tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21316069
Tiểu thuyết
18.11.2016
Henryk Sienkiewicz
Trên sa mạc và trong rừng thẳm



Chương 2


Trong bữa cơm, có một tin vui chờ đón hai đứa trẻ.


Vài tuần trước đây, hai ông Tarkowski và Rawlison, với tư cách là những kĩ sư lành nghề, được mời đến xem xét và đánh giá công việc trên toàn bộ mạng kênh rạch ở tỉnh En Phaium, trong vùng lân cận thành phố Mêđinét gần hồ Carôun, cũng như vùng dọc theo sông Duxép và sông Nin. Họ sẽ ở lại đó chừng một tháng và đã được công ty của họ cho nghỉ phép để làm việc đó. Vì lễ Thiên Chúa giáng sinh sắp tới, mà cả hai đều không muốn chia tay với bọn trẻ, nên họ quyết định rằng cả Nel lẫn Staś  sẽ đi tới Mêđinét. Nghe tin này, bọn trẻ suýt nhảy lên vì vui sướng. Cho tới nay, chúng chỉ mới được biết các thành phố nằm dọc kênh đào, đó là Idơmaila và Xuê, còn ngoài vùng kênh là các thành phố Alecxanđria và Cairô. Chúng cũng đã được tham quan các kim tự tháp khổng lồ và tượng con Nhân sư ở gần thành phố Cairô. Song đó chỉ toàn là những chuyến đi ngắn ngủi, trong khi đó, muốn tới được Mêđinét Phaium, chúng sẽ phải ngồi tàu hỏa suốt cả một ngày trời dọc theo sông Nin về phía nam, rồi sau đó, từ En Vaxta trở đi, rẽ về phía tây, về phía sa mạc Libi. Staś  đã được nghe nói về thành phố Mêđinét qua câu chuyện của các kĩ sư trẻ và các du khách từng được đi tới đó để săn bắt các loài chim nước cùng chó sói sa mạc và linh cẩu. Em biết rằng đó là một ốc đảo lớn nằm ở hữu ngạn sông Nin, nhưng không chịu ảnh hưởng của các trận lụt do con sông này gây ra mà có thủy hệ riêng, được tạo nên bởi hồ Carôun, sông Bahơrơ Duxép, cùng cả một hệ thống kênh rạch nhỏ khác nữa. Những người từng thấy cái ốc đảo này đều nói rằng, mặc dù vùng đất này vẫn thuộc về Ai Cập, nhưng do bị ngăn cách bởi sa mạc, nên nó tạo thành một chỉnh thể biệt lập hoàn toàn. Chỉ có riêng dòng sông Duxép, trông giống như một sợi dây mỏng mảnh màu xanh lơ là mối liên hệ giữa vùng này với thung lũng sông Nin. Sự dồi dào về nước, độ phì nhiêu của đất và sự phong phú tuyệt vời của hệ thực vật đã khiến cho vùng này gần như trở thành một thiên đường trên mặt đất, còn những di tích trải trên một diện tích rộng lớn của thành phố cổ Crôcôđilôpôlix thì thu hút hàng trăm du khách tới đây viếng thăm. Riêng Staś  thì chủ yếu là bị hấp dẫn bởi bờ hồ Carôun đầy các loài chim nước và những chuyến đi săn chó sói trong vùng đồi núi hoang mạc Guêben En Xêđơmên.


Nhưng mãi mấy ngày nữa bọn trẻ mới bắt đầu được nghỉ lễ, mà sự kiểm tra công việc ở vùng kênh lại khẩn cấp, khiến các ông bố không thể chờ đợi mất thì giờ, nên họ bèn sắp xếp rằng họ sẽ khởi hành ngay, còn bọn trẻ sẽ cùng với cô Oliviơ xuất phát sau một tuần lễ. Cả Nel lẫn Staś  đều muốn được cùng đi ngay, nhưng Staś  không dám đề nghị. Cả hai liền bắt đầu hỏi han đủ mọi thứ chuyện liên quan đến chuyến đi, và chúng lại náo nức vui sướng một lần nữa khi được biết rằng, chúng sẽ không phải nghỉ ngơi trong các khách sạn thiếu thốn tiện nghi của người Hi Lạp, mà sẽ nghỉ trong những chiếc lều do Hội du lịch của Cúc cung cấp. Các du khách từ Cairô đến thăm Mêđinét, thậm chí dù họ có lưu lại đó một thời gian dài đi nữa, cũng thường sống theo cách đó. Công ty Cúc cung cấp cho họ lều trại, người phục vụ, lương thực dự trữ, lừa ngựa, lạc đà cùng người dẫn đường, nên du khách chẳng hề phải lo nghĩ chuyện gì cả. Quả tình đó là một phương thức du lịch khá tốn kém, nhưng ông Tarkowski và ông Rawlison không cần phải quan tâm tới chuyện đó, vì mọi chi phí sẽ do chính phủ Ai Cập đài thọ, chính phủ này đã mời họ tới đánh giá và kiểm tra công việc tại vùng kênh, với tư cách là những chuyên gia giỏi. Cô bé Nel vốn thích cưỡi lạc đà hơn tất cả mọi chuyện khác trên đời, nên được cha hứa rằng sẽ được nhận riêng một con tuấn mã có bướu, trên đó cô bé cùng với cô Oliviơ, bà Dina, hoặc thỉnh thoảng cùng với Staś , tham gia vào những chuyến đi chơi trong những vùng sa mạc lân cận với Carôun. Ông Tarkowski hứa với Staś  rằng sẽ cho phép em đi săn chó sói ban đêm, và nếu như em mang được chứng chỉ học tập giỏi từ trường về, thì sẽ được thưởng một khẩu súng săn Anh chính hiệu, cùng với mọi thứ đồ nghề cần thiết cho thợ săn.


Vì Staś  hoàn toàn tin chắc vào kết quả học tập của bản thân, nên ngay lập tức em bắt đầu tự cho mình đã là chủ nhân của một khẩu súng săn, và tự nhủ sẽ cùng khẩu súng ấy thực hiện biết bao kì công để đời đời được ghi nhớ.


Với lũ trẻ đang vui mừng, bữa ăn trôi qua trong dự kiến và những câu chuyện như vậy. Riêng cô Oliviơ tỏ ra tương đối ít nhiệt tình nhất với chuyến đi, bởi cô ngại phải rời xa cái biệt thự đầy đủ tiện nghi ở Port Said này; cô kinh hoàng khi nghĩ tới chuyện sẽ phải sống hàng mấy tuần liền trong lều, và nhất là chuyện cưỡi lạc đà. Cô đã được thưởng thức vài lần các chuyến đi kiểu ấy, điều mà bất cứ người dân châu Âu nào sống ở Ai Cập cũng đều làm thử vì tò mò, song bao giờ các chuyến đi ấy cũng bị kết thúc chẳng mĩ mãn chút nào. Một lần, con lạc đà đứng lên sớm quá, khi cô chưa kịp ngồi vững trên bành, kết quả là cô bị tuột từ trên lưng nó xuống đất. Một lần khác, một chú lạc đà một bướu, hẳn không thuộc loài dễ khiến, đã lắc cô đến nỗi hai ngày sau cô vẫn chưa hoàn hồn. Tóm lại, nếu như Nel sau vài chuyến được ông Rawlison cho phép đi như thế, cam đoan rằng trên đời này không có gì sướng hơn là việc cưỡi lạc đà, thì cô Oliviơ lại chỉ nhớ toàn ấn tượng khó chịu mà thôi. Cô bảo rằng chuyện đó có thể là tốt đối với người Ả Rập, hoặc đối với một “cái kẹo” bé bỏng như Nel, cô bé bị lắc chẳng đáng là bao, chẳng khác nào một chú ruồi đỗ lên bướu lạc đà, song chẳng thích hợp chút nào đối với những người có tuổi, chẳng nhẹ nhàng gì, mà lại có xu hướng dễ bị say sóng. Còn nếu nói về Mêđinét En Phaium thì cô lại còn có thêm những lo lắng khác nữa. ở Port Said cũng như ở Alecxanđria, Cairô và trên toàn Ai Cập, người ta chẳng bàn tán gì khác hơn ngoài chuyện khởi loạn của Mahdi và sự tàn ác của bọn phiến loạn. Cô Oliviơ không biết chính xác thành phố Mêđinét nằm ở đâu, nên cô lo ngại, không hiểu nó có nằm quá gần bọn Mahdi hay chăng, và thế là cô bèn hỏi ông Rawlison điều đó.


Song ông chỉ mỉm cười và nói:


− Hiện nay Mahdi đang bao vây thành phố Chartum, trong đó tướng Gordon đang cố thủ. Cô có biết Mêđinét cách Chartum bao xa không?


− Tôi chẳng có khái niệm gì về chuyện đó cả.


− Cũng xấp xỉ bằng từ đây tới đảo Xixin vậy. − Ông Tarkowski giải thích.


− Vâng, gần bằng. − Staś  khẳng định. − Chartum nằm tại điểm mà sông Nin Trắng và Xanh hòa vào nhau tạo thành một dòng chung. Từ chỗ chúng ta tới đó còn cách cả một khoảng không gian mênh mông của đất Ai Cập và toàn bộ miền Nubia.


Tiếp đó em còn muốn thêm rằng, dù cho Mêđinét có nằm gần vùng khởi loạn đi chăng nữa, thì đã có em tại đó với khẩu súng của mình, nhưng em chợt nhớ lại rằng đã nhiều lần bị cha quở mắng vì những lời huênh hoang tương tự, nên vội nín lặng.


Hai ông bố lại bắt đầu nói sang chuyện Mahdi và cuộc khởi loạn, vì đó là vấn đề quan trọng bậc nhất có quan hệ tới Ai Cập. Tin tức từ Chartum đưa về rất xấu. Đã từ một tháng rưỡi nay, những bộ tộc man rợ bao vây chặt thành phố này, chính phủ Ai Cập và chính phủ Anh thì phản ứng rất chậm chạp. Mãi đến bây giờ, đạo viện binh giải vây mới vừa lên đường, và người ta e rằng, mặc dù có áng vinh quang, lòng can trường và năng lực của tướng Gordon, song thành phố quan trọng này sẽ bị lọt vào tay bọn dã man mất. Ông Tarkowski cũng có ý kiến như thế, ông ngờ rằng Anh quốc thầm mong sao Mahdi chiếm lấy Sudan của Ai Cập để rồi sau đó họ sẽ chiếm lại miền đất này từ tay Mahdi, và biến miền đất mênh mông này thành tài sản nước Anh. Song ông không trao đổi với ông Rawlison những điều nghi ngờ ấy, vì không muốn xúc phạm đến những tình cảm ái quốc của bạn.


Gần cuối bữa ăn, Staś  hỏi tại sao chính phủ Ai Cập lại chiếm cứ tất cả các nước nằm về phía nam Nubia là Coócđôphan, Đacphua và Sudan cho đến tận Anbec Nianđa, và tước đoạt quyền tự do của dân cư những miền đất đó. Ông Rawlison quyết định giải thích cho cậu bé: Tất cả những gì mà chính phủ Ai Cập làm đều là thực hiện theo chỉ thị của Anh quốc, bởi nước Anh đang nắm quyền bảo hộ Ai Cập, và về thực chất thì đang thống trị nước này một cách tùy ý.


− Chính phủ Ai Cập không tước đoạt tự do của bất cứ một ai cả. − Ông nói. − Mà ngược lại, còn mang lại tự do cho hàng trăm nghìn, thậm chí hàng triệu người. Trong thời gian gần đây, ở Coócđôphan, ở Đácphua và Sudan không có một quốc gia độc lập nào tồn tại cả. Chỉ thảng hoặc ở nơi này nơi nọ, một tiểu thủ lĩnh nào đó dùng bạo lực áp đặt chính quyền của mình sang một miền đất khác và chiếm đoạt vùng đất ấy, không thèm để ý tới nguyện vọng của các cư dân địa phương. Còn trên đại thể, những miền này quần tụ các bộ tộc độc lập của người Ả Rập pha da đen, nghĩa là những bộ tộc mang trong mình dòng máu của cả hai chủng người đó. Các bộ tộc này luôn luôn sống trong tình trạng chiến tranh liên miên. Họ tấn công nhau, cướp của nhau ngựa, lạc đà, súc vật có sừng và trước hết là nô lệ, đồng thời họ phạm không biết bao nhiêu điều tàn bạo. Nhưng tệ hại nhất là bọn thương gia săn ngà voi và săn nô lệ. Chúng gần như tạo thành một giai cấp riêng biệt, bao gồm hầu hết các tộc trưởng và những thương nhân giàu có. Chúng tiến hành những cuộc săn lùng có vũ trang vào sâu trong lục địa Phi châu, cướp đi ngà voi và bắt sống hàng nghìn người, cả đàn ông, cả đàn bà, trẻ con. Chúng triệt phá các làng mạc và trại ấp, phá hoại đồng ruộng, khiến máu chảy thành sông và giết hại không thương tiếc tất cả những ai muốn chống cự lại. Nhiều vùng ở miền nam Sudan, Đácphua và Coócđôphan cũng như vùng thượng nguồn sông Nin cho tới tận hồ lớn, không còn một bóng người. Song bọn cướp Ả Rập này mỗi ngày tiến thêm một xa, đến nỗi cả vùng Trung Phi trở thành vùng đất của máu và nước mắt. Anh quốc, như cháu biết, vốn săn đuổi bọn thương nhân buôn bán nô lệ trên toàn thế giới, bèn đồng ý để chính phủ Ai Cập chiếm Coócđôphan, Đácphua và Sudan, đó là cách duy nhất buộc lũ cướp phải từ bỏ cuộc buôn bán bẩn thỉu ấy đi, là cách duy nhất để giữ chúng trong vòng kiềm tỏa. Những người da đen bất hạnh thở phào nhẹ nhõm, những cuộc tấn công ăn cướp lắng dần, và người ta bắt đầu được sống có luật lệ. Dĩ nhiên tình hình ấy khiến bọn lái buôn không thỏa mãn. Vậy nên, khi mà trong số chúng nó có tên Mahômét Áchmét, bây giờ được gọi là Mahdi, tên này bắt đầu kêu gào phát động một cuộc chiến tranh tôn giáo về hình thức, lấy cớ rằng tại Ai Cập lòng tin vào đức Mahômét đang bị suy giảm, thì tất cả bọn chúng đều cầm lấy vũ khí.


Và thế là bùng nổ cuộc chiến tranh khủng khiếp này, cuộc chiến tranh mà cho tới nay rất bất lợi cho người Ai Cập. Trong tất cả các trận chiến đấu, Mahdi đều đánh bại quân chính phủ, chiếm Coócđôphan, Đácphua, Sudan. Hiện nay, các bộ tộc của hắn đang vây hãm Chartum và tiến về phía bắc tới tận biên giới Nubia.


− Nhưng liệu hắn có tiến được tới Ai Cập không ạ? − Staś  hỏi.


− Không! − Ông Rawlison trả lời. − Mahdi quả có nói rằng, hắn sẽ đánh chiếm toàn thế giới, song đó chỉ là một con người mông muội, không hiểu gì cả. Hắn sẽ không bao giờ chiếm được Ai Cập, vì Anh quốc không khi nào cho phép chuyện đó xảy ra.


− Thế nếu như quân đội Ai Cập hoàn toàn tan rã thì sao?


− Khi đó quân đội Anh sẽ thay, mà quân đội Anh thì chưa có ai từng thắng nổi bao giờ.


− Thế tại sao người Anh lại cho phép Mahdi chiếm ngần ấy nước?


− Sao cháu biết là Anh quốc cho phép? − Ông Rawlison nói − Anh quốc chẳng bao giờ phải vội vã cả, bởi Anh quốc là quốc gia vĩnh cửu.


Câu chuyện bị gián đoạn bởi một người đầy tớ da đen vào báo rằng mụ Fatma Smain tới và cầu xin được vào gặp.


Phụ nữ phương Đông thường chỉ chăm lo việc nội trợ và rất ít khi rời khỏi “buồng the”. Chỉ những người nghèo mới ra chợ hoặc đi làm đồng, thí dụ như vợ của các fellach, tức là những nông dân Ai Cập, nhưng cả những người này cũng che mặt khi ra đường. Mặc dù mụ Fatma gốc người Sudan, tại đó người ta không theo phong tục này, hơn nữa, trước đây cũng từng có lần mụ tới văn phòng ông Rawlison rồi, song việc mụ đến đây, nhất là vào lúc đêm hôm thế này và lại tới nhà riêng, cũng gây nên một sự ngạc nhiên.


− Chúng ta sẽ được biết điều gì mới về gã Smain đây! − Ông Tarkowski đáp lại, đồng thời đưa tay ra hiệu cho người hầu dẫn mụ Fatma vào.


Lát sau một phụ nữ Sudan còn trẻ, người cao dong dỏng, mặt hoàn toàn không che mạng, với nước da rất sẫm màu, cặp mắt tuyệt đẹp, tuy hơi man dại và dữ tợn, bước vào. Vừa vào, mụ đã sụp mặt xuống đất, và khi ông Rawlison bảo mụ đứng dậy thì mụ chỉ ngẩng mặt lên nhưng vẫn tiếp tục quỳ.


− Thưa ngài, − mụ nói, − Cầu đức Ala ban phúc cho ngài, cho con cháu của ngài, ngôi nhà của ngài và súc vật của ngài.


− Chị muốn gì? − Người kĩ sư hỏi.


− Thưa ngài, con cầu xin lòng từ thiện, sự cứu giúp trong cơn hoạn nạn. Con hiện đang bị giam giữ ở Port Said, mà cái chết đang treo lơ lửng trên đầu con và các con của con.


− Chị nói là chị bị giam, thế mà chị lại có thể đi tới đây, thêm nữa lại vào ban đêm!


− Thưa, cảnh sát áp tải con tới đây, cảnh sát canh giữ nhà con cả ngày lẫn đêm, và con biết rằng chẳng bao lâu nữa họ sẽ được lệnh chặt đầu chúng con.


− Chị hãy nói cho ra dáng một người đàn bà chín chắn xem nào. − Ông Rawlison nhún vai đáp. − Không phải chị đang ở Sudan mà là ở Ai Cập, nơi người ta không giết một ai nếu không có quyết định của tòa án, vì vậy chị có thể tin chắc rằng, không một sợi tóc nào của chị cũng như của các con chị rơi khỏi đầu đâu.


Song mụ ta bắt đầu van xin ông hãy một lần nữa bênh vực mụ ta, xin chính phủ cho phép mụ đi đến với lão Smain. Mụ nói:


− Những ông lớn người Anh vĩ đại như ngài có thể làm được mọi chuyện, thưa ngài. Chính phủ ở Cairô nghĩ rằng ông Smain phản bội, nhưng điều đó không đúng một chút nào hết! Hôm qua có các thương nhân Ả Rập đến chỗ con, họ từ Xuakim tới, trước đó họ mua nhựa cây và ngà voi ở Sudan, họ báo cho con hay rằng, ông Smain đang bị ốm nằm tại En Phasenrơ và gọi con cùng các cháu tới đó để ban phước cho các cháu...


− Tất cả chỉ là chuyện bịa đặt của nhà chị, chị Fatma! − Ông Rawlison ngắt lời.


Mụ ta bắt đầu thề với đức Ala là mụ nói sự thật, rồi tiếp đó mụ nói rằng, nếu như Smain khỏe lại thì chắc chắn trăm phần trăm là ông ta sẽ chuộc lại tất cả các tù binh Thiên Chúa giáo, còn nếu như ông ta qua đời đi chăng nữa, thì chính mụ − người họ hàng ruột thịt của thủ lĩnh các tín đồ đạo Hồi, cũng sẽ dễ dàng tìm được cách đến gặp y và sẽ làm được bất cứ điều gì mụ muốn. Chỉ cần người ta cho phép mụ được đi, vì trái tim trong lồng ngực của mụ đang kêu rên bởi nỗi nhớ thương chồng. Mụ ta, một người phụ nữ bất hạnh, có làm gì nên tội với chính phủ và với phó vương kia chứ? Chuyện đó có phải là lỗi của mụ đâu, và liệu mụ có thể nào chịu trách nhiệm trong chuyện chẳng may mụ là bà con với thầy cả đạo Hồi Môhamét áchmét?


Mụ Fatma, do sự có mặt của “những người Anh” nên không dám gọi người bà con ruột thịt của mình bằng cái tên Mahdi, vì tên đó có nghĩa là: “Người chuộc tội cho thế gian”, bởi mụ biết rõ rằng, chính phủ Ai Cập coi hắn ta là một tên phiến loạn và kẻ chuyên lừa đảo. Song mụ cứ đập đầu xuống đất và vừa cầu khẩn trời cao đất dày minh chứng cho sự vô tội cùng nỗi bất hạnh của mụ, vừa kêu khóc một cách thảm thương, như kiểu các phụ nữ phương Đông thường kêu khóc khi bị mất chồng hay con trai vậy. Rồi mụ lại úp mặt xuống đất − nói đúng hơn là xuống tấm thảm lót nhà − và im lặng chờ đợi.


Cuối bữa ăn, Nel muốn chợp mắt chút đỉnh, nhưng giờ đây cô bé tỉnh táo hoàn toàn, và vì vốn có trái tim giàu thương cảm, nên cô bé nắm lấy tay cha, vừa hôn vừa cầu xin cho mụ Fatma:


− Cha ơi, cha giúp bà ta đi cha! Giúp bà ta đi cha!


Còn mụ Fatma, hẳn là biết tiếng Anh, nên vừa nức nở, vừa nói, mặt vẫn không rời khỏi tấm thảm:


− Cầu đức Ala ban phước cho cô, hỡi đóa hoa thiên đường bé nhỏ, hỡi niềm hoan lạc của Omai, hỡi vì sao trong sáng.


Còn Staś , mặc dù trong lòng rất căm tức bọn Mahdi, nhưng em cũng xúc động bởi lời cầu xin và sự đau đớn của mụ Fatma. Hơn nữa vì Nel bênh vực mụ ta, mà em thì nói cho cùng, bao giờ cũng muốn những gì Nel muốn thực hiện, nên một lúc sau em cất tiếng nói khẽ như tự nhủ, nhưng cũng đủ để cho mọi người nghe thấy:


− Nếu mình là chính phủ, mình sẽ cho phép mụ


Fatma ra đi.


  Nhưng    con  không  phải    chính  phủ,    Ông Tarkowski đáp, − nên tốt nhất là con đừng có can thiệp vào những chuyện không thuộc về con.


Ông Rawlison cũng có tâm hồn trắc ẩn và ông cũng thấu hiểu tình cảnh của mụ Fatma, nhưng trong những lời của mụ ta có nhiều điều mà theo ông toàn là chuyện dối trá. Vì hàng ngày ông có quan hệ với sở thuế quan ở Idơmailơ, nên ông biết chắc chắn rằng, không có số hàng hóa nào là nhựa cây và ngà voi được chở qua kênh trong thời gian vừa rồi. Việc buôn bán những mặt hàng này gần như hoàn toàn bị đình lại. Vả chăng, các thương nhân Ả Rập cũng không thể nào trở về từ thành phố En Phaserơ nằm trên đất Sudan, vì nói chung bọn Mahdi ngay từ đầu đã không cho phép các thương nhân giao lưu với chúng, còn những kẻ nào bị chúng tóm được thì đều bị cướp sạch và bị giữ lại làm tù binh cả. Chính vì thế, chắc chắn câu chuyện về bệnh tình của Smain cũng là một điều bịa đặt mà thôi.


Song vì đôi mắt Nel vẫn đang nhìn cha đầy vẻ van xin, nên không muốn làm con buồn, ông bảo mụ Fatma:


− Này chị Fatma, ta đã viết thư gửi chính phủ theo lời khẩn cầu của chị, nhưng không có kết quả. Còn bây giờ thì chị nghe đây. Sáng mai, cùng với ngài kĩ sư đây, ta sẽ đi Mêđinét En Phaium, dọc đường chúng ta sẽ lưu lại Cairô một ngày, vì Khêđíp muốn bàn bạc với chúng ta về các kênh tiêu nước từ sông Bahơrơ Duxép và sẽ cho chúng ta chỉ thị về những con kênh đó. Trong khi bàn bạc, ta sẽ cố gắng xin ngài ban cho chị đặc ân. Nhưng ta không thể làm được điều gì hơn đâu, và ta cũng không thể hứa hẹn một điều gì hết.


Mụ Fatma nhổm ngay dậy và vừa đưa hai tay ra dấu cảm ơn vừa bật kêu lên:


− Vậy là con đã được cứu sống!


− Không đâu, chị Fatma. − Ông Rawlison đáp. − Nhà chị đừng nói chuyện cứu mạng, vì như ta đã nói với chị, cái chết không hề đe dọa chị lẫn các con chị. Còn liệu Khêđíp có đồng ý cho chị ra đi hay không thì ta không dám chắc, bởi vì Smain không ốm mà hắn là một tên phản bội, đã lấy tiền của chính phủ, hoàn toàn không nghĩ đến việc chuộc các tù binh khỏi tay Môhamét áchmét cả.


− Ông Smain là người vô tội, thưa ngài, hiện ông ấy đang nằm ở En Faser. − Mụ Fatma lặp lại. − Còn nếu như ông ta có bội tín với chính phủ đi nữa, thì con xin thề với ngài, ông chủ đáng kính của con, rằng nếu như người ta cho phép con ra đi, thì con sẽ khẩn cầu Mohamed Achmed cho đến khi nào xin tha hết tù binh của các ngài mới thôi.


− Thôi được rồi. Ta hứa với chị một lần nữa là ta sẽ gặp Khêđíp để xin cho chị.


Mụ Fatma bắt đầu vái lia lịa.


− Xin đa tạ người, thưa xidi. Ngài thật quả là người vừa nhiều quyền thế vừa công minh chính đại. Còn bây giờ con cầu xin ngài một điều nữa là hãy cho chúng con được hầu hạ ngài như nô lệ vậy.


− Ở Ai Cập không một ai có thể là nô lệ cả. − Ông Rawlison mỉm cười đáp lại. − Ta có đủ gia nhân rồi, vả chăng ta cũng không thể sử dụng sự hầu hạ của chị vì rằng, như ta đã nói với chị, tất cả chúng ta đây sẽ rời đi Mêđinét, và có thể chúng ta sẽ ở lại đó cho đến tận ngày lễ Ramadan[1].


− Con biết, thưa ngài, vì ông quản gia Khađigi đã nói với con. Còn con, biết tin ấy, con đến đây không những chỉ để cầu xin ngài giúp đỡ, mà còn để thưa với ngài rằng, hai người cùng bộ tộc Đangan với con là Idris và Gebhr, hiện đang là những chủ lạc đà tại Mêđinét, và họ sẽ dập trán trước ngài khi ngài đến đó cốt để xin ngài ra lệnh cho họ và lạc đà của họ được hầu hạ các ngài.


− Được rồi, được rồi! − Ông giám đốc nói. − Nhưng đó là việc của công ty Cook chứ đâu phải là việc của ta.


Sau khi hôn tay hai kĩ sư và bọn trẻ, mụ Fatma lui ra ngoài, vừa lui vừa cầu phước, nhất là cho cô bé Nel. Cả hai ông bố cùng im lặng một lát, rồi ông Rawlison cất tiếng:


− Một người đàn bà đáng thương... nhưng mụ ta nói dối như Cuội vậy, thậm chí trong những lời cảm ơn cũng toát lên cái ý không có quyền giữ mụ ta ở Ai Cập, vì mụ ta không thể chịu trách nhiệm thay cho chồng được.


− Hiện nay chính phủ không cho phép một ai trong số dân Sudan đi Xuakim không có giấy phép, cũng như đi Nubia, nghĩa là lệnh cấm đó không chỉ riêng cho mụ Fatma. ở Ai Cập hiện có rất nhiều người vốn tìm tới đây để kiếm sống, trong đó có một nhóm người thuộc tộc Đangan, nghĩa là bộ tộc của chính Mahdi. Thí dụ, ngoài mụ Fatma ra, còn có Khađigi và hai gã chủ lạc đà ở Mêđinét cũng thuộc bộ tộc này. Bọn Mahdi gọi người Ai Cập là dân Thổ và tiến hành chiến tranh chống lại họ, nhưng trong số những người Ả Rập tại đây cũng có khối môn đệ của Mahdi, những kẻ sẵn lòng bỏ trốn đến với hắn. Cần phải gộp vào bọn này tất cả những kẻ cuồng bạo, tất cả những kẻ ủng hộ Pasa Ả Rập ngày trước, cùng nhiều kẻ trong các tầng lớp nghèo khổ nhất. Họ trách chính phủ đã hoàn toàn chịu ảnh hưởng của Anh, và cho rằng điều đó xúc phạm tới tôn giáo. Chỉ có Chúa mới biết rõ bao nhiêu kẻ đã chạy trốn bằng cách vượt qua sa mạc, bỏ qua con đường biển thông thường tới Xuakim; do vậy, khi chính phủ biết được rằng mụ Fatma cũng muốn chuồn, họ bèn ra lệnh canh giữ mụ ta. Qua mụ ta và các con của mụ − những người ruột thịt với Mahdi, rất có thể sẽ chuộc lại được tù binh.


− Liệu có đúng là những tầng lớp nghèo khổ nhất ở Ai Cập ủng hộ Mahdi hay chăng?


− Mahdi có đệ tử ngay cả trong quân đội, có thể chính vì vậy mà quân chính phủ đánh nhau kém đến thế.


− Nhưng bằng cách nào những người Sudan có thể trốn qua sa mạc được nhỉ? Hàng nghìn dặm đường kia mà?


− Ấy thế mà chính bằng con đường ấy người ta đưa nô lệ tới Ai Cập đấy.


− Tôi e rằng bọn trẻ con của mụ Fatma không chịu đựng nổi một cuộc hành trình như thế.


− Mụ ta cũng muốn rút ngắn bớt đường đi bằng cách đi theo đường biển tới Xuakim đấy thôi.


− Dù sao thì cũng là một người đàn bà tội nghiệp...


Câu chuyện kết thúc ở đó.


Nhưng mười hai giờ sau đó, mụ “đàn bà tội nghiệp” ấy, sau khi đã đóng thật kín cửa nhà, bắt đầu thì thầm với con trai của tên quản gia Khađigi, cặp lông mày nhíu lại, đôi mắt đẹp ánh lên thật ảm đạm.


− Hỡi Chamis, con trai của Chadigi, đây là tiền. Ngay hôm nay, ngươi hãy đi Mêđinét và giao cho Idris bức thư này, bức thư mà thầy cả Benlali thánh thiện đã thảo gửi cho hắn theo lời yêu cầu của ta... Bọn trẻ của các kĩ sư tốt bụng đấy, song nếu như ta không được phép ra đi thì không còn cách nào khác. Ta biết là ngươi không phản ta... Hãy nhớ rằng, ngươi và cha ngươi đều sinh ra từ bộ tộc Đangan, bộ tộc đã sản sinh ra đức Mahdi vĩ đại.


(còn tiếp)


Nguồn: Trên sa mạc và trong rừng thẳm. Tiểu thuyết của Henryk Sienkiewicz - Nobel Văn học 1905. Nguyễn Hữu Dũng dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan. NXB Văn học in nhiều lần. NXB Hội Nhà văn in lần thứ 25 kỷ niệm 100 năm ngày tác giả từ trần (1916-2016).


www.trieuxuan.info







[1] Lễ Ramadan: Lễ của người A Rập, bắt đầu từ tháng hai cho đến hết tháng ba.




 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 16.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
xem thêm »