tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20208663
07.04.2016
Nhiều tác giả
Những điều cần đọc về chúa Nguyễn Hoàng



Đọc bài cùng chủ đề: Chúa Tiên Nguyễn Hoàng, lập xứ Đàng Trong và Triều Nguyễn với nước Việt Nam thống nhất


Cội nguồn quê hương của Nguyễn Hoàng


Ngày sinh, nơi sinh, ngày mất, nơi mất, nơi an táng, nơi cát táng là những mốc thời gian quan trọng, đáng nhớ của đời người và con cháu vì dân gian coi đó là thể hiện hiếu đạo đối với người đã mất, với tổ tiên, ông bà: Sống nhà thác mồ. Trong các giấy tờ tùy thân thì giấy khai sinh là văn bản gốc quan trọng nhất, trên giấy này ghi rõ họ và tên, ngày tháng năm sinh, quê quán... Con cháu nhiều thế hệ sau phải ghi cho rõ, cho đúng với quê quán của Tiền nhân đã khai sáng ra dòng tộc. Tuổi tác, ngày sinh, nơi sinh được ghi trong gia phả có khác với giấy khai sinh, sai chậy năm tháng với giấy khai sinh của nhiều người. Nhưng tuyệt nhiên giấy khai sinh là văn bản pháp qui, pháp định. Đối với tiền nhân thì người nghiên cứu tiểu sử và sự nghiệp đều dựa vào bản gốc gia phả hoặc sắc phong, văn bằng, học vị, văn bia.


I.NƠI SINH, NƠI MẤT CỦA NGUYỄN HOÀNG


Nguyễn Hoàng sinh ngày 10 tháng 8 năm Ất Dậu (28/8/1525) tại Gia Miêu ngoại trang (không viết hoa hai chữ “ngoại trang”), huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, trấn Thanh Hóa.[1] Chúa Nguyễn Hoàng mất ngày mồng 3 tháng 6 năm Quí Sửu (20/7/1613) tại Dinh Cát thuộc làng Ái Tử, huyện Võ Xương, phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hóa, thọ 89 tuổi. An táng ở vùng núi Thạch Hãn gần sông Thạch Hãn thuộc địa phận làng cổ Thạch Hãn, làng này vào thời điểm lịch sử ấy thuộc huyện Hải Lăng, phủ Triệu Phong. Xin lưu ý đơn vị hành chính “phủ” Triệu Phong vào thời điểm năm 1613. Đời vua Duy Tân có phủ Triệu Phong (nhưng phủ lúc này tương đương với huyện dẫu rằng phủ lớn hơn huyện về đất đai và dân số cỡ bên 10, bên 8). Tiền thân của phủ Triệu Phong ngày nay là huyện Đăng Xương, cải đổi thành Thuận Xương vào năm Kiến Phúc nguyên niên, 1884.


Với tài năng và đức độ của con người phi thường, Chúa Nguyễn Hoàng giữ chức Trấn thủ Thuận Hóa vào tháng 10 năm Mậu Ngọ, 1558, rồi Tổng Trấn hai xứ Thuận – Quảng từ tháng giêng năm Canh Ngọ, 1570 cho đến ngày 3 tháng 6 năm Quí Sửu, 1613. Trong 56 năm cai trị, nhà Chúa đã mất hơn 15 năm bình định vùng biên viễn của nước Đại Việt từ ác địa trở thành thiện địa. Công lao khai hóa của Chúa thật lớn lao như trời biển.


 II. GIA MIÊU NGOẠI TRANG (嘉苗外莊):


Gia Miêu là danh từ riêng chỉ tên “trang” tức trang trại, thôn ấp ở miền bán sơn địa của huyện Tống Sơn. Huyện này có tên là Tống Giang vào triều nhà Trần. Đến đầu đời Hậu Lê được cải đổi tên gọi là Tống Sơn. Huyện này gồm 31 xã, 2 bãi, 9 trang, 1 trại. Đất Gia Miêu đã được phân chia thành 2 trang là Gia Miêu nội trang và Gia Miêu ngoại trang theo làn ranh của chân dãy núi Thiên chạy dài từ phía Tây sang phía Đông. Năm 1803, vua Gia Long đổi tên Gia Miêu ngoại trang thành Quí Hương, huyện Tống Sơn thành Quí Huyện.


Theo tự điển Hán Việt của Thiều Chửu, chữ trang () có đến 7 nghĩa; nghĩa thứ 6: lập riêng cơ sở ở ngoài thành thị cũng gọi là trang. Làng gốc thường lập thêm trang trại ở vùng núi hoặc biển. Cả hai trang nội và ngoại trước xưa được gọi tên là Bái Đáp[2]. Ở tỉnh Ninh Bình ngày nay như xưa kia Thanh Hoa ngoại trấn có địa danh Bái Đính nổi tiếng với nhiều danh lam thắng cảnh.


Văn tế chiến sĩ trận vong của Tiền quân Nguyễn Văn Thành, người làng Bác Vọng, từng giữ Tống Trấn Bắc Thành dưới triều vua Gia Long có câu: “Ba nghìn họp con em đất Bái”. Đất Bái tức Bái Đáp. Ở Thừa Thiên có làng Bái Đáp thuộc tổng Hạ Lang, huyện Quảng Điền. Phép dùng điển trong văn học thật thâm sâu và thâm hậu, có dụng ý xa vời vợi mà ít người tra cứu cho tận ngọn nguồn lạch sông. Thật đúng như lời cụ Huỳnh Thúc Kháng đã nói: “Học Sử nghĩa là sống với người chết, học Địa là sống với non sông”.[3]


Lê Quí Đôn viết xong sách Kiến Văn Tiểu Lục vào tháng 5 năm Đinh Dậu, niên hiệu Cảnh Hưng tức năm 1777.


Sau 6 tháng ở Thuận Hóa giữ chức Hiệp Trấn năm 1776, Lê Quí Đôn trở về Thăng Long lãnh chức Cơ Mật sự vụ kiêm Chưởng Tài Phủ. Sách có đoạn viết:


 “Tôi [Lê Quí Đôn] đã được coi quyển gia phả của người cháu xa đời viên Chiêu Huân Công (昭勳公) xuất trình. Trong phả có chép việc về năm Thuận Thiên năm thứ 2 (1429), cấp ruộng lộc cho viên chỉ huy khai quốc công thần là Nguyễn Công Duẩn (阮公筍) như sau:


 “Chuẩn lấy Trang Xã ở huyện Tống Sơn là ruộng của nhà thế gia triều trước, nay tuyệt, không người thừa kế. Và ruộng đất bỏ hoang, cho Công Duẩn làm của riêng, cọng 470 mẫu”. [4]


III. BÁI TRANG, BÁI ĐÁP


Chiêu Huân Công là gọi tắt tước hiệu Vua Lê Trang Tôn ban tặng cho Nguyễn Kim (1468-1545) sau khi mất. Đúng ra đầy đủ 4 chữ Chiêu Huân Tĩnh Công. Vua Lê Trang Tôn (1533-1548) ban chiếu tặng Nguyễn Kim làm Chiêu Huân Tĩnh Công, thụy là Trung Hiến. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư viết:


 “[Vua Lê Trang Tôn] sai người rước Linh cữu về Bái Trang, huyện Tống Sơn làm lễ chôn rất hậu. Phong cho con trưởng là Uông làm Lãng Quận Công, con thứ là Nguyễn Hoàng làm Hà Khê Hầu, sai coi quân đánh giặc”.[5]


Vậy thì tên gọi “Bái Trang” có trước Gia Miêu ngoại trang mà phần dẫn ở bên trên chúng tôi đã tìm ra địa danh “Bái Đáp”. Chưa biết rõ ràng địa danh Bái Trang có trước hoặc sau địa danh Bái Đáp. Chúng tôi có tư kiến riêng cho tên gọi Bái Trang phải có sau Bái Đáp; và tên gọi địa danh Bái Trang có trước tên gọi địa danh Gia Miêu ngoại trang mới thuận nghĩa lý. Thiết nghĩ đó những địa danh cần được tra cứu và giải thích rạch ròi.


Năm 1545 tước của Nguyễn Hoàng là Hà Khê Hầu; năm Mậu Ngọ Nguyễn Hoàng lãnh tước vua ban Đoan Quốc Công, lúc này Nguyễn Hoàng tuổi đời 34 năm. Lúc Nguyễn Kim mất Nguyễn Hoàng đã 21 tuổi. Nguyễn Uông đã lãnh tước Lãng Quận Công – Trịnh Kiểm giữ chức Thái sư cho vua Lê và được ban tước Lạng Quốc Công.


Cụ Tôn Thất Hân chấp bút viết PHỔ HỆ NHÀ NGUYỄN TRƯỚC GIA LONG bằng chữ Hán. Dịch ra tiếng Pháp là công của Thông ngôn Tây Âu Bùi Thanh Vân nhờ sự hỗ trợ của nhà Nho Trần Đình Nghi. Dịch ra tiếng Việt là hai dịch giả Bửu Ý và Phan Xưng. Nguồn sử liệu này rất quý giá. Cái đáng bàn là văn phong bản dịch từ không nhuần nhuyễn của bản tiếng Pháp sang tiếng Việt.


Theo Phổ hệ nói trên thì từ Chúa Nguyễn Hoàng trở lên thêm được 14 đời:


          Đời thứ 1: Nguyễn Bặc sinh ra Nguyễn Đạt


          Đời thứ 2: Nguyễn Đạt là cha Nguyễn Phụng


          Đời thứ 3: Nguyễn Phụng là cha của Nguyễn Nộn


          Đời thứ 4: Nguyễn Nộn là cha của Nguyễn Thể Tứ


          Đời thứ 5: Nguyễn Thể Tú là cha của Nguyễn Điền


          Đời thứ 6: Nguyễn Điền  là cha của Nguyễn Luật


          Đời thứ 7: Nguyễn Luật  là cha của Nguyễn Minh Du


          Đời thứ 8: Nguyễn Minh Du là cha của Nguyễn Biện


          Đời thứ 9: Nguyễn Biện  là cha của Nguyễn Lữ


          Đời thứ 10: Nguyễn Lữ là cha của Nguyễn Sự


          Đời thứ 11: Nguyễn Sự là cha của Nguyễn Công Chuẩn


          Đời thứ 12: Nguyễn Công Chuẩn là cha của Nguyễn Như Trác


          Đời thứ 13: Nguyễn Như Trác là cha của Nguyễn Văn Hưu


          Đời thứ 14: Nguyễn Văn Hưu (Hựu) là cha của Triệu Tổ tức Nguyễn Kim


Nhờ công trình biên khảo của cụ Tôn Thất Hân, mà phần Thủy Tổ Phả của sách NGUYỄN PHÚC TỘC THẾ PHẢ của các tác giả Vĩnh Cao, Vĩnh Dũng, Tôn Thất Hanh, Vĩnh Khánh, Tôn Thất Lôi, Vĩnh Quả, Vĩnh Thiều trở nên có giá trị hơn về mặt sử học và gia phả. Xin liệt kê các thế hệ gồm 15 đời.


         I.       Thủy tổ            NGUYỄN BẶC                 (924-979)


         II.      Đệ nhị tổ          NGUYỄN ĐÊ                    (? - ?)


         III.     Đệ tam tổ         NGUYỄN VIỄN                (? - ?)


         IV.    Đệ tứ tổ            NGUYỄN PHỤNG            (? – 1150)


         V.     Đệ ngũ tổ         NGUYỄN NỘN                 (? – 1229)


         VI.    Đệ lục tổ          NGUYỄN THẾ TỨ           (? - ?)


         VII.   Đệ thất tổ         NGUYỄN NẠP HÒA        (? – 1377)


         VIII. Đệ bát tổ          NGUYỄN CÔNG LUẬT   (? – 1388)


         IX.    Đệ cửu tổ         NGUYỄN MINH DU         (1340 – 1390)


         X.     Đệ thập tổ        NGUYỄN BIỆN                (? - ?)


         XI.    Đệ thập nhất tổ                                          NGUYỄN CHIẾM         (? - ?)


         XII.   Đệ thập nhị tổ NGUYỄN SỪ                    (? - ? )


         XIII. Đệ thập tam tổ                                           NGUYỄN CÔNG DUẨN        (? - ? )


         XIV. Đệ thập tứ tổ   NGUYỄN NHƯ TRÁC     (? - ? )


         XV.   Đệ thập ngũ tổ                                            NGUYỄN VĂN LỰU    (? - ? )            [6]


Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả bằng tiếng Việt đời nay là một công trình biên soạn từ nhiều năm trong hoàn cảnh đầy khó khăn về tư liệu, về nhân sự... Các soạn giả đã làm sáng rõ thêm về nguồn gốc triều đại các Chúa Nguyễn, vua Nguyễn, làm xích lại khoảng cách giữa nhân gian với dòng tộc Nguyễn Phúc vì địa bạ và gia phả các làng xã, họ tộc một thời trong quá khứ đã có những bậc tiên hiền, quan lại, danh tướng, phò mã, phủ thiếp phụng sự quốc triều Nguyễn trong việc khai hóa quốc dân, mở mang bờ cõi đất nước bằng con đường hòa bình và nhân ái. Ngoài dân gian, dù cho là người bình dân đã kết tình thông nghị với hậu duệ dòng tộc Nguyễn Phúc đúng nghĩa với quan niệm: “thông gia là bà con tiên”.


Đối chiếu hai bản của Tôn phả chép về các thế hệ trước Triệu Tổ Nguyễn Kim và Thái Tổ GIA DŨ HOÀNG ĐẾ húy Nguyễn Hoàng (1525-1613) thì dễ thấy những khuyết nghi mà đời sau đã bổ sung cho đời trước.


Định Quốc Công húy Nguyễn Bặc (924-979) được xem như Thủy Tổ của dòng tộc Nguyễn Phúc. Chữ lót giữa họ và tên này còn được đọc là “Phước” ở ngoài dân gian. Ngày xưa, những ai là họ Nguyễn thuộc bách tánh đã nghiêm túc kiêng tránh chữ lót này. Phụ chính Đại thần Nguyễn Văn Tường, người làng An Cư, huyện Thuận Xương (Triệu Phong ngày nay) do nhầm lẫn lấy tên họ Nguyễn Phước Tường bị buộc phải cải đổi từ Nguyễn Phước Tường thành Nguyễn Văn Tường. Có rất nhiều sĩ phu, quan lại, danh tiếng, thí sinh được các vua Nguyễn cho đổi tên, đổi chữ lót. Cụ thể là Phụ chính Đại thần Trần Tiễn Thành lúc đi thi đỗ Tiến sĩ dưới triều vua Tự Đức được nhà vua cho đổi tên cũ Trần Thời Mẫn thành họ tên mới là Trần Tiễn Thành và họ Trần ở thôn Minh Thanh, huyện Hương Trà lấy tên “họ Trần Tiễn”. Người Nam Kỳ lục tỉnh rất biết ơn sâu của các chúa Nguyễn và vua Nguyễn nên đã nghiêm cẩn trong việc gọi tên làng, tên họ, tên người.


Sách NGUYỄN PHÚC TỘC THẾ PHẢ đã dẫn ở bên trên đã chép và xếp NGUYỄN CÔNG DUẪN (? - ?), Đệ thập tam tổ (trước Nguyễn Kim 4 đời, trước Nguyễn Hoàng 5 đời). Ở trang 78 sách vừa nói trên có viết:


Ngài [Nguyễn Công Duẫn] được thăng làm Phụng Trực Đại Phu Đô Đốc thiêm sự, Đô kiểm sự, lãnh việc quân dân ở huyện Tống Sơn và được vua ban cho gần 500 mẫu ruộng. Ngài được xếp vào làng Khai quốc Công thần bình Ngô và được ban quốc tính Lê”


Nay chúng tôi tra lại sách ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ, Tập 2, Nxb Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, tr.102 viết:


 “Năm Kỷ Dậu thứ 2 niên hiệu Thuận Thiên [tức năm 1429]: Tháng 5, ngày mồng ba ban biển ngạch công thần cho 93 viên: Huyện thượng hầu 3 người là Lê Vấn, Lê Sát, Lê Văn Xảo, Thượng hầu 1 người là Lê Ngân; Hương thượng hầu 3 người là: Lê Lý, Lê Văn Linh, Lê Quốc Hưng; Đình thượng hầu 14 người là: Lê Chích, Lê Văn An, Lê Liệt, Lê Miễn, Lê Lễ, Lê Chiến, Lê Khôi, Lê Đính, Lê Chuyết, Lê Lỗi, Lê Nhữ Lâm, Lê Sao, Lê Kiệm, Lê Lật; Huyện hầu là 14 người là Lê Bi, Lê Bì, Lê Bĩ, Lê Náo, Lê Thu, Lê Lôi, Lê Khả, Lê Bôi, Lê Khả Lang, Lê Xí, Lê Khuyển, Lê Bí, Lê Quốc Trinh, Lê Bật; Á hầu 26 người là bọn Lê Bạn, Lê Trãi; Quan nội hầu 16 người là bọn Lê Cuống, Lê Dao. Thượng trí tước phục hầu 4 người là bạn Lê Khắc Phục, Lê Hài” [7]


Trong Quốc sử đời Hậu Lê, không ghi đầy đủ tên họ 93 viên được phong khai quốc công thần và ban quốc tính mà chỉ ghi tên 42 viên. Chúng tôi tin rằng tên của bậc tiền bối Nguyễn Công Duẫn còn đọc là Nguyễn Công Chuẩn (viết dấu hỏi).


Từ điển Hán Việt của Thiều Chửu cho biết:


Chữ Duẫn (viết có dấu ngã (~):  (tr.560) và chữ duẩn (viết dấu hỏi (?) (tr.563) được dùng nghĩa như chữ (duẩn) có nghĩa là măng tre, cái xà ngang để treo chuông khánh. Chữ còn đọc là tấn: cái xe bằng trúc.


Chữ chuẩn (tr. 56, 369, 425, 585, 924) viết dấu hỏi có đến 5 chữ đều có mặt chữ không giống với chữ của Lê Quí Đôn đã viết trong sách Kiến Văn Tiểu Lục. Lần lượt ghi lại 5 nghĩa: định đúng, gọt gỗ cho ngàm vào đúng mộng, bằng phẳng, thành thực, một loài chim cắt.


Tôi chọn chữ Duẫn (viết dấu ngã) như Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả, không đồng tình với dịch giả Lê Mạnh Liệu bởi lẽ cụ Liệu không phải là “người trong cuộc” như hậu duệ nhà Nguyễn hôm nay đã thấm chữ nghĩa của tên húy tận máu thịt. Chỉ tiếc một điều là do hạn chế của nhà in sách năm 1995, đã viết giúp chữ Hán sai thiếu nét ngang dài. Tôi viết ra hai chữ: chữ đúng của chữ Duẫn () chữ Duẫn do in sai . Chữ vừa viết thiếu nét ngang dài . Một việc nhỏ mà bỏ qua là có tội! Vua Lê đã phong cho Nguyễn Uông làm Lãng Quận Công, Nguyễn Hoàng làm Hà Khê Hầu vào năm 1545 (lúc này Nguyễn Hoàng đã hơn 20 tuổi) vào năm 1545 dưới thời vua Lê Trang Tôn mà sách Từ Điển Nhà Nguyễn của Võ Hương An xuất bản năm 2012 tại nước ngoài cụ thể là Mỹ Quốc cho rằng năm 1545 Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng “đang còn nhỏ”.[8]


Tìm về quê hương nhà Nguyễn, trước tiên và cũng là bước đầu là tìm hiểu về tiểu sử của Nguyễn Công Duẫn được xem như Thủy tổ của Gia Miêu ngoại trang nay là thôn Gia Miêu thuộc xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Nhưng tiểu sử của Nguyễn Công Duẫn còn nhiều khuyết nghi, ngay cả năm sinh và năm mất vẫn còn là hai dấu hỏi.


Lê Quí Đôn phanh phui ra cái chìa khóa là ruộng lộc của ông được nhà vua cấp 470 mẫu[9] là ruộng bỏ hoang do triều trước.


Cụ Tôn Thất Hân đã tìm ra nguồn tư liệu gốc rất tôn quý là “Biên bổn Gia Miêu Ngoại Trang công tính chính chi khai trần phổ hệ”, để khẳng định:


“Vị tổ đầu tiên là Nguyễn Công Chuẩn, phong hàm Thái Bảo Hoàng Quốc Công, con trai thứ tư của Chiêu Quang Hầu. Ông được phong Công Thần Khai Quốc và họ của ông được đổi thành Lê do Lê Thái Tổ (1428-1433).”


Như trên đã nói trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư cho biết trong 93 viên được phong Khai quốc Công thần thì chỉ ghi rõ họ và tên 42 viên, trong đó không có tên Nguyễn Công Chuẩn. Danh sách 42 vị được kê tên là Khai quốc Công thần và đổi họ gốc sang quốc tính họ Lê. Đó là một nghi án lịch sử. 51 vị còn lại trong tổng 93 viên không được nhà Lê cho đổi họ sang họ Lê không có tên ông Chuẩn. Khai quốc công thần có 2 loại: đổi họ, không đổi họ.


Ở sách Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả, Sđd xuất bản năm 1995 lại hé lộ cho tôi một hướng đi tìm ở cho ra cái mà mình đang bí. Ở phần chú thích ở trang 78 có chú thích (1) như sau: “Trích chiếu tuyên dương công trạng năm Thuận Thiên thứ 2”. Trình độ của tôi hạn chế, tôi lại tìm đọc Đại Việt Sử Lý Toàn Thư, đặc biệt chú ý đến niên hiệu Thuận Thiên thứ 2 tức năm Kỷ Dậu 1429, cho nên mới phát hiện ra điều này. Tôi đọc biên niên sử 3 triều vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tôn, Lê Nhân Tông nhưng không tìm thấy danh xưng Thái Bảo Hoàng Quốc Công Nguyễn Công Chuẩn.


Căn cứ vào sổ bộ của Gia Miêu Ngoại Trang thì từ Nguyễn Bặc cho đến Nguyễn Văn Lưu là cha của Triệu Tổ hay Nguyễn Kim là 14 đời. Còn theo Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả là 15 đời. Chúng tôi tin là có ông NGUYỄN CÔNG DUẪN (trước phiên âm là Chuẩn); đời vua Gia Long phiên âm là Chuẩn, như sổ bộ của Gia Miêu ngoại trang; còn chức tước và phẩm hàm Thái Bảo Hằng Quốc Công thì tra cứu chưa ra ở sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Có thể phẩm hàm ấy được chép từ một nguồn sử liệu nào thì chúng tôi chưa biết. Đó là một nghi án, cần rà soát lại để dễ thuyết phục người đọc thì càng quý giá.


IV. QUÊ HƯƠNG VIỄN XỨ CỦA CHÚA NGUYỄN HOÀNG


Tìm chữ chưa ra, tạm dùng chữ “Tiền thân” của Gia Miêu ngoại trang nghĩa là trước đời Nguyễn Công Chuẩn (đời thứ 13 theo Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả năm 1995; đời thứ 11 theo Sổ bộ của Gia Miêu ngoại trang) thì đời Nguyễn Sự ở sơn động như các vị đời trước. Sách này lấy Thủy Tổ của dòng họ Nguyễn Phúc là Quốc Công Nguyễn Bặc (阮匐), có quê hương Đại Hoàng, Gia Viễn, Ninh Bình. Về quê hương của Nguyễn Bặc vẫn chưa khẳng định, người thì bảo là Gia Miêu ngoại trang, người thì là làng Đại Hữu, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Đây lại thêm một khuyết nghi lịch sử nữa, cần được khai tỏ.


Đến đây, chúng tôi phải tra cứu Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi:


 “Phủ Trường Yên (Tràng An) có 3 huyện, xưa phủ này có tên là Đại Hoàng, có 3 huyện, 263 xã. Huyện Gia Viễn có 73 xã, 4 trang, 1 trại, 2 phường, 1 tuần. Thời nhà Lý thì Gia Viễn, Trường Yên (Tràng An) thuộc phủ THANH HOA”.


Năm 2008, chúng tôi gồm nhà báo Dương Phước Thu, thầy Châu Trọng Ngô, anh Trần Viết Điền đi Ninh Bình tham dự Hội thảo tại Văn Miếu, Hà Nội năm 2008 về chủ đề Phật hoàng Trần Nhân Tông đã đến thăm mộ tổ của họ Châu, họ Lê ở Ninh Bình. Chúng tôi đã khảo cứu Tràng An (tức Trường Yên) đầy đủ, đăng trên Tập san Hội nhà báo Thừa Thiên - Huế, cuối năm 2008 nhân dịp Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Đó là cớ sự tôi đi ngược dòng lịch sử để tìm hiểu về Tây Đô, về Tràng An. Nay có duyên tôi viết tham luận này. Gia Viễn tức tên mới Đại Hoàng có từ đời nhà Lý. Đại Hoàng là tên huyện chứ không phải tên làng như một số người đã nhầm lẫn.


*


 Tìm về quê hương viễn xứ của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng thật là lý thú dẫu rằng rất mệt, tổn hao nhiều công sức. Nhưng lý thú là tìm ra được một cầu nối mà chúng tôi thường hay nói là “cầu không vận” giữa ÁI TỬ - TRÀ BÁT – DINH CÁT với THANH HÓA, NINH BÌNH.


Khởi nguồn cho việc Chúa Nguyễn Hoàng mang gươm đi mở nước và giữ nước bằng đường lối hòa bình, ÁI TỬ (Quảng Trị) trở thành bệ phóng, mà nguồn gốc phát tích là TRÀNG AN – GIA MIÊU thuộc Thanh Hoa ngoại trấn và Thanh Hoa nội trấn.


Thật là hưng phấn tinh thần khi tìm ra cội nguồn quê hương của Nhà Nguyễn. Xin trình lên Hội thảo khảo luận này với một số nghi án cần được cẩn án làm sáng tỏ thêm lên về quá trình giữ nước và mở nước của nước Việt oai hùng mà giặc ngoại bang không hiểu, không nghiên cứu sâu xa cho nên đành đầu hàng, cuốn cờ mà chạy thục mạng về nước.


Lê Quang Thái


____


[1] Đời Lê Trung Hưng trở về trước chưa có đơn vị tổng (gồm làng). Thanh Hóa tên gốc ban đầu Thanh Hoa nội tức Thanh Hóa. Thanh Hóa ngoại tức Ninh Bình. Xem Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi.


[2] Bái Đáp là nơi an táng Nguyễn Kim như sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đã chép, tr.626 và Thực Lục tr.26, Sđd, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 2004, tr.26


[3] QUỐC SỬ TẠP LỤC, Nguyễn Thiệu Lân, Nxb Khai Trí, Sài Gòn, 1969, tr.51


[4] KIẾN VĂN TIỂU LỤC, Lê Quí Đôn, Lê Mạnh Liệu dịch, Sài Gòn, 1973, tr.217


[5] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Tập 2, Nxb Văn Hóa – Thông Tin, Hà Nội, 2004, tr.626


[6] Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả; Sđd tr. 17


[7] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Sđd, tr.102


[8] Từ điển Nhà Nguyễn, Võ Hương An, Nxb Nam Việt, Califonia, USA, 2012, tr.431


[9] Có một sai số khá lớn giữa 470 mẫu ruộng lộc cấp cho ông Nguyễn Công Chuẩn, với con số gần 500 mẫu đã ghi trong Nguyễn Phúc Thế Phả xuất bản năm 1995.


 


Nguyễn Hoàng với bài học vượt qua hiểm họa, dựng xây nghiệp lớn


Nguyễn Hoàng sinh ngày 28 tháng 8 năm 1525, tức ngày 10 tháng 8 năm Ất Dậu, mất ngày 20 tháng 7 năm 1613, tức ngày 3 tháng 6 năm Quý Sửu, thọ 89 tuổi, trong đó có 56 năm (1558 - 1613) làm trấn thủ Thuận Hoá rồi sau đó kiêm trấn thủ Quảng Nam. Trải 56 năm dựng nghiệp, Nguyễn Hoàng đã làm nên những công tích to lớn, hiển hách, xứng danh là vị chúa mở cõi đầu tiên của các chúa Nguyễn.


 


Nghiên cứu lịch sử là nghiên cứu những bài học và kinh nghiệm của lịch sử để lại. Lịch sử chỉ xảy ra có một lần, nhưng những bài học và kinh nghiệm của lịch sử để lại cần phải học mãi để làm giàu vốn liếng tích lũy và  trải nghiệm từ quá khứ nhằm tạo nguồn lực vững tiến tới tương lai. Nghiên cứu về Nguyễn Hoàng dựng nghiệp tại Quảng Trị, thiết nghĩ là nằm trong mục đích đó.


 


Trong cuộc đời thăng trầm lạ lùng của mình, Nguyễn Hoàng đã để lại cho đời những bài học và kinh nghiệm thành công nào?


 


Nuôi chí lớn và truyền chí lại


 


Nguồn hun đúc nên chí lớn của Nguyễn Hoàng chính là truyền thống gia đình, dòng tộc. Nguyễn Hoàng xuất thân từ một gia đình danh giá ở Thanh Hóa. Dòng tộc Nguyễn Hoàng có thủy tổ là Định Quốc Công Nguyễn Bặc, vị khai quốc công thần của nhà Đinh, từng giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân.


 


Theo “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn và “Việt sử xứ Đàng Trong” của Phan Khoang, tiên tổ của Nguyễn Hoàng là Nguyễn Công Duẩn, người Gia Miêu ngoại trang, huyện Tống Sơn, Thanh Hóa, có công giúp vua Lê Thái Tổ (tức vua Lê Lợi) định thiên hạ, làm quan đến Phụng thần vệ tướng quân Gia đình hầu, được tặng Thái bảo Hoành quốc công. 


 


Con Nguyễn Công Duẩn là Nguyễn Đức Trung, đời vua Lê Nhân Tông, làm Điện tiền chỉ huy sứ, cùng với Nguyễn Xí diệt nghịch đảng, rước lập vua Lê Thánh Tông lên ngôi, làm quan đến Đô đốc Trinh quốc công, có nhiều công trạng, khi mất được tặng Thái uý Trinh quốc công. Con gái Nguyễn Đức Trung (có tài liệu ghi tên là Nguyễn Thị Hằng) làm tiệp dư của vua Lê Thánh Tông, sinh ra vua Lê Hiến Tông.


 


Con Nguyễn Đức Trung là Nguyễn Văn Lãng tinh thông thao lược, giỏi thiên văn, có sức khỏe bắt được hổ. Lúc đang làm Thuỷ quân vệ Chỉ huy sứ, giữ thành Tây đô, thấy vua Lê Uy Mục vô đạo, bèn tập hợp quân ở phủ Thanh Hoá, tôn Lê Tương Dực lên ngôi vua, vây hãm kinh thành, giết vua Lê Uy Mục. Nguyễn Văn Lãng được phong Thái uý Nghĩa quốc công, Bình chương quân quốc trọng sự, lúc mất được tặng Nghĩa huân vương.


 


Con Nguyễn Văn Lãng là Nguyễn Hoằng Dũ, làm quan đến Đô đốc An hoà hầu, có tài văn võ, đánh giặc Trần Cảo. Nghe tin Nguyên quận công Trịnh Duy Sản giết vua Lê Tương Dực, bèn đem quân đến đốt kinh thành. Trịnh Duy Sản sợ, rước lập vua Lê Chiêu Tông lên ngôi, vào Tây đô, do kinh thành đã bị tàn phá. Thấy triều đình bỏ kinh đô, Trần Cảo đem quân đến chiếm, tiếm hiệu làm vua. Nguyễn Hoằng Dũ đánh tan Trần Cảo, lấy lại kinh thành.


 


Con Nguyễn Hoằng Dũ là Nguyễn Kim, thân phụ của Nguyễn Hoàng.


 


Theo “Đại Nam thực lục”, thân phụ của Nguyễn Kim, húy là Dụ. Lên 8 tuổi đã biết làm văn, 18 tuổi thông thuộc võ nghệ. Dưới thời Lê Hiến Tông, làm Kinh lược sứ Đà Giang. Lúc thấy Lê Uy Mục vô đạo, bèn giúp Lê Oanh khởi binh ở Thanh Hóa, giữ yên xã tắc. Lúc Lê Oanh lên làm vua, tức vua Lê Tương Dực, được phong làm thái phó Trừng quốc công.


 


Theo “Nguyễn Phúc tộc thế phả”, NXB Thuận Hóa, Huế, 1995, tiên tổ Nguyễn Hoàng, tính từ đời Nguyễn Công Duẩn đến Nguyễn Kim, có những điểm khác với cách viết của Lê Quý Đôn, của “Đại Nam thực lục” và Phan Khoang.


 


Viết về Nguyễn Công Duẩn, “Phủ biên tạp lục”, “Việt sử xứ Đàng Trong” và “Nguyễn Phúc tộc thế phả” đều nêu bật công lao của ông đối với vua Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn, nhưng “Nguyễn Phúc tộc thế phả” viết kỹ hơn. Theo “Nguyễn Phúc tộc thế phả”, Nguyễn Công Duẩn đã cung cấp cho nghĩa quân của Lê Lợi hàng nghìn thạch thóc, hàng trăm bao muối; giúp vận chuyển lương thực, vũ khí; giúp đem binh giải vây, đuổi giặc; giữ cửa ải Lê Hoa, Lào Cai, chống nhau với giặc Minh. Khi khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, vua Lê Thái Tổ đã tuyên dương công trạng Nguyễn Công Duẩn: “Nhà ngươi không lười điều binh, tiến lương, vào ra nguy hiểm không quản sống chết. Nhớ công ngươi bẻ gãy ngọn giáo, làm quằn lưỡi gươm quân thù, thừa thắng đánh giặc, một mình rong ruổi đông tây, ngăn sông phá núi để lo nạn nước. Công lao ngươi mọi người đều biết, thật là cảm kích” (1). Nguyễn Công Duẩn được xếp vào hàng khai quốc công thần bình Ngô và được ban quốc tính họ Lê.


 


Nguyễn Công Duẩn cũng có người con tên là Nguyễn Đức Trung (như Phan Khoang đã viết), nhưng Nguyễn Đức Trung không nằm trong dòng trực hệ sinh ra Nguyễn Hoàng về sau mà vị trí này, theo Nguyễn Phúc tộc thế phả, thuộc về một người con khác của Nguyễn Công Duẩn, đó là Nguyễn Như Trác. Nguyễn Như Trác làm quan dưới hai triều vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497) và Lê Hiến Tông (1497 - 1504), chức Tham đốc, tước Hầu.


 


Con Nguyễn Như Trác là Nguyễn Văn Lựu (cũng đọc là Lưu). Hiếu học từ bé, 8 tuổi biết làm văn, 15 tuổi tinh thông võ nghệ. Dưới triều vua Lê Hiến Tông, giữ chức Kinh lược sứ Đà Giang. Đời vua Lê Tương Dực (1509 - 1516), biến loạn xảy ra, Trần Cảo chiếm lấy Đông Đô. Nguyễn Văn Lựu đem quân từ Thanh Hóa ra đánh chiếm lại Đông Đô, rước vua Lê Tương Dực về. Nguyễn Văn Lựu được phong làm Thái tể Trừng quốc công.


 


Con Nguyễn Văn Lựu là Nguyễn Kim, “Nguyễn Phúc tộc thế phả” đọc là Nguyễn Cam và cho rằng, theo phát âm của Khang Hy tự điển, chữ         lâu nay quen đọc là “Kim”, phải đọc là “Cam” mới đúng.  


 


Dù phả hệ từ Nguyễn Công Duẩn đến Nguyễn Hoàng còn có những cách viết khác nhau, không thống nhất, nhất là việc xác định ai là thân phụ của Nguyễn Kim: Nguyễn Hoằng Dụ hay Nguyễn Văn Lựu, nhưng rõ ràng, sử sách, kể cả sách của Lê Quý Đôn, một sử thần của chúa Trịnh đều khẳng định công lao giúp vua, giúp nước của dòng tộc đã sinh ra Nguyễn Hoàng.


 


Thân phụ của Nguyễn Hoàng là Nguyễn Kim, làm Hữu vệ điện tiền tướng quân, An thành hầu. Khi xảy ra sự biến Mạc Đăng Dung cướp ngôi vua Lê, Nguyễn Kim đã tránh sang Lào, xây dựng lực lượng, nuôi chí khôi phục nhà Lê. Nguyễn Kim đã đem quân về nước, đánh thắng quân Mạc nhiều trận. Năm 1533, Nguyễn Kim tìm được người con trai nhỏ của vua Lê Chiêu Tông, tên là Ninh đang sang Lào tránh nạn, tôn lên làm vua, tức là vua Lê Trang Tông. Lúc Nguyễn Kim tránh sang Lào, Nguyễn Hoàng mới lên 2 tuổi, được cậu ruột là Nguyễn Ư Dĩ nuôi dưỡng. Lúc Nguyễn Hoàng 20 tuổi, Nguyễn Ư Dĩ thường khuyên Nguyễn Hoàng lập công danh sự nghiệp. Nguyễn Hoàng làm quan dưới triều Lê, lúc đầu được phong là Hạ Khê hầu, cầm quân đánh Mạc Phúc Hải (con trưởng Mạc Đăng Doanh), chém được tướng là Trịnh Chí ở huyện Ngọc Sơn, được vua khen: “Thực là cha hổ sinh con hổ”. Đến đời vua Lê Trung Tông, do có quân công, Nguyễn Hoàng được phong Đoan quận công. Khi vào trấn nhậm Thuận Hóa, được sự giúp sức của Nguyễn Ư Dĩ, Nguyễn Hoàng có điều kiện để thực hiện trọn vẹn lời khuyên của người cậu ruột.


 


Chí lớn hun đúc từ tiền nhân đã được Nguyễn Hoàng nuôi dưỡng và sớm truyền lại cho con cháu. Năm 1602, Nguyễn Hoàng giao Nguyễn Phúc Nguyên, người con thứ sáu làm trấn thủ dinh Quảng Nam, nơi đất tốt, dân đông, sản vật giàu có, số thuế nộp nhiều hơn Thuận Hóa, đặc biệt, nơi đây có núi Hải Vân, được Nguyễn Hoàng đánh giá là “đất yết hầu của miền Thuận Quảng”. Nhờ được giao trọng trách ở một vùng đất đặc biệt như vậy mà Nguyễn Phúc Nguyên đã sớm được tôi luyện, thử thách và trở thành vị Chúa Sãi anh minh, lập nên những kỳ tích cho Đàng Trong. Lúc sắp từ giã cõi đời, Nguyễn Hoàng đã gọi Nguyễn Phúc Nguyên và các cận thần đến bên giường bệnh để căn dặn: “Ta với các ông cùng nhau cam khổ đã lâu, muốn dựng lên nghiệp lớn. Nay ta để gánh nặng lại cho con ta, các ông nên cùng lòng giúp đỡ, cho thành công nghiệp”, “Đất Thuận Quảng phía bắc có núi Ngang (Hoành Sơn) và sông Gianh (Linh Giang) hiểm trở, phía nam ở núi Hải Vân và núi Đá Bia (Thạch Bi sơn) vững bền. Núi sẵn vàng sắt, biển có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng” (2). Quyết chí nối nghiệp Nguyễn Hoàng, các chúa Nguyễn đã tiếp tục mở mang lãnh thổ về phía Nam, xác lập vững chắc chủ quyền trên vùng đất mới, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đưa nước ta có lãnh thổ hoàn chỉnh như hiện nay.


 


Vượt qua hiểm họa, chuyển họa thành phúc


 


Có chí rồi, phải có mưu lược thì chí mới thành. Bài học cốt tử của cuộc đời Nguyễn Hoàng, đó là biết vượt qua hiểm họa, chuyển họa thành phúc. Cổ nhân bảo “trong họa có phúc”, điều này quả đã ứng vận trọn vẹn vào cuộc đời Nguyễn Hoàng. Mối họa của cuộc đời Nguyễn Hoàng không nằm ở đâu xa mà nằm ngay từ chính ông anh rể của Nguyễn Hoàng là Trịnh Kiểm. Phủ biên tạp lụccủa Lê Quý Đôn cho rằng sau khi Nguyễn Kim mất (do ăn phải quả dưa có thuốc độc của hàng tướng Dương Chấp Nhất), “bọn Lãng quận công (chỉ anh em Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng - chú thích của người viết) ngờ vua có mưu gì, toan làm loạn. Thế tổ Trịnh Kiểm… rước vua đến bản dinh, xin hết sức giúp đỡ. Lại hiểu dụ bọn Lãng quận công bỏ hết hiềm khích” (3). Ở đây, Lê Quý Đôn khẳng định rõ ràng có sự “hiềm khích”, nhưng không nói rõ ra là anh em Nguyễn Hoàng hiềm khích với ai, với vua Lê, hay là với cả vua Lê và Trịnh Kiểm. Chẳng lẽ anh em Nguyễn Hoàng lại hiềm khích với vua Lê? Ngược lại, Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn cho rằng mối hiềm khích này là từ Trịnh Kiểm mà ra: “Từ khi Triệu Tổ Tĩnh hoàng đế ta (chỉ Nguyễn Kim - chú thích của người viết) mất đi, bỏ dở công to nghiệp lớn, quyền bính trọng yếu trong nước đều do Trịnh Kiểm chuyên chế cầm nắm. Lãng quận công Uông làm tả tướng. Thái Tổ Gia Dụ hoàng đế ta (chỉ Nguyễn Hoàng - chú thích của người viết) thì cầm quân đánh dẹp, lập được nhiều chiến công, được phong đến Đoan quận công. Cả hai đều bị Trịnh Kiểm nghi kỵ. Rồi Tả tướng bị Kiểm làm hại. Còn Thái Tổ Gia Dụ hoàng đế ta thì tự lắng xuống, kín đáo giữ mình” (4). Nguyễn Ư Dĩ biết chuyện, bèn khuyên Nguyễn Hoàng giả bệnh điên, có những cử chỉ thất thường để Trịnh Kiểm hết nghi ngờ. Sau khi cho người đến hỏi Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm về cách tránh họa và được Trạng Trình “mách nước”: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (một dải núi ngang, có thể dung thân muôn đời), Nguyễn Hoàng đã tìm được lối thoát họa, đó là phải lánh mình ở phương xa. Được Nguyễn Ư Dĩ bàn bạc: “Thuận Hóa là đất hiểm trở kiên cố, có thể giữ mình được. Vậy nên nhờ chị là Ngọc Bảo (Ngọc Bảo là con gái Triệu Tổ và là chánh phi Trịnh Kiểm) nói với Kiểm, xin vào trấn thủ Thuận Hóa, rồi sau sẽ mưu làm việc lớn” (5), Nguyễn Hoàng đã cậy chị ngỏ lời cùng Trịnh Kiểm, xin cho đi vào phương xa. Thuận theo lời xin của vợ, Trịnh Kiểm đã dâng biểu tâu vua Lê Anh Tông cho Nguyễn Hoàng vào làm trấn thủ đất Thuận Hóa. Nhân việc cho Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa, Trịnh Kiểm muốn bắn một mũi tên mà trúng nhiều đích: vừa được lòng vợ và em vợ; vừa được tiếng với vua Lê là dùng người tài trí, mưu lược trấn giữ nơi vùng đất có “hình thể quan trọng”; lại vừa mượn xứ Thuận Hóa là nơi lam chướng nước độc, nơi quân nhà Mạc đang khuấy động để biết đâu trừ khử được Nguyễn Hoàng. Nhưng Trịnh Kiểm đã lầm với một người có chí lớn và biết chuyển họa thành phúc như Nguyễn Hoàng. “Trịnh Kiểm chỉ có ý tống khứ một địch thủ. Nhưng ông đã đi sai nước cờ. Và thay vì tống khứ, ông lại đã cho không Nguyễn Hoàng một vương quốc. Và một chuỗi các sự kiện diễn ra đã làm thay đổi toàn bộ lịch sử Việt Nam nói riêng và lịch sử Đông Nam Á nói chung” (6).


 


Sau khi đã vào Ái Tử, Nguyễn Hoàng còn gặp nhiều mối họa khác và đều tìm cách vượt qua được. Theo “Đại Nam thực lục”, năm 1571, Trịnh Kiểm đã mật sai tham đốc Mỹ Lương, thự vệ Văn Lan và Nghĩa Sơn (3 vị này nhờ đóng thóc cho nhà Lê mà được làm quan) đánh úp Nguyễn Hoàng nhưng thất bại, Mỹ Lương bị chém, Nghĩa Sơn bị bắn chết, Văn Lan trốn chạy (ở đây “Đại Nam thực lục” đã nhầm, vì Trịnh Kiểm đã mất từ năm 1570, nên việc mật sai này có lẽ là của Trịnh Tùng, con Trịnh Kiểm). Năm 1572, tướng Mạc là Lập Bạo đem 60 binh thuyền vượt biển vào đánh cướp nhưng đã bị Nguyễn Hoàng dẹp tan, Lập Bạo bị giết. Năm 1592, vua Lê sai Trịnh Tùng đánh dẹp Mạc Mậu Hợp, lấy lại được Đông Đô Thăng Long, Nguyễn Hoàng ra kinh yết kiến, mừng vua Lê. Trải qua 8 năm ở Đông Đô, Nguyễn Hoàng đã giúp vua đánh dẹp quân Mạc, bọn tướng làm phản và thổ phỉ, lập nhiều công to. “Trịnh Tùng thấy thế mang lòng ghen ghét, 8 năm không cho về trấn. Gặp lúc ấy, bọn Ngạn, Đình Nga và Văn Khuê làm phản ở cửa biển Đại An, Thái Tổ Gia Dụ hoàng đế ta nhân đem quân tiến đánh, bèn đem tướng sĩ thuyền chiến trong bộ thuộc mình, phóng ra biển về Thuận Hóa” (7).


 


Để vượt qua hiểm họa, ngoài việc tìm cách lánh họa ngay trên chính mảnh đất hiểm trở, tìm cách chống chọi, đánh thắng địch họa, Nguyễn Hoàng đặc biệt còn tìm cách hóa giải các mối họa, thông qua ứng phó khôn khéo, đối ngoại mềm dẻo. Khi về lại Thuận Hóa, sau 8 năm ở Đông Đô, với vua Lê, Nguyễn Hoàng đã để con trai thứ năm là Nguyễn Hải và cháu là Nguyễn Hắc ở lại làm con tin. Tuy vậy, sau khi Nguyễn Hoàng trở về, Trịnh Tùng đã gửi thư dọa trách: “Mới đây bọn nghịch thần Phan Ngạn, Bùi Văn Khuê, Ngô Đình Nga manh tâm bội phản, cháu và cậu đã lo liệu việc binh, sai đi đánh dẹp, chẳng ngờ cậu không đợi mạng, tự ý bỏ về, làm dao động nhân dân, không biết ấy là ý của cậu, hay là mắc kế bọn kia… Cậu, trong việc binh, thường lưu tâm đến kinh sử, xin hãy xét nghĩ lại, đừng để hối hận về sau” (8). Để làm dịu tình hình, Nguyễn Hoàng đã viết thư cho Trịnh Tùng hẹn kết nghĩa thông gia. Mùa đông năm 1600, Nguyễn Hoàng đã gả con gái là Ngọc Tú cho Trịnh Tráng, con cả của Trịnh Tùng (Trịnh Tráng lấy Ngọc Tú, tức là cháu mà lấy cô). Từ đó trở đi, Nguyễn Hoàng không ra Đông Đô nữa, khiến triều thần nhà Lê đòi xử trí, “nhưng Trịnh Tùng sợ việc dùng binh, không dám đả động” (9). Chắc rằng mối quan hệ cháu lấy cô “vượt ngoài khuôn khổ” giữa Trịnh Tráng và Ngọc Tú đã góp phần hóa giải, xua tan âm mưu động binh.


 


Thông qua việc hóa giải hiểm họa, chuyển họa thành phúc, Nguyễn Hoàng đã tạo được cội phúc vững bền, dài lâu cho các chúa Nguyễn thừa hưởng ân sủng, trong đó đặc biệt chúa Nguyễn Phúc Nguyên không chỉ thừa hưởng mà còn có công lớn vun bồi cội phúc này phát triển, ngay chính từ đất Quảng Trị. Cội  phúc này lan tỏa cả đến những người nhà Mạc đang gặp họa, trong đó có người vợ họ Mạc của Nguyễn Phúc Nguyên. Mạc Cảnh Huống (em Khiêm vương Mạc Kính Điển, người đã từng đem quân vào đánh Thanh Hóa, Nghệ An năm 1570) đã theo Nguyễn Hoàng vào Ái Tử năm 1558, làm Thống binh, tham mưu đắc lực, được Nguyễn Hoàng tin dùng. Theo khảo cứu của L.Cadière (10), vào khoảng năm 1593, lúc nhà Mạc suy yếu, bị đánh đuổi khỏi vùng đồng bằng miền Bắc, phải chạy lên Cao Bằng, con gái Mạc Kính Điển là bà Mạc Thị Giai đã cùng gia quyến theo chú là Mạc Cảnh Huống vào ẩn ở chùa Lam Sơn, làng Cổ Trai, xã Vĩnh Giang, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, nhập tịch ở tỉnh Quảng Trị. Được bà Nguyễn Ngọc Dương, vợ Mạc Cảnh Huống (bà Dương là em vợ Nguyễn Hoàng, tức là dì ruột của Nguyễn Phúc Nguyên) tiến vào hầu Nguyễn Phúc Nguyên ở nơi tiềm để (chỗ ở của chúa khi chưa lên ngôi), bà Mạc Thị Giai đã được Nguyễn Phúc Nguyên yêu, quý trọng vì tính tình thuần hậu, đoan trang và đã lấy làm vợ. Sau này, bà được đổi sang họ Nguyễn và được tôn là Hiếu Văn Hoàng hậu. Bà sinh được 5 con trai và 3 con gái. Đặc biệt, trong số này, có 2 người con gái đã được Nguyễn Phúc Nguyên gả cho vua các nước lân bang để mở mang quan hệ đối ngoại. Năm 1620, Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái là Nguyễn Phúc Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp là Chey Chetta II. Nhờ ảnh hưởng mạnh mẽ của cuộc hôn nhân này, năm 1623, một phái bộ của chúa Nguyễn Phúc Nguyên đi sứ đến Chân Lạp đề nghị được lập cơ sở, được đặt một sở thu thuế hàng hóa ở Prey Kôr, tức thành phố Hồ Chí Minh ngày nay và đã được Chey Chetta II đồng ý. Năm 1631, Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái là Nguyễn Phúc Ngọc Khoa cho vua Chiêm Thành là Pôrômê, nhằm tạo mối quan hệ giao hảo Việt-Chiêm, bảo đảm an ninh mặt phía Nam cho chúa Nguyễn. Theo L.Cadière, làng Cổ Trai đã ghi nhận và đánh giá rất cao công lao của bà Mạc Thị Giai đối với làng, sau khi bà qua đời, làng Cổ Trai đã sửa ngôi chùa Lam Sơn thành đền thờ để thờ cúng bà (11). Năm 1824, vua Minh Mạng cho đổi đền thờ này thành chùa Phật: “Cho xã Cổ Trai (thuộc huyện Minh Linh, Quảng Trị) 300 quan tiền. Cổ Trai là làng thích lý của Hiếu Văn Hoàng hậu, trước dân làng cảm ân đức Hoàng hậu lập đền thờ, đến nay tự nghĩ không dám thờ nhảm, tâu xin đổi làm chùa Phật. Vua theo lời xin và cho tiền” (12). Rõ ràng, ân đức của bà Mạc Thị Giai, tức Nguyễn Thị Giai, Hiếu Văn Hoàng hậu không chỉ nhuần thấm với đất Cổ Trai mà ân đức đó cả Đàng Trong và đất nước đều được thụ hưởng, khi bà đã cống hiến cho dân tộc hai liệt nữ Ngọc Vạn, Ngọc Khoa. Như vậy, việc chuyển họa thành phúc, đặc biệt là chuyển họa của cá nhân, dòng họ của Nguyễn Hoàng thành phúc của Đàng Trong, phúc của dân tộc đã diễn ra một cách kín đáo, khéo léo và thành công trên đất Quảng Trị và từ Quảng Trị.


 


Nhờ biết giữ mình, lánh họa, vượt qua hiểm họa, chuyển họa thành phúc, Nguyễn Hoàng đã đặt nền móng quan trọng cho công cuộc phát triển Đàng Trong, mở cõi của các chúa Nguyễn, bắt đầu bằng việc đặt phủ Phú Yên năm 1611. Từ năm 1611 dưới thời chúa Nguyễn Hoàng đến năm 1757 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, trong vòng 146 năm, đất nước đã được mở rộng từ Phú Yên đến Cà Mau.


 


Dựa vào lòng dân, vỗ về dân, yên dân


 


Để trụ vững ở nơi hiểm trở, nếm mật nằm gai, Nguyễn Hoàng đã dựa vào lòng dân. Lúc Nguyễn Hoàng cùng những người đồng hương ở Tống Sơn, những người nghĩa dũng ở Thanh Hóa mới vào đến bãi cát Ái Tử (theo một nguồn dẫn của Phan Khoang, Nguyễn Hoàng đến Ái Tử trong khoảng từ ngày 10/11 đến 10/12/1558), người dân ở đây đã đem dâng 7 chum nước trong. Nguyễn Ư Dĩ mừng rỡ nói: “Đấy là phúc trời cho đó. Việc trời tất có hình tượng. Nay chúa thượng mới đến mà dân đem “nước” dâng lên, có lẽ là điềm “được nước” đó chăng?” (13). Nhờ có chính sách vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng của Nguyễn Hoàng, bộ mặt vùng đất hiểm trở mà Nguyễn Hoàng trấn nhậm, chỉ sau hơn 10 năm đã có nhiều thay đổi rõ rệt. Đánh giá về tài trí, đức độ Nguyễn Hoàng, nhà bác học Lê Quý Đôn viết: “Đoan quận công có uy lược, xét kỹ, nghiêm minh, không ai dám lừa dối. Cai trị hơn mười năm, chính sự khoan hòa, việc gì cũng thường làm ơn cho dân, dùng phép công bằng, răn giữ bản bộ, cấm đoán kẻ hung dữ. Quân dân hai xứ thân yêu tin phục, cảm nhân mến đức, dời đổi phong tục, chợ không bán hai giá, người không ai trộm cướp, cửa ngoài không phải đóng, thuyền buôn ngoại quốc đều đến mua bán, đổi chác phải giá, quân lệnh nghiêm trang, ai cũng cố gắng, trong cõi đều an cư lạc nghiệp” (14), “công lao khó nhọc, thực như phên dậu của nhà nước” (15). Quốc sử quán triều Nguyễn viết: “Bấy giờ chúa ở trấn hơn 10 năm, chính sự rộng rãi, quân lệnh nghiêm trang, nhân dân đều yên cư lạc nghiệp, chợ không hai giá, không có trộm cướp” (16). Với tầm nhìn xa của người mở cõi, năm 1597, Nguyễn Hoàng (lúc này đang ở đất Bắc giúp vua Lê ứng phó với quân Mạc và bang giao với nhà Minh) đã có công văn lệnh cho Lương Văn Chánh, Tri huyện Tuy Viễn, trấn An Biên (nay thuộc tỉnh Bình Định) chiêu tập lưu dân vào khai khẩn vùng đất Phú Yên, đồng thời căn dặn không được sách nhiễu dân: “Kết lập gia cư địa phận, khai khẩn ruộng đất hoang cho tới khi thành thục sẽ nạp thuế như lệ thường. Nhược bằng vì việc mà nhiễu dân, điều tra ra sẽ bị xử tội”.


 


Người biết thu phục lòng dân, ắt được nhân dân che chở, giúp vượt qua hiểm họa. “Đại Nam nhất thống chí” xếp bà Phạm Thị Tôm, người huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình vào hàng liệt nữ vì có công cứu nguy cho Nguyễn Hoàng. Năm 1600, từ đất Bắc, Nguyễn Hoàng cùng tướng sĩ dong thuyền ghe theo đường biển về lại Thuận Hóa. Quân Trịnh đuổi theo. Thủy quân Nguyễn Hoàng phải chèo thuyền thật gấp, bị đứt quai chèo. “Lúc ấy Thị Tôm theo hầu, nhân có một mớ tơ sống, thị liền dâng để buộc chèo. Về đến nơi thị chết, Gia Dụ hoàng đế khen là có công, truy tặng Thị giá phu nhân, lập đền thờ dinh Cát. Dinh Cát nay thuộc Quảng Trị” (17).


 


Đáng chú ý, có những câu chuyện về “thế trận lòng dân” mà Nguyễn Hoàng xây dựng nên đã được sử sách kể lại mang màu sắc tín ngưỡng, huyền thoại. Đó là chuyện Nguyễn Hoàng lúc đóng quân bên sông Ái Tử để chống giặc Lập Bạo đã nghe vẳng lên từ lòng sông có tiếng “trao trao”, liền khấn thần sông giúp sức đánh giặc và được thần sông báo mộng, thông qua hình ảnh một người đàn bà mặc áo xanh, tay cầm quạt, đến thưa rằng: “Minh công muốn trừ giặc thì nên dùng mỹ kế dụ đến bãi cát, thiếp xin giúp sức”. Sau khi dùng kế mỹ nhân để diệt Lập Bạo, Nguyễn Hoàng đã phong thần sông làm “Trảo trảo linh thu phổ trạch tướng hựu phu nhân” và lập đền thờ. Năm 1601, Nguyễn Hoàng cho dựng chùa Thiên Mụ. Khi Nguyễn Hoàng đến đây, hỏi chuyện, được nhân dân địa phương truyền rằng: “Xưa có người đêm thấy bà già áo đỏ quần xanh ngồi trên đỉnh gò nói rằng: “Sẽ có vị chân chúa đến xây chùa ở đây, để tụ khí thiêng, cho bền long mạch”. Nói xong bà già biến mất. Bấy giờ nhân đấy mới gọi là núi Thiên Mụ. Chúa cho là núi ấy có linh khí, mới dựng chùa gọi là chùa Thiên Mụ” (18). Thông qua những chuyện kể như vậy cho thấy, khả năng thu phục lòng dân, huy động sức mạnh nhân dân của Nguyễn Hoàng đã được “siêu nhiên hóa”, “thiêng hóa”. Nói cách khác, Nguyễn Hoàng đã dựa vào tín ngưỡng, Phật giáo… nhằm “thiêng hóa” sức mạnh thu phục lòng dân của mình.


 


Không chỉ dựa vào dân, Nguyễn Hoàng còn “làm ơn cho dân”, vỗ về dân, yên dân, đặc biệt là biết “biến giặc thành dân”. Sau khi sai thuộc tướng là Mai Đình Dũng dẹp yên bọn thổ mục nổi loạn, cướp giết lẫn nhau ở Quảng Nam, Nguyễn Hoàng đã giao Mai Đình Dũng ở lại giữ đất và thu phục, vỗ yên tàn quân. Sau khi đánh thắng giặc Lập Bạo, Nguyễn Hoàng đã không giết hàng binh mà cho họ quyền được sống và khai phá vùng đất mới: “Chúa cho ở đất Cồn Tiên (tức tổng Bái Ân bây giờ) đặt làm 36 phường” (19). Cảm kích trước ân nghĩa lớn lao của Nguyễn Hoàng, về sau, thế hệ con cháu của những người được “tha mạng sống” ở các phường An Định Nha, An Hướng và Phương Xuân thuộc tổng Bái Ân đã dựng miếu thờ Nguyễn Hoàng ở An Định Nha (nay là thôn An Nha, xã Gio An, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị).


 


Mở mang ngoại thương, hướng tầm nhìn ra biển


 


Nắm được lòng dân và dân đã thuận theo mình, để đưa Đàng Trong  phát triển, bài học và kinh nghiệm thành công, kinh nghiệm phát triển của Nguyễn Hoàng, đó là mở mang ngoại thương, hướng tầm nhìn ra biển. Dưới thời Nguyễn Hoàng, “thuyền buôn các nước đến nhiều. Trấn trở nên một nơi đô hội lớn” (20). Đặc sản tiêu Quảng Trị đã được Nguyễn Hoàng cho mua, chở cùng vây cá yến sào để đổi cho khách buôn lấy hàng hóa, sản vật. Theo Lê Quý Đôn, họ Nguyễn đã mua tiêu Quảng Trị “chở về phố Thanh Hà, bán cho khách tàu, không cho dân địa phương bán riêng” (21), “hồ tiêu cứ cho 100 cân làm một tạ, giá 5, 6 quan, khách Bắc và khách Mã Cao thường buôn về Quảng Đông” (22). Để chủ động “xúc tiến thương mại”, khuyến khích thương gia Nhật Bản đến buôn bán với Đàng Trong, Nguyễn Hoàng đã viết nhiều thư trao đổi, bàn bạc chuyện buôn bán với chính quyền Tokugawa (chính quyền quân sự ở Nhật Bản). Lời lẽ trong các lá thư ngoại giao vừa sang trọng, lịch lãm, vừa tha thiết, mềm mỏng, có những thư được gửi kèm theo các món quà tặng là những vật phẩm quý như kỳ nam, lôi mộc, khổng tước… chẳng hạn như thư này:


 


“An Nam quốc Đại Đô Thống Đoan Quốc Công xin ngỏ lời đến Nhật Bản Quốc vương điện hạ!


 


Thời gian qua, tình hình kết giao của hai nước diễn ra tốt đẹp. Năm ngoái, Ngài đã tặng tôi bảo kiếm, nay lại còn gửi tặng 10 trường đại đao quý, thật cảm kích vô cùng. Hy vọng thương thuyền của quý quốc làm ăn buôn bán ở nước tôi hanh thông thịnh vượng, có thể thấy đây là chốn an cư. Bản quốc sản vật quý không nhiều nhưng cũng xin kính tặng Quốc Vương điện hạ một ít (có danh mục kèm theo) gọi là lễ mọn.


 


Từ năm nay trở đi, bản quốc sẽ chú trọng mậu dịch, buôn bán với quý quốc, lấy việc thông thương an toàn làm chữ Nghĩa. Vạn vọng Quốc vương lấy việc kết giao để dựng xây sự phát triển như đã giao ước.


 


Một lời trong thư khó nói hết, xin được minh giám.


 


Ngày 11 tháng 5 năm Hoằng Định thứ 5 (Nhật Bản Khánh Trường năm thứ 9 - Tây lịch năm 1605)”(23).


 


Đặc biệt, Nguyễn Hoàng đã nhận một thương gia Nhật Bản là ông Hunamoto Yabeije (Di Thất Lang) làm con nuôi và viết thư báo cho phía Nhật Bản biết về mối giao hảo tốt đẹp này: “An Nam quốc Đại Đô Thống Đoan Quốc Công báo thư - Nhật Bản Bản Đa Thượng Dã Giới Chính Thuần trân quý! Thư đi thư lại giao hảo đã lâu, tấm lòng đã hiểu. Cảm thần được tính cách trung hậu của Di Thất Lang. Tôi nhận Di Thất Lang làm nghĩa tử; chăm sóc ân cần chu đáo mọi bề. Nay Di Thất Lang trở về quý quốc. Sẽ khôn nguôi nhớ, đành tặng chiếc áo tình cảm để mặc lúc đi đường. Rồi đây trong lòng thương nhớ xiết bao. Hy vọng rằng những tình cảm đó sẽ được chuyển đến Bạch Quốc Vương. Và năm tới như đã hứa Di Thất Lang sẽ chỉnh đốn ba thuyền sớm đến bản trấn giao dịch, như thế là lưỡng toàn ân nghĩa. Có một chút lễ mọn (Bạch quyên 2 thất, Kỳ nam 1 phiến) xin gửi tặng làm tin…


 


Ngày mồng 6 tháng 5 năm Hoằng định thứ 6 (1606) - Nhật Bản năm Khánh Trường thứ 10”(24).


 


Theo một nguồn mà nhà nghiên cứu Li Tana đã dẫn cho biết, trong số 84 thuyền Châu ấn của Nhật Bản đến buôn bán với An nam (chủ yếu chỉ Nghệ An ở Đàng Ngoài) và Đàng Trong từ năm 1604 đến 1635, có 70 chiếc đến Đàng Trong. Đáng chú ý, trong số 84 thuyền này, có 17 thuyền do Hunamoto Yabeije (Di Thất Lang), con nuôi Nguyễn Hoàng và Araki Sotaro, thương gia Nhật Bản, con rể Nguyễn Phúc Nguyên cầm đầu (theo Li Tana, năm 1619, Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái cho Araki Sotaro, nhưng có lẽ Nguyễn Phúc Nguyên đã gả con nuôi thì đúng hơn, vì chiếu theo “Nguyễn Phúc tộc thế phả”, trong số tất cả 4 người con gái của Nguyễn Phúc Nguyên, không có ai được gả cho Araki Sotaro cả). Với việc đẩy mạnh ngoại thương, hướng tầm nhìn ra biển, chúa Tiên Nguyễn Hoàng và các chúa Nguyễn đã làm cho Đàng Trong hưng thịnh và chính sự hưng thịnh này đã góp phần quyết định tạo nên trọn vẹn dáng hình chữ S của Tổ quốc Việt Nam như ngày nay. Cái gốc, điểm tựa và bệ phóng cho sự phát triển và hưng thịnh đó, chính là mảnh đất Quảng Trị với vai trò quan trọng như A.Laborde, Công sứ Pháp tại An nam trước đây đã nêu qua bài viết “Tỉnh Quảng Trị”, rằng “nếu dòng họ nhà Nguyễn không xuất phát tại Quảng Trị, thì ít nhất sự nghiệp lịch sử của họ phải xem là có gốc từ mảnh đất này” (25), “Con người của triều đại này sinh ra từ đất Thanh Hoá, nhưng sự nghiệp của triều đại Nguyễn thì sinh ra từ đất Quảng Trị” (26).


Nguyễn Hoàn


___


            (1) Hội đồng Trị sự Nguyễn Phúc tộc, Nguyễn Phúc tộc thế phả, NXB Thuận Hóa, Huế, 1995, tr. 73.


            (2) Đại Nam thực lục, tập I, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2002, tr. 37.


            (3) Lê Quý Đôn toàn tập, Tập 1 Phủ biên tạp lục, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, tr. 49.


            (4) Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Tập II, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998, tr. 137.


(5) Đại Nam liệt truyện tiền biên, tập I, quyển 1-6, NXB Thuận Hóa, Huế, 1993, tr. 76.


            (6) Li Tana, Xứ Đàng Trong, lịch sử kinh tế-xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 1999, tr. 15.


            (7) Khâm định Việt sử thông giám cương mục, sđd, tr. 227.


            (8) Dẫn theo Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong, NXB Văn học, Hà Nội, tr. 124.


            (9) Đại Nam thực lục, tập I, sđd, tr. 35.


            (10), (11) Những người bạn cố đô Huế, tập IX, NXB Thuận Hóa, Huế, 2001, tr. 259, 260, 264. 


Theo khảo sát, tìm hiểu của chúng tôi tại làng Cổ Mỹ (tức làng Cổ Trai trước đây), xã Vĩnh Giang, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, người dân ở đây cho biết, tại làng trước đây có một ngôi chùa, có tên là “Quang cổ tự”, thờ một bà hoàng hậu. Hiện chùa không còn nhưng chỗ đất dựng chùa vẫn xác định được. Đại Nam nhất thống chí, Tập I, NXB Thuận Hóa, Huế, 2006 đã viết về chùa Cổ Trai rằng: “Ở xã Cổ Trai, huyện Minh Linh, xã này là quê hương của Hiếu Khang Hoàng Hậu bản triều. Sau khi hoàng hậu mất, người xã lập miếu thờ, năm Minh Mệnh thứ 5 đổi làm chùa Phật” (tr. 243). Ở đây, có lẽ Đại Nam nhất thống chí đã viết nhầm chăng, vì chùa Cổ Trai không phải là nơi thờ Hiếu Khang Hoàng hậu Nguyễn Thị Hoàn, mẹ vua Gia Long, mà theo Đại Nam thực lục, chùa này là nơi thờ Hiếu Văn Hoàng hậu Nguyễn Thị Giai, vợ Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên.


            (12) Đại Nam thực lục, Tập II, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr. 367.


            (13) Đại Nam liệt truyện tiền biên, tập I, quyển 1-6, sđd, tr. 76.


            (14), (15) Lê Quý Đôn toàn tập, tập 1 Phủ biên tạp lục, sđd, tr. 50, 102.


            (16) Đại Nam thực lục, tập I, sđd, tr. 31.


            (17) Đại Nam nhất thống chí, tập III, NXB Thuận Hóa, Huế, 1992, tr. 282.


            (18) Đại Nam thực lục, tập I, sđd, tr. 35.


            (19), (20) Đại Nam thực lục, tập I, sđd, tr. 31.


            (21), (22) Lê Quý Đôn toàn tập, tập 1 Phủ biên tạp lục, sđd, tr. 322, 323.


            (23), (24) Dẫn theo Tạp chí Nam Phong số 54, tháng 12/1921, phần chữ Hán. Bản dịch từ Hán sang Việt của ông Hoàng Tấn Linh, giáo viên Trường THPT Hải Lăng, Quảng Trị.


            (25), (26) Những người bạn cố đô Huế, tập VIII, NXB Thuận Hoá, Huế, 2001, tr. 185, 188.


vanhoanghean


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
19/08/1934: Adolf Hitler trở thành Tổng thống Đức - Tư liệu 19.08.2017
Chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ - Vũ Minh Giang 13.08.2017
Người Khmer Krom đòi Nam Bộ là ‘vô lý’ - Nguyễn Văn Huy 13.08.2017
Tìm hiểu vấn đề biển đảo giữa Việt Nam và Campuchia - Trần Công Trục 13.08.2017
Koh Tral/ Phú Quốc: Giấc mơ tuyệt vọng của Campuchia - Jeff Mudrick 13.08.2017
Vì sao thành Hà Nội bị phá? - Tư liệu 07.08.2017
Lá thư tâm huyết của Tướng Trần Độ - Tư liệu sưu tầm 04.08.2017
Người đẹp: Số đo 3 vòng chuẩn - Tư liệu sưu tầm 03.08.2017
Sự suy tàn của các chính đảng lớn - Nina L. Khrushcheva 03.08.2017
Tư liệu về nước Mỹ: Ký Tuyên ngôn Độc lập, TT John F. Kennedy - Tư liệu 02.08.2017
xem thêm »