết, mày hiểu chưa? ở


Phasôđa, chỉ trong vòng một tuần, bệnh sốt rét sẽ giết chúng mày. Mahơđi biết rõ điều đó, vì thế ông ta gửi chúng mày tới chỗ Xmainơ.


− ở Omđuaman thì rồi chúng cháu cũng chết.


− Không đúng! Chúng mày sẽ không chết trong nhà Mahơđi, trong no đủ và tiện nghi đâu! Ông ta đã sẵn sàng đón nhận chúng mày vào che chở dưới cánh. Tao biết là ông ta đã sẵn sàng. Thế là mày đã trả ơn tao hậu hĩnh vì chính tao đã bênh vực chúng mày. Thôi, chúng mày muốn làm thế nào thì làm. Một tuần nữa Apđulahi sẽ gửi một chuyến bưu điện bằng lạc đà đến Phasôđa, trong tuần tới chúng mày muốn làm gì tùy thích. Chúng mày sẽ không thấy mặt ta nữa đâu!...


Nói xong ông bỏ đi ngay, nhưng chỉ lát sau ông đã quay trở lại. Như mọi người Hi Lạp khác, ông vốn lắm lời, và phải nói cho thỏa. Ông lão muốn trút hết cơn giận đang bừng bừng trong người lên đầu Xtas. Ông không phải là người tàn bạo và không có một con tim hung dữ, tuy vậy ông muốn cậu bé phải thấm thía hơn nữa cái trách nhiệm kinh khủng mà cậu bé đã buộc vào cho mình khi không chịu nghe lời khuyên cùng những lời ngăn đe của ông.


− Ai cấm mày là người Thiên Chúa trong lòng, hả? − Ông nói − Mày nghĩ là tao không theo đạo chăng? Nhưng tao không phải là thằng ngốc. Còn mày, mày muốn phô phang cái anh hùng rởm của mày kia. Từ trước tới nay tao đã giúp được cho tù binh da trắng bao nhiêu việc, còn từ giờ tao không còn có thể giúp họ được nữa, vì Mahơđi đã giận tao rồi. Tất cả sẽ chết hết! Cả cô bạn tù nhỏ bé của mày cũng vậy thôi. Chính mày đã giết chết con bé. ở Phasôđa, cả đến người lớn cũng chết vì sốt rét như ruồi nữa là trẻ con. Còn nếu như chúng nó bắt bọn mày phải đi bộ theo sau ngựa và lạc đà, thì con bé sẽ gục ngay trong ngày đầu tiên. Chính mày gây ra chuyện đó. Mày hãy vui sướng đi, cái đồ... Thiên Chúa giáo này!


Rồi ông bỏ đi, còn họ thì rẽ khỏi bãi cầu nguyện, qua những phố tối tăm, trở về lều. Họ đi rất lâu, vì thành phố trải dài trên một phạm vi khổng lồ. Mệt mỏi vì cố sức, vì đói, vì sợ và vì những ấn tượng kinh khủng suốt cả một ngày trời, chốc chốc Nen lại phải dừng chân. Iđrix và Ghebơrơ thúc cô bé đi nhanh hơn. Song chỉ một lát sau, chân cô bé hoàn toàn mềm nhũn. Xtas bèn bồng cô bé lên tay không chút ngần ngừ và mang đi. Dọc đường, em muốn nói với Nen, muốn thanh minh trước cô bé rằng em không thể hành động khác đi, nhưng những ý nghĩ cứ chết cứng lại trong đầu em, khiến em chỉ lặp đi lặp lại: “Nen! Nen! Nen!”, và siết chặt cô bé vào mình, không thể nói được gì hơn nữa. Sau vài chục bước chân, Nen đã ngủ thiếp đi vì kiệt sức trên tay em, thế là em im lặng bước đi trong sự tĩnh mịch của những hẻm phố đang ngủ yên, sự tĩnh mịch chỉ bị gián đoạn bởi câu chuyện giữa Iđrix và Ghebơrơ.


Trong tim bọn chúng tràn ngập niềm sung sướng, đó là điều may mắn cho cả Xtas, vì nếu không bọn chúng có thể sẽ trị em vì tội dám đối đáp ngỗ ngược với Mahơđi. Song chúng đang bận tâm về những điều vừa được hưởng nên không thể nghĩ chuyện gì khác.


− Trước, anh cảm thấy ốm đến nơi rồi. − Iđrix nói. − Nhưng được nhìn thấy Đức tiên tri anh đã khỏi bệnh hoàn toàn.


− Người giống như cây cọ trên sa mạc, như dòng nước mát lành giữa ngày nóng nực, lời của Người giống như những quả chà là chín mọng vậy. − Ghebơrơ đáp.


 


− Gã Nurơ En Tathin nói dối khi bảo rằng Người không cho chúng mình vào gặp. Người đã cho vào, đã ban phước lại còn ra lệnh cho ngài Apđulahi phải ban thưởng cho chúng ta nữa chứ.


− Ngài thống lĩnh sẽ thưởng cho chúng ta rất hậu, vì ý muốn của Mahơđi là thiêng liêng.


− Tuyệt quá! Mong sao được đúng như lời ông nói. − Một trong hai tên Bêđuin lên tiếng.


Và Ghebơrơ bắt đầu mơ tưởng đến hàng đàn lạc đà, súc vật có sừng, hàng đàn ngựa và hàng túi hàng túi ních đầy những đồng piaxt.


Gã Iđrix chợt khiến hắn tỉnh cơn mơ màng ấy khi cất tiếng hỏi và trỏ Xtas bế Nen đang ngủ say:


− Ta làm gì với con ruồi trâu và ruồi nhóc này hả?


− Ha! Ngài Xmainơ sẽ phải thưởng riêng cho chúng ta về chúng nó đấy!


− Khi mà Đấng tiên tri đã nói rằng Người không cho phép bất cứ cuộc thương thuyết đổi chác nào với bọn vô đạo, thì Xmainơ chẳng dính dáng gì với chúng nó nữa đâu.


− Thế thì tôi thật tiếc là chúng nó không rơi vào tay ngài thống lĩnh, hẳn ngài ấy sẽ dạy cho thằng chó con kia biết thế nào là cất tiếng sủa chống lại chân lí và con người mà Thượng đế đã chọn lựa.


− Mahơđi rất nhân từ! − Iđrix đáp. Hắn cân nhắc một lúc lâu rồi nói:


− Dù sao, khi có hai đứa trong tay, thì ngài Xmainơ sẽ có thể chắc chắn rằng cả bọn Thổ lẫn bọn Anh đều không thể giết con ngài và bà Phátma.


− Thế nghĩa là có thể ông ta sẽ thưởng công cho chúng ta?


 


− Phải, cứ để cho chuyến bưu điện của ngài Apđulahi mang chúng nó đến Phasôđa. Chúng ta càng thêm nhẹ gánh. Khi nào ngài Xmainơ quay trở lại đây, ta sẽ nhắc ngài về chuyện tiền nong sau.


− Anh nói thế có nghĩa là chúng ta sẽ ở lại Omđuaman?


− Lạy đức Ala! Mày chưa ngán quãng đường từ Phaium tới Kháctum hay sao? Đến lúc chúng ta phải nghỉ ngơi rồi.


Đám lều trại không còn xa nữa. Tuy nhiên, Xtas cũng đã phải chậm bước chân, vì sức em cũng bắt đầu kiệt. Mặc dù Nen vốn nhẹ, nhưng mỗi lúc một thêm nặng trên tay em. Bọn Xuđan muốn nhanh được ngủ, bèn quát mắng em và bắt đầu đấm vào đầu em. Thậm chí gã Ghebơrơ còn dùng dao thích vào bả vai em đau điếng. Cậu bé chịu đựng tất cả những cái đó trong im lặng, chỉ cố tìm cách che cho cô em bé bỏng của mình, mãi cho tới khi một trong hai tên Bêđuin đẩy em mạnh đến suýt ngã em mới thốt lên với bọn chúng qua hai hàm răng nghiến chặt:


− Chúng ta còn phải sống đến được Phasôđa đấy. Những lời ấy khiến bọn Ả Rập dừng tay, vì chúng e


sẽ phạm lệnh Mahơđi. Song điều khiến chúng phải ngừng hành động ấy lại là vì Iđrix bỗng nhiên bị chóng mặt dữ dội, đến nỗi hắn phải tựa vào vai Ghebơrơ. Lát sau, cơn chóng mặt qua đi, nhưng tên Xuđan hoảng hốt và nói:


− Lạy đức Ala! Có chuyện không hay xảy đến với tôi rồi. Có thể tôi bị nhiễm bệnh rồi chăng?


− Anh đã được gặp Mahơđi, anh không thể nào ốm được! − Ghebơrơ đáp.


Cuối cùng bọn chúng cũng về tới khu lều. Với chút sức cuối cùng, Xtas đưa Nen đang ngủ say vào tay bà Đina. Mặc dù cũng không được khỏe lắm song bà cũng đã sửa soạn cho cô chủ của mình một chỗ nằm êm ái. Bọn Xuđan và Bêđuin nuốt vội mỗi tên vài rẻo thịt tươi rồi lăn ngay ra chỗ nằm như những súc gỗ. Chúng không cho Xtas chút gì để ăn cả, chỉ có bà Đina dúi vào tay em một vốc ngô ngâm mà bà đã lấy bớt của lũ lạc đà. Song cậu bé chẳng còn lòng nào nghĩ đến chuyện ăn và ngủ cả.


 


Bởi lẽ, gánh nặng đang đè trên vai em thật quá nặng nề. Em cảm thấy rằng, khi từ chối thẳng thừng ân huệ của Mahơđi, cái ân huệ phải đánh đổi bằng việc từ bỏ tín ngưỡng và linh hồn, em đã hành động đúng đắn. Em cảm thấy rằng giá cha em biết, ông sẽ có thể tự hào và sung sướng vì hành động của em, song đồng thời em nghĩ rằng chính em đã kết liễu đời Nen − người bạn trong cảnh nô lệ, người em gái nhỏ thân thương, người mà em sẵn sàng hiến dâng cho đến giọt máu cuối cùng.


Vậy nên, khi tất cả mọi người đã ngủ say, em òa lên khóc nức nở, và nằm lăn trên một tấm nệm, em khóc rất lâu như một đứa trẻ, mà quả thật em cũng hãy còn là một đứa trẻ kia mà.


 


 


Chương 19


 


Cuộc bệ kiến Mahơđi và việc trò chuyện với y rõ


ràng đã không khiến cho Iđrix khỏe hơn lên chút nào, đến đêm, hắn bị ốm nặng thêm, và đến sáng thì đã bất tỉnh. Khamix, Ghebơrơ và hai tên Bêđuin được gọi đến chỗ viên thống lĩnh, tên này giữ chúng lại đó vài tiếng đồng hồ, ca ngợi lòng can đảm của chúng. Nhưng khi trở về, chúng lại rất bực bội và tức giận, vì chúng thường tưởng tượng đến những phần thưởng lớn lao khôn cùng, thế mà Apđulahi chỉ thí cho mỗi tên một đồng bảng Ai Cập và một con ngựa mà thôi.


Bọn Bêđuin bắt đầu vặc nhau với Ghebơrơ, suýt nữa thì nện nhau với hắn, và cuối cùng chúng tuyên bố rằng, chúng sẽ đi cùng với chuyến bưu điện bằng lạc đà tới Phasôđa để đòi Xmainơ phải trả tiền. Khamix cũng nhập bọn với chúng, tên này hi vọng rằng sự che chở của Xmainơ sẽ mang lại cho hắn nhiều lợi ích hơn là việc ở lại Omđuaman.


Đối với bọn trẻ, bắt đầu diễn ra một tuần lễ đói khổ, vì  Ghebơrơ  không  hề  nghĩ  đến  chuyện  nuôi  chúng  ăn. May mắn là Xtas còn có được hai đồng tale có in hình Maria Terexa mà em nhận được từ ông cụ người Hi Lạp, em bèn vào phố mua chà là và gạo. Bọn Xuđan không phản đối gì cuộc đi này vì chúng biết rõ rằng không thể nào trốn thoát khỏi Omđuaman, và dù sao đi nữa, em cũng không bao giờ rời bỏ cô bé. Tuy nhiên chuyến đi không tránh khỏi những chuyện phiền toái, vì chỉ cần trông thấy một thằng bé mặc quần áo kiểu Âu mua thực phẩm ở chợ là hàng đoàn các tín đồ Hồi giáo nửa phần hoang dã đã kéo tới nghênh tiếp bằng những tràng tiếng cười và hú hét. May thay, nhiều kẻ đã trông thấy em ở chỗ Mahơđi hôm qua, bọn này bèn ngăn những kẻ định “ra tay”đối với em lại. Chỉ có lũ trẻ con ném cát và đá vào người em, nhưng em không thèm để ý gì tới chuyện ấy cả.


Giá cả ở chợ cao vô cùng. Xtas hoàn toàn không thể mua nổi chà là, còn phần lớn gạo mua được lại bị Ghebơrơ tước mất, “để dùng cho anh hắn đang ốm”. Cậu bé bèn dùng hết sức chống lại việc cướp đoạt ấy, khiến cho mọi sự kết thúc ở chuyện giằng co và đánh nhau, trong đó kẻ yếu hơn dĩ nhiên phải nhận hàng lô những vết thâm tím và u bướu trên mình. Trong chuyện đó cũng thể hiện rõ sự dã man của Khamix. Hắn chỉ gắn bó với con chó Xaba và nuôi nó bằng thịt tươi. Ngược lại, đối với bọn trẻ đang đói khổ mà hắn đã quen biết từ lâu, những đứa trẻ đối với hắn bao giờ cũng tốt bụng, thì hắn lại tỏ ra hoàn toàn dửng dưng, và khi Xtas xin hắn ít nhất cũng hãy chia cho Nen chút ít thức ăn, hắn vừa cười mỉa vừa đáp:


− Đi mà ăn mày.


Và cuối cùng, trong mấy ngày sau đó, muốn cứu Nen khỏi chết đói, Xtas đành phải đi ăn xin. Chuyện đó không phải bao giờ cũng không mang lại kết quả. Thỉnh thoảng một cựu sĩ quan hoặc binh sĩ của phó vương Ai Cập đưa cho em vài đồng piaxt hoặc vài quả chà là khô và hứa hôm sau sẽ giúp thêm. Một lần em gặp được một nhà truyền giáo và cô


 


phước. Nghe em kể chuyện, họ than khóc cho số phận của hai đứa, và mặc dù bản thân cũng bị cái đói khiến cho mòn mỏi, họ vẫn chia sẻ với em tất cả những gì họ có. Họ còn hứa sẽ đến thăm hai đứa ở lều, và quả thực hôm sau họ đến với hi vọng là có thể mang được bọn trẻ về nhà cho đến khi chuyến bưu điện lên đường. Nhưng Ghebơrơ và Khamix dùng roi ngựa đuổi họ đi. Song hôm sau, Xtas lại gặp họ và được họ cho một bơ gạo cùng hai viên thuốc kí ninh mà vị cố đạo dặn em phải giữ thật cẩn thận vì thấy trước rằng, chắc chắn bệnh sốt rét đang chờ hai trẻ tại Phasôđa.


− Bây giờ các con sẽ phải đi dọc theo những vùng ngập nước sông Nin, − Ông nói, − Nghĩa là dọc theo các xuđa như người ta thường gọi. Dòng sông không thể chảy tự do vì bị chắn bởi những cái đập chắn tự nhiên gồm cỏ rêu và lá cây rụng hợp lại, những thứ này trôi theo dòng nước và đọng lại tại những chỗ nông, tạo nên tại đó những vũng lầy rộng lớn đầy bệnh tật, những nơi mà bệnh sốt rét không tha ngay cả những người da đen. Các con hãy chú ý chớ có ngủ đêm không đốt lửa trên đất trần nhé.


− Chúng con đang muốn được chết đây, thưa cha! − Xtas đáp lại như rên rỉ.


Nghe thấy thế, vị cố đạo bèn ngước khuôn mặt gầy gò của mình lên cầu nguyện một lúc, sau đó từ biệt cậu bé và bảo:


− Con hãy tin ở nơi Chúa. Con đã không chối Chúa, thì ân phước và sự che chở của Chúa sẽ ở bên con.


Xtas không những chỉ ăn mày mà còn cố tìm việc làm thuê nữa. Một hôm, nhìn thấy một đám người đang làm việc trên bãi cầu nguyện, em bèn nhập bọn và cũng bắt đầu vác đất sét đắp hàng rào vây quanh bãi. Người ta cười mỉa em,


 


xô đẩy em, song đến cuối buổi chiều, viên tù trưởng già coi sóc công việc cũng phát cho em mười hai quả chà là. Xtas vô cùng sung sướng với phần trả công này, vì ngoài gạo, chà là là thứ thức ăn duy nhất rất bổ cho Nen, mà ở Omđuaman ngày càng khó kiếm.


Vì thế em rất tự hào mang chà là về cho cô em gái nhỏ, em đưa cho cô tất cả những gì em kiếm được, còn chính em thì chỉ sống cầm hơi suốt tuần nay bằng số ngô lấy trộm bớt của lũ lạc đà mà thôi. Nhìn thấy những quả cây ưa thích, Nen sung sướng vô cùng, nhưng cô bé muốn cả Xtas cũng cùng ăn. Thế là đứng nhón trên đầu ngón chân, đặt tay lên vai Xtas, cô bé ngẩng đầu nhìn vào mắt Xtas và yêu cầu:


− Anh Xtas, ăn một nửa đi anh, ăn đi anh! Còn cậu bé thì bảo:


− Anh ăn rồi, anh ăn rồi! Ôi, anh no lắm rồi đây này!


Và em mỉm cười, nhưng ngay lập tức vội cắn chặt môi để khỏi phải òa lên khóc, vì quả tình em đang đói thắt ruột. Em tự nhủ là hôm sau sẽ lại đi kiếm việc. Song mọi sự đã xảy ra cách khác. Sáng sớm hôm sau, một viên mulađem được Apđulahi phái đến báo rằng, đến đêm, chuyến bưu điện bằng lạc đà sẽ khởi hành đi Phasôđa, và theo lệnh của viên thống lĩnh, cả Iđrix, Ghebơrơ và Khamix cùng với hai tên Bêđuin phải chuẩn bị để lên đường ngay cùng với  bọn  trẻ.  Mệnh  lệnh  này  khiến  cho  Ghebơrơ  ngạc nhiên và phẫn nộ, hắn bèn tuyên bố rằng hắn sẽ không đi, vì anh hắn đang ốm không người trông nom, và nếu anh hắn có khỏe đi chăng nữa thì cả hai anh em cũng cứ ở lại Omđuaman như thường.


Viên muladem liền trả lời:


 


− Mahơđi chỉ có một ý muốn, và ngài Apđulahi, vị thống lĩnh của Người, ông chủ của ta, không bao giờ thay đổi mệnh lệnh đã ban. Một tên nô lệ sẽ coi sóc anh ngươi, còn ngươi phải đi Phasôđa ngay.


− Vậy thì tôi sẽ đến thưa với ngài rằng tôi không đi đâu cả.


− Chỉ có những kẻ mà chính ngài thống lĩnh muốn gặp là được vào chỗ ngài thôi. Nếu như nhà ngươi cố tình xông vào chỗ ngài khi không được phép thì người ta sẽ điệu nhà ngươi ra, và đưa thẳng tới giá treo cổ đấy.


− Lạy đức Ala! Thế thì anh cứ nói trắng ra rằng tôi là một thằng nô lệ cho xong chuyện.


− Câm đi và hãy tuân lệnh! − Viên mulađem đáp.


Tên Xuđan đã nhìn thấy ở Omđuaman những giá treo cổ oằn xuống dưới sức nặng của những xác người treo, và ngày ngày, theo lệnh của tên Apđulahi tàn ác, giá treo cổ lại được thay bằng những thây người mới, nên hắn hoảng sợ. Điều mà viên mulađem nói với hắn, rằng Mahơđi chỉ có một ý muốn, còn Apđulahi chỉ ra lệnh có một lần được các tín đồ Hồi giáo truyền khẩu cho nhau. Không có cách nào khác là phải đi thôi.


“Mình sẽ không còn được gặp lại anh Iđrix nữa đâu!”


− Ghebơrơ nghĩ thầm. Và trong trái tim lang sói của hắn vẫn còn tiềm ẩn một sự gắn bó nào đó với người anh ruột, bởi cái ý nghĩ sẽ phải bỏ anh đang bệnh hoạn khiến hắn đau lòng. Mặc dù Khamix và bọn Bêđuin cố sức thuyết phục hắn rằng ở Phasôđa có thể sẽ tốt hơn ở Omđuaman, và rằng Xmainơ có thể sẽ thưởng công chúng hậu hĩ hơn là viên thống lĩnh, song chỉ vô ích. Không có lời nào có thể làm dịu bớt nỗi uất ức và cơn giận dữ của Ghebơrơ, cơn giận đó lại đổ phần lớn xuống đầu Xtas.


Quả thực đó là một ngày khổ hạnh đối với cậu bé. Em không được phép đi ra chợ, nên không thể kiếm được hoặc xin được gì cả, mà phải lao động cật lực như một tên nô lệ để chất buộc các gùi hàng mà người ta chuẩn bị đi đường. Công việc này đối với em càng khó khăn hơn, bởi em đã bị yếu sức đi nhiều vì đói và mệt: Em chắc rằng dọc đường em sẽ chết, nếu không phải chết dưới làn roi ngựa của Ghebơrơ thì cũng vì quá kiệt sức.


May thay, ông lão người Hi Lạp, vốn có trái tim nhân hậu, chiều hôm đó đã đến thăm và từ biệt bọn trẻ, đồng thời cung cấp cho chúng chút ít gì đó để đi đường. Ông còn mang đến cho chúng vài viên kí ninh, một ít chuỗi hạt cườm bằng thủy tinh và chút lương thực. Tuy nhiên điều quan trọng nhất, sau khi được biết về bệnh tình của Iđrix, ông nói với Ghebơrơ, Khamix và hai tên Bêđuin:


− Các ngươi hẳn biết là ta đến đây theo lệnh của Mahơđi.


− Ông bảo chúng.


Nghe thấy thế chúng bèn dập trán xuống đất. Ông nói tiếp:


− Dọc đường, các ngươi phải cho bọn trẻ con ăn uống và đối xử với chúng thật tử tế. Bọn chúng sẽ báo cáo lại cho ngài Xmainơ rõ cách đối xử của các ngươi, sau đó ngài Xmainơ sẽ viết cho Đấng tiên tri rõ về chuyện đó. Nếu như có lời than phiền nào về các ngươi thì chuyến bưu điện sắp đến sẽ mang tới cho các ngươi bản án tử hình đấy, nghe chưa?


 


Một cái lạy nữa là câu trả lời duy nhất đáp lại lời ông, còn Ghebơrơ và Khamix có vẻ mặt như những con chó bị người ta tròng rọ bịt mõm vào vậy.


Ông lão Hi Lạp ra lệnh cho chúng đi, rồi nói bằng tiếng


Anh với bọn trẻ:


− Ta bịa ra tất cả những chuyện đó, vì bản thân Mahơđi không ra thêm lệnh nào nữa đối với các cháu. Song vì y đã nói là các cháu phải đến Phasôđa, nên cần phải làm sao cho các cháu sống được đến đấy. Ta cũng đồ rằng không tên nào trong bọn còn được gặp Mahơđi hay viên thống lĩnh trước khi lên đường nữa.


Rồi ông nói với Xtas:


− Ta đã và vẫn đang phật lòng về anh đấy, anh bạn trẻ ạ. Anh có biết là chút nữa anh giết cả ta không? Mahơđi giận lây sang cả ta, và để được y tha thứ, ta đã phải dâng cho Apđulahi phần lớn tài sản của ta, ấy thế nhưng ta vẫn chưa dám chắc liệu có cứu thân ta được lâu dài hay không nữa kia. Dù sao đi nữa, ta cũng không còn có thể cưu mang tù binh như ta đã làm từ trước đến nay. Nhưng ta thương các cháu, nhất là (ông trỏ Nen) thương con bé... Ta cũng có một đứa con gái vào tuổi như nó... mà ta yêu hơn cả mạng sống của bản thân... Vì nó, ta đã làm tất cả mọi chuyện như ta đã làm... Chúa Crixtô sẽ phán xét ta về chuyện đó... Cho tới nay nó vẫn mang trên ngực, giấu dưới làn áo, một thánh giá bằng bạc... Nó cũng cùng tên với cháu đấy, cháu bé của bác ạ. Giá như không có nó, ta thà chết, hơn là phải sống trong một cái địa ngục như ở đây.


Và ông xúc động. Ông nín lặng một lúc lâu, rồi đưa tay lau trán, nói tiếp về chuyện khác.


 


− Mahơđi gửi các cháu tới Phasôđa vì tin chắc rằng ở đó các cháu sẽ chết. Như vậy là ông ta có thể trả thù các cháu về sự bướng bỉnh của anh đấy, anh bạn trẻ ạ, sự bướng bỉnh đã xúc phạm sâu sắc tới ông ta. Đồng thời ông ta vẫn không bị mất đi quang vinh của một “Đấng từ bi”. Ông ta bao giờ cũng thế... Nhưng ai mà biết được cái chết sẽ dành cho kẻ nào trước. Apđulahi mớm cho ông ta cái ý định nên cử những con chó đã bắt cóc các cháu cùng đi với các cháu. Hắn đã thưởng công cho bọn chúng quá ít ỏi, giờ đây hắn lại sợ là chuyện đó lan rộng ra. Cả hắn lẫn tiên tri đều không muốn bọn người này sẽ loan tin rằng ở Ai Cập hãy còn nhiều quân, đại bác, tiền của và người Anh... Đường đi xa xôi và khó khăn lắm đấy. Các cháu sẽ đi qua một vùng đất không người và đầy sơn lam chướng khí, nên các cháu hãy gìn giữ những viên thuốc mà ta đã đưa cho như giữ gìn con ngươi mắt vậy.


− Bác ơi, bác hãy ra lệnh thêm một lần nữa cho Ghebơrơ để hắn không dám bỏ đói và đánh đập Nen! − Xtas nói.


− Các cháu đừng lo. Bác đã gửi gắm các cháu cho một người tù trưởng già, người sẽ áp tải chuyến bưu điện này đi. Đó là một người quen cũ của bác. Bác đã cho ông ta một chiếc đồng hồ, nhờ đó đã cậy ông ta chăm sóc các cháu.


Nói xong, ông bắt đầu từ biệt. Bế xốc Nen lên tay, ông ghì chặt cô bé vào ngực và lặp đi lặp lại:


− Cầu Chúa ban phước lành cho con, con của ta...


Mặt trời đã lặn, đêm đã hiện lên đầy sao. Trong bóng đêm dậy lên tiếng ngựa thở rừ rừ và tiếng bước chân lạc đà thồ nặng hàng.


 


Chương 20


 


Viên tù trưởng già Hatim đã giữ lời hứa với ông lão người Hi Lạp và cố gắng chăm sóc bọn trẻ. Con


đường lên thượng nguồn sông Nin thật là gian khó. Họ đi qua Kêtaina, Et Đuchim và Cana, sau đó vượt qua Apba


− một hòn đảo sông Nin phủ đầy rừng, trên đó, hồi trước chiến tranh, Mahơđi đã từng sống trong một thân cây rỗng lòng với tư cách một thầy tu − ẩn sĩ. Đoàn người thường phải đi vòng quanh những vùng nước ngập rộng lớn mọc đầy cây cói giấy, những vùng nước ngập này thường được gọi là các xuđa, từ đó gió mang về hơi độc của các thứ lá mục bị dòng nước cuốn đi. Hồi trước, các kĩ sư người Anh đã từng phá bỏ các đập chắn tự nhiên này(1), những con tàu chạy bằng hơi nước có thể chạy từ Kháctum tới tận Phasôđa và xa hơn nữa. Song giờ đây, dòng sông lại bị tắc nghẽn, không thể chảy tự do nên chảy tràn ra hai bên bờ. Vùng lân cận bờ tả và hữu ngạn phủ đầy rừng cây cao vút, trong đó nhô lên những chiếc tổ mối và những cây gỗ khổng lồ đứng đơn độc. Nhiều nơi, rừng lan sát tận bờ sông. Những chỗ cao ráo hơn một chút mọc những bụi cây xiêm gai. Trong những tuần lễ đầu tiên, họ thường gặp các làng mạc và thị trấn Ả Rập, gồm


 


 


1. Sau khi cuộc khởi loạn bị dẹp, giao thông lại được thông suốt


(chú thích của tác giả).


 


những ngôi nhà mái lợp cuộng kê có hình chum khum khum kì lạ, song kể từ sau ápba trở đi, từ làng Gôdơ Abu Guma, họ đi vào vùng đất của người da đen. Đó là một vùng đất hoàn toàn hoang vắng, vì các tín đồ Hồi giáo đã bắt gần như cạn sạch dân da đen trong vùng đem bán tại các chợ ở Kháctum, Omđuaman, Đara, Phaserơ, En Obaiđơ và những thành phố khác của Xuđan, Đácphua và Coócđôphan. Những thổ dân khác kịp trốn tránh kiếp đời nô lệ trong bụi rậm hay trong rừng sâu, bị chết dần chết mòn bởi cái đói và bệnh đậu mùa, bệnh dịch này đang lan tràn với một sức mạnh chưa từng thấy dọc theo sông Nin Trắng và Nin Xanh. Chính các tín đồ Hồi giáo cũng phải nói rằng, hàng “dân tộc” phải chết rụi vì bệnh dịch này. Những cánh đồng cao lương trước kia, những nương sắn và vườn chuối bị ngập trong rừng. Chỉ có những loài dã thú không bị ai săn đuổi là sinh sôi nảy nở rất nhiều. Nhiều hôm, trong ráng chiều, bọn trẻ nhìn ở phía xa xa những đàn voi, trông giống như những khối đá di động, đang chậm rãi bước về phía những nguồn nước quen thuộc đối với chúng. Nhìn thấy chúng, ông Hatim vốn trước là một tay chuyên buôn ngà voi, liền tắc lưỡi, thở dài và tâm sự với Xtas:


− Trời ơi! Bao nhiêu là của cải ở đây. Nhưng bây giờ có săn bắn cũng chẳng ích gì, vì Mahơđi cấm các thương nhân Ai Cập đi lại Kháctum nên chẳng biết bán ngà cho ai nữa, ngoài việc bán cho các vị êmia làm tù và umbai.


Ngoài voi, họ cũng gặp cả hươu cao cổ, bọn này khi


trông thấy đoàn người liền bỏ chạy bằng một thứ nước kiệu nặng nề, lắc lư những chiếc cổ dài ngoẵng, trông như bị thọt. Từ Gôdơ Abu Guma trở đi, ngày càng xuất hiện nhiều


 


trâu rừng và hàng đàn linh dương. Những người trong đoàn khi bị thiếu thịt tươi liền săn chúng, song gần như không bao giờ có kết quả gì, vì những con vật cảnh giác và lanh lẹn này chẳng bao giờ cho phép người ta tiến đến gần hay bao vây chúng.


Nói chung lương ăn của họ rất ít ỏi, vì vùng đất này không người nên không thể tìm được kê hay chuối cùng các loại cá, thứ sản vật mà ngày trước những cư dân da đen thuộc các bộ lạc Sinlúc và Đinca thường vui lòng đổi cho khách thương lấy chuỗi hạt thủy tinh và những chiếc vòng đồng. Tuy nhiên, ông Hatim không để cho bọn trẻ bị chết đói, hơn nữa, ông còn khống chế Ghebơrơ rất chặt, và một lần, trong một dịp nghỉ đêm, khi tên này đánh Xtas lúc em tháo yên cương lạc đà, ông đã lệnh nọc hắn ra đất, nện cho mỗt gót chân ba mươi hèo bằng roi tre. Tên Xuđan hung bạo suốt hai ngày liền chỉ có thể đi nhón trên đầu ngón chân mà nguyền rủa cái giây phút hắn rời khỏi Phaium, đồng thời trút cơn hận lên đầu một người nô lệ trẻ mà người ta tặng cho hắn, tên là Cali.


Ban đầu Xtas gần như vui sướng vì được thoát khỏi thành Omđuaman ngạt thở và được trông thấy những vùng đất mà từ lâu em hằng mơ ước. Cho đến nay, cơ thể cường tráng của em chịu đựng nổi mọi nỗi nhọc nhằn trên đường, và việc ăn uống được cải thiện hơn đã trả về cho em nguồn nghị lực. Nhiều lần trên đường đi và tại những chỗ dừng chân tạm nghỉ, em thì thầm vào tai cô em gái rằng ở vùng sông Nin Trắng cũng vẫn có thể chạy trốn, và rằng em hoàn toàn không từ bỏ ý định này. Song em lo ngại về sức khỏe của cô bé. Ba tuần sau khi rời khỏi Omđuaman, tuy Nen vẫn chưa bị bệnh sốt rét, nhưng mặt cô bé gầy hẳn, và thay vì rám nắng, cô bé mỗi lúc một trong suốt đi, đến nỗi hai bàn tay của cô trông cứ như được nặn bằng sáp. Cô bé không thiếu những cố gắng săn sóc, thậm chí cả những tiện nghi mà Xtas và bà Đina − với sự giúp đỡ của ông Hatim − có thể tạo ra, nhưng cô bé thiếu đi cái khí trời lành mạnh của vùng sa mạc. Khí hậu ẩm ướt và nóng nực cộng với nỗi nhọc nhằn khi đi đường đã khiến cho sức khỏe của đứa trẻ vốn yếu ớt thêm mòn mỏi.


Kể từ Gôdơ Abu Guma trở đi, hàng ngày Xtas cho cô bé uống nửa viên kí ninh, và em rất lo ngại khi nghĩ rằng thứ thuốc này chẳng còn đủ dùng cho em được bao lâu nữa, mà sau đó cũng chẳng biết kiếm thêm ở đâu được. Tuy nhiên, chẳng có cách nào khác, vì trước hết cần phải phòng bệnh sốt rét cái đã. Thỉnh thoảng em lại cảm thấy tuyệt vọng. Em chỉ tự đánh lừa mình bằng hi vọng rằng, Xmainơ nếu muốn đánh đổi hai đứa trẻ lấy con hắn, sẽ phải tìm cho chúng một địa điểm nào khác có khí hậu khá hơn Phasôđa.


Song dường như nỗi bất hạnh cố tình đeo đẳng theo để săn đuổi các nạn nhân của nó. Một ngày trước khi tới Phasôđa, trong khi tháo cái gói chứa những thứ đồ dùng của Nen mang theo từ Phaium, bà Đina, vốn ngay từ hồi ở Omđuaman đã cảm thấy người rất yếu, bỗng nhiên bị ngất xỉu và ngã từ trên lưng lạc đà xuống đất. Xtas và Khamix khó khăn lắm mới làm cho bà hồi tỉnh lại. Tuy nhiên, bà vẫn không hoàn toàn tỉnh táo, hay nói cho đúng hơn, chỉ tỉnh lại được một lúc vào chiều tối để ứa lệ từ giã cô chủ thân yêu của bà, rồi yên nghỉ. Sau khi bà qua đời, Ghebơrơ cứ nằng nặc muốn cắt tai bà để sau này đưa cho Xmainơ làm bằng chứng rằng bà đã bị chết dọc đường, hòng đòi thêm tiền về chuyện đã bắt cóc được bà. Người ta vẫn thường làm như vậy đối với những nô lệ bị chết trong khi đi đường. Song ông Hatim, thể theo lời khẩn cầu của Xtas và Nen, không đồng ý cho hắn làm việc đó. Do vậy, họ chôn cất bà đầy thương tiếc, rồi dùng đá và gai bảo vệ mộ bà khỏi bị lũ linh cẩu phá. Bọn trẻ càng trở nên cô đơn hơn, vì mất bà, chúng mất đi tâm hồn gần gũi và gắn bó duy nhất với chúng. Đó là một đòn rất tàn khốc đối với Nen, khiến Xtas tuy cố gắng an ủi cô bé suốt đêm hôm ấy và ngày hôm sau nhưng cũng không kết quả.


Đã qua đi ngày đi đường thứ sáu. Trưa hôm sau cả đoàn tới Phasôđa, song chỉ thấy một nơi bị đốt trụi. Các tín đồ của Mahơđi sống ngoài trời hay trong những túp lều dựng vội bằng cành cây và cỏ. Ba ngày trước đó, cả làng này bị cháy rụi. Chỉ còn lại những bức tường đất sét ám khói của những túp lều hình tròn và một căn lều lớn bằng gỗ dựng sát bờ sông, căn lều từ thời Ai Cập vốn dùng để chứa ngà voi, và hiện là nơi viên thủ lĩnh của đám quân lính của Mahơđi đang ở. Viên thủ lĩnh đó là êmia Xêki Tamala. Đó là một người nổi tiếng trong số quân binh của Mahơđi, một kẻ thù giấu mình của thống lĩnh Apđulahi, ngược lại, là người bạn thân của ông Hatim. y đón tiếp nhiệt tình viên tù trưởng già cùng bọn trẻ, song ngay câu mở đầu đã báo cho họ tin chẳng lành.


Đó là việc họ sẽ không gặp được Xmainơ ở Phasôđa. Hai ngày trước đây y đã lên đường đi săn bắt nô lệ về phía đông và phía nam sông Nin, và chẳng biết đến bao giờ y mới trở về, vì những vùng lân cận đã sạch người nên cần phải tìm món hàng sống này ở rất xa. Tuy gần Phasôđa là quốc gia Abixinia, quân Mahơđi hiện đang có chiến cuộc với nước này, nhưng trong tay chỉ có vẻn vẹn ba trăm người, Xmainơ không dám vượt qua biên giới hiện đang bị canh phòng nghiêm ngặt bởi các cư dân thiện chiến trong vùng và quân của vua Giăng.


Vì vậy, Xêki Tamala và Hatim bắt đầu suy nghĩ xem phải làm thế nào đối với bọn trẻ. Cuộc bàn bạc diễn ra chủ yếu trong bữa ăn tối mà viên êmia mời cả Xtas và Nen cùng tham dự.


− Chẳng bao lâu nữa, − y nói với Hatim, − Tôi cũng sẽ đưa tất cả mọi người lên đường tiến hành một cuộc tiễu phạt chống lại pasa Emin(1), kẻ hiện đang chiếm giữ Lađô, trong tay có cả tàu thủy và quân đội. Chính ông đã mang đến cho tôi cái mệnh lệnh ấy đấy, ông bạn Hatim ạ... Ông thì phải quay trở lại Omđuaman, nghĩa là chẳng còn mống nào ở lại Phasôđa nữa cả. ở đây chẳng biết ở vào đâu, chẳng có gì ăn mà bệnh tật lại đang hoành hành. Tôi cũng biết là người da trắng không mắc bệnh đậu mùa, nhưng bệnh sốt rét thì chắc chắn sẽ giết bọn trẻ trong vòng một tháng.


− Người ta ra lệnh cho tôi đưa chúng tới Phasôđa. − Ông Hatim đáp. − Tôi đã đưa tới nơi và có thể không cần phải bận tâm về chúng nữa. Nhưng bạn tôi là ông Kaliôpuli người Hi Lạp gửi gắm chúng cho tôi, nên tôi không muốn hai đứa phải chết.


− Thế nhưng chuyện đó chắc chắn sẽ xảy ra đấy.


 


1. Pasa Emin: vốn là người do Thái gốc Đức, là thống đốc Equatoria, sau khi Ai cập chiếm vùng đất nằm cạnh hồ Anbe nianda. Quân Mahơđi tấn công ông ta vài lần. Ông được xtanlây cứu thoát cùng với phần lớn quân đội và đưa tới bagamôiô nằm trên bờ ấn Độ dương.


 


− Vậy tôi phải làm gì bây giờ?


− Thay vì để chúng ở lại Phasôđa trống rỗng, ông hãy gửi chúng tới chỗ Xmainơ cùng với bọn người đã đưa chúng tới Omđuaman. Ngài Xmainơ đi về phía núi, tới vùng đất cao và khô ráo hơn, nơi bệnh sốt rét không giết người nhiều như ở vùng sông.


− Nhưng làm sao tìm được Xmainơ chứ?


− Cứ theo vết lửa mà tìm. Ông ta sẽ đốt rừng, thứ nhất là để xua thú rừng vào những khe núi đá, nơi có thể dễ dàng bao vây và giết chúng, sau nữa, để lùa bọn ngoại đạo ra khỏi vùng cây cối rậm rạp, nơi chúng ẩn náu tránh khỏi bị săn bắt... chẳng khó gì không tìm ra Xmainơ đâu.


− Nhưng liệu họ có đuổi kịp ông ta không?


− Thỉnh thoảng ông ta lưu lại các địa phương một tuần liền vì ông ta phải sấy thịt cho khô đã. Cho nên dù hai ba ngày nữa mới lên đường, chắc chắn họ sẽ đuổi kịp ông ta.


− Nhưng sao họ lại phải đuổi ông ta làm gì? Thế nào rồi ông ta chẳng phải quay trở lại Phasôđa.


− Không đâu. Nếu như việc săn bắt nô lệ thành công, ông ta sẽ đưa chúng ra chợ bán tại các thành phố chứ...


− Làm gì bây giờ nhỉ?


− Nên nhớ là khi cả hai chúng ta rời khỏi Phasôđa, thì nếu như bệnh sốt rét không giết bọn trẻ, chúng cũng sẽ chết đói tại đây.


− Lạy Đấng tiên tri. Quả có thế thật!


Và quả thực không có cách nào khác ngoài cách đưa bọn trẻ dấn thân vào một cuộc lang bạt mới. Ông Hatim vốn là một người rất tốt bụng, chỉ lo lắng về việc liệu Ghebơrơ, kẻ mà ông đã biết là tàn bạo trong khi đi đường, có hành hạ bọn


trẻ hay không. Song Xêki Tamala, người rất hung tợn, khiến cho ngay cả đám lính của y cũng phải kinh sợ, liền cho gọi tên Xuđan đến và ra lệnh cho hắn phải giao bọn trẻ còn sống nguyên vẹn đến tận tay Xmainơ, đồng thời phải đối xử tốt với chúng, nếu không thì sẽ bị treo cổ. Ông Hatim nhân hậu còn yêu cầu viên êmia cấp thêm cho Nen một nữ nô lệ để phục vụ và chăm sóc cô bé dọc đường cũng như ở trong trại Xmainơ. Nen rất sung sướng vì món quà này, nhất là khi nô tì lại là một thiếu nữ thuộc bộ tộc Đinca, có nét mặt dễ thương và dáng vẻ ngọt ngào.


Xtas biết rằng Phasôđa là đất chết, nên em không yêu cầu ông Hatim đừng đưa chúng vào một chuyến đi thứ ba này nữa. Tận đáy lòng em còn nghĩ rằng, khi tiến về phía đông và phía nam, càng ngày em càng tiến gần tới biên giới phía nam của Abixinia và có thể sẽ trốn chạy. Em hi vọng rằng trên những cao nguyên khô ráo, Nen có thể tránh khỏi bệnh sốt rét, và vì tất cả những lí do đó, em vui lòng và nhiệt thành đảm nhiệm việc chuẩn bị lên đường.


Ghebơrơ, Khamix cùng bọn Bêđuin cũng không chống lại việc đi tiếp, vì chúng tính rằng, bên cạnh Xmainơ, chúng sẽ có thể săn bắt được nhiều nô lệ, rồi đem bán họ với giá hời tại các chợ. Chúng biết rõ rằng việc buôn bán nô lệ nhiều khi có thể mang lại những tài sản khổng lồ, và dù sao, chúng thà lên đường hơn là ở lại tại đây dưới trướng Hatim và Xêki Tamala.


Tuy nhiên việc chuẩn bị cũng mất khá nhiều thời gian, nhất là vì bọn trẻ cần phải được nghỉ ngơi. Lũ lạc đà không còn có thể sử dụng làm phương tiện đi đường được nữa, nên bọn Ả Rập cùng với Xtas và Nen sẽ đi ngựa, còn Cali − nô


 


lệ của Ghebơrơ và Mêa − cô hầu mới của Nen, theo tên gọi mà Xtas đề nghị − sẽ đi bộ theo sau ngựa. Ông Hatim còn cố gắng kiếm thêm một con lừa để chở theo cái lều dành cho cô bé Nen và lương ăn cho bọn trẻ trong ba ngày đường. Xêki Tamala không thể cho thêm được gì nữa cho cô bé. Người ta làm riêng cho Nen một thứ yên theo kiểu dành cho đàn bà bằng vải chăn, chiếu cọ và các thanh tre.


Bọn trẻ được nghỉ ngơi ba ngày tại Phasôđa, song hằng hà sa số muỗi kéo từ sông đến khiến cho chuyện sống ở đây trở nên không thể nào chịu đựng nổi. Ban ngày xuất hiện hàng đàn nhặng xanh to tướng, chúng không đốt nhưng khó chịu vô cùng, chúng chui vào tai, đậu lên mắt và thậm chí đậu vào miệng. Ngay từ hồi còn ở Port Xaiđơ, Xtas đã từng nghe nói rằng muỗi và ruồi truyền bệnh sốt rét và bệnh dịch đau mắt, nên cuối cùng em yêu cầu Xêki Tamala cho phép được lên đường càng sớm càng tốt, nhất là khi mùa mưa xuân đang tiến lại gần.


(còn tiếp)


Nguồn: Trên sa mạc và trong rừng thẳm. Tiểu thuyết của Henryk Sienkiewicz - Nobel Văn học 1905.


Nguyễn Hữu Dũng dịch và giới thiệu. NXB Văn học in lần đầu 1985-1986, các NXB tái bản 25 lần. Lần mới nhất NXB Hội Nhà văn in năm 2016- Kỷ niệm 100 năm ngày mất của Tác giả - Đại văn hào Ba Lan.


www.trieuxuan.info


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »