tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21316066
Tiểu thuyết
22.06.2016
Henryk Sienkiewicz
Trên sa mạc và trong rừng thẳm



Chương 6


Quả thực, ông Rawlison và Tarơcốpxki đang trông chờ bọn trẻ, nhưng không phải giữa những đồi cát Vađi Raian, nơi mà họ hoàn toàn không cần và cũng không hề muốn tới làm gì, mà tại một phía khác hẳn, tại thành phố En Phakhen, trên con kênh cùng tên, nơi họ đang theo dõi những công việc được tiến hành trong những ngày cuối năm. Tính theo đường thẳng, khoảng cách giữa En Phakhen và Mêđinét vào khoảng bốn mươi lăm cây số. Song do không có đường nối trực tiếp mà cần phải đi tới En Vaxta khiến đường xa gấp đôi, nên khi xem xét cuốn hướng dẫn về đường sắt, ông Rawlison đã tính toán như sau:


− Chamis ra đi vào buổi chiều. − Ông nói với ông Tarơcốpxki. − ở En Vaxta, anh ta sẽ đi chuyến tàu chạy từ Cairô tới, nghĩa là sáng nay anh ta sẽ tới Mêđinét. Bọn trẻ sẽ gói ghém hành trang chừng một tiếng đồng hồ. Ra đi từ trưa, hẳn chúng phải đợi chuyến tàu đêm đi dọc sông Nin, nhưng vì tôi không cho phép Nel đi đêm, nên chắc sáng nay chúng nó mới lên đường, và sẽ tới đây một lúc sau khi mặt trời lặn.


− Phải! − Ông Tarơcốpxki nói. − Chamis phải nghỉ ngơi tí chút, thằng Staś  dẫu bao giờ cũng sốt sồn sột, nhưng nếu nói về cháu Nel, thì có thể tin ở thằng bé được anh ạ. Thêm nữa, tôi cũng đã gửi cho nó mẩu giấy dặn nó không được đi đêm.


− Thằng bé khá lắm, tôi hoàn toàn tin tưởng ở cháu. −


Ông Rawlison đáp.


− Nói thật tình, tôi cũng vậy anh ạ. Tuy có nhiều nhược điểm, song Staś  có tính cách và không bao giờ nói dối, bởi cháu vốn dũng cảm, mà chỉ có bọn hèn nhát mới dối trá mà thôi. Cháu cũng không thiếu nghị lực, và nếu như thỉnh thoảng cháu biết cân nhắc chín chắn, thì tôi nghĩ rằng nó sẽ tự lập được trong cuộc sống.


− Chắc chắn là như vậy rồi. Còn nếu nói chuyện suy nghĩ chín chắn, thì hồi ở tuổi nó anh có chín chắn không?


− Phải thừa nhận là không. − Ông Tarơcốpxki vừa cười vừa đáp. − Song, có thể, tôi không quá tự tin như nó.


− Rồi chuyện đó cũng qua thôi. Anh có thể lấy làm hạnh phúc vì có đứa con trai như thế.


− Còn anh thì vì có được một sinh linh dịu ngọt và đáng yêu như Nel.


− Cầu Chúa ban phước lành cho con bé! − Ông Rawlison xúc động đáp.


Hai người bạn thân siết chặt tay nhau, rồi họ cùng ngồi xem xét lại kế hoạch và bản hạch toán công việc. Công việc đó kéo dài mãi tới chiều.


Sáu giờ tối, lúc màn đêm đã buông xuống, họ có mặt trên sân ga, và vừa đi tản bộ dọc theo đường ke vừa nói tiếp chuyện bọn trẻ.


− Thời tiết tuyệt thật, nhưng hơi lạnh. − Ông Rawlison cất tiếng. − Không hiểu Nel có mang theo quần áo ấm hay không?


− Staś  hẳn sẽ nhớ điều đó, cả bà Dina cũng vậy.


− Tôi tiếc là đã không đi Mêđinét mà lại đưa chúng tới đây.


− Anh có nhớ là chính tôi đã khuyên thế không nào?


− Nhớ chứ. Nhưng giá như từ đây chúng ta không tiếp tục đi xuống phía nam thì hẳn là tôi đã đồng ý với anh. Tôi tính rằng, việc đi đường sẽ làm chúng ta mất nhiều thời gian, khiến chúng ta ở với bọn trẻ được ít hơn. Cũng xin thú thực với anh là chính Chamis đã gợi ý cho tôi nên đưa bọn trẻ tới đây. Anh ta nói với tôi rằng anh ta rất nhớ bọn trẻ và sẽ rất sung sướng nếu được tôi phái đi đón chúng. Thật cũng dễ hiểu vì sao anh ta lại gắn bó với bọn trẻ...


Câu chuyện bị gián đoạn bởi những tín hiệu báo rằng đoàn tàu đang tới gần. Lát sau, trong màn đêm hiện ra cặp mắt màu lửa của đầu máy, đồng thời nghe rõ tiếng thở gấp gáp của nó.


Dãy toa sáng ánh đèn trườn dọc theo đường ke, rùng rùng rồi dừng lại.


− Tôi chẳng thấy chúng ở cửa sổ nào hết! − Ông Rawlison nói.


− Có thể chúng ngồi phía trong và chắc chúng sẽ ra ngay bây giờ.


Hành khách bắt đầu xuống tàu, nhưng chủ yếu là người Ả Rập, vì ngoài các vườn cọ và xiêm gai ra, En Phakhen không có gì đáng để tham quan cả. Không thấy bọn trẻ xuống tàu.


− Hoặc là Chamis không đi kịp tàu ở En Vaxta. − Ông Tarơcốpxki cất tiếng với vẻ bực mình. − Hoặc là sau chuyến đi đêm hắn ta ngủ bù, và cả bọn ngày mai mới tới.


− Có thể. − Ông Rawlison đáp với vẻ lo lắng. − Nhưng cũng có thể là có đứa nào đó bị ốm chăng?


− Nếu thế thì hẳn Staś  đã đánh điện.


− Biết đâu chúng mình lại sẽ nhận được điện ở khách sạn thì sao.− Ta đi đi.


Nhưng tại khách sạn không hề có tin tức nào đang đợi họ cả. Ông Rawlison mỗi lúc một thêm lo lắng.


− Anh biết còn có thể thế nào nữa không? − Ông Tarơcốpxki nói. − Có thể là, nếu như Chamis ngủ quên, y sẽ không thừa nhận với bọn trẻ chuyện đó, mà mãi ngày hôm nay mới đến chỗ chúng bảo rằng ngày mai chúng lên đường. Trước mặt chúng ta chắc y sẽ bào chữa là y không hiểu kĩ mệnh lệnh của chúng ta. Dù sao tôi cũng phải đánh điện cho Staś  đây.


− Còn tôi sẽ điện cho ngài thống đốc của Phaium.


Lát sau, cả hai bức điện được gửi đi. Tuy vẫn chưa có lí do gì để phải lo lắng, song trong khi chờ trả lời, cả hai kĩ sư đêm đó đều ngủ không ngon giấc và tờ mờ sáng hôm sau họ đã bật dậy.


Mãi gần mười giờ sáng mới có điện trả lời của ông thống đốc với nội dung như sau:


“Đã kiểm tra ở ga. Bọn trẻ đã đi En Gharắc Xuntani ngày hôm qua.”


Dễ đoán được cái tin tức này đã khiến hai ông bố kinh ngạc và giận dữ biết chừng nào. Họ nhìn nhau một lúc lâu dường như không hiểu được lời lẽ của bức điện, sau đó ông Tarơcốpxki, vốn là người nóng nảy, đập tay xuống bàn nói:


− Đây hẳn là sáng kiến của thằng Staś  thôi, nhưng tôi sẽ dạy cho nó phải từ bỏ những sáng kiến kiểu này đi!


− Tôi không ngờ nó lại làm việc đó! − Ông bố của Nel nói. Rồi lát sau ông hỏi:


− Thế còn Chamis thì sao?


− Hoặc là hắn không gặp bọn trẻ và không biết nên làm thế nào, hoặc là hắn cùng đi với chúng.


− Tôi cũng nghĩ thế.


Một giờ sau, họ lên đường đi Mêđinét. Tại khu lều trại, họ được biết rằng cả bọn chủ lạc đà cũng không có mặt, còn tại ga người ta khẳng định rằng Chamis cùng đi với bọn trẻ tới En Gharắc.


Mãi đến ga này, cái sự thật kinh khủng mới bắt đầu lộ ra.


Viên trưởng ga, chính người Ai Cập ngái ngủ mang cặp kính đen và đội mũ phêdơ màu đỏ ấy, trả lời cho họ biết, rằng ông ta trông thấy một đứa bé trai chừng mười bốn tuổi, cùng một em gái chừng tám tuổi và một người đàn bà da đen không còn trẻ nữa đi vào sa mạc. Ông ta không nhớ rõ tổng số lạc đà là tám hay chín con, nhưng có một con thồ nặng hàng, dường như chuẩn bị đi xa vậy, còn hai người Bedouin cũng có hai bọc hàng lớn trên yên. Ông ta còn nhớ được rằng, khi ông ta đang đứng quan sát đoàn người và vật nọ thì một người Sudan là chủ lạc đà nói rằng, đây là con của những người Anh đã đi Vađi Raian trước đó.


− Thế những người Anh ấy đã trở về chưa? − Ông Tarơcốpxki hỏi.


− Đã về rồi ạ. Họ trở về ngay ngày hôm qua với hai con chó sói săn được. − Người trưởng ga đáp. − Tôi cũng ngạc nhiên là tại sao họ không về cùng với bọn trẻ. Nhưng tôi không hỏi lí do, vì chuyện đó không liên quan đến tôi.


Nói xong, ông ta đi làm công việc của mình.


Trong khi ông ta kể, mặt ông Rawlison trắng nhợt ra như tờ giấy. Đưa cặp mắt vô hồn nhìn sang bạn, ông bỏ mũ phớt, đưa bàn tay lên vầng trán đẫm mồ hôi, và lảo đảo như sắp ngã.


  Anh  Rawlison,  hãy  cứng  rắn  lên!    Ông Tarơcốpxki kêu lên. − Bọn trẻ của chúng mình bị bắt cóc rồi! Cần phải cứu chúng.


− Nel! Nel! − Ông bố người Anh bất hạnh cứ lặp đi lặp lại. − Nel! Và Staś ! Đó đâu phải là lỗi của Staś . Chúng nó đã lừa hai đứa tới đây một cách hèn hạ và bắt cóc chúng đi. Ai biết được vì sao cơ chứ? Để tống tiền chăng? Rõ ràng thằng Chamis là đồng lõa. Idris và Gebhr cũng thế.


Đến đây, ông chợt nhớ ra điều mụ Phátma nói, rằng cả hai tên Sudan này đều thuộc về bộ tộc Đangan đã sinh ra Mahdi, và từ bộ tộc đó cũng ra đời cả Khađigi, cha của Chamis. Nhớ ra điều đó, tim ông như chết lặng giây lâu trong lồng ngực, vì ông chợt hiểu ra rằng, bọn trẻ có thể không phải bị bắt để tống tiền mà là để đánh đổi với gia đình Smain.


Nhưng bọn đồng tộc của tên tiên tri tàn ác kia sẽ làm gì bọn trẻ cơ chứ? Chúng không thể ẩn náu trong sa mạc hoặc đâu đó dọc bờ sông Nin, vì trên sa mạc thì tất cả sẽ bị chết đói chết khát, còn dọc sông Nin thì chắc chắn là sẽ bị bắt ngay. Có lẽ, chúng mang theo bọn trẻ chạy đến với Mahdi rồi.


Ý nghĩ ấy cũng khiến ông Tarơcốpxki kinh hoàng, song người cựu binh đầy nghị lực này nhanh chóng định thần và bắt đầu lược qua tất cả các sự kiện đã diễn ra, đồng thời tìm phương sách ứng cứu.


“Mụ Phátma,” − Ông suy nghĩ, − “Không có lí do gì để trả thù chúng ta cũng như bọn trẻ con, vậy thì nếu chúng nó bị bắt cóc, hẳn là để nộp cho Smain. Dù sao chăng nữa, chúng cũng không bị cái chết đe dọa. Đó quả là cái may trong cái rủi. Song đang có một con đường kinh khủng chờ bọn trẻ, con đường có thể là tử đạo đối với chúng.”


Ông lập tức chia sẻ với bạn những suy nghĩ của mình rồi nói:


− Idris và Gebhr, vốn là những kẻ hoang dã và ngu ngốc, tưởng rằng những đạo quân của Mahdi đã ở gần đây, trong khi đó Chartum − thành phố Mahdi chưa đến được, còn cách đây những hai nghìn cây số. Chúng nó sẽ phải vượt quãng đường này bằng cách đi dọc sông Nin và không tách xa nó, nếu không, người và lạc đà sẽ chết gục vì khát. Anh hãy đi ngay tới Cairô và yêu cầu phó vương gửi điện tới tất cả các đồn binh, đồng thời truy đuổi ngay bên tả ngạn và hữu ngạn dọc theo dòng sông. Hãy hứa thưởng thật hậu cho các tù trưởng ven sông nếu như bắt được bọn đang chạy trốn. Hãy bắt giữ tất cả những ai đến gần các làng mạc để xin nước. Bằng cách ấy, chắc chắn Idris và Gebhr sẽ lọt vào tay chính quyền, còn chúng ta sẽ đoạt lại được bọn trẻ.


Ông Rawlison đã lấy lại được bình tĩnh.


− Tôi sẽ đi ngay đây! − Ông nói. − Lũ đểu cáng này quên rằng quân đội Anh quốc của Vônđơlây đi cứu viện cho tướng Gordon đã lên đường và sẽ chặn đường chúng đến với Mahdi. Chúng không thoát đâu. Chúng không thể thoát nổi. Tôi sẽ điện ngay cho bộ trưởng của chúng ta rồi sẽ lên đường. Còn anh định sẽ làm gì?


− Tôi sẽ điện xin nghỉ phép, và không chần chờ phúc đáp, tôi sẽ lên đường ngay theo vết bọn chúng dọc sông Nin đến Nubia để đốc thúc thêm vào việc đuổi bắt.


− Thế nghĩa là chúng ta nhất định sẽ gặp nhau, vì từ Cairô tôi cũng sẽ làm như thế.


− Được lắm! Bây giờ vào việc thôi.


− Cầu Chúa phù hộ! − Ông Rawlison đáp.


 


Chương 7


Trong khi đó, đàn lạc đà lao đi như một cơn bão trên mặt cát lấp loáng ánh trăng. Đêm thăm thẳm. Mặt trăng, lúc đầu to như cái đĩa và đỏ bầm, giờ đã nhợt đi và lên cao. Những rặng núi xa xa của sa mạc được bao phủ bởi một làn hơi màu bạc mỏng như voan, màn hơi không che khuất chúng đi mà chỉ biến chúng trở nên huyền ảo như một hiện tượng quang học. Thỉnh thoảng, từ những khối đá nằm rải rác vọng về tiếng tru thê thảm của loài chó núi.


Lại một giờ nữa trôi qua, Staś  vòng tay ôm lấy Nel, giữ chặt lấy cô bé, cố bằng cách đó giảm bớt phần nào những cú xóc mệt người của nhịp phi như điên dại. Cô bé mỗi lúc một hay hỏi tại sao chúng lại phải đi nhanh như thế, và tại sao mãi không thấy lều trại lẫn cha của chúng đâu cả. Mãi sau, Staś  quyết định sẽ nói thật với Nel, sự thật mà chóng hay chầy cô bé cũng phải biết.


− Nel! − Em nói. − Em hãy rút găng tay ra và từ từ thả chúng xuống đất.


− Sao vậy, anh Staś ?


Staś  ghì chặt cô bé vào mình và đáp một cách dịu dàng hiếm có ở em:


− Em hãy làm như anh bảo đi.


Nel đang phải dùng một tay giữ chặt lấy Staś  không dám buông rời ra, nhưng cô bé khắc phục chuyện đó bằng cách dùng răng rút từng ngón găng tay một, rồi khi mà găng tay đã rời ra hoàn toàn, cô bé liền thả xuống đất.


− Lát nữa em thả chiếc thứ hai nhé, − Staś  lại nói − Anh đã thả găng tay của anh rồi, nhưng găng của em dễ nhận thấy hơn vì có màu sáng.


Thấy cô bé đang nhìn mình vẻ muốn hỏi, em bèn nói tiếp:


− Em đừng sợ nhé, Nel... Em thấy đấy... có thể chúng ta sẽ không gặp ba em lẫn ba anh đâu... có thể là bọn người đáng ghét này đã bắt cóc chúng mình. Nhưng em đừng sợ... Bởi vì nếu đúng như thế, thì sẽ có người đuổi theo chúng ta. Họ sẽ đuổi kịp và chắc chắn sẽ đoạt lại chúng mình. Chính vì thế anh mới bảo em thả găng tay, để cho những người đuổi bắt tìm thấy dấu vết. Hiện giờ chúng mình chưa thể làm được điều gì hơn, nhưng sau này anh sẽ nghĩ ra cách gì đó... Chắc chắn là anh sẽ nghĩ ra được cách gì đó, chỉ cần em đừng sợ và hãy tin ở anh...


Nhưng khi Nel biết rằng có thể sẽ không gặp được cha và hiện các em đang đi sâu vào sa mạc, tới một nơi nào đó thì em run lên sợ hãi, bắt đầu khóc, đồng thời nép chặt vào người Staś , vừa nức nở vừa hỏi tại sao người ta lại bắt cóc các em và sẽ chở chúng đi đâu. Cậu bé an ủi Nel cũng bằng những lời như cha cậu đã dùng để an ủi ông Rawlison. Cậu nói rằng hai ông bố sẽ đích thân đuổi theo chúng, rằng họ sẽ báo cho tất cả các đồn dọc sông Nin. Cuối cùng, cậu bé cam đoan rằng, dù có chuyện gì xảy ra đi nữa, cậu sẽ không bao giờ bỏ Nel và luôn luôn sẽ bảo vệ Nel.


Song trong lòng cô bé, nỗi đau đớn và niềm nhớ thương cha còn lớn hơn cả sự sợ hãi, nên suốt một hồi lâu em không sao nín khóc được, và cứ thế cả hai đứa trẻ thảm thương ấy bị chở đi vun vút trên mặt cát sa mạc nhợt nhạt, giữa đêm sáng trăng.


Tim Staś  thắt lại không chỉ vì nỗi đau đớn và sợ hãi, mà còn vì hổ thẹn nữa. Quả tình em không có lỗi gì trong những chuyện đã xảy ra, nhưng giờ đây em chợt nhớ lại tính ba hoa khoác lác của mình mà cha em thường chê trách. Trước đây em tin chắc rằng, không có tình thế nào em không thể khắc phục được, em tự cho mình là một tráng sĩ vô địch nào đó, sẵn sàng thách thức với toàn thế giới. Còn giờ đây, em hiểu ra rằng, em chỉ là một đứa trẻ bé nhỏ mà bất kì kẻ nào khác muốn làm gì, em cũng phải chịu. Và đấy − em đang bị đưa đi trên lưng lạc đà, mặc dù không muốn, chỉ bởi vì rằng con lạc đà đã bị một tên Sudan bán phần man dã thúc đằng sau. Em cảm thấy nhục nhã vô cùng, nhưng không thấy có cách nào chống lại. Em phải tự thú nhận rằng em đang sợ − sợ những con người ấy, sợ sa mạc, sợ những gì mà em và Nel có thể sẽ phải gặp. Song, em thành tâm hứa không chỉ với cô bé mà với bản thân mình, rằng sẽ chăm sóc và bảo vệ cô bé, dù phải trả giá bằng chính mạng sống của mình đi nữa.


Mệt mỏi vì khóc lóc và vì tốc độ phi như điên kéo dài tới sáu giờ liền, Nel bắt đầu thiu thiu ngủ, và lát sau đã ngủ say. Hiểu rằng bất cứ ai bị ngã từ lưng lạc đà đang phi nước đại xuống đất cũng có thể bị chết ngay tại chỗ, Staś  bèn dùng một sợi dây mà em tìm được trên yên buộc cô bé vào mình. Một lát sau, em cảm thấy hình như lũ lạc đà phi chậm hơn, tuy chúng vẫn đang đi qua vùng cát bằng phẳng và mềm mại. Xa xa ẩn hiện những ngọn núi, còn trên vùng đồng bằng, bắt đầu hiện ra những ảo ảnh thường có về đêm trên sa mạc.


Trăng trên trời mỗi lúc một mờ, trước mắt đoàn người chợt hiện ra những đám mây kì lạ màu hồng trườn rất thấp, những đám mây hoàn toàn trong suốt, được thêu dệt nên bởi ánh sáng. Không hiểu vì sao chúng được hình thành, chúng di động về phía trước dường như bị đẩy bởi một hơi gió nhẹ nào đó vậy. Staś  nhìn thấy rõ áo dài của những người Bedouin và lũ lạc đà bỗng nhiên hồng rực lên khi đi vào khoảng không gian được chiếu sáng đó, rồi sau đó, cả đoàn người bị bao trùm trong một thứ ánh sáng màu hồng dịu dàng. Đôi khi, những đám mây lại nhuốm màu xanh lơ, và cứ thế hiện tượng ấy kéo dài cho tới vùng núi.


Đến vùng núi, bước chạy của lạc đà càng chậm hơn. Bây giờ có thể thấy ở chung quanh, những khối đá nhô lên từ các gò cát, hoặc rải rác giữa các sườn đồi một cách hỗn độn. Nền cát chuyển thành nền đá. Họ đi qua mấy cái khe trải đầy đá trông giống như những lòng sông đã cạn khô. Chốc chốc, con đường lại bị ngắt quãng bởi những khe núi, khiến họ phải vòng tránh. Bọn súc vật bắt đầu nhún nhảy như đang múa, thận trọng lựa chỗ đặt chân giữa các bụi cây khô cứng gồm toàn loài hồng sa mạc[1] − loài cây phủ đầy trên những sườn đồi và các khối đá. Thỉnh thoảng một con lạc đà nào đó lại bị vấp, rõ ràng là đã đến lúc chúng cần phải nghỉ.


Quả vậy, bọn Bedouin dừng lại trong một khe núi, và nhảy từ trên yên xuống, chúng bắt đầu tháo các gùi hàng. Idris và Gebhr cũng làm theo chúng. Chúng chăm sóc lạc đà, nới các dây cương, cởi bỏ những túi lương thực và tìm chỗ đá phẳng để nhóm lửa. Không có củi khô cũng như phân khô mà người Ả Rập thường dùng, nhưng Chamis, con trai của Khađigi, liền bẻ các cây hồng sa mạc và xếp thành một đống to rồi châm lửa.


Trong lúc bọn Sudan đang bận bịu với lũ lạc đà, Staś , Nel và nhũ mẫu của cô bé − bà Dina, được ở một lúc cạnh nhau. Bà Dina còn hoảng sợ hơn cả bọn trẻ, không thể thốt ra được một lời nào. Bà chỉ biết bọc Nel vào một tấm chăn ấm và ngồi xuống cạnh cô bé trên mặt đất, bà bắt đầu vừa rên rỉ vừa hôn hai tay cô bé. Staś  lập tức hỏi Chamis tất cả chuyện này có nghĩa gì, nhưng hắn chỉ cười phô hàm răng trắng nhởn và bỏ đi, tiếp tục lấy cây hồng sa mạc. Còn gã Idris khi bị hỏi, chỉ trả lời một tiếng cụt lủn: “Rồi mày sẽ thấy”, rồi giơ một ngón tay ra dọa em.


Khi đống củi bằng cây hồng sa mạc cháy sáng lên − thực ra nó ngún âm ỉ nhiều hơn là cháy thành ngọn − tất cả bèn vây chung quanh thành một vòng tròn trừ gã Gebhr đang còn ở chỗ lạc đà, và bắt đầu ăn bánh ngô với thịt cừu và thịt dê sấy khô. Bị đói suốt dọc đường, bọn trẻ cũng cùng ăn, nhưng Nel vừa ăn mắt vừa dính lại vì buồn ngủ. Bỗng trong ánh sáng bập bùng của ngọn lửa hiện ra gã Gebhr da đen sậm, mắt trắng dã long lanh, giơ lên cao hai chiếc găng tay bé nhỏ màu sáng và hỏi:


− Của ai đây?


− Của tôi! − Nel đáp bằng giọng mệt mỏi và ngái ngủ.


− Của mày hả, đồ rắn độc ranh con? − Tên Sudan rít qua kẽ răng. − Mày đánh dấu đường để thằng cha mày biết phải đuổi chúng tao theo hướng nào phải không?


Vừa nói hắn vừa dùng chiếc roi da kinh khủng kiểu Ả Rập − cái roi thậm chí có thể cứa đứt cả lạc đà − đánh Nel, khiến cô bé, mặc dù được bọc trong một tấm chăn dày, phải thét lên vì đau đớn và hãi hùng.


Nhưng Gebhr không kịp đánh roi thứ hai, vì ngay lúc ấy, nhanh như một con mèo rừng, Staś  đã nhảy tới, húc đầu vào ngực hắn, rồi chộp lấy cổ hắn.


Chuyện xảy ra bất ngờ đến nỗi gã Sudan ngã ngửa ra, Staś  nằm đè lên hắn, và cả hai bắt đầu lăn lộn trên mặt đất.


So với tuổi của mình, cậu bé quả là mạnh mẽ khác thường, nhưng Gebhr nhanh chóng át được cậu bé. Trước tiên hắn gỡ hai bàn tay Staś  đang thít trên cổ hắn, rồi dằn mặt cậu bé xuống đất, hắn vừa ấn cổ cậu xuống vừa quật roi vào lưng cậu.


Tiếng kêu thét cùng nước mắt của Nel − cô bé túm lấy tay tên hung bạo van xin hãy “tha” cho Staś  − sẽ không có kết quả gì, nếu như bất ngờ gã Idris không cứu cậu bé. Hắn nhiều tuổi hơn Gebhr, khỏe hơn nhiều, và từ đầu cuộc trốn chạy từ Gharắc Xuntani, mọi kẻ khác đều tuân theo mệnh lệnh của hắn. Lúc này, hắn giằng roi khỏi tay thằng em vứt ra xa, kêu lên:


− Xéo đi, đồ ngốc!


− Tôi phải dần cho thằng bọ cạp này một trận mới được! − Gebhr nghiến răng đáp.


Nghe thấy thế, Idris bèn túm lấy ngực áo khoác của hắn, và vừa nhìn thẳng vào mặt hắn vừa nói bằng giọng dữ tợn mặc dù rất khẽ:


− Bà Phátma tôn quý[2] cấm xử tệ với bọn trẻ con này, vì chúng đã đứng ra bênh vực cho bà.


− Tôi phải dần nó! − Gebhr vẫn lặp lại.


− Còn tao thì bảo mày rằng mày sẽ không được phép vung roi đánh một đứa nào nữa. Nếu mày đánh một, thì tao sẽ nện trả mày mười roi.


Rồi lắc người hắn như lắc một nhánh cọ, gã nói tiếp:


− Bọn trẻ này thuộc về ngài Smain, và nếu như có đứa nào không sống về được tới nơi, thì chính đức Mahdi (cầu Thượng đế kéo dài tuổi thọ của Người) sẽ ra lệnh treo cổ mày lên. Hiểu chưa hả đồ ngốc?


Tên của Mahdi gây ấn tượng rất mãnh liệt đến mọi tín đồ của y, nên Gebhr lập tức cúi đầu xuống và lặp đi lặp lại như kinh hoàng:


Allâch akbar! Allâch akbar![3]


Bị đánh đau, Staś  thở hổn hển, nhỏm dậy, cậu bé cảm thấy rằng, nếu lúc này cha em thấy và nghe được tiếng em, hẳn ông sẽ tự hào, bởi vì em đã không hề suy tính khi nhảy tới cứu Nel, và giờ đây, dù những lằn roi như lửa đang thiêu đốt, nhưng em hoàn toàn không nghĩ tới đau đớn của bản thân, mà bắt đầu an ủi cô bé và hỏi xem cú đánh có làm cô bé đau lắm không.


Rồi em nói:


− Anh tuy bị đánh, nhưng hắn sẽ không còn dám đánh em nữa. Ôi, giá như anh có vũ khí!


Người phụ nữ nhỏ xíu ấy bèn đưa hai tay ôm ghì lấy cổ cậu bé, và vừa tuôn nước mắt ướt đầm gò má cậu, vừa nói rằng mình không bị đau lắm đâu, rằng cô khóc không phải vì đau mà chỉ vì thương cậu. Nghe thấy thế, Staś  bèn kề môi vào tai cô bé thì thầm:


− Nel, không phải vì hắn đánh anh, mà vì hắn đã quật em, anh thề sẽ không tha hắn.


Cuộc xô xát kết thúc tại đó. Một lát sau, Gebhr và Idris đã lại dàn hòa với nhau, cùng trải áo choàng lên mặt đất và ngả lưng xuống, còn Chamis cũng nhanh chóng làm theo bọn chúng. Bọn người Bedouin rắc ngô cho lạc đà, sau đó cưỡi hai con lạc đà không thồ hàng đi về phía sông Nin. Nel tựa đầu vào gối của bà Dina ngủ thiếp đi. Đống lửa lụi dần và lát sau chỉ còn nghe thấy tiếng lắc cắc của ngô bị răng lạc đà nhai vỡ. Trên trời có những đám mây nhỏ kéo qua, thỉnh thoảng lại che khuất mặt trăng, song đêm vẫn sáng. Tiếng tru thảm thiết của bầy chó núi vọng lên từ sau những tảng đá.


Hai giờ sau, bọn Bedouin trở về cùng lạc đà thồ nặng những túi da đựng nước. Tiếp thêm củi vào đống lửa, bọn chúng ngồi xuống cát và ăn uống. Sự quay về của chúng đánh thức Staś  đang thiu thiu ngủ, cùng với hai tên Sudan và Chamis, con trai của Khađigi. Bên đống lửa diễn ra cuộc nói chuyện sau đây:


− Ta đi được chưa? − Idris hỏi.


− Chưa, vì chúng tôi phải nghỉ đã, chúng tôi và lạc đà của chúng tôi.


− Không có ai trông thấy chúng mày chứ?


− Không. Chúng tôi tới sông ở quãng giữa hai làng. Chỉ có tiếng chó sủa xa xa.


− Từ nay cần phải đi lấy nước vào lúc nửa đêm và lấy ở những chỗ không có người. Chỉ cần vượt qua cái thác đầu tiên, từ đó trở đi, làng xóm sẽ thưa thớt hơn và ngả theo Đấng tiên tri nhiều hơn. Chắc chắn là chúng sẽ đuổi theo chúng ta.


Nghe thế, Chamis nằm úp bụng xuống đất, và lấy hai bàn tay kê dưới mặt nói:


− Các kĩ sư trước tiên phải chờ lũ trẻ tại En Phakhen suốt đêm cho đến chuyến tàu tiếp đó, rồi sẽ đi Phaium, từ đó tới Gharắc. Tại đó họ mới hiểu được chuyện gì đã xảy ra. Khi ấy họ sẽ phải quay về Mêđinét để gửi cái lời chạy theo sợi dây đồng đến các thành phố trên sông Nin cũng như các đoàn người cưỡi lạc đà sẽ đuổi theo chúng ta. Tất cả những điều đó sẽ mất ít nhất ba ngày. Trước đó, không cần phải làm mệt đàn lạc đà của ta, còn chúng ta có thể bình tĩnh “uống khói” bằng ống điếu.


Vừa nói thế, hắn vừa rút một nhánh cây hồng sa mạc ra khỏi đống lửa và dùng nó châm vào điếu, còn Idris, theo phong tục Ả Rập, tắc lưỡi vì hài lòng.


− Mày nói hay lắm, hỡi con trai của Khađigi! − Hắn nói − Song ta phải tranh thủ thời gian để trong ba ngày đó đi được xa nhất về phía nam. Tao chỉ có thể an lòng hơn khi nào chúng ta vượt qua sa mạc quãng giữa sông Nin và Khacgiê (một ốc đảo lớn ở phía tây sông Nin). Xin Thượng đế hãy cho lạc đà chịu đựng được.


− Chúng sẽ chịu được. − Một trong hai tên Bedouin lên tiếng.


− Người ta cũng còn nói rằng − Chamis xen vào, − Quân đội của đức Mahdi (cầu Thượng đế kéo dài tuổi thọ của Người) đã tới được Atxuan.


Đến đây, Staś  − vốn không bỏ sót một lời nào trong cuộc trò chuyện này và nhớ cả những điều mà Idris vừa nói trước đó với Gebhr − liền nhổm dậy nói:


− Quân của Mahdi còn ở mãi dưới Chartum.


La! La! (không phải, không phải) − Chamis phản đối.


− Các ông đừng để ý những điều hắn nói. − Staś  đáp. − Vì hắn không những chỉ có nước da đen thủi mà cả bộ óc cũng đen kịt nữa. Dù cho cứ ba ngày một các ông lại thay lạc đà mới và đi nhanh như hôm nay đi nữa, các ông cũng phải mất một tháng mới tới được Chartum. Thêm nữa, có thể các ông không biết rằng quân đội sẽ chặn đường các ông đi, không phải quân Ai Cập đâu mà là quân đội Anh kia...


Những lời này đã gây ấn tượng nào đó. Nhận thấy thế, Staś  bèn nói tiếp:


− Trước khi các ông tới được địa điểm nằm giữa sông Nin và cái ốc đảo lớn thì tất cả mọi con đường trên sa mạc đã bị những đơn vị binh lính canh phòng. Ha! Lời nói chạy theo đường dây còn đi nhanh hơn lạc đà! Làm sao các ông có thể thoát được?


− Sa mạc rộng lớn vô cùng! − Một trong hai tên Bedouin đáp.


− Nhưng các ông sẽ phải bám chặt sông Nin.


− Chúng tao có thể sẽ vượt sang bờ bên kia, và khi người ta đang săn tìm chúng tao bên này, thì chúng tao lại ở bên kia cơ.


− Lời nói chạy theo dây đồng sẽ đến các thành phố và làng mạc ở cả hai bên bờ sông.


− Đức Mahdi sẽ gửi đến cho chúng ta một vị thiên sứ, thiên sứ sẽ bịt tay vào mắt bọn Anh và Thổ (tức Ai Cập) và dùng đôi cánh che cho chúng tao.


− Ông Idris này, − Staś  nói, − Tôi không thèm nói với Chamis, vì đầu hắn trống rỗng như quả bầu, cũng không muốn nói với Gebhr vì hắn chỉ là một con lang bần tiện, mà tôi nói với ông. Tôi biết rằng các người muốn mang chúng tôi đến Mahdi và nộp cho Smain. Song nếu như các ông làm chuyện đó vì tiền, thì ông hãy nhớ rằng, cha của cô bé bé bỏng này còn giàu hơn tất cả những người Sudan gộp lại.


− Thế thì sao? − Idris ngắt lời.


− Thế thì sao? Các ông hãy tự mình quay lại đi, và ngài kĩ sư vĩ đại ấy, cũng như cha tôi, sẽ không tiếc tiền đối với các ông đâu.


− Hoặc sẽ nộp chúng tao cho chính phủ, chính phủ sẽ ra lệnh treo cổ chúng tao lên chứ gì?


− Không đâu, ông Idris. Chắc chắn các ông sẽ bị treo cổ, nhưng chỉ trong trường hợp nếu như các ông bị bắt khi đang trốn chạy. Còn nếu như các ông tự mình quay trở lại thì các ông sẽ không bị một hình phạt nào hết, thêm nữa các ông còn trở thành những người giàu có đến cuối đời. Ông biết đấy, những người da trắng từ châu Âu tới bao giờ cũng giữ lời hứa. Tôi thay mặt hai vị kĩ sư kia nói với ông rằng, mọi việc sẽ diễn ra đúng như lời tôi nói.


Quả thực Staś  hoàn toàn tin rằng cha em cùng ông Rawlison sẽ trăm lần muốn thực hiện những lời em hứa hơn là để cho cả hai, nhất là Nel, sẽ phải chịu đựng một cuộc hành trình khủng khiếp và một cuộc sống còn khủng khiếp hơn nữa giữa các bộ tộc hoang dã và điên loạn của Mahdi.


Vì vậy, trái tim em đập gấp gáp trong khi chờ đợi câu trả lời của gã Idris, gã này cứ nín lặng, mãi một lúc lâu mới cất tiếng nói:


− Mày nói rằng cha của cô bé bé nhỏ này và cha mày sẽ trả cho chúng tao nhiều tiền?


− Chính thế.


− Liệu tất cả tiền của bọn họ có thể mở ra trước mắt chúng tao cánh cửa dẫn tới thiên đường, thiên đường mà chỉ một lời ban phước của đức Mahdi thánh thiện cũng đủ mở ra hay không?


− Tuyệt vời! − Cả hai tên Bedouin cùng Chamis và


Gebhr cùng bật thốt lên khi nghe thấy thế.


Lập tức, Staś  thấy mất hẳn hi vọng, vì em hiểu rằng, mặc dù người phương Đông rất tham lam và có thể mua chuộc được, song khi một tín đồ Hồi giáo nào đã nhìn một việc gì đó dưới khía cạnh lòng tin, thì thế giới này không có một kho báu nào có thể lay chuyển được anh ta.


Còn Idris, được tiếng kêu cổ vũ, y nói tiếp, rõ ràng là không phải để trả lời Staś  mà là để thu được nhiều hơn nữa sự thán phục và ca ngợi của đám bạn:


− Chúng ta có cái hạnh phúc được thuộc về bộ tộc đã sản sinh ra Đấng tiên tri thiêng liêng, còn bà Phátma tôn quý cùng con cái của bà lại là họ hàng với Người. Đức Mahdi vĩ đại yêu mến họ. Nếu chúng ta nộp mày cùng cô bé kia cho Người, thì Người sẽ đánh đổi chúng mày lấy bà Phátma cùng các con trai của bà, còn chúng ta sẽ được Người ban phước. Mày nên biết là cả nước mà mỗi sáng Người dùng để rửa ráy theo quy định của Kinh Coran, còn chữa khỏi bệnh tật và tẩy sạch mọi tội lỗi, nói gì tới sự ban phước của Người.


− Tuyệt vời! − Bọn Sudan và Bedouin lại kêu lên.


Staś  bèn tóm lấy chút hi vọng cuối cùng và nói:


− Thế thì các người hãy bắt tôi đem đi, còn để cho bọn Bedouin cùng với cô bé quay trở lại. Chỉ một mình tôi cũng đủ đánh đổi bà Phátma cùng các con cái của bà ta.


− Cả hai chúng mày thì càng chắc chắn là người ta sẽ đánh đổi hơn.


Nghe thấy thế, cậu bé bèn quay lại phía Chamis:


− Cha ngươi sẽ phải chịu trách nhiệm về hành động của ngươi.


− Cha tao đã ở trên sa mạc và đang trên đường đến với


Đấng tiên tri rồi! − Chamis đáp.


− Thế thì người ta sẽ tóm được và sẽ treo cổ ông ta lên. Đến đây, Idris thấy cần phải cổ vũ thêm cho các bạn bè của hắn. Hắn nói:


− Lũ diều hâu sẽ rỉa thịt xương cốt chúng ta có thể hãy còn chưa nở. Chúng ta biết rõ những gì đang đe dọa chúng ta, nhưng chúng ta không phải là trẻ con, còn sa mạc thì chúng ta đã từng quen thuộc từ lâu rồi. Những người này (hắn chỉ bọn Bedouin) đã nhiều lần tới Becberơ và biết rõ những con đường chỉ có lũ nai chạy mà thôi. ở đó, không một kẻ nào có thể tìm thấy chúng ta, không kẻ nào có thể truy đuổi chúng ta. Quả thực chúng ta phải ra sông Bahơrơ En Duxép, rồi sau này ra sông Nin để lấy nước, nhưng chúng ta sẽ làm việc đó vào ban đêm. Các anh tưởng rằng dọc sông không có những bạn bè bí mật của đức Mahdi hay sao? Còn ta, ta nói với các anh rằng, càng đi về phía nam thì họ lại càng nhiều hơn lên. Cả các bộ tộc cũng như các tù trưởng của họ chỉ chờ thời cơ thuận tiện để cầm gươm bảo vệ tín ngưỡng chân chính của mình. Chính những người này sẽ cung cấp nước uống, thức ăn, lạc đà và sẽ đánh lạc hướng bọn đuổi theo. Chúng ta biết rõ rằng con đường đến chỗ đức Mahdi rất xa xôi, nhưng chúng ta cũng biết rõ, cứ một ngày qua đi lại khiến chúng ta được đến gần hơn tấm da cừu, mà trên đó Đấng tiên tri thiêng liêng thường quỳ gối để cầu nguyện.


− Tuyệt vời! − Đồng bọn lại kêu lên lần thứ ba.


Rõ ràng là uy tín của Idris trong bọn chúng tăng lên rõ rệt.


Staś  hiểu rằng đã mất hết hi vọng, song vì muốn tránh cho Nel ít ra khỏi gặp phải sự tàn tệ của bọn Sudan nên em nói:


− Sau có sáu giờ đi đường mà cô bé đã sống dở chết dở. Sao các người lại nghĩ rằng cô bé có thể chịu đựng được con đường ấy cơ chứ? Nếu như Nel chết, thì tôi cũng chết theo, khi ấy các người sẽ mang gì để ra mắt Mahdi cơ chứ?


Giờ thì Idris không tìm ra câu trả lời, thấy thế Staś  bèn nói tiếp:


− ...Và Mahdi cùng Smain sẽ đón các người ra sao khi biết rằng, vì sự ngu ngốc của các người, mà mụ Phátma cùng các con cái của mụ ta phải trả giá bằng tính mạng của họ?


Song tên Sudan đã kịp định thần và trả lời:


− Tao đã thấy mày bóp cổ Gebhr ra sao. Thề có đức Ala, mày quả thực là sư tử con, mày sẽ không chết được đâu, còn con bé...


Nói tới đây, hắn nhìn mái đầu của Nel đang say ngủ, tựa vào đầu gối của u già Dina, rồi chợt kết thúc bằng một giọng ôn tồn không ngờ:


− Chúng ta sẽ làm riêng cho cô bé một cái tổ như tổ chim trên bướu lạc đà, để cho cô bé hoàn toàn không cảm thấy mệt và có thể ngủ dọc đường cũng yên giấc như bây giờ.


Nói thế xong hắn bước tới phía con lạc đà, rồi cùng với bọn Bedouin bắt đầu bố trí chỗ ngồi cho cô bé trên bướu con lạc đà tốt nhất trong số lạc đà một bướu. Chúng nói khá nhiều, tranh cãi nhau tí chút, nhưng cuối cùng, với dây thừng, chăn và các thanh tre, chúng cũng làm được một chỗ ngồi có dạng cái sọt sâu lòng cố định, trong đó Nel có thể ngồi hoặc nằm mà không thể ngã được. Chúng còn căng một cái mái che bằng vải trên chỗ ngồi đó. Chỗ ngồi ấy rộng đến nỗi bà Dina cũng có thể ngồi trong đó.


− Mày thấy chưa? − Idris nói với Staś  − Trong cái ổ thế này thì đến trứng cun cút cũng không thể vỡ nổi. Mụ già sẽ đi cùng cô bé để phục vụ cô cả ngày lẫn đêm... Mày sẽ ngồi cùng với tao, mà mày cũng có thể ngồi cùng với cô bé để chăm sóc nó.


Staś  vui mừng, dù chỉ đạt được từng ấy mà thôi. Suy nghĩ về tình thế hiện tại, em tin rằng, rất có thể người ta sẽ tóm được bọn chúng trước khi chúng kịp vượt qua cái thác đầu tiên, và ý nghĩ này động viên em thêm phần nào. Em thấy rất buồn ngủ, nên tự nhủ rằng sẽ buộc mình bằng một sợi dây thừng vào yên, và vì em sẽ không phải đỡ cho Nel, nên em có thể ngủ vài tiếng đồng hồ.


Đêm nhạt dần, lũ chó núi đã ngừng tru trong các hẻm núi. Nhẽ ra cả đoàn đã lên đường, nhưng bọn Sudan thấy trời đã rạng sáng liền đi tới một tảng đá ở cách đó vài bước chân, và ở đó, theo những quy định của Kinh Coran, chúng bắt đầu cuộc rửa ráy ban sáng, dùng cát thay cho nước mà chúng muốn tiết kiệm. Rồi sau đó vang lên tiếng đọc kinh Xubơhơgơ, tức là kinh cầu đầu tiên vào buổi sáng. Trong sự tĩnh mịch sâu thẳm có thể nghe rõ từng lời nói của bọn chúng: “Sáng danh đấng Thượng đế đại từ đại bi. Hãy ngợi ca Người, chúa tể của thế giới, Người đại từ đại bi trong ngày phán xét. Chúng con thành kính Người và tuân theo Người, chúng con xin Người cứu giúp chúng con. Xin hãy dẫn dắt chúng con theo con đường của những người, mà đối với họ Người không tiếc của cải và phước lộc, chớ theo đường của những kẻ tội lỗi, những kẻ sẽ phải chịu cơn thịnh nộ của Người và sẽ bị lạc loài. Amen!”


Còn Staś , nghe thấy những lời ấy, bèn ngước mắt lên trời, và giữa vùng đất xa xôi này, giữa mặt cát vàng hoe và câm lặng ấy, em bắt đầu cầu nguyện: “Hỡi Đức Mẹ thiêng liêng của Chúa, chúng con sẽ trốn thoát dưới sự che chở của Mẹ...”.


(còn tiếp)


Nguồn: Trên sa mạc và trong rừng thẳm. Tiểu thuyết của Henryk Sienkiewicz. Nguyễn Hữu Dũng dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan. NXB Văn học in nhiều lần. NXB Hội Nhà văn in lần thứ 25 kỷ niệm 100 năm ngày tác giả từ trần (1916-2016).


www.trieuxuan.info







[1] Còn gọi là cây phục sinh. Đây là loài hồng sa mạc, thích hợp với điều kiện sống khô cằn, có thân cây nhỏ, dùng làm thuốc. chúng gồm hai giống: Anastatica hierochumica − mọc ở vùng trung Đông và sa mạc Sahara, và Asteriscus pygmaeus − mọc ở vùng bắc Phi.




[2] Tất cả họ hàng thân thuộc của Mahơđi đều được gọi kèm theo hai tiếng “tôn quý” (chú thích của tác giả).




[3]  Tiếng kêu này vốn có nghĩa là: “Thượng đế thật vĩ đại!”, nhưng người ả Rập thường thốt ra khi họ sợ hãi, tỏ ý cầu xin cứu độ (chú thích của tác giả).




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 16.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
xem thêm »