tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21051483
Tiểu thuyết
18.11.2016
Henryk Sienkiewicz
Trên sa mạc và trong rừng thẳm


Dịch giả: Nhà văn, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Hữu Dũng


LỜI NGƯỜI DỊCH


Trước khi cùng các nhân vật thiếu niên trẻ trung thực hiện chuyến hành trình phiêu lưu cực kỳ gian nan, nguy hiểm mà vô cùng kỳ thú, băng qua gần khắp miền Đông Phi, chịu đựng cái nắng bỏng rát của mặt trời xích đạo, những cơn bão cát điên cuồng trên sa mạc, những đêm trường khủng khiếp trong vòng vây thú dữ, thổ dân, gió mưa, bệnh tật, khát cháy cổ giữa rừng thẳm không một giọt nước và không có vết chân người; bạn đọc hãy cùng tôi tìm hiểu thêm đôi điều về tác giả cùng những hoàn cảnh lịch sử có liên quan đến câu chuyện hấp dẫn này.


Henryk Sienkiewicz (Henrich Sienkiêvich, 1846−1916) là nhà văn xuất sắc của Ba Lan thời cận đại, và là một trong những nhà văn hào lớn của thế giới. Ông được tặng giải Nobel về Văn học năm 1905. Các tác phẩm của ông tràn đầy tinh thần dân tộc, lòng yêu chính nghĩa và công lí, lòng nhân đạo, lên án mọi thứ bất công, mọi hình thức áp bức bóc lột con người.


Henryk Sienkievich sinh ngày 7/5/1846 tại Wola Okszeiska vùng Podlesie, Ba Lan, trong một gia đình quý tộc cổ đã sa sút. Bước vào nghề báo từ năm 1869 bằng những tiểu luận và phê bình sân khấu, Sienkiewicz bắt đầu được chú ý đến như một cây bút có triển vọng với truyện Na marne (Phí hoài, 1872). Trong những truyện ngắn tiếp theo, như Humoreski z teki Woroszyłły (Chuyện khôi hài từ những ghi chép của Woroszyłła, 1872), Stary Sługa (Người đầy tớ già, 1875), Hania (1876) và Selim Mirza (1877), ông đã mô tả một cách sắc nét sự tàn tạ của lối sống phong kiến gia trưởng.


Thời kỳ 1876 -1882 ông đi rất nhiều nơi ở châu Âu, châu Mỹ và cho đăng Listy z podróży (Những bức thư từ các chuyến đi, 1876 -1878) cùng hàng loạt truyện ngắn và truyện vừa rất xuất sắc, trong đó khắc họa nổi bật thân phận của người nông dân. Những tác phẩm xuất sắc nhất trong thời kỳ này là Szkice węglem (Ký họa bằng than, 1877), Na jedną kartę (Chỉ một trang, 1879), Komedia z pomyłek (Hài kịch từ những nhầm lẫn, 1878), Przez stepy (Băng qua thảo nguyên, 1879), W krainie złota (Ở xứ sở của vàng, 1880), Za chlebem (Kiếm miếng bánh mì, 1880), Latarnik (Người gác đèn biển, 1881) Wspomnienia z Maripozy (Hồi ức từ Maripoza, 1882), và Sachem (1883).


Năm 1890-1892 đánh dấu bước ngoặt trong sáng tác của H. Sienkiewicz, từ lĩnh vực truyện ngắn-truyện vừa, sang các tiểu thuyết lịch sử. Ông cho ra đời bộ ba tiểu thuyết lịch sử viết về những cuộc chiến tranh ở Ba Lan hồi thế kỷ XVII: Ogniem i Mieczem (Bằng lửa và gươm, 1883-1894), Potop (Trận hồng thủy, 1884-1886), Pan Wołodyjowski (Ngài Volodyjovxki, 1887-1888). Mang đậm chủ nghĩa yêu nước, tiểu thuyết bộ ba này là một đỉnh cao chói lọi và rất được yêu mến trong sự nghiệp sáng tác của Sienkiewicz.


Tiếp đó, Sienkiewicz hoàn thành hai tiểu thuyết tâm lý xã hội: Bez dogmatu (Phi giáo lý, 1889 -1890) và Rodzina Połanieckich (Gia đình Polaniexki, 1895), phê phán giới quý tộc đang suy đồi.


Đề tài tiểu thuyết lịch sử Quo vadis (1895-1896) là cuộc khủng bố các tín đồ Kito thời hoàng đế Nero ở Cổ La Mã. Những chương đầu tiên xuất hiện trên nhiều tờ báo Ba Lan đã nhanh chóng được in thành sách, và ngay lập tức trở thành tác phẩm được hâm mộ đặc biệt trên toàn châu Âu, được dịch ngay ra nhiều thứ tiếng, kể cả tiếng Nhật và Arập. Tác phẩm cũng được chuyển thể thành opera và là tiểu thuyết đầu tiên được dựng thành phim năm 1913 và nhiều lần về sau.


Tiểu thuyết lịch sử Krzyżacy (Hiệp sĩ Thánh chiến, 1897-1900) miêu tả cuộc chiến tranh giữ nước hồi thế kỷ XV với các trận đại thắng Grunvald lẫy lừng, chống lại các hiệp sĩ thuộc Dòng tu Thánh Chiến, mà thực chất là chống lại đế quốc Phổ, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Ba Lan.


Năm 1905 ông là nhà văn Ba Lan đầu tiên được nhận giải Nobel văn học. Trong đáp từ khi nhận giải thưởng cao quý này, ông nhấn mạnh rằng vinh dự này đặc biệt giá trị cho một người con của dân tộc Ba Lan. Ông tuyên bố: "Người ta nói Ba Lan đã chết, nhưng đây là bằng chứng rằng Ba Lan vẫn chiến thắng!"


Cuối đời, sau khoảng 10 năm bệnh tật liên miên, H. Sienkiewicz cho ra đời cuốn tiểu thuyết du ký rất xuất sắc dành cho bạn đọc trẻ tuổi W pustyni i w puszczy (Trên sa mạc và trong rừng thẳm, 1910-1911).


Ông cũng viết tiểu thuyết Na polu chwały (Trên mảnh đất vinh quang), mà ông dự định là tập đầu của một bộ ba mới, và tiểu thuyết lịch sử Những đội quân lê dương (1913-1914) mà cái chết không cho phép ông hoàn thành.


Henryk Sienkiewicz mất tại Vevey (Thụy Sĩ) ngày 15/11/1916 thọ 70 tuổi. Năm 1924, khi Ba Lan được độc lập, tro di hài của ông được đưa về Ba Lan và được an táng tại nhà thờ Thánh Jan ở Warszawa, bên cạnh các danh nhân dân tộc khác.


Ở Ba Lan, các tác phẩm của Sienkiêvich là sách gối đầu giường của nhiều thế hệ. Trong những năm bọn phát xít Hitle chiếm đóng Ba Lan, chúng ra lệnh cấm đọc, cấm tàng trữ sách của Sienkiêvich; chúng tịch thu và đốt các tác phẩm của văn hào, nhưng nhân dân Ba Lan vẫn bí mật truyền tay nhau đọc, dù bao người vì thế phải bị treo cổ hoặc đưa vào trại tập trung.


Trên văn đàn thế giới, các truyện ngắn, truyện vừa cùng nhiều tiểu thuyết lịch sử rất xuất sắc của ông như: Bằng lửa và gươm, Trận hồng thủy, Ngài Volodyjowski, Quo vadis, Hiệp sĩ Thánh chiến, Trên sa mạc và trong rừng thẳm... được xếp vào hàng các tác phẩm kinh điển, được dịch ra trên bốn mươi thứ tiếng, nhiều lần được dựng kịch, đưa lên màn bạc và rất được ưa chuộng.


*


*   *


Trong di sản văn học đồ sộ của Henryk Sienkiêvich, tiểu thuyết Trên sa mạc và trong rừng thẳm chiếm một vị trí đặc biệt: Đó là tác phẩm duy nhất mà văn hào viết tặng cho các bạn đọc trẻ.


Ngay sau khi xuất bản năm 1911, tác phẩm đã được hoan nghênh nhiệt liệt, được tái bản ngay và được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài. Và trong suốt 105 năm qua, có biết bao thanh thiếu niên đã từng ngưỡng mộ và học tập Staś , từng yêu mến tri kỷ với Nel, từng vui cười với sự láu lỉnh của Kali. Tác phẩm đã khêu gợi khát vọng sống cao đẹp, khát vọng đi tới những chân trời xa, khát vọng thực hiện những kì tích phi thường, vượt mọi hiểm nguy, chiến thắng mọi bất công tàn ác.


Bối cảnh của tác phẩm diễn ra ở vùng hoang mạc Đông Phi, chủ yếu trên lãnh thổ Sudan, diễn biến của chuyến phiêu lưu có liên quan đến phong trào khởi nghĩa Hồi giáo cuối thế kỷ XIX. Tuy nhiên, cách nhìn nhận của nhà văn về phong trào khởi nghĩa của các tín đồ Hồi giáo Sudan dưới sự lãnh đạo của Mahdi chưa hoàn toàn chính xác. Để hiểu rõ bối cảnh diễn ra câu chuyện này, ta hãy dành đôi chút thời gian để đi ngược dòng lịch sử vùng Đông Phi, nhất là lịch sử Sudan.


Sudan là vùng đất có lịch sử văn hóa lâu đời. Khoảng 3000−4000 năm trước Công nguyên đã có người sinh sống trên lãnh thổ nước Cộng hòa Sudan ngày nay. Vùng đất này trước kia được gọi là đất nước Kus, từ thế kỉ thứ X được gọi là Nubia. Dân ở đây là những người thuộc các bộ lạc Ai Cập và Kus cổ.


Khoảng 2000 năm trước Công nguyên, họ dần dần hòa đồng với các bộ lạc da đen phía nam, và ngay từ hồi ấy đã tồn tại hình thức nhà nước sơ khai ở vùng này. Thế kỉ thứ VII trước Công nguyên xuất hiện một vương quốc với thủ đô là Hapate, từ giữa thế kỉ thứ VI trước Công nguyên dời đô đến Maroe. Vương quốc này trải dài trên vùng đất từ thác thứ nhất đến chỗ hội lưu của hai con sông Nin Xanh và Nin Trắng. Người Maroid có văn tự viết theo hệ chữ cái đầu tiên ở Phi châu.


Về tôn giáo, đạo Thiên Chúa bắt đầu xuất hiện ở Sudan vào thế kỉ thứ VI sau Công nguyên. Từ thế kỉ thứ VII, người Thổ Nhĩ Kì bắt đầu thâm nhập mạnh vào Sudan, truyền bá đạo Hồi và văn hóa Ả Rập, đồng thời thiết lập quan hệ phong kiến tập quyền. Cuối thế kỉ thứ XIV đến đầu thế kỉ thứ XVI, ở vùng phía bắc và phía tây Sudan hình thành các vương quốc phong kiến Hồi giáo, quan trọng nhất là Vương quốc Darfur, còn vùng phía nam vẫn là các bộ lạc sinh sống theo quan hệ nguyên thủy.


Là một vùng đất giàu có, cung cấp cho thị trường Trung Cận Đông và thế giới nhiều hàng hóa quý như ngà voi, lông thú, da súc vật, tơ lụa, và nô lệ, Sudan trở thành miếng mồi giành đi giật lại của nhiều thế lực nước ngoài. Năm 1820−1822, Ai Cập xâm chiếm phần lớn lãnh thổ Sudan, chia Sudan thành nhiều tỉnh do các quan lại Ai Cập − Thổ Nhĩ Kì cầm đầu. Cuối những năm 60 đầu những năm 70 của thế kỷ XIX, ảnh hưởng của thực dân Anh ở Sudan tăng dần lên. Năm 1877, Anh buộc Ai Cập phải trao quyền thống trị Sudan cho mình, cử tướng Gordon làm toàn quyền. Quan lại đứng đầu các tỉnh cũng là người Âu.


Chính sách bóc lột hà khắc và chính sách áp bức dân tộc của thực dân Anh và Thổ − Ai Cập đã làm bùng lên phong trào kháng chiến dân tộc rộng lớn của các tầng lớp nhân dân Sudan vào những năm 80−90 của thế kỉ XIX − đó là cuộc nổi dậy của các tín đồ Mahdi (1881−1899). Về hình thức, đây là một cuộc khởi nghĩa tôn giáo, nhưng thực chất đó là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.


Cuộc nổi dậy nổ ra vào tháng 8/1881, dưới sự lãnh đạo của Mahdi, tên  thật    Muhammad Ahmad bin Abd Allah (12/8/1844 – 22/6/1885), còn gọi là Mahdi Điên. Nghĩa quân nhanh chóng chiếm được hàng loạt tỉnh trấn ở Kordofan. Tháng 2/1883, quân khởi nghĩa công phá thành phố El Obeid, thủ phủ hành chính của vùng. Tháng 11/1883, quân khởi nghĩa đánh tan đội quân 10.000 người của tướng Hiks. Tháng 1/1885 tấn công chiếm được Chartum, giết chết viên toàn quyền người Anh là tướng Gordon. Nhiều sĩ quan và binh lính người Ả Rập trong quân đội Anh − Ai Cập chạy sang hàng ngũ nghĩa quân. Một quốc gia phong kiến Hồi giáo được thành lập trên lãnh thổ Sudan ngày nay (trừ Suakim vẫn do quân Anh chiếm giữ). Đó chính là thời kì được H. Sienkiêvich lấy làm nền lịch sử để xây dựng tác phẩm của ông.


Sau khi Mahdi chết (1885) chính quyền vào tay Kali Abdallach Ibn al Said Muhamed (trong truyện gọi là Abdulahi). Ông này đã phát triển quốc gia về thương mại, phát triển nghề thủ công, mở trường học, thực hiện chế độ tôn giáo thống nhất. Tuy nhiên, những mâu thuẫn nội bộ và cuộc tranh giành quyền bính đã làm suy yếu quốc gia Hồi giáo Sudan. Trong khi đó, thực dân Anh ra sức bao vây bờ biển, kích động chính quyền Etiopia mở cuộc chiến tranh chống Sudan, sử dụng sức người sức của của Ai Cập, cộng với vũ khí hiện đại của phương tây chống quốc gia này.


Và đến năm 1896, cuộc chiến tranh của liên minh Anh − Ai Cập chống nghĩa quân Mahdi chính thức nổ ra. Ngày 2/9/1898, quân khởi nghĩa do chính Apdallach thống lĩnh bị đại bại tại Omdurman, chấm dứt sự tồn tại của quốc gia Hồi giáo Sudan Mahdi. Sudan thực sự trở thành thuộc địa của Anh. Tuy nhiên, phong trào chiến tranh du kích của quần chúng nhân dân vẫn còn tiếp tục cho đến cuối tháng 11/1899 mới kết thúc.


Và đó là thời kỳ mà tác giả chọn làm bối cảnh cho câu chuyện kỳ thú này.


*


*   *


Tôi có may mắn được dịch nhiều tác phẩm văn học của các nhà văn nổi tiếng Ba Lan, trong đó có các tiểu thuyết, truyện vừa và truyện ngắn của Henryk Sienkiewwicz, như Quo vadis, Trên sa mạc và trong rừng thẳm, Hania, Hiệp sĩ Thánh chiến,... Càng đọc, càng dịch càng thấu cảm sự diệu kỳ của mối liên kết lòng người của văn chương. Nó là tiếng lòng vô hình mà bền chặt, có sức xuyên thấu thời gian và không gian, có thể khiến những vùng đất xa xôi, những thân phận con người tưởng không hề có gì chung với chúng với ta, bỗng chốc trở nên xiết bao gần gụi. Ðối với riêng tôi, văn học của dân tộc Ba Lan anh em là những tiếng lòng như thế.


Tôi vẫn nghĩ rằng dịch văn học không chỉ là sự chuyển dịch ngữ nghĩa, là sự diễn dịch sang ngôn ngữ khác những điều tác giả đã viết sẵn. Hình như cái cốt lõi vẫn là chuyện tấm lòng, tình yêu, duyên nợ. Người dịch phải có duyên mới tìm được nguyên tác hợp với tâm hồn mình, giữa rừng văn học bao la không dễ phân thật giả, lại phải có duyên mới tìm được lối đến với tâm hồn người đọc giữa muôn nẻo cuộc đời, mới có thể trở thành sứ giả truyền đạt những uẩn ức của tâm hồn tác giả, làm cho những con chữ vốn đã cùn mòn có được cái hồn, khơi gợi, giao lưu và nối kết được với nỗi lòng người đọc.


Tranh thủ những giờ phút rảnh hiếm hoi, tôi đã miệt mài trong gần 40 năm, cố chuyển tải những giá trị tinh tuý của nền văn học Ba Lan bắt nguồn từ tình yêu và sự gắn bó có nguyên do tiền định với một đất nước xa xôi, một dân tộc can trường và nhiều lận đận, như dân tộc Việt Nam.


Tôi dịch Trên sa mạc và trong rừng thẳm song song với kiệt tác Quo vadis trong 4 năm. Hai tác phẩm dịch xuất bản năm 1985-1986 và được Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam. Từ bấy đến nay sách đã tái bản hơn 20 lần. Đây là món quà tuyệt diệu mà văn hào Henryk Sienkiewicz tặng cho bạn đọc trẻ (và không chỉ cho bạn đọc trẻ!) trước lúc đi xa.


Và năm nay, nhân kỷ niệm 100 năm ngày văn hào Henryk Sienkiewicz qua đời (15/11/1916-2016), khi chỉnh sửa lại thêm một lần nữa để giới thiệu với bạn đọc Việt Nam tác phẩm này, chúng tôi tin rằng nó sẽ có ích cho bạn đọc trong quá trình xây đắp và thực hiện những khát vọng cao đẹp trên đất nước tươi đẹp và anh hùng của chúng ta.


Hy vọng là nỗ lực của một người yêu Ba Lan không vô ích, dẫu chỉ như một dòng suối nhỏ len lỏi giữa rừng già, dẫn bạn đọc tìm đến với những dòng sông lớn và cả đại dương - nền văn học với vẻ đẹp mê hồn của dân tộc Ba Lan anh em thân thương.


Nguyễn Hữu Dũng


 


Chương 1


-  Em biết không, Nel, − Staś Tarkowski[1] nói với cô bạn gái người Anh bé nhỏ của mình. − Hôm qua, cảnh sát đã tới bắt vợ viên quản lí Smain cùng với ba đứa con của mụ ta, chính cái mụ Fatma đã mấy lần tới văn phòng của ba anh và ba em đấy.


Còn Nel − cô bé đẹp như một bức tranh, thì ngước cặp mắt màu lục nhạt của mình lên nhìn Staś rồi hỏi, vừa ngạc nhiên vừa sợ hãi:


− Thế họ bắt bà ta bỏ tù à, anh?


− Không, nhưng họ không cho phép mụ ta đi khỏi Sudan. Đồng thời có một nhân viên tới đây để canh không cho mụ ta rời một bước khỏi Port Said.


− Sao vậy hả anh?


Staś  − cậu thiếu niên vừa hết tuổi mười bốn, tuy rất yêu mến cô bạn gái tám tuổi của mình, song vẫn xem đó chỉ là một đứa bé non nớt, liền nói với vẻ mặt rất kiêu:


− Khi nào lớn như anh, em sẽ biết không những chỉ mọi chuyện xảy ra dọc kênh đào này, từ Port Said đến Suez[2] mà còn cả trên toàn bộ đất Ai Cập nữa. Thế em không biết gì về Mahdi[3] hay sao?


− Em nghe nói ông ta xấu xí và không ngoan.


Cậu bé mỉm cười thương hại.


− Ông ta có xấu xí hay không thì anh không biết. Những người dân Sudan thì quả quyết rằng ông ta đẹp tuyệt vời. Nhưng bảo kẻ đã giết hại ngần ấy người là “không ngoan” thì chỉ có thể là một cô nhóc con tám tuổi mặc váy ngắn mà thôi, chỉ ngắn tới đầu gối là cùng.


− Ba em bảo thế, ba em biết giỏi nhất.


− Ba bảo em thế vì nói cách khác thì em không hiểu nổi. Giá nói với anh thì ba em đã chẳng bảo thế. Mahdi còn tệ hơn cả một bầy cá sấu. Hiểu chưa? “Không ngoan”! Hay thật! Nói như với bọn trẻ con mới đẻ ấy.


Song chợt nhìn thấy vẻ mặt xịu đi của cô bé, Staś  liền nín bặt, sau đó nói tiếp:


− Nel, em biết đấy, đâu phải anh muốn chê em. Sẽ đến lúc cả em nữa cũng sẽ mười bốn tuổi. Anh cam đoan với em như thế.


− Thế cơ! − Cô bé đáp với cái nhìn đầy lo lắng. − Nhưng nếu như trước đó Mahdi tiến được vào Port Said và ăn thịt em mất thì sao nào?


− Mahdi không phải là kẻ ăn thịt người, nên hắn không ăn thịt dân chúng mà chỉ giết hại họ thôi. Hắn cũng chẳng tiến nổi tới Port Said đâu, mà nếu như hắn có tiến vào được và muốn giết em, thì trước hết hắn phải đấu với anh đã.


Lời tuyên bố đó cùng với tiếng không khí được hít mạnh vào mũi Staś  không hứa hẹn một điều gì tốt lành cho Mahdi, đã khiến Nel yên tâm về sự an toàn của bản thân mình.


− Em biết − Cô bé nói. − Anh chẳng chịu nộp em cho hắn đâu, phải không? Thế nhưng sao người ta lại không cho bà Fatma rời khỏi Port Said?


− Bởi vì mụ ta là em họ của Mahdi. Chồng mụ ta, gã Smain hứa với chính phủ Ai Cập ở Cairô rằng y sẽ tới Sudan, nơi Mahdi đang ở, để xin tự do cho tất cả những người Âu bị rơi vào tay hắn.


− Cái ông Smain ấy là người tốt hả anh?


− Khoan đã nào. Ba em và ba anh, những người hiểu rõ Smain, hoàn toàn không tin hắn ta chút nào, và đã khuyên pasha[4] Nubar chớ có tin y. Nhưng chính phủ vẫn đồng ý cử Smain đi, và thế là đã nửa năm nay Smain ở tịt chỗ Mahdi. Tù binh không những không được thả về mà lại có tin từ Chartum cho biết rằng, bọn Mahdi đối xử với họ ngày một tàn tệ hơn, còn lão Smain thì sau khi cuỗm tiền của chính phủ đã phản bội. Hắn hoàn toàn ngả hẳn về phía Mahdi và đã được phong tước emir[5]. Người ta còn đồn rằng trong trận đánh khủng khiếp mà tướng Hicks[6] bị tử trận, chính Smain đã chỉ huy pháo binh của quân Mahdi, và hình như chính hắn là kẻ đã dạy cho bọn Mahdi cách sử dụng đại bác, loại vũ khí mà trước đó, vốn là những kẻ mọi rợ, chúng hoàn toàn không biết đến. Bây giờ, lão Smain đang muốn đưa vợ con thoát khỏi Ai Cập, cho nên khi mụ Fatma, con người ngay từ đầu hẳn đã biết mọi chuyện mà Smain làm, muốn bí mật chuồn khỏi Port Said, thì chính phủ liền bắt giữ mụ ta cùng các con mụ lại.


− Nhưng chính phủ sẽ được gì ở bà Fatma và lũ con của bà hở anh?


− Chính phủ sẽ nói với Mahdi: “Hãy trả cho chúng ta các tù binh của ngươi, chúng ta sẽ trả mụ Fatma cho ngươi...”


Câu chuyện tạm bị gián đoạn vì lúc này Staś  chợt chú ý đến những con chim đang bay từ phía Echtum Om Farag về phía hồ Menzaleh. Chúng bay khá thấp, trong bầu không khí trong vắt trông rõ mấy con bồ nông với chiếc cổ cong gấp lại sát lưng đang khoan thai vỗ những đôi cánh khổng lồ. Staś dõi theo đường bay của chúng, em ngẩng đầu lên, chạy mươi bước dọc bờ kênh, vừa chạy vừa vung vẩy đôi tay.


− Nhìn kìa anh, có cả chim hồng hạc đang bay nữa kìa! − Nel bỗng kêu lên.


Staś  đứng sững ngay lại, vì quả thực phía sau đàn bồ nông, nhưng cao hơn chúng một ít, có thể trông thấy hai đóa hoa lớn màu hồng và màu đỏ thắm dường như đang treo lơ lửng trên nền trời xanh thẳm.


− Hồng hạc! Chim hồng hạc!


− Chiều chiều chúng nó thường bay về tổ của chúng trên vùng đảo đấy − cậu bé thốt lên. − Ôi, giá mà anh có khẩu súng nhỉ!


− Anh bắn chúng nó làm gì cơ?


− Phụ nữ không thể hiểu được những chuyện ấy đâu. Nhưng thôi, chúng mình đi tiếp đi, có thể sẽ trông thấy chúng nhiều hơn nữa chăng.


Vừa nói em vừa dắt tay cô bé, cả hai đi về phía bến tàu đầu tiên trên kênh đào tiếp sau cảng Port Said. Theo sau lưng chúng là bà Dina, một phụ nữ da đen, ngày trước từng là nhũ mẫu của Nel. Họ đi dọc bờ đập ngăn nước hồ Menzaleh[7] với kênh đào, trong kênh ấy đang có một chiếc tàu thủy lớn chạy bằng hơi nước của Anh được hoa tiêu dẫn đi. Chiều xuống. Mặt trời hãy còn cao nhưng đã ngả về phía hồ. Làn nước lợ mằn mặn của hồ loang loáng ánh vàng và lung linh phản chiếu muôn sắc cầu vồng. Bên bờ phía Ả Rập, trải dài đến hút tầm mắt là sa mạc trơ trụi, câm lặng, chết chóc, đầy vẻ hằn thù. Giữa bầu trời thủy tinh dường như chết cứng và cái mênh mông vô bờ bến của mặt cát gợn sóng, không hề có một dấu hiệu gì của sự sống. Trong lúc trên mặt kênh đào cuộc sống đang sôi sục, thuyền bè tấp nập, vang rộn tiếng còi tàu, và trên hồ Menzaleh hàng đàn hải âu và vịt trời đang nhộn nhịp đảo chao trong ánh mặt trời, thì phía bên kia, phía bờ Ả Rập lại giống hệt như xứ sở của cái chết. Chỉ khi mặt trời xuống thấp dần và ngày càng ngả sang màu đỏ thì mặt cát mới dần dần nhuốm màu tim tím, màu tím của những mầm cây non trong các khu rừng Ba Lan về mùa thu.


Trong khi đi về phía bến tàu, bọn trẻ con trông thấy vài con chim hồng hạc nữa mà chúng vui sướng ngắm không chán mắt. Sau đó, bà Dina nói rằng đã đến lúc phải quay về nhà. Ở Ai Cập ban ngày thường nóng nực (thậm chí cả trong mùa đông), nhưng ban đêm lại rất lạnh, mà sức khỏe của Nel thì lại đòi hỏi phải hết sức giữ gìn, nên ông Rawlison[8] − cha của cô bé không cho phép cô ở lại bên bờ nước sau khi mặt trời lặn.


Họ bèn quay trở về thành phố. Vila của ông Rawlison nằm ngay rìa thành phố, gần bờ kênh đào. Khi mặt trời lặn xuống biển, họ đã về đến nhà. Một lát sau, kĩ sư Tarkowski − cha của Staś , được mời đến dự bữa cơm cũng tới, và thế là cả nhà, cùng với cô Oliviơ − cô gia sư người Pháp của Nel, ngồi vào bàn ăn.


Đã từ nhiều năm nay, ông Rawlison − một trong các giám đốc của Công ty Kênh đào Suez, và ông Władysław Tarkowski[9] − kĩ sư trưởng của công ty này kết thân với nhau. Cả hai đều góa vợ: Bà Tarkowska vốn dòng dõi người Pháp, đã mất ngay từ khi Staś  vừa chào đời, nghĩa là hơn mười ba năm về trước, còn mẹ của Nel thì qua đời vì bệnh phổi tại Heluan khi cô bé mới lên ba.


Ở Port Said, hai ông bố góa vợ sống trong hai ngôi nhà cạnh nhau, và do công việc của mình, ngày nào họ cũng gặp nhau. Nỗi bất hạnh chung khiến họ xích lại gần nhau hơn và làm cho tình bạn vốn có càng thêm bền chặt. Ông Rawlison yêu Staś  như con đẻ, còn ông Tarkowski thì sẵn sàng nhảy vào lửa và lao xuống nước vì cô bé Nel. Sau khi kết thúc công việc hàng ngày, phút nghỉ ngơi thú vị nhất đối với họ là được trò chuyện về bọn trẻ, về việc giáo dục và về tương lai của chúng. Trong những câu chuyện đó, ông Rawlison thường khen ngợi năng khiếu, nghị lực và lòng can đảm của Staś, còn ông Tarkowski thì lại say sưa với khuôn mặt thiên thần ngọt ngào của Nel. Và cả hai điều ấy đều là sự thật.


Tuy hơi kiêu căng và hơi khoác lác một chút, nhưng Staś  học rất giỏi và các thầy giáo ở trường dạy tiếng Anh tại Port Said, nơi cậu bé học, đều công nhận rằng em có những năng khiếu khác thường. Nếu nói về lòng dũng cảm và tính tháo vát thì em được thừa hưởng ở người cha, vì ông Tarkowski có được những đức tính ấy ở mức độ cao, và cũng chính nhờ có chúng mà ông đã vươn tới cương vị cao cấp hiện tại. Năm 1863[10], ông đã chiến đấu suốt mười một tháng liền không ngơi nghỉ, sau đó ông bị thương, bị bắt, rồi bị đày đi Sibir, ông chạy trốn về Nga rồi thoát ra nước ngoài. Trước khi tham gia khởi nghĩa, ông đã tốt nghiệp kĩ sư, nhưng sau đó, ông còn dành thêm một năm nữa để nghiên cứu thủy lợi học. Rồi sau đó, ông tìm được việc làm ở kênh đào, và chỉ trong vài năm, khi người ta đã đánh giá được sự am tường công việc, nghị lực cùng tính cần cù của ông, ông được nhận cương vị kĩ sư trưởng cao quý ấy.


Staś được sinh ra, nuôi dưỡng và lớn đến năm mười bốn tuổi tại hải cảng  Port Said  trên  kênh  đào, nên các kĩ sư, bạn đồng nghiệp của cha em thường gọi em là “đứa con của sa mạc”. Khi đang đi học, thỉnh thoảng, trong những dịp nghỉ hè hay nghỉ lễ, em lại được cùng với cha hoặc ông Rawlison tham gia các chuyến đi công vụ của họ từ Port Said đến tận Xuez để kiểm tra công việc trên bờ kênh cùng việc nạo vét lòng kênh. Em quen hết thảy mọi người, từ các kĩ sư và các nhân viên thuế quan đến công nhân, những người Ả Rập và người da đen. Em “lùng sục” khắp nơi mọi chốn, tại bất cứ nơi nào đặt chân tới, và dần dần tiến hành những chuyến đi dài dọc theo bờ kênh, đi thuyền trên hồ Menzaleh và nhiều lần bơi thuyền ra khá xa. Em đã từng vượt sang phía bờ Ả Rập và nhảy đại lên lưng một con ngựa của ai đó, hoặc nếu thiếu ngựa thì lạc đà hay thậm chí cả lừa cũng được, đóng vai một tay kị sĩ dũng cảm của sa mạc. Tóm lại, nói như ông Tarkowski, em “chui rúc” khắp mọi nơi, và hễ rảnh rỗi một chút ngoài giờ học là lại lần ngay ra bờ nước.


Người cha không ngăn cản chuyện đó, vì ông hiểu rằng, việc chèo thuyền, cưỡi ngựa và sự tiếp xúc thường xuyên với không khí trong lành sẽ củng cố thêm sức khỏe của đứa trẻ, đồng thời phát triển tính tháo vát của nó. Staś  cao và khỏe hơn nhiều so với những đứa trẻ cùng tuổi, và chỉ cần nhìn vào cặp mắt cậu bé cũng có thể dễ dàng đoán được rằng, nếu lâm vào một chuyện hiểm nguy nào đó thì chắc hẳn cậu bé sẽ dễ phạm sai lầm do quá hăng hái hơn là vì khiếp sợ. Mới mười bốn tuổi đầu, em đã là một trong những tay bơi lội giỏi nhất ở Port Said, điều này không phải là chuyện xoàng, bởi dân Ả Rập và người da đen vốn bơi lội giỏi như cá. Trong khi nhả đạn vào lũ vịt trời và ngỗng trời Ai Cập bằng khẩu súng săn cỡ nhỏ, cậu bé đã rèn luyện cho mình có được cánh tay và con mắt bắn trăm phát trăm trúng. Em ước ao một ngày nào đó sẽ được đi săn các loài thú lớn ở Trung Phi, háo hức lắng nghe những người Sudan làm thuê ở vùng kênh đào, những người này đã từng gặp thú dữ và bọn thú da dày khổng lồ tại quê hương họ.


Điều này còn có thêm một cái lợi nữa là vừa nghe chuyện, cậu bé vừa học được ngôn ngữ của họ. Kênh đào Xuê không những chỉ đào thông là xong mà còn đòi hỏi phải thường xuyên chăm lo tu sửa, vì nếu không thì chỉ trong vòng một năm thôi, cát từ các sa mạc nằm dọc hai bờ kênh sẽ lấp biến nó đi. Cái công trình khổng lồ này của ông Lecxep[11] kéo theo một sự lao động liên tục và đòi hỏi phải thường xuyên cảnh giác. Do vậy, cho tới nay, có hàng loạt máy móc khổng lồ cùng hàng nghìn công nhân, dưới sự giám sát của các kĩ sư thành thạo công việc, lao động nạo vét lòng kênh. Để đào thông con kênh này đã từng phải dùng tới sức của hai mươi lăm nghìn người lao động. Giờ đây, khi công trình đã hoàn thành và lại được trang bị những máy móc hoàn thiện hơn, thì cần ít người hơn hẳn so với trước kia, song số lượng nhân công cho đến nay vẫn còn rất lớn. Trong đó, đại đa số là cư dân trong vùng, cũng không thiếu mặt dân Nubia, Sudan, Somali cùng nhiều dân tộc da đen khác sinh sống ở vùng sông Nin Trắng và sông Nin Xanh, nghĩa là trong những vùng thuộc phạm vi cai trị của chính phủ Ai Cập, trước khi nổ ra cuộc khởi loạn của Mahdi. Staś  sống thân mật với mọi người, và cũng giống như những người dân Ba Lan khác, vốn sẵn có năng khiếu ngoại ngữ, em nắm nhiều thứ thổ ngữ của họ mà chính bản thân em cũng không rõ từ khi nào và tại làm sao nữa. Sinh trưởng ở Ai Cập, em nói tiếng Ả Rập như một người Ả Rập chính thống. Nhờ có những người Zandiba thường được thuê làm thợ đốt lò phục vụ các thứ máy móc, em học được tiếng Ki- swahili − thứ tiếng rất phổ biến trong toàn bộ miền Trung Phi, thậm chí em có thể trò chuyện với những người da đen Đinnếch và Sinlúc sinh sống ở vùng hạ lưu sông Nin, phía dưới Fashoda[12]. Ngoài ra, em nói thạo tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Ba Lan, vì cha em là một người yêu nước nhiệt thành, rất quan tâm đến chuyện làm sao cho cậu bé nói được tiếng quê hương. Dĩ nhiên, Staś  coi tiếng Ba Lan là thứ ngôn ngữ hay nhất trên thế giới, và cậu bé đã dạy cho bé Nel nói tiếng Ba Lan với không ít thành công. Có điều em không làm sao dạy cho cô bé phát âm được đúng tên em là Staś  chứ không phải “Stes”. Cũng chính vì lí do đó mà đôi khi giữa hai đứa trẻ xảy ra chuyện bất hòa, song những chuyện bất hòa đó cũng chỉ kéo dài cho tới khi cặp mắt cô bé bắt đầu long lanh những giọt lệ mà thôi.


Và khi ấy, “Stes” bèn xin lỗi, đồng thời thường tự giận mình.


Song cậu bé có một thói quen xấu là hay tỏ vẻ khinh thường khi nói chuyện về Nel mới lên tám, và so sánh điều đó với tuổi tác và kinh nghiệm sống của bản thân mình. Em cho rằng một thiếu niên mười bốn tuổi, dẫu vẫn chưa hoàn toàn là người lớn, nhưng đã không còn là trẻ con nữa, và đã có khả năng thực hiện được mọi hành động anh hùng, đặc biệt là khi thiếu niên ấy mang trong mình dòng máu Ba Lan hòa dòng máu Pháp. Em khao khát một lúc nào đó sẽ có điều kiện để thực hiện những hành động anh hùng như thế, nhất là để bảo vệ Nel. Cả hai thường tưởng tượng ra đủ mọi loại hiểm nguy khác nhau, và Staś  thường phải trả lời các câu hỏi của Nel xem em sẽ làm gì, nếu như nói thí dụ − một con cá sấu dài mười mét, hoặc một con bọ cạp to bằng con chó bò qua cửa sổ vào nhà cô bé. Song cả hai không một phút nào ngờ được rằng, chẳng bao lâu nữa, thực tế kinh khủng sẽ vượt xa mọi điều tưởng tượng của chúng.


(còn tiếp)


Nguồn: Trên sa mạc và trong rừng thẳm. Tiểu thuyết của Henryk Sienkiewicz. Nguyễn Hữu Dũng dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan. NXB Văn học in nhiều lần. NXB Hội Nhà văn in lần thứ 25 kỷ niệm 100 năm ngày tác giả từ trần (1916-2016).


www.trieuxuan.info







[1]  Phiên âm: Xtas Tarơcốpxki. Người dịch để nguyên tên riêng như trong nguyên bản, chỉ chú thích phiên âm những chữ khó đọc.




[2] Kênh đào Suez (Phiên âm: Xu-ê) là một trong những kênh đào quan trọng nhất thế giới. Kênh ở đông bắc Ai Cập, dài 160km, nối thông Địa Trung Hải với Hồng Hải,  được xây dựng trong khoảng 1859−1869 dưới sự chủ trì của viện sĩ người Pháp F. N.Lecxep. Các hải cảng chính ở hai đầu kênh là Port Said và Suez. (Các chú thích là của người dịch, trừ những chỗ ghi chú chú thích là của tác giả).




[3] Tên thật là Muhammad Ahmad bin Abd Allah (12/8/1844 – 22/6/1885), còn gọi là Mahdi Điên, lãnh tụ phong trào khởi nghĩa Hồi giáo ở Sudan cuối thế kỷ XIX, tự xưng là Mahdi ngày 29/6/1881. Mahdi (hay Madhi), là tên gọi chung của các đấng tiên tri đạo Hồi.




[4] Pasha (hay basha): Tước hiệu vương hầu ở các nước Trung Đông. Nubar Pasha (tháng 1/1825, Izmir, Đế chế Ottoman - 14/1/1899, Paris) là một chính trị gia Ai Cập-Armenia và là Thủ tướng đầu tiên của Ai Cập. Ông là Thủ tướng ba lần trong sự nghiệp của mình. Nhiệm kỳ đầu từ tháng 8/1878 đến 23/2/1879; nhiệm kỳ thứ hai từ 10/1/1884 đến 09/6/1888; nhiệm kỳ cuối cùng từ 16/4/1894 đến 12/11/1895.




[5] Emir (Phiên âm: Êmia): Chức thủ lĩnh quân sự ở các nước Trung Đông.




[6] Nhân vật có thật: đại tá William Hicks (thường gọi là Hicks Pasha, 1830–1883), chỉ huy quân đội Anh-Ai Cập trong cuộc chiến chống nghĩa quân Mahdi (1882-1885) ở Sudan.




[7] Hồ Menzaleh là một đầm nước mặn nằm ở phía đông cửa sông Nil, rộng hơn 180.000 ha,  nhận nước từ các nhánh phía đông của sông Nile, là phần đầu dẫn vào Kênh đào Suez.




[8] Phiên âm: Rôlixơn.




[9] Phiên âm: Vơlađưxoáp Tarơcôpxki.




[10] Năm 1863, nhân dân Ba Lan khởi nghĩa chống lại sự thống trị của Nga hoàng. Cuộc khởi nghĩa bắt đầu từ tháng giêng năm 1863 và kéo dài đến mùa thu năm 1864.




[11] Lecxep (1805−1894): nhà ngoại giao và doanh nhân người Pháp − viện sĩ viện hàn lâm khoa học Pháp, người tổ chức đào kênh xuê (1859−1869). Ông cũng là người tổ chức đào kênh Panama (1879−1889) và chính vì việc này mà ông bị phá sản




[12] Phiên âm: Phasôđa (nay là Côđốc): Thành phố ở Sudan




 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »