tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21269120
Những bài báo
04.04.2016
Nhiều tác giả
TS Phan Lạc Tuyên qua vài bài báo



Phan Lạc Tuyên


(1928 - 2011)


Sinh năm 1928, tại Thạch Thất, Sơn tây. Mất lúc 19h15 ngày 10/11/2011 tại chùa Diệu Pháp, P 13 Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh, hưởng thọ 84 tuổi ta, 83 tuổi tây.


Với hơn 80 năm gắn bó cuộc đời, đi qua không biết bao nhiêu thăng trầm dâu bể của cuộc sống, trong đó có những khúc quanh nghiệt ngã giữa tồn tại trong tủi nhục và diệt vong trong chói lọi, nhưng Cụ vẫn lựa chọn, vẫn tồn tại một cách bi tráng hào hùng trong tư thế một người con đất Việt kiên trung.


Cụ là một trong những người tham gia giảng dạy tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM từ những ngày đầu thành lập, và cũng từ đây Cụ đi sâu vào nguyên cứu Phật giáo, rồi phát tâm Quy y Tam bảo với Hòa thượng Chơn Thiện, lúc này đang là Phó viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam, với pháp danh là Nguyên Tuệ. Cụ vẫn thường nói vui là ở đây Cụ có cả cho đi và nhận về. Cho đi là tri thức khoa học Cụ có, nhận về là niềm tin nơi Phật pháp. Hơn 20 năm gắn bó với học viện trải qua 5 khóa học, Cụ đã góp phần rất lớn trong việc đào tạo trí thức Phật giáo.


Nhưng mối nhân duyên giữa Cụ với Phật giáo không phải bắt đầu lúc này, mà mãi tận lúc Cụ còn bé mỗi dịp Rằm Mùng một theo mẹ đi lễ chùa, đặc biệt là vào năm 1960 khi Cụ cùng một số Sỹ quan Ngụy khác tiến hành đảo chánh chóng chế độ độc tài, gia đình trị và đàn áp Phật giáo Ngô Đình Diệm.


Nhớ về Cụ Phan Lạc Tuyên là nhớ về một con người luôn cháy bỏng khác vọng vươn đến tận cùng giá trị của cuộc sống, trong đó quốc gia, dân tộc luôn là sự vĩnh cữu, là tiền đề có giá trị thiêng liêng.


Là một quân nhân! Vâng Cụ là một quân nhân đúng nghĩa với gần trọn vẹn tuổi thanh xuân sôi nổi của mình trên những mặt trận khốc liệt, đặc biệt lịch sử sẽ mãi ghi về sự kiện đảo chánh ngày 11/11/1960 mở màn cho sự sụp đổ không tránh khỏi của Ngụy quyền miền Nam.


Là một nhà thơ! Những người yêu thơ, yêu những gì gần gũi, mộc mạc, đơn sơ, quê mùa sẽ không bao giờ quên bài thơ Tình quê hương của Cụ.


Là một nhà giáo! Một ông giáo già đơn sơ phảng phất gió bụi Trường sơn. Sau khi hòa bình, thống nhất đất nước Cụ từ bỏ con đường binh nghiệp đi làm thầy giáo. Không những ở trong nước, cụ còn được rất nhiều trường đại học ở nước ngoài thỉnh giảng.


Là một nhà Sư. Cụ tự thừa nhận mình là một nhà Sư. Cuối năm 2008 Cụ vào chùa Diệu Pháp phát nguyện đi tu. Cụ đề nghị thầy Trụ trì ở đây đặt cho Cụ một Pháp tự để khẳng định quyết tâm tu tập của mình, vì Cụ đã có Pháp danh rồi. Và tên đây đủ của Cụ là Phan Lạc Tuyên pháp danh Nguyên Tuệ, Pháp tự Quảng Đạo Nhẫn. Và thế là Cụ tu cho đến tận những ngày cuối đời tại chùa Diệu Pháp.


Cuộc đời từ đây vắng bóng Cụ, nhưng lịch sử sẽ không quên Cụ, một người con sống trọn vẹn thủy chung với đất nước dân tộc.


Tang lễ của Cụ được tổ chức tại chùa Diệu Pháp 188 Nơ Trang Long, P.13, Q. Bình Thạnh, TP.HCM


Lễ nhập quan: 8h30 ngày 16/10 Tân Mão (11/11/2011). Lễ truy điệu: 9h ngày 18/10 Tân Mão (13/11/2011). Lễ động quan: 9h30 ngày 18/10 Tân Mão (13/11/2011)


Từ anh hùng đảo chính đến trái tim thi phú


Đối với ông, cả con người cầm súng lẫn con người cầm bút đều phải trải qua những thử thách chọn lựa mang ý nghĩa dấn thân của người trai thuộc thế hệ vàng của tuổi trẻ miền Nam trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước.


Từng là người hùng đảo chính chống Ngô Đình Diệm 11.11.1960; vừa ở tù, vừa viết báo yêu nước ở Phnom Penh; là nghĩa quân dưới cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam VN... nhưng trước hết Phan Lạc Tuyên (1928 - 2011) là một nhà thơ.


Từ trước năm 1960, Phan Lạc Tuyên đã sớm nổi tiếng với bài thơ Tình quê hương được Đan Thọ phổ nhạc:


Anh về qua xóm nhỏ


Em chờ dưới bóng dừa


Nắng chiều lên mái tóc


Tình quê hương đơn sơ


 


Quê em nghèo cát trắng


Tóc em lúa vừa xanh


Anh là người lính chiến


Áo bạc màu đấu tranh


 


Em mời anh dừng lại


Đêm trăng ướt lá dừa


Bên nồi khoai mới luộc


Ngát thơm vườn ngâu thưa


 


Em hẹn em sẽ kể


Tình quê hương đơn sơ


Mẹ già như chiều nắng


Nhớ con trai chưa về


 


Ruộng nghèo không đủ thóc


Vườn nghèo nong tầm thưa


Ngõ buồn màu hoang loạn


Quê nghèo thêm xác xơ...


Ông đã bắt đầu đời lính và đi vào cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam bằng thứ tình cảm lãng mạn như vậy. Lính gì thì lính, khi con người cầm bút này đã biết ca ngợi thứ tình quê hương ngọt ngào đến thế, thì con người cầm súng kia chắc chắn không thể là kẻ ác ôn, phản bội đồng bào và Tổ quốc. Ngược lại Phan Lạc Tuyên đã sớm nhận ra bộ mặt tàn bạo của chế độ Diệm, nhất là qua những chiến dịch tố cộng đẫm máu. Ông đã quyết không để cho chế độ Diệm làm đôi tay mình nhuốm máu những người chiến sĩ cách mạng. Năm 1956, những người kháng chiến cũ bị Diệm giam giữ ở nhà tù Tân Hiệp đã tổ chức vượt ngục tìm đường về căn cứ. Phan Lạc Tuyên được lệnh truy sát họ. Trong quyển sách nhan đề Cuộc nổi dậy phá khám Tân Hiệp 2.12.1956 do những người cựu tù chính trị ở Đồng Nai viết về sự kiện ấy, có đoạn như sau: “Đại úy Phan Lạc Tuyên lúc đó đang chỉ huy một đơn vị hành quân truy kích đoàn tù chính trị vượt ngục ở hướng chiến khu D. Khi phát hiện dấu vết của đoàn, anh ra lệnh cho đơn vị đi về ngã khác, đồng thời giả vờ đánh rơi lương thực dọc đường cố ý giúp cho đoàn...”. Hiện nay, trong phòng truyền thống của đoàn cựu tù chính trị Tân Hiệp có cả chân dung của Phan Lạc Tuyên và hằng năm đến ngày kỷ niệm ấy, ông thường được mời về tham dự.


Trong cuộc đời nhà binh của Phan Lạc Tuyên có một giai đoạn tương đối dễ chịu. Đó là lúc ông được bố trí vào Trường Chỉ huy và Tham mưu, làm chủ bút tạp chí Đại học Quân sự và giảng dạy môn Binh pháp Á Đông. Ít lâu sau, vào tháng 9.1957, Phan Lạc Tuyên được gửi sang Mỹ học trường báo chí ở New York cùng với học viên sĩ quan quân đội các nước đồng minh của Hoa Kỳ.


Sau khi tốt nghiệp về nước, Phan Lạc Tuyên được bổ nhiệm làm chỉ huy phó Liên đoàn Biệt động quân - Quân khu thủ đô. Điều bất ngờ là một hôm, vào đầu năm 1960, Ngô Đình Diệm cho mời Phan Lạc Tuyên vào gặp riêng ở phủ Tổng thống. Ngô Đình Diệm nói: “Lâu nay tôi có theo dõi những bài của ông trên báo Đại học Quân sự. Ông là người có năng lực như thế mà để làm ở chỗ ấy thì cũng uổng phí. Nếu ông đồng ý, tôi sẽ bổ nhiệm ông làm tỉnh trưởng Bình Dương, phụ trách hành chính lẫn quân sự. Ông sẽ là tỉnh trưởng trẻ nhất. Ý kiến ông thế nào?”. Lần đầu tiên đối diện với “Ngô Tổng thống”, Phan Lạc Tuyên nhận thấy Diệm có đôi mắt sắc bén, khuôn mặt lạnh lùng vô cảm, giọng nói đều đều, không một lời dư thừa và không một nụ cười. Phan Lạc Tuyên suy nghĩ rất nhanh: “Nếu nhận lời, mình sẽ trở thành gia nô của ông ta. Nếu từ chối ngay, cũng sẽ rất khó sống. Tốt nhất là hoãn binh chi kế”. Bèn lễ phép trả lời: “Đây là việc quan trọng trong đời tôi, xin Tổng thống cho tôi về thưa lại với thân sinh để ông cụ quyết định, chứ phận làm con không dám tự chuyên”. Thật ra còn một lý do khác, rất không tiện thưa với Tổng thống. Đó là lúc này Phan Lạc Tuyên và một số sĩ quan khác đã bắt đầu âm thầm xúc tiến kế hoạch đảo chính lật đổ Diệm - Nhu.


Cuộc đảo chính đã bùng nổ vào ngày 11.11.1960. Phan Lạc Tuyên kéo 10 đại đội biệt động quân và một tiểu đoàn pháo 12 khẩu 105 ly từ Tây Ninh tiến công vào Sài Gòn. Quân đảo chính nhanh chóng đánh chiếm đài phát thanh Sài Gòn, bộ Tổng tham mưu, đánh tan Lữ đoàn Liên binh phòng vệ phủ Tổng thống, bắt sống đại tướng Lê Văn Tỵ - Tổng tham mưu trưởng và trung tướng Thái Quang Hoàng - Tư lệnh Quân khu thủ đô, hai nhân vậåt đầu não trong quân đội Diệm rồi bao vây phong tỏa phủ Tổng thống. Cánh quân của Phan Lạc Tuyên chiếm giữ Bộ Tổng tham mưu với một khẩu đội trọng pháo và 2.000 viên đạn sẵn sàng san bằng phủ Tổng thống. Nhưng Ngô Đình Diệm dùng kế hoãn binh, thương lượng với nhóm sĩ quan đảo chính xin cho ông ta có thời gian sắp xếp, bàn giao quyền hành trước khi ra nước ngoài. Trong khi đó, Diệm đã huy động quân đội các nơi về ứng cứu. Mờ sáng 12.11.1960, các sư đoàn thiết giáp và thủy quân lục chiến của Trần Thiện Khiêm, Huỳnh Văn Cao đã kéo về. Các lực lượng khác của Tôn Thất Xứng, Lê Nguyên Khang, Chung Tấn Cang... cũng tập họp lại phản kích. Quân đảo chính cốt ở đánh nhanh rút gọn, nay bị căng mỏng ra nên lần lượt thất thủ. Các sĩ quan cầm đầu như Vương Văn Đông, Nguyễn Chánh Thi... lên một chiếc máy bay vận tải đem theo tướng Thái Quang Hoàng làm con tin sang Campuchia tị nạn chính trị. Rõ ràng đây là một cuộc binh biến hoàn toàn tự phát, không hề có thế lực nào ở đằng sau hay bên ngoài hỗ trợ.


Về chuyện này, có một chi tiết hay hay. Ông Nguyễn Cao Kỳ, khi ấy là đại úy không quân, tình nguyện lái máy bay đưa các đại ca đi lánh nạn, nhưng nhóm đảo chính đã bố trí đại úy Phan Phụng Tiên lo việc này nên ông Kỳ đành ở lại. Riêng cánh quân của Phan Lạc Tuyên đóng ở Bộ Tổng tham mưu thì rút theo đường bộ qua cửa khẩu biên giới Gò Dầu - Tây Ninh rồi cũng đến Campuchia trong ngày hôm đó.


Sau hơn một năm bị chính quyền Campuchia quản thúc ở Phnom Penh, các thành viên của nhóm đảo chính có một số như Vương Văn Đông, linh mục Hồ Văn Vui... xin qua Pháp, Nguyễn Chánh Thi xin qua Mỹ. Riêng nhóm của Phan Lạc Tuyên xin được trở về vùng giải phóng miền Nam Việt Nam để tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nguyên hồi còn ở Sài Gòn, Phan Lạc Tuyên nhận được một lá thư của cách mạng viết: “Biết ông có lòng yêu nước, mong ông đem lòng yêu nước và tinh thần dân tộc để đóng góp cho cách mạng giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc”. Mãi về sau Phan Lạc Tuyên mới biết người gửi cho ông lá thư ấy là đồng chí Mười Cúc (tức Nguyễn Văn Linh), nhưng ngay từ những ngày đầu bị quản thúc ở Phnom Penh, nhóm Phan Lạc Tuyên và một số đồng đội như Năm Thúc, Sáu Nghĩa (nhà văn Thủy Thủ, Tư Minh) đều đã khẳng định quyết tâm đi theo cách mạng. Cơ sở cách mạng ở Phnom Penh là tờ báo Trung Lập do ông Trần Văn Kiêm làm chủ bút. Phan Lạc Tuyên và Thủy Thủ tích cực viết bài cho báo Trung Lập, ngoài ra còn cộng tác với tờ La Dépêche de Cambodge (Tin nhanh Campuchia), có quan điểm tiến bộ, gây được ảnh hưởng mạnh mẽ trong cộng đồng Việt kiều ở Campuchia. Hóa ra những điều học được trong trường báo chí ở New York, giờ đây lại rất có ích cho ông trong cuộc chiến đấu bằng ngòi bút.


Từ đây Phan Lạc Tuyên chính thức tham gia Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam VN. Tháng 7.1963, nhóm Phan Lạc Tuyên được Trung ương Cục bí mật điều động về khu giải phóng. Năm 1965, Phan Lạc Tuyên cùng phái đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam VN từ khu giải phóng công khai trở lại Phnom Penh tham dự Hội nghị Nhân dân Đông Dương do chính phủ vương quốc Campuchia đăng cai. Tại hội nghị, Phan Lạc Tuyên thay mặt nhóm đảo chính 11.11.1960 đọc tham luận chính trị gây tiếng vang rất lớn ở Sài Gòn lúc bấy giờ. Sau đó, ông được giao công tác làm Ủy viên phái đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam VN tại miền Bắc (Hà Nội).


Phan Lạc Tuyên xuất thân từ một gia đình khoa bảng ở đất Bắc (Thạch Thất - Sơn Tây), từ cuối đời Lê có tiến sĩ Phan Bảng được khắc tên trong bia đá ở Văn Miếu Hà Nội. Bởi vậy, sau khi đã làm nhiệm vụ của người trai thời chiến, Phan Lạc Tuyên lại quay trở về với truyền thống bút nghiên của gia tộc. Trong thời gian công tác ở miền Bắc, ông đã tranh thủ nghiên cứu, học hỏi và bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Dân tộc học ở Ba Lan.


...Đối với ông, cả con người cầm súng lẫn con người cầm bút đều phải trải qua những thử thách chọn lựa mang ý nghĩa dấn thân của người trai thuộc thế hệ vàng của tuổi trẻ miền Nam trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước.


Thanhnien.com.vn


Tiến sĩ Phan Lạc Tuyên: về qua xóm nhỏ


12/11/2011 07:57 GMT+7 


Sân chùa Diệu Pháp (phường 13, Q.Bình Thạnh, TP.HCM) hôm qua đông hơn mọi ngày nhưng vẫn giữ được vẻ lặng lẽ. Cụ Nguyên Tuệ đã ra đi. Những người đến đưa tang không giấu được nét ngậm ngùi, dù ai cũng đã từng được nghe ông giảng cặn kẽ về lẽ vô thường.


Những câu chuyện xưa được nhắc lại, những tấm ảnh vàng ố, những bài thơ, văn xưa kia được lật lại, và nhiều người thật ngạc nhiên: khác với vẻ lặng lẽ của cụ Nguyên Tuệ râu tóc bạc trắng vẫn hằng ngày tọa thiền, thiền hành ở sân chùa, cái tên Phan Lạc Tuyên đã một thời dậy sóng.


Mạnh tay súng


Đã tròn 51 năm, những người Sài Gòn vẫn còn nhớ Phan Lạc Tuyên, viên đại úy vừa qua tuổi 30, chỉ huy liên đoàn biệt động quân khu thủ đô tham gia cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm ngày 11-11-1960. Cánh quân của Phan Lạc Tuyên chiếm giữ Bộ tổng tham mưu với một khẩu đội trọng pháo và 2.000 viên đạn sẵn sàng san bằng phủ tổng thống. “Chế độ Diệm khi ấy đàn áp, đè nén, không ai không oán ghét. Tôi khi ấy còn nhỏ nhưng đã nhận thức rõ, đã biết ngưỡng mộ khi nghe tin đảo chính, rồi hâm mộ những người đã tham gia. Cuộc đảo chính bất thành, các sĩ quan đều ra nước ngoài tị nạn, chỉ duy Phan Lạc Tuyên quay lại Việt Nam, tham gia Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Từ ấy, ông trở thành người mà tôi ngưỡng mộ” - nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Phan kể.


Tiến sĩ Phan Lạc Tuyên, pháp danh Nguyên Tuệ, từ trần lúc 19g15 ngày 10-11-2011, hưởng thọ 84 tuổi. Tang lễ cử hành tại chùa Diệu Pháp, Nơ Trang Long, phường 13, Q.Bình Thạnh, TP.HCM. Lễ truy điệu lúc 9g sáng 13-11. Lễ động quan lúc 9g30 cùng ngày. Hỏa táng tại Bình Hưng Hòa.


Cầm súng, chọn lựa lý tưởng, dấn thân... những thử thách mà thế hệ của Phan Lạc Tuyên đã trải qua quả là khốc liệt và đáng được ngưỡng mộ. Trong lễ tang hôm nay, nhiều người còn được nghe một câu chuyện khác về đại úy Phan Lạc Tuyên ngày chỉ huy một đơn vị hành quân truy kích đoàn tù chính trị vượt ngục Tân Hiệp (Đồng Nai) tháng 12-1956.


Khi phát hiện dấu vết những người tù đang thoát về hướng chiến khu D, Phan Lạc Tuyên ra lệnh cho toán quân rẽ sang ngả khác. Trước lúc quay đi còn cố ý đánh rơi lại cả một khối lượng đáng kể lương khô, đồ hộp để giúp những người không cùng chiến tuyến. Khi phục dựng di tích nhà tù Tân Hiệp, lãnh đạo tỉnh Đồng Nai không quên treo ảnh của đại úy Phan Lạc Tuyên. Hằng năm, đến ngày kỷ niệm cuộc phá khám Tân Hiệp, đoàn cựu tù chính trị không quên mời ông tham dự.


Và tất nhiên, sự lựa chọn đi từ những hành động nhân đạo đến bước chân quyết liệt ấy không phải là ngẫu nhiên.


Mềm tay bút


Các cuộc họp mặt của thế hệ thanh niên, sinh viên Sài Gòn những năm 1960 hôm nay vẫn có người ngân nga Anh về qua xóm nhỏ/ Em chờ dưới bóng dừa/ Nắng chiều lên mái tóc/ Tình quê hương đơn sơ... Anh sẽ là anh đàn em nhỏ/ Là con của mẹ giữ quê hương/ Quê nghèo mai sẽ tươi mầm sống/ Đàn trẻ thơ reo giữa lúa vàng. Bài thơ Phan Lạc Tuyên viết từ năm 1955 được nhạc sĩ Đan Thọ phổ nhạc đã một thời vang vọng trong phong trào sinh viên phản chiến, cho dù tác giả chính là một sĩ quan biệt động quân.


Tình yêu quê hương ngọt ngào giấu trong áo lính. Là con nhà nòi của dòng họ Phan Lạc nổi tiếng khoa bảng vùng Thạch Thất (Hà Tây), ông kể lại mầm mống của sự xoay chuyển suy nghĩ, ý tưởng trong mình với đạo diễn Nguyễn Hoàng trong quá trình làm phim Phan Lạc Tuyên - Cuộc lữ hành: “Tất nhiên tôi thần tượng Hồ Chí Minh. Và tôi còn mê đọc sách, giữa các cuộc hành quân thường lên Thư viện quốc gia. Ở đó tôi được đọc mấy cuốn sách tiếng Pháp về chiến tranh nhân dân của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tinh thần tôi bắt đầu ngả về phía Bắc từ đó”.


Và bước đường dấn thân theo tình yêu quê hương dẫn dắt Phan Lạc Tuyên về phía Bắc thật. Một bức thư của ông Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh) mời tham gia công cuộc thống nhất đất nước đã dẫn ông đến với những mái lá trung quân giữa rừng của Mặt trận dân tộc giải phóng. Cuối đời, bức ký họa gian làm việc, sinh hoạt đơn sơ mà thơ mộng với cánh võng, bàn tre và hai giò phong lan trong cuốn sổ công tác 1964 đã được ông cho chụp lại, phóng to treo ở đầu giường để nhắc nhớ những ngày hào hùng trai trẻ.


Một nguyên nhân khác nữa gợi lên lòng mong muốn được trở về miền Bắc trong Phan Lạc Tuyên là sự ham mê lịch sử. Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Phan kể: “Ông bảo khi đọc được các tin tức miền Bắc tìm thấy mũi tên đồng ở Cổ Loa, cọc Bạch Đằng dưới đáy sông, trong ông dội lên một khao khát lớn được tìm về cội nguồn của dân tộc”. Có lẽ chính vì thế mà sau vài năm hoạt động cùng mặt trận, ông đã rẽ ngang đường quân sự sang con đường khoa học, chuyên tâm học và tu nghiệp để trở thành một học giả nổi tiếng trong ngành dân tộc học, tôn giáo học.


Các công trình nghiên cứu của tiến sĩ Phan Lạc Tuyên sau này cũng không đi ra ngoài ý thơ Anh về qua xóm nhỏ/ Em chờ dưới bóng dừa năm nào. Là những công trình điền dã về xã hội và dân tộc của người Chăm, là phát hiện về bãi tắm của công chúa Huyền Trân ở vùng suối Cát Lồi, Vĩnh Hảo, là những suy tư về sự bao la của kinh Bát Nhã... Thầy Nguyên Pháp - trụ trì chùa Diệu Pháp, một học trò của ông - nâng niu mang ra một bức thư pháp ghi lại bài thơ Cảm đề. “Hôm ấy cụ đã yếu lắm, sáng sớm tôi thấy áo khoác của cụ ướt hai vai, hỏi thì mới biết cụ nhờ người dìu ra ngoài thắp hương cầu cho tôi hoàn tất khóa nghiên cứu sinh được đến nơi đến chốn. Không thể nói hết nỗi xúc động của tôi lúc ấy. Không ngờ sau đó tôi còn được thầy tặng cho bài thơ này: Diệu Pháp chân như trăng tỏa sáng/ Vô thường Bến Nghé lững lờ trôi/ Chân Lạp, Chiêm Thành vô thường cả/ Trí Huệ mây trôi nẻo cuối trời”.


Phạm Vũ


tuoitre.vn


Tiến Sĩ Phan Lạc Tuyên đi tu


Tiến sĩ Phan Lạc Tuyên là một học giả nổi tiếng về Dân tộc – Tôn giáo học, từng giảng dạy ở nhiều trường đại học trong và ngoài nước; có nhiều công trình nghiên cứu sâu sắc; có 20 năm gắn bó với Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM qua 5 khóa học, góp phần đào tạo nên một đội ngũ đông đảo trí thức Phật giáo, trong đó có nhiều người hiện đang đảm nhận những trọng trách của Giáo hội.


Nhưng nói như thế chỉ mới khái quát nửa phần đời sau của ông thôi, còn nửa phần đời trước là cả một quảng đời binh nghiệp đầy sóng gió, cang cường mà ít người biết đến. Ông là người đã tích cực tham gia cuộc đảo chính chống chế độc tài, dàn áp Phật giáo Ngô Đình Diệm.


Và rồi hôm nay, ở cái tuổi 83, ông kiên quyết vào ở hẳn trong chùa. Ngôi chùa mà ông chọn ở là chùa Diệu Pháp ở P.13, Bình Thạnh, cuối con đường Nơ Trang Long.


Đến thăm ông vào một chiều mùa hè tại nơi ông ẩn tu. Câu chuyện bên tách trà với ông không biết đã đi qua mấy tuần rồi, từ chuyện đời, chuyện đạo; đến chuyện binh nghiệp, chuyện dạy học…


Chúng tôi xin lược ghi lại buổi nói chuyện này.


Thưa Cụ! Ông bà mình thường bảo vào chùa để tu. Vậy hôm nay cụ vào chùa ở phải chăng cụ quyết chí tu hành?


Cụ Tuyên: Vâng! Vào chùa để tu là tất nhiên rồi. Nhưng cũng không hẳn như vậy. Vì tôi đâu chỉ tu kể từ khi vào chùa. Nếu nói gặp Phật, mến Phật là tu, thì tôi đã tu từ bé, khi còn lẽo đẽo theo mẹ lên chùa. Tôi nhớ không rõ trong kinh nào, có kể câu chuyện một người đốn củi vào rừng bị thú dữ nạp, hoảng quá leo lên ngọn cây mà miệng cứ mãi niệm Nam-mô Phật, Nam mô Phật rồi sau này thành Phật. Huống nữa là cậu bé ngây thơ đầy lòng mến mộ Đức Phật như tôi lúc bấy giờ. Còn nói bảo vệ Phật pháp, làm cho Phật pháp tồn tại lâu dài ở thế gian là tu, thì khi tôi tiến hành đạo chánh chống Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo là tu rồi còn gì. Còn nói đem trí thức, đem giáo lý Đức Phật phổ cập đến cho nhiều người là tu, thì suốt những năm tháng giảng dạy tại các trường đại học tôi cũng đang tu đấy chứ. Tất nhiên, tôi dạy Tôn giáo học nói chung, trong đó có Phật giáo, nhưng tôi luôn đề cao tư cách đạo đức của Phật và tính trí tuệ trong giáo lý của Ngài. Đây đều là những sự thật mà đã là sự thật thì ngại gì không nói. Tôi biết rất nhiều người có cảm tình với Phật giáo sau khi nghe tôi nói, và cũng rất nhiều tìm hiểu lại Phật giáo rồi thay đổi thái độ. Đó là chưa kể lúc tôi dạy học tại Học viện, góp phần đào tạo được rất nhiều quý thầy, quý sư có tài ba. Tất cả đều là tu hết, nhưng qua mỗi thời kỳ chúng ta có cách tiếp cận khác nhau mà thôi.


Tôi nay hơn 80 rồi, gần cuối cuộc lữ hành rồi, phải tu khẩn trương, nghiêm túc hơn nên tôi vào chùa ở hẳn. Hàng ngày tôi ăn chay, niệm Phật, ngồi thiền theo quý thầy. Hiện tại tôi rất hạnh phúc. Khung cảnh nơi đây thật yên bình nên thơ. Có tiếng chim, có sóng vỗ, có khóm trúc vàng, có cây đa cổ thụ…đó là những hình ảnh tiêu biểu của làng quê Việt Nam muôn đời. Tôi yêu khung cảnh này, và hy vọng tìm được ít vốn liếng Phật trước khi về với Ngài.


Cụ có nhắc đến cuộc đảo chính năm 1960. Thưa Cụ, lâu nay chúng ta chỉ mới biết đến một Phan Lạc Tuyên là nhà khoa học, chứ ít biết còn một Phan Lạc Tuyên khác nữa, đó là Đại úy Phan Lạc Tuyên, một trong những người lãnh đạo cuộc đảo chánh năm 1960. Cụ có thể kể về sự kiện này được không?


Cụ Tuyên: Á đó là cuộc đảo chánh ngày 11/11/1960 do tôi và một số sĩ quan Sài Gòn tiến hành. Như đã nói, tôi là người theo đạo Phật từ khi còn nằm trong bụng mẹ, vì mẹ tôi siêng đi chùa lắm. Khi có mang tôi, mẹ càng siêng đi chùa hơn nữa, có lẽ là để cầu nguyện cho tôi. Rồi khi còn bé, rằm, mùng một nào tôi cũng được mẹ dẫn đi chùa. Kỷ vật về mẹ của tôi là một tràng hạt và một tượng Phật Bổn Sư mẹ để lại cho tôi, hiện giờ tôi vẫn còn giữ. Nên tình cảm của tôi đối với đạo Phật như là một cái gì đó rất tự nhiên. Khi Ngô Đình Diệm tiến hành đàn áp Phật giáo ở miền Nam, tôi đang là chỉ huy phó kiêm tham mưu trưởng Liên đoàn Biệt động Quân khu Thủ đô. Quá bất mãn với những việc làm của ông Diệm, ông Nhu, tôi cùng với một số sĩ quan khác tiến hành đảo chánh.


Mà nghĩ cũng lạ, tuy chưa có dịp hiểu sâu về Phật pháp, nhưng tôi luôn xem nhẹ danh lợi, phải chăng đây là Phật tính nhiều đời, nhiều kiếp tích tụ trong tôi. Nếu thế thì thật là phúc cho tôi, vì nhờ đó mà tôi thoát được những tình thế ngặt nghèo của thời cuộc. Khi ấy tôi 30 tuổi, một hôm Tổng thống Ngô Đình Diệm gọi tôi vào đinh và đề nghị tôi làm Tỉnh trưởng tỉnh Bình Dương kiêm chỉ huy quân sự. Ông còn nói, nếu đồng ý, tôi sẽ là một tỉnh trưởng trẻ nhất miền Nam lúc bấy giờ. Nhưng tôi lựa lời thoái thác và sau đó tiến hành đảo chánh chống ông ta. Nếu đam mê danh lợi chắc tôi đã là tội đồ của dân tộc rồi, và chắc chùa cũng không cho tôi ở đâu, vì theo ông Diệm thì phải chống lại Phật giáo mà!” (cười).


Nếu lịch sử có lặp lại, Cụ có vì Phật giáo một lần nữa xả thân không?


Cụ Tuyên: Tất nhiên, đối với Phật giáo lúc nào tôi cũng sẵn sàng. Nhưng mỗi thời đại nó có những vấn đề khác nhau. Hiện tại, theo tôi, để có thể đóng góp thật nhiều cho Phật giáo thì mọi người, từ tu sĩ cho đến cư sĩ phải học thật giỏi giáo lý của Phật và tu hành thật nghiêm túc vào. Đó là cách tốt nhất và duy nhất hiện này.


 Từ một quân nhân đến một nhà giáo, hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau nếu không nói là đối lập nhau. Nhưng ở phương diện nào Cụ cũng thể hiện một cách xuất sắc, Vậy thưa cụ, điều gì đã khiến một Phan Lạc Tuyên quân nhân trở thành Phan Lạc Tuyên nhà giáo?


Cụ Tuyên: Gia tộc tôi thuộc truyền thống khoa bảng. Từ đời Lê đến tôi có 2 vị đậu tiến sĩ. Bản thân tôi cũng là bạch diện thư sinh, bị động viên đi lính khi đang học năm 2 trường Luật Hà Nội. Vào quân đội rồi, nghiệp bút nghiên vẫn cứ đeo đuổi. Tôi dạy ở Trường Chỉ huy và Tham mưu, và làm chủ bút tạp chí Đại học Quân sự Sài Gòn. Nói như vậy để thấy rằng dòng máu khoa bảng luôn nóng chảy trong người tôi, còn việc chiến chinh chỉ là thời cuộc mà thôi. Nên khi đất nước thống nhất, tôi trở về với chính con người của tôi, con người văn chương học thuật. Tôi còn nhớ một mẫu chuyện vui về quyết định đi dạy của mìnhthế này. Đó là sau khi giải phóng miền Nam, tôi ở nước ngoài về gặp cụ Phạm Văn Đồng khi ấy đang là Thủ tường. Cụ hỏi tôi có đề nghị gì không, tôi đề nghị là được đi dạy học. Cụ phá lên cười sảng khoái, bảo tôi rằng tưởng đề nghị gì, chứ đi dạy học thì quá đơn giản. Tôi nói: “Vâng, thưa Thủ tướng! Nhưng mà sách vở, tài liệu tôi sưu tầm nhiều lắm, lúc này phương tiện đi lại rất khó khăn, xin Thủ tướng giúp đỡ”. Thủ tướng nói ngay: “Được! Có xe của chị Bình (tức bà Nguyễn Thị Bình) đi công tác ở nước ngoài để không đấy, lấy cho đồng chí Tuyên mượn”. Thế là tôi bắt đầu con đường đi dạy học từ đó và mãi cho tới bây giờ.


Được biết Cụ được đề nghị phong Giáo sư đến 2 lần nhưng Cụ từ chối?


Cụ Tuyên: Vâng, đúng thế! Mọi danh hiệu đều là phù phiếm, Đức Phật chẳng dạy thế sao. Danh hiệu đã phù phiếm rồi, mà danh hiệu không đúng càng phù phiếm gấp bội. Sống thực tế với chính con người mình ý nghĩa hơn, nên tôi từ chối.


Cụ tham gia giảng dạy ở HVPGVN tại TP. HCM ngay từ khóa đầu tiên và trải qua 5 khóa. Vậy nhân duyên gì đưa Cụ đến với Học viện?


Cụ Tuyên: Lúc đó tôi đang công tác tại Viện Khoa học Xã hội miền Nam, chuyên ngành Dân tộc. Tôi được Học viện – lúc đó gọi là trường Cao cấp Phật học Việt Nam-mời phụ trách môn Văn minh Việt Nam. Hình ảnh tôi còn nhớ Hòa thượng Thích Minh Châu đích thân đến nhà tôi, mời tôi dạy học khiến tôi rất cảm động. Tôi rất quý Hòa thượng Minh Châu. Ngoài ra, trong thời gian cộng tác với học viện, Hòa thượng Thích Chơn Thiện là người mà mỗi lần gặp gỡ tôi đều có ấn tượng rất tốt đẹp.


Xin Cụ kể một kỷ niệm đáng nhớ nhất khi giảng dạy tại Học viện?


Cụ Tuyên: Đó là chuyến đi điền dã thực tế 1 tuần cùng với Tăng Ni khóa 4 tại Tháp Bà Ponagar Nha Trang, một công trình kiến trúc tiêu biểu của văn hóa Chămpa. Thầy trò chúng tôi ngồi học, thảo luận ngay dưới chân tháp về mọi vấn đề của tháp Chăm. Quý thầy cô rất thông minh và nhiều thắc mắc, khiến tôi không ít lần phải bối rối. Chuyến đi đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm đẹp. Tôi nhớ mãi chuyến đi này.


Phật giáo như là một sợi chỉ xuyên suốt cuộc đời của Cụ. Từ một cậu bé hồn nhiên, đến một sĩ quan cang cường, rồi một nhà giáo thâm trầm…thế thì điều gì của Phật giáo đọng lại sâu nhất trong Cụ?


Cụ Tuyên: Đó là câu nói: thắng ngàn quân địch ở chiến trường không bằng tự thắng mình, thắng mình mới là chiến công oanh liệt nhất. Mình đây là nỗi sợ hãi, sự hèn nhát, lòng ích kỷ, tính đố kỵ…mà Phật dạy là tham sân si…đây mới thực sự là những đối thủ khủng khiếp và đáng sợ nhất, mà tôi thấy chưa ai có thể chiến thắng được một cách toàn diện, triệt để, ngoại trừ Đức Phật. Chính vì thế nên chúng ta mới lạy Phật, tu theo Phật, tức là học cách tự thắng. Điều này cũng nói lên rằng sự cao siêu, vĩ đại hay sự đốn mạt, thấp hèn không phải ở trên trời hay dưới đất, mà ở ngay chính con người chúng ta.


Với tư cách là một nhà khoa học, nhà sư phạm, Cụ thấy Phật giáo có thể đóng góp đuợc gì cho con người trong hiện tại?


Cụ Tuyên: Sống và chết, chiến tranh và hòa bình là những vấn đề lớn nhất của nhân loại muôn đời. Phật giáo đáp ứng được tất cả những vấn đề này từ trong ý nghĩa cụ thể nhất đến khái quát nhất. Chiến tranh diễn ra hàng ngày trên khắp thế giới, kết cục bi thảm của nó là cái chết vô nghĩa của những con người vô tội. Càng đau khổ chết chóc vì chiến tranh, người ta càng khát vọng hòa bình, nhưng hòa bình làm sao được khi lòng đầy thù hận. Thù hận chỉ có thể chuyển hóa, chứ không thể đè nén. Tôi rất có ấn tượng với ảnh dụ lấy đá đè cỏ của Đức Phật, vì rốt cuộc cỏ vẫn cứ mọc lên thôi. Giải quyết chiến tranh bằng chiến tranh chỉ làm cho chiến tranh thêm lan tràn. Như lời Phật dạy, chiến tranh nằm ngay trong lòng người. Tôi rất mừng là gần đây, Liên Hợp Quốc đã chọn ngày Đản sinh của Đức Phật làm ngày kêu gọi hòa bình cho thế giới. Đây là điều rất tốt cho Phật giáo. Phật giáo phải trở thành kim chỉ nam cho con đường mưu cầu hòa bình hạnh phúc của nhân loại. Tôi nghĩ đã đến lúc, các nhà Phật học nên tranh thủ giới thiệu, quảng bá một cách mới mẻ, khoa học, gần gũi nhưng giá trị từ bi, bình đẳng, nhân ái, hiếu sinh…Điều này không chỉ làm cho Phật giáo trở nên gần gũi, có ích với mọi người, mà quan trọng là con người được cung cấp những phương pháp hữu hiệu để vun đắp hạnh phúc cho bản thân và cộng đồng xã hội.


Xin Cụ cho một lời kết về cuộc nói chuyện này?


Tôi sống đến nay đã hơn 80 tuổi rồi. Sự đời có gì mà tôi chưa từng nếm trải? Nhưng càng từng trải, kinh nghiệm thì niềm tin nơi Phật pháp càng sáng lên trong tôi. Cứ tưởng rằng tiếp xúc nhiều với khoa học, với văn minh vật chất của phương Tây, thì niềm tin vào Phật bị lấn át đi. Nhưng hoàn toàn không phải như vậy. Phật pháp vẫn đứng vững giữa dòng chảy như thác lũ của khoa học và văn minh nhân loại hiện nay, mà cụ thể là trong lòng tôi. Vì Phật pháp hết sức nhân bản, và trí tuệ. Trí tuệ từ cách đặt vấn đề đến cách giải quyết nó. Đó là luôn lấy con người làm trung tâm của mọi suy tư và hành động. Và chính điều này làm cho Phật giáo có khả năng bao dung được trí tuệ của nhân loại, mà các tôn giáo khác không có được.


Và tôi sáng nào cũng ngồi thiền!


 Xin cảm ơn Cụ, chúc cụ nhiều sức khỏe.


Thanh Trí thực hiện


Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 85


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Văn hóa ẩm thực: Phở - món đồ ăn bằng bánh thái nhỏ nấu với thịt bò - Trịnh Quang Dũng 11.12.2017
Văn hóa Ẩm thực: Phở Việt - Kỳ 3: Phở - Trịnh Quang Dũng 10.12.2017
Boris Pasternak Giải Nobel về văn học năm 1958 - Thân Trọng Sơn 09.12.2017
Bộ Tư lệnh Vùng 5 Hải quân - Tư liệu sưu tầm 02.12.2017
Pilates là gì? Lịch sử môn thể thao thời thượng Pilates - Triệu Thiên Hương 01.12.2017
Vĩnh biệt nhà văn Nguyễn Gia Nùng - Triệu Xuân 27.11.2017
Kỳ vọng cường quốc của Trung Quốc chỉ là 'lâu đài trên cát'? - Tư liệu 25.11.2017
Goncourt 2017 thuộc về nhà văn kiêm đạo diễn Eric Vuillard - Tư liệu 25.11.2017
Nhà văn Nguyễn Thị Anh Thư - Người luôn ẩn mình sau những trang văn - Đỗ Ngọc Yên 24.11.2017
Thầy trò đời nay với thầy trò xưa - Phan Khôi 19.11.2017
xem thêm »