tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19701556
Những bài báo
05.07.2016
Nhiều tác giả
Vũ Hùng - Nhà văn có nhiều tác phẩm hay viết cho thiếu nhi



- Đọc bài cùng chủ đề: Nhà văn Vũ Hùng: Nghiệp viết là rừng - thiên nhiên - muông thú


Nhà văn Vũ Hùng: Con đường dẫn tôi đến thiên nhiên


Tôi nhập ngũ năm 1950, học trường Thuỷ quân rồi sau học khoa Thông tin của trương Lục quân Trần Quốc Tuấn. Ra trường, tôi phụ trách một điện đài phục vụ một trung đoàn quân Tình nguyện Việt Nam tại Lào. Tôi mang đài đi theo đơn vị quân báo của trung đoàn, phối hợp với các chiến sĩ của bộ đội It-xa-la, bộ đội chủ lực Lào, hoạt động trên Trướng Sơn và trong vùng đồng bằng sông Mê-kông.


Cuộc sống sôi động, luôn dịch chuyển của người quân báo làm tôi say mê. Tôi theo đơn vị đi đây dó khắp nơi, tiếp xúc rộng rãi, có dịp quan sát sinh hoạt của nhiều vùng.


Ở trường Lục quân về, ngày ấy nhà trường được Trung Quốc cho học tập tại một miền đồi núi của của tỉnh Vân Nam để tránh máy bay địch đánh phá, tôi đã đi bộ một chuyến dài, từ biên giới cực Bắc đất nước đến tận tỉnh Khăm Muộn cùa Lào. Cứ ba ngày đi lại một ngày nghỉ, gần hai tháng sau tôi mới tới được đơn vị. Cuộc hành quân dài dặc, vất vả nhưng đã mang lại nhiều khám phá.


Vùng biên giới phía Bắc thật hùng vĩ, với những ngọn núi mây phủ triền miên, những rừng thông vi vu, những đoàn người ngực áo phanh rộng, đuổi từng đoàn ngựa thồ trên con đường đá gập ghềnh, những quán rượu cắm cành thông làm hiệu, bên trong bày những bình sứ trắng và treo những chùm ớt chín đỏ, những tảng thịt...


Vùng biên giới phía Tây, trong lòng dãy Trường Sơn, cảnh vật còn quyến rũ hơn: những cánh rừng chưa hề in dấu chân người, những ngọn núi tím biếc với những hồ nước trong vắt trên đỉnh, những đồi lau và đồi tranh vàng rực dưới nắng thu, những bầy thú mà ta dễ dàng gặp trên đường: những con tê giác cuối cùng, những bầy hươu nai, bầy voi, những con bò tót hùng tráng, lũ báo gấm uyển chuyển... Bọn thú rừng ấy chưa biết gì về con người, nhìn ta đi qua bằng cặp mắt thản nhiên...


Rồi cứ đên mùa chiến dịch, dội quân báo lại đi về trên Trường Sơn, qua những rừng phẳng bát ngát của đất Lào tới những bản làng hiền hoà nằm trên bờ sông Mê-kông. Mỗi chuyến đi lại làm tôi thêm yêu thiên nhiên, yêu con người. Từ đó, cũng như những ai từng tích luỹ được một số vốn sống, tôi muốn viết...


*


Trong mỗi chuyến đi, bao giờ chúng tôi cũng kiếm được một người đưa đường. Thưòng đó là những ông già đã nhiều lần qua lại Trường Sơn. Họ thuộc từng đường ngang lối tắt, thuộc những câu chuyện của từng cánh rừng, từng ngọn núi. Trong nhiều năm, tôi đã theo họ đi trên lối đi của những bầy voi, theo vết mòn của nước chảy, ngược dòng Ngàn Sâu, Ngàn Phố, qua dáy Giăng Màn, đèo Mụ Giạ, đèo Phù Ac...


Buổi chiều, khi ngừng lại trong rừng, họ thường chọn một chỗ an toàn, ít dấu chân thú cho chúng tôi ngủ đêm được yên lành. Khi đốt lửa nấu bữa ăn chiều, bao giờ họ cũng lãnh nhận việc nướng thịt. Không ai nướng thịt rừng tài tình bằng họ: tảng thịt bữa nào cũng được bao phủ một lớp vỏ thơm giòn, giống như quay trong lò. Vừa xoay tảng thịt trên than hồng, họ vừa kể cho chúng tôi nghe đủ chuyện: chuyện con voi già của đề đốc Lê Trực, chuyện tướng quân Cao Thăng, chuyện cụ Phan Đình Phùng hưởng ứng chiếu Càn vương, rồi những chuyện về tập tính của các loài thú, chuyện những dây phong lan... cả đến chuyện của những người buôn trâu bò và muối lậu vượt Trường Sơn.


Họ kể bằng một ngôn ngữ giản dị, ít lời nhưng nhiều hình ảnh, thứ ngôn ngữ riêng chỉ có trong rừng, nơi người ta nói rất ít và làm nhiều. Ngay giọng nói của họ cũng để lại ấn tượng sâu sắc: một giọng trầm buồn của những ai đã sống lâu ngày trong hoang vắng. Tất cả chúng tôi ngồi lặng im đón nghe từng tiếng thì thầm của họ, trong không khí phảng phất mùi hoa và mùi nhựa cây của rừng đêm.


Những ông già đưa đường chẳng những đã cung cấp cho tôi nhiều tài liệu, họ còn dạy tôi những bài học về cách dùng ngôn ngữ. Bài học giản dị nhưng rất khó theo: hãy gắng đừng nói những lời thừa.


*


Đất nước Lào có tên là đất nước Triệu Voi. Ở đây có nhiều làng nuôi voi như ta nuôi trâu bò. Voi xích la liệt ngoài bãi rộng. Chiều chiều, khi làm xong công việc một ngày, chúng xuống tắm dưới bến sông, nằm ngổn ngang như đá tảng và tung vòi phun lên trời những tia nước long lanh. Khi nghe hiệu lệnh thu voi, chúng tự đứng dậy, ngoan ngoãn đi về làng.


Thoạt đầu tôi rất kiêng dè những con vật đồ sộ này, thường lạ lùng tự hỏi: làm sao với sức mạnh ghê gớm vốn có, chúng lại chịu tuân phục dễ dàng những con người trần trụi và bé nhỏ như chúng ta?


Sống lâu ở những làng voi, tôi dần hiểu: quản tượng có thể sai khiến con voi bằng lòng nhân hậu và sự công bằng. Họ coi nó như người thân trong gia đình, cho nó ăn no, để nó làm việc vừa sức và đúng giờ, chú ý đến ưu điểm của nó hơn là những thiếu sót. Khi đòi hỏi nó làm một việc khó khăn, quản tượng càng săn sóc hơn: con voi được ăn thêm các thức ăn ngon, được vỗ về an ủi...


Nhưng đó là điều tất nhiên để giữ quan hệ lâu bền giữa người và vật, đâu có gì đặc biệt?


Chỉ là tất nhiên, là bình thường, nhưng ngay đến con người không phải ở nơi nào cũng được đối xử như thế!


Ở những làng voi, tôi đã học được cách sống hợp nhân tình: hãy độ lượng và yêu thương. Một cách sống trong quan niệm từ bi của đạo Phật, xa lạ với các lí thuyết phân biệt chủng tộc, phân biệt giai cấp. Giống như trong một câu phương ngôn Lào: "Nếu bạn chột mắt, hãy nhìn bạn phía con mắt lành, ta sẽ thấy bạn chẳng khác gì ta”.


*


Cuộc sống của người quân báo không phải lúc nào cũng căng thẳng và bận rộn. Chúng tôi cũng có những phút rảnh rỗi khi chiến dịch đã chấm dứt. Dịp đó chúng tôi thường đi quăng chài ngoài sông với những người đánh cá, hoặc vào rừng theo các thợ săn.


Họ rất gần gũi với thú vật. Họ thường nuôi trong nhà những bầy chó tinh khôn để dò tìm và đuổi theo con mồi. Có người còn nuôi trăn cho chúng bắt chuột, nuôi gấu cho chúng chơi với trẻ con. Những chú gấu ục ịch, lông đen nhánh, vài tuần lại được cắt vuốt một lần để cào khỏi đau, nhiều lúc vật nhau huỳnh huỵch với trẻ con trên sàn.


Thật may mắn khi được theo chân những bác thợ săn đứng tuổi. Họ làm nghề săn đã nhiều năm và quen thuộc với hầu hết các thú rừng. Có thể ví họ với những nhà động vật học: họ biết về cấu tạo và tập tục của từng loài thú. Họ thường dạy chúng tôi đi theo vết con mồi, những dấu mong manh, mờ nhạt mà người thường khó lòng nhận ra: những vết chân in hờ trên mặt đất, một mùi lạ vương trên ngọn cỏ, vài sợi lông mắc trên lớp vỏ cây...


Khi chưa tiếp xúc với thợ săn, tôi đinh ninh họ là người lạnh lùng, tàn nhẫn. Nhưng không phải vậy. Họ thương lũ thú bé bỏng, non nớt. Họ giết con mồi không phải vì ham thích mà vì nhu cầu. Cũng như người miền xuôi buộc lòng phải giết con gà, con lợn để có thức ăn.


Có lần, một bác thợ săn cho tôi một con cu li. Đó là chú cu li mà tôi đã có dịp nói đến, có đôi mắt đen ngơ ngác và bộ lông vàng điểm lấp lánh những sợi bạc.


Bác bảo tôi: "Hãy nuôi nó cho cẩn thận. Nó có thể làm cho anh vui và giúp anh được nhiều việc!"


Con cu li đã giúp tôi được những việc gì?


Nó là người bạn của tôi trong nhiều năm. Tôi rất thích nhìn ngắm vẻ đẹp và cặp mắt của nó những lúc tôi buồn.


Ngủ đêm trong rừng, nó giúp tôi yên tâm hoặc thức tỉnh. Tôi buộc nó cạnh chỗ tôi nằm. Nếu nó ngồi yên bên tôi, tôi có thể ngủ yên theo. Nếu nó bám riết lấy tôi và run rẩy tức là có một nguy hiểm đang gần kề, phải đề phòng.


Tôi rất cảm ơn người thợ săn đã cho tôi con cu li. Bác khiến tôi nhìn thú vật không chỉ đơn thuần là những con thú. Tôi nhìn chúng như những sinh vật biết vui buồn, có tình bạn, tình yêu...


*


Người phía đông và phía tây Trường Sơn cùng sống một cuộc sống đơn sơ nhưng phóng khoáng, gần gũi thiên nhiên. Thiên nhiên ảnh hưởng rất nhiều đến tâm tính họ. Người Xô, người Xêk, người Vân Kiều sống ở những vùng rừng rậm núi hoang nên tính tình thầm lặng, xa vắng. Người Lào sống từ lâu đời trên những vùng đồng ruộng rộng rãi, bên những dòng sông trong xanh nên tính tình êm dịu, hiền lành.


Tuy khác nhau về tâm tính nhưng họ giống nhau về tình yêu quê hương, xứ sở. Vùng đất làng thân thuộc và hiền hoà như một lưng voi bát ngát. Ở đây mọi cái gắn bó với họ, khiến họ yêu tất cả trên đời: bà con bè bạn, li rượu trong bữa cơm chiều, cái bếp ấm lửa đêm khuya, con suối, cánh rừng, hoa lá, tiếng chim hót và tiếng nhạc những cây khèn... Họ gắn bó với nhịp sống và khung cảnh sống của họ đến mức khi bắt buộc phải rời làng, bao giờ họ cũng tìm đến nơi có con suối giống con suối ở làng cũ, nương rẫy giống như nương rẫy cũ...


Họ sống với những tập quán và những luật lệ gần như hoang dã nhưng nếu để công lựa chọn sẽ thấy nhiều phong tục tốt đẹp, nhiều luật lệ giản dị và công bằng, lấy sự quý trọng con người làm nền tảng.


Ở những bản làng xa vắng của họ, niềm mong mỏi đón khách có tự lâu đời. Bữa ăn nào, người ta cũng thổi thêm xôi phòng khi khách đến. Dù khách là ai, là cán bộ, bộ đội hay chỉ là người đi kiếm măng kiếm nấm thì khi lên nhà, gặp bữa ăn bao giờ cũng được mời. Đừng khách sáo, hãy ngồi vào cùng ăn với họ.


Tôi đã được dự những đám cưới trong đó cặp vợ chồng thực hiện một nghi thức lạ lùng: họ lấy gai rừng chọc vào má mình cho ứa máu rồi áp má để hai dòng máu hoà lẫn vào nhau. Đó là dấu hiệu để giữ tình yêu đến trọn dời.


Tôi cũng đã được dự những buổi họp làng để khen ngợi người có công hoặc xử phạt người có lỗi. Ai cũng được quyền buộc tội hoặc bào chữa cho kẻ phạm lỗi mà không sợ hận thù, ân oán. Tôi ngạc nhiên vì bao giờ cũng có nhiều người bào chữa, hình như với tâm hồn đơn sơ, rộng rãi, con người ở đây ưa tha thứ hơn trừng phạt...


Tôi muốn giới thiệu mọi điều đó với bạn đọc. Nếu biết rõ về thiên nhiên, về sinh hoạt và phong tục tập quán của các vùng đất nước, bạn đọc có lẽ cũng sẽ như tôi, càng thêm yêu mến đất nước, yêu mến con người.


VŨ HÙNG


 


Nhà văn Vũ Hùng chuyên viết cho thiếu nhi


VŨ HÙNG sinh năm 1931 tại làng Láng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, trong một gia đình viên chức nhỏ. Anh là một cây bút chuyên viết về thiên nhiên và loài vật cho trẻ em. Trước cách mạng anh là học sinh trường Bưởi (nay là trường Chu Văn An).


Anh nhập ngũ năm 1950 khi đang học năm thứ hai chuyên khoa toán (lớp 11 chuyên toán bây giờ). Sau khi tốt nghiệp khoa thông tin trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, anh đã phục vụ quân đội 30 năm, lần lượt qua các cương vị: đài trưở̀ng vô tuyến điện, kỹ sư trạm trưởng một trạm nguồn điện của Binh chủng Thông tin, phóng viên khoa học kỹ thuật của báo Quân đội nhân dân.


Có lẽ trong các nhà văn viết cho thiếu nhi, VŨ HÙNG là một trong số những người kiên trì nhất: hơn 30 năm cầm bút, anh hoàn toàn chỉ viết và đôi khi dịch cho các em, chịu mọi thăng trầm của một mảng văn học chưa được mấy người chú ý.


Bạn bè khi nghĩ về anh, thường nhớ đến một cán bộ kỹ thuật ít lời, sẵn sàng nhận những nhiệm vụ khó khăn và âm thầm hoàn thành chúng không cầu mong ai biết đến. Nhưng trong quan hệ, người cán bộ kỹ thuật này lại cởi mở, luôn luôn tươi cười, lễ phép. Lúc nào anh cũng sẵn sàng "cám ơn" hoặc "xin lỗi", thường bị coi là "lính cậu", điều đã gây nhiều rắc rối cho anh trong cuộc đời quân ngũ trước những vị chỉ huy cứng rắn và lạnh lùng.


Cuộc đời nhiều khi tạo nên những bất ngờ: VŨ HÙNG đã trở thành nhà văn không hề được chuẩn bị trước.


Cái gì làm nên điều đó?


Trước hết phải nói tới kinh nghiệm sống của anh. Anh đã đi lại rất nhiều nơi, trên rừng dưới biển. Anh đã sống nhiều năm trên Trường Sơn, cả ở phía Đông lẫn phía Tây, trong những làng săn, giữa những bầy voi, gần gũi với những người đi kiếm trầm hương, với các thợ săn, các quản tượng … Anh đã tích lũy được những hiểu biết phong phú về phong tục của nhiều dân tộc, về tập tính của nhiều loài thú và những cách ứng xử của chúng.


Tất cả tạo cho anh một vốn sống dồi dào, cái cơ sở quan trọng của người viết văn.


Ngoài ra, còn một thôi thúc nữa cũng không kém phần quyết định. Hãy nghe anh trả lời phỏng vấn của Báo Quân đội nhân dân – tờ báo mà anh từng phục vụ như một phóng viên khoa học – nhân dịp anh được tặng giải thưởng văn học thiếu nhi năm 1986.


"Một lần các quản tượng Lào tặng cho bộ đội tình nguyện Việt Nam vài con voi để lập một đội vận tải. Họ đưa ra những cuốn "lý lịch" của bầy voi. Đó là những tập lá cọ, đóng thành xấp, trên khắc chữ. Người ta đọc to những điều ghi trong lý lịch của những con voi sắp xa làng. Toàn những điều tốt lành: con voi về làng ngày nào, có những đức tính gì, đã lập những công trạng gi. Chẳng có một lời nào về tật xấu và lỗi lầm của chúng. (Chắc chắn là chúng cũng có tật xấu và lỗi lầm vì tôi đã thấy chính những con voi này, khi không có ai coi sóc, đã bẻ trộm cả một vạt ngô trên nương).


Thấy tôi ngạc nhiên, các quản tượng nói:


- Đời con voi dài hơn đời quản tượng. Nó sẽ nhiều lần đổi chủ. Người ta ghi những điều tốt lành của nó trong "lý lịch" cốt để người chủ sau tin tưởng và tự hào vì nó, yêu thương săn sóc nó hơn.


Điều các quản tượng nói làm tôi rất suy nghĩ. Đó là vào những năm 50. Thời ấy, đời lính có nhiều điều đẹp đẽ mà cũng có nhiều điều khắc nghiệt. Nhất là đối với những ai không xuất thân từ đồng ruộng hay xưởng thợ. Cái được chú ý đầu tiên là gia đình anh có dư dật hay không? Anh đi học mấy năm? (Theo cách suy nghĩ của thời ấy thì càng đi học, anh càng tiêm nhiễm cái xấu). Bạn bè của anh là những ai, thuộc tầng lớp nào? Ít ai chú ý đến điều cơ bản: anh đã từ bỏ quá khứ để theo đuổi sự nghiệp cứu nước. Những nhận xét khe khắt sẽ bám theo anh năm này qua năm khác, đến nỗi những điều tốt đẹp và quá trình phấn đấu của anh luôn bị lãng quên.


Những buổi tiếp xúc ban đầu ở làng voi làm tôi sợ cuốn lý lịch của chính mình. Nó ghi chép quá nhiều điều khắc nghiệt. Nó thuộc về tôi nhưng tôi hoàn toàn bất lực trước nó. Tùy lòng bao dung của người xem xét, nó có thể tốt mà cũng có thể xấu. Tôi có cảm tình với các quản tượng và bầy voi từ đó. Tôi để tâm quan sát họ”.


Rồi anh bắt đầu viết về họ, về thân phận họ và thân phận những con voi, trong khi nghĩ về thân phận của chính mình. Anh trở thành nhà văn trong quá trình trăn trở ấy.


*


Khác với ngoài đời, trong văn học, VŨ HÙNG là một người may mắn. Không chỉ các bạn đọc nhỏ tuổi thích sách của anh mà nhiều người lớn cũng rất thích. Bạn đọc thích chúng không phải chỉ do những yếu tố mới lạ mà do chủ nghĩa nhân đạo thấm nhuần trong mỗi trang anh viết.


Hơn 30 năm tham gia hai cuộc chiến tranh, anh cho rằng chiến tranh có thể rèn luyện con người theo hai hướng: hoặc làm ta cứng rắn và vô tình, hoặc làm ta dễ xúc cảm, dễ yêu thương. Anh tự đánh giá chiến tranh đã rèn luyện anh theo hướng thứ hai.


Các nhân vật trong sách của VŨ HÙNG là những con thú. Chúng hành động không phải chỉ do bản năng hoặc do những "phản xạ có điều kiện" mà nhiều khi còn do những gì bí ẩn hơn thể thôi thúc. Xã hội của chúng phảng phất bóng dáng xã hội loài người trong dó bọn thú độc ác ở lẫn với những con thú hiền lành, những con may mắn lẫn những con bất hạnh. Ngòi bút của anh hoàn toàn cảm thông với những con thú bị thiệt thòi và bênh vực chúng. Anh cho rằng dù viết về cái gì thì nhà văn cũng không thể là một người xu nịnh hoặc khinh bạc, dửng dưng với những đau khổ ở đời.


*


VŨ HÙNG thuộc số đông những người lính vô danh của hai cuộc kháng chiến, hồn nhiên nhưng có ý thức về nghĩa vụ, vào quân ngũ mà không bao giờ mơ tưởng gây dựng cho mình một sự nghiệp trong chiến tranh. (Anh tại ngũ 30 năm, 20 năm cuối phục vụ trên cương vị một kỹ sư và xuất ngũ với quân hàm đại úy)


Nhưng trong văn học, VŨ HÙNG hoàn toàn là một người khác. Anh luôn luôn mơ tưởng tới sự nghiệp.


Cuốn sách đầu tay của anh ra đời năm 1960. Trong 30 năm cầm bút (1960 – 1989) anh đã viết cho các em hơn 40 cuốn sách, phần lớn được yêu thích, trong đó nhiều cuốn đã được dịch ra tiếng Anh, Pháp, Nga và Trung Quốc.


VŨ HÙNG đang ở độ sung sức. Tuy rất bận, anh vẫn không rời cây bút. Chắc chắn sự nghiệp văn học của anh sẽ còn phong phú hơn.


Hà Nội, tháng 9 năm 1988


VIẾT LINH


vu-hung.com


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Biển Đông lại sắp…dậy sóng!? - Nguyễn Hồng Lam 22.06.2017
Nhà báo Nguyễn Công Khế nói về những 'điều cấm kỵ' - Nguyễn Công Khế 22.06.2017
Nghề báo lắm hiểm nguy - Nguyễn Công Khế 22.06.2017
‘IS đã chính thức thừa nhận thất bại’ - Nhiều tác giả 22.06.2017
Thủ tướng Hun Sen đi bộ qua biên giới, thăm lại 'đường cứu nước' - Nhiều tác giả 21.06.2017
Kiếp sau tôi vẫn chọn nghề báo - Trần Thị Sánh 21.06.2017
Muôn lần bất diệt con người! - Lưu Trọng Văn 19.06.2017
Tôi là dân Quận 3 - Sơn Trà - Võ Kim Ngân 19.06.2017
Làm báo thuở thanh xuân - Trịnh Bích Ngân 19.06.2017
Từ Trường thi Gia Định đến Nhà văn hóa Thanh niên - Hồ Tường 18.06.2017
xem thêm »