tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18950767
04.04.2016
Nhiều tác giả
Đại học Chicago & Tỷ phú John D. Rockefeller



Khẩu hiệu: Crescat scientia; vita excolatur (Latin). Hãy để kiến thức được làm giàu nhiều hơn; và nhờ đó làm phong phú thêm cuộc sống của nhân loại[1]


Thành lập          1890


Loại hình           Tư thục, không tôn giáo, cả nam lẫn nữ


Tài trợ   6,67 tỉ USD[2]


Hiệu trưởng      Robert J. Zimmer


Giảng viên        2.168[3]


Nhân viên          14.772 (gồm cả nhân viên của Trung tâm Y khoa Viện Đại học Chicago)[3]


Sinh viên           14.954[4]


Sinh viên đại học           5.134[4]


Sinh viên sau đại học    9.820[4]


Khuôn viên        Nội đô, 211 mẫu Anh (85,4 ha)[3]


Vị trí     Chicago, Illinois


Màu      Maroon      White     [5]


Biệt hiệu           Maroons


Linh vật Phượng hoàng


Thành viên       


Hiệp hội Viện Đại học Bắc Mỹ


Committee on Institutional Cooperation


Thể thao           NCAA Division III UAA


Trang mạng       uchicago.edu


Viện Đại học Chicago (tiếng Anh: The University of Chicago, gọi tắt là Chicago), còn gọi là Đại học Chicago, là một viện đại học nghiên cứu tư thục ở Chicago, Illinois, Hoa Kỳ. Viện đại học này được Hội Giáo dục Baptist Hoa Kỳ thành lập vào năm 1890 với khoản tiền hiến tặng từ tỉ phú dầu lửa John D. Rockefeller. William Rainey Harper trở thành viện trưởng đầu tiên của viện đại học vào năm 1891; những lớp học đầu tiên khai giảng vào năm 1892.


Viện Đại học Chicago bao gồm Trường Đại học (the College), nhiều chương trình sau đại học và ủy ban liên ngành khác nhau được tổ chức thành bốn phân khoa, sáu trường chuyên nghiệp, và một trường giáo dục thường xuyên. Viện đại học có tổng cộng khoảng 15.000 sinh viên, trong đó chừng 5.000 sinh viên theo học ở Trường Đại học. Viện Đại học Chicago nhiều năm liền được xếp vào một trong 10 viện đại học hàng đầu thế giới;[6][7][8] và được xếp thứ năm cùng với Viện Đại học Stanford trong "Bảng xếp hạng những viện đại học tốt nhất nước" năm 2014 của U.S. News & World Report.[9]


Các học giả của Viện Đại học Chicago đã đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển những lĩnh vực học thuật khác nhau, trong đó có: trường phái kinh tế học Chicago, trường phái xã hội học Chicago, phong trào luật và kinh tế học trong phân tích pháp lý,[10] trường phái phê bình văn học Chicago, trường phái nghiên cứu tôn giáo Chicago,[11] trường phái khoa học chính trị được biết đến với tên "thuyết hành vi" (behavioralism),[12] và trong lĩnh vực vật lý nơi các nhà khoa học của viện đại học đã tạo ra phản ứng hạt nhân nhân tạo và tự duy trì đầu tiên của thế giới.[13] Viện Đại học Chicago cũng là cơ sở giáo dục đại học có nhà xuất bản lớn nhất Hoa Kỳ, Nhà xuất bản Viện Đại học Chicago.[14]


Viện Đại học Chicago có 89 người được trao Giải Nobel (trong đó có 10 người đang là giảng viên),[15] 49 Học giả Rhodes,[16] và 9 người được Huy chương Fields.[17]


Từ lúc thành lập cho đến thập niên 1910


Một buổi lễ ở Viện Đại học Chicago, 1894.


Viện Đại học Chicago được Hội Giáo dục Baptist Hoa Kỳ thành lập vào năm 1890 như một cơ sở giáo dục phi tôn giáo, dành cho cả nam lẫn nữ,[18] với tiền hiến tặng từ tỉ phú dầu lửa John D. Rockefeller và được xây dựng trên phần đất do Marshall Field hiến tặng.[19] Viện đại học này là một cơ sở độc lập về mặt pháp lý; nó thay thế cho viện đại học có cùng tên gọi của những người theo phái Baptist, vốn đã đóng cửa vào năm 1886 vì những khó khăn tài chính và khủng hoảng lãnh đạo triền miên.[20] William Rainey Harper trở thành viện trưởng đầu tiên của viện đại học hiện đại này vào ngày 1 tháng 7 năm 1891, và viện đại học mở cửa đón sinh viên vào học vào ngày 1 tháng 10 năm 1892.[20]


Trường kinh doanh được thành lập vào năm 1898,[21] và trường luật được thành lập vào năm 1902.[22] Harper qua đời vào năm 1906;[23] sau Harper là ba vị viện trưởng khác liên tiếp nắm giữ chức vụ cho đến năm 1929.[24] Trong thời kỳ này, Viện Đông phương được thành lập để hỗ trợ và diễn giải những kết quả khảo cổ ở vùng đất mà ngày đó gọi là Cận Đông.[25]


Trong thập niên 1890, vì sợ rằng nguồn lực to lớn của mình sẽ làm tổn hại các trường nhỏ hơn vì thu hút hết sinh viên giỏi, Viện Đại học Chicago đã liên kết với một số trường và viện đại học trong vùng: Trường Đại học Des Moines, Trường Đại học Kalamazoo, Trường Đại học Butler, và Viện Đại học Stetson. Theo thỏa thuận liên kết, các trường vừa kể được yêu cầu phải có những khóa học tương đương với những khóa học ở Viện Đại học Chicago, phải báo trước với viện đại học bất kỳ sự bổ nhiệm hay sa thải giảng viên nào, không được bổ nhiệm giảng viên nếu không có sự chấp thuận của viện đại học, và phải gởi bản sao các bài thi để được nhận góp ý. Viện Đại học đồng ý trao bằng cho bất cứ sinh viên năm cuối sắp tốt nghiệp nào từ trường liên kết nếu sinh viên này đạt được điểm A trong suốt bốn năm học, và trao bằng cho bất cứ sinh viên tốt nghiệp nào học thêm 12 tuần ở Viện Đại học. Sinh viên hay giảng viên của một trường liên kết được hưởng chế độ miễn học phí ở Viện Đại học, và sinh viên Chicago được phép theo học ở một trường liên kết và được hưởng chế độ tương tự và được công nhận tín chỉ. Viện Đại học cũng đồng ý cung cấp cho các trường liên kết sách và trang thiết bị và dụng cụ khoa học với một mức giá nào đó; cung cấp những giảng viên biệt phái mà các trường liên kết không phải trả tiền, ngoại trừ chi phí đi lại; và cung cấp miễn phí mỗi bản một cuốn sách hay tạp chí do Nhà xuất bản Viện Đại học Chicago ấn hành. Thỏa thuận này cũng quy định rằng một trong hai bên có thể chấm dứt sự liên kết này bằng cách thông báo cho bên kia biết theo đúng quy định. Một số giáo sư ở Viện Đại học Chicago thời đó không thích chương trình này vì công sức mà họ bỏ ra thêm không được đền bù, và họ cho rằng nó hạ thấp danh tiếng học thuật của Viện Đại học Chicago. Chương trình này chấm dứt vào năm 1910.[26]


 


Thập niên 1920 đến thập niên 1980


A group of people in suits standing in three rows on the steps in front of a stone building.


Nhóm khoa học gia Viện Đại học Chicago làm trong dự án tạo ra phản ứng hạt nhân nhân tạo và tự duy trì đầu tiên của thế giới, bao gồm Enrico Fermi (hàng đầu) và Leó Szilárd (hàng thứ hai).


Năm 1929, vị viện trưởng thứ năm của viện đại học, Robert Maynard Hutchins, bắt đầu nhiệm kỳ; viện đại học đã trải qua nhiều thay đổi trong nhiệm kỳ 24 năm của ông. Hutchins đã loại bỏ môn bóng bầu dục ra khỏi viện đại học trong một cố gắng nhằm nhấn mạnh vào học thuật hơn là thể thao,[27] thiết lập chương trình học về các môn khai phóng trong trường đại học dạy sinh viên bậc đại học, được biết đến với tên gọi Common Core (Cốt lõi chung),[28] và tổ chức hoạt động học tập và nghiên cứu sau đại học của viện đại học thành bốn phân khoa như hiện nay.[27] Năm 1933, Hutchins đề xuất kế hoạch sáp nhập Viện Đại học Chicago và Viện Đại học Tây Bắc (Northwestern University) thành một viện đại học đơn lẻ, nhưng kế hoạch này không được thông qua.[29] Trong nhiệm kỳ của ông, các Bệnh viện Viện Đại học Chicago (nay gọi là Trung tâm Y khoa Viện Đại học Chicago) được xây dựng xong và bắt đầu tuyển những sinh viên y khoa đầu tiên.[30] Ngoài ra, Ủy ban Tư tưởng Xã hội, một cơ sở đặc trưng của Viện Đại học Chicago cũng được thành lập.


Số tiền quyên góp được trong suốt thập niên 1920 và sự giúp đỡ tài chính từ Quỹ Rockefeller đã giúp viện đại học tồn tại qua thời Đại suy thoái.[27] Trong Đệ nhị Thế chiến, viện đại học đã có những đóng góp quan trọng vào Dự án Manhattan.[31] Viện đại học là nơi đầu tiên cô lập plutonium và là nơi tạo ra phản ứng hạt nhân nhân tạo và tự duy trì đầu tiên, công trình này do một nhóm các nhà khoa học do Enrico Fermi đứng đầu thực hiện vào năm 1942.[31][32]


Đầu thập niên 1950, số sinh viên nộp đơn xin vào học giảm đi do tình hình tội phạm và nghèo khổ gia tăng ở khu Hyde Park, nơi đặt khuôn viên của viện đại học. Đáp lại, viện đại học trở thành nhà tài trợ chính cho một dự án cải tạo đô thị đầy tranh cãi ở khu Hyde Park, vốn đã có tác động đáng kể lên kiến trúc và phân luồng giao thông ở khu này.[33]


Viện Đại học Chicago cũng trải qua giai đoạn hỗn loạn liên quan đến sinh viên trong thập niên 1960, bắt đầu với năm 1962 khi sinh viên chiếm văn phòng của Viện trưởng George Beadle để phản đối chính sách của viện đại học về việc thuê nhà ở bên ngoài khuôn viên đại học. Năm 1969, hơn 400 sinh viên, nổi giận vì một giáo sư nổi tiếng, Marlene Dixon, bị sa thải, đã chiếm Tòa nhà Quản trị suốt hai tuần lễ. Sau khi cuộc biểu tình ngồi kết thúc, và khi Dixon từ chối quyết định tái bổ nhiệm có thời hạn một năm, 42 sinh viên bị đuổi học và 81 sinh viên bị kỷ luật,[34] đây là phản ứng khắc nghiệt nhất dành cho những vụ chiếm đóng của sinh viên ở bất kỳ viện đại học Hoa Kỳ nào trong suốt thời phong trào sinh viên.[35]


Năm 1978, Hanna Holborn Gray, lúc đó là phó viện trưởng phụ trách học thuật và là quyền viện trưởng Viện Đại học Yale, trở thành Viện trưởng Viện Đại học Chicago. Bà giữ chức vụ này trong suốt 15 năm.[36]


Thập niên 1990 đến thập niên 2010


Viện Đại học Chicago, nhìn từ công viên Midway Plaisance.


Năm 1999, viện trưởng lúc bấy giờ là Hugo Sonnenschein thông báo kế hoạch nới lỏng chương trình học cốt lõi của viện đại học, giảm số khóa học bắt buộc từ 21 xuống còn 15. Khi các tờ The New York Times, The Economist, và những tờ báo chính khác đưa tin về việc này, viện đại học trở thành tâm điểm của một cuộc tranh luận trên toàn quốc về giáo dục. Những thay đổi cuối cùng được thực hiện, nhưng cuộc tranh cãi đã đóng một vai trò trong quyết định từ chức của Sonnenschein vào năm 2000.[37]


Trong thập niên vừa qua, viện đại học đã khởi sự một số các dự án mở rộng. Năm 2008, Viện Đại học Chicago thông báo kế hoạch thiết lập Viện Milton Friedman; dự án này thu hút cả sự ủng hộ lẫn tranh cãi từ cả giảng viên và sinh viên.[38][39][40][41][42] Viện này sẽ tốn khoảng 200 triệu đô-la và chiếm cứ các tòa nhà của Chủng viện Thần học Chicago. Trong cùng năm đó, nhà đầu tư David G. Booth hiến tặng 300 triệu đô-la cho Trường Kinh doanh Booth của viện đại học; đây là khoản hiến tặng lớn nhất trong lịch sử viện đại học và là khoản lớn nhất tặng cho một trường kinh doanh.[43] Năm 2009, việc thiết kế hay xây dựng một số tòa nhà mới được tiến hành, một nửa trong số các công trình đó tốn không dưới 100 triệu đô-la.[44]


Từ năm 2009, một chiến dịch gây quỹ ở mức thu 2 tỷ đô-la đã giúp mở rộng đáng kể khuôn viên, với việc khánh thành Khu chung cư Max Palevsky, Cư xá phía nam khuôn viên, Trung tâm Thể thao Gerald Ratner, một bệnh viện mới, và một tòa nhà mới dành cho khoa học. Từ năm 2011, những công trình xây dựng lớn bao gồm Trung tâm Phát kiến Y sinh Jules & Gwen Knapp, một trung tâm nghiên cứu y khoa 10 tầng, và những tòa nhà xây thêm vào khu y khoa của Trung tâm Y khoa Viện Đại học Chicago.[45]


Khuôn viên


Một góc khuôn viên Viện Đại học Chicago, nhìn từ nóc một tòa nhà của viện đại học và hướng về phía Bắc. Phía xa bên phải là Hồ Michigan của Ngũ Đại Hồ.


Học thuật


Về mặt học thuật, Viện Đại học Chicago bao gồm Trường Đại học (the College, chuyên về giáo dục bậc đại học), bốn phân khoa nghiên cứu sau đại học (Phân khoa Khoa học Sinh học, Phân khoa Nhân văn, Phân khoa Khoa học Vật lý, và Phân khoa Khoa học Xã hội), sáu trường chuyên nghiệp (Trường Y khoa, Trường Kinh doanh, Trường Luật, Trường Thần học, Trường Nghiên cứu Chính sách công, và Trường Quản trị Dịch vụ Xã hội), và Trường Giáo dục Thường xuyên trong các ngành Chuyên nghiệp và Khai phóng (Graham School of Continuing Liberal and Professional Studies). Viện đại học còn có một hệ thống thư viện, Nhà xuất bản Viện Đại học Chicago (University of Chicago Press), các Trường Thực nghiệm Viện Đại học Chicago (University of Chicago Laboratory School, dành cho các lớp từ mẫu giáo đến trung học), và Trung tâm Y khoa Viện Đại học Chicago (University of Chicago Medical Center), và có quan hệ mật thiết với một số các cơ sở học thuật độc lập, bao gồm Fermilab và Phòng Thí nghiệm Quốc gia Argonne (Argonne National Laboratory).


Nhân vật nổi tiếng


Có 87 người được giải Nobel có liện hệ đến Viện Đại học Chicago,[46] 17 trong số đó đang làm nghiên cứu hay giảng dạy ở viện đại học này vào thời điểm giải được công bố.[47] Ngoài ra, nhiều cựu sinh viên và học giả của viện đại học đã nhận được học bổng của Chương trình Fulbright,[48] và có 49 người được chọn là Học giả Rhodes.[49] Trong số những người Việt nổi tiếng hiện nay ở Viện Đại học Chicago có nhà toán học Ngô Bảo Châu (Huy chương Fields 2010) và nhà vật lý học Đàm Thanh Sơn.


Tham khảo


^ “About the University”. The University of Chicago. 2013. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2013.


^ “TRIP Total Market Value”. The University of Chicago. Ngày 30 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2013.


^ a ă â “Facts for Journalists”. University of Chicago News Office. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2009.


^ a ă â “Facts for Journalists”. UChicago News Office. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2013.


^ “Traditions”. University of Chicago Office of College Admissions. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2009.


^ “Academic Ranking of World Universities”. shanghairanking.com. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2013.


^ “The World University Rankings 2012-2013”. timeshighereducation.co.uk. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2013.


^ “The World University Rankings 2011-2012”. timeshighereducation.co.uk. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2013.


^ "US News Best College Rankings." US News and World Report. 2014


^ “History of Law and Economics” (PDF). University of Montreal. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2009.


^ “The Chicago School”. Britanica Academic Edition. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2011.


^ Hanson, John Mark. “Building the Chicago School” (PDF).


^ Angelo, Joseph A. (ngày 30 tháng 11 năm 2004). Nuclear Technology. Greenwood Press. tr. 1. doi:10.1336/1573563366. ISBN 1-57356-336-6.


^ “Duffy is named Director of the University Press”. The University of Chicago Chronicle. Ngày 27 tháng 4 năm 2000. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2006.


^ “About the University of Chicago”. University of Chicago.


^ Chicago, university of. “Rhodes Scholars”. UChicago. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2012.


^ Fields Medal | The University of Chicago. Uchicago.edu. Truy cập 2013-08-15.


^ Goodspeed, Thomas Wakefield (1916). A History of the University of Chicago. Chicago: The University of Chicago Press. tr. 137. ISBN 0-226-30367-5.


^ “History”. University of Chicago. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2011.


^ a ă Rudolph, Frederick (1962). The American College and University: A History. Knopf. tr. 351. ISBN 978-0-8203-1284-2.


^ “Chicago Booth History”. University of Chicago Booth School of Business. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2009.


^ “History of the Law School”. University of Chicago Law School. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2009.


^ “History of the Office:William Rainey Harper”. University of Chicago. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2009.


^ “History of the Office”. University of Chicago. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2009.


^ “A Brief History of the Oriental Institute”. The Oriental Institute. Since its establishment in 1919, The Oriental Institute has sponsored archaeological and survey expeditions in every country of the Near East.


^ Gilbert Lycan, Stetson University: The First 100 Years at 70-72, pp. 165-185 (Stetson University Press, 1983)


^ a ă â “History of the Office”. The University of Chicago Office of the President. Ngày 6 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2009.


^ “The Common Core”. University of Chicago Office of College Admissions. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2009.


^ “The University of Chicago proposal”. Northwestern university. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2009.


^ “A Brief History of the Medical Center”. The University of Chicago Medical Center. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2009.


^ a ă “University of Chicago Met Lab”. Atomic Heritage Foundation. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2009.


^ “The First Reactor”. Tháng 12 năm 1982. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2009. On ngày 2 tháng 12 năm 1942, in a racquets court underneath the West Stands of Stagg Field at the University of Chicago, a team of scientists led by Enrico Fermi created man's first controlled, self-sustaining nuclear chain reaction.


^ Boyer, John W. "The Kind of University That We Desire to Become", Annual Report to the Faculty of the College (ngày 28 tháng 10 năm 2008). Excerpt available online at: http://www.uchicago.edu/pdfs/boyer_report.pdf


^ “The University of Chicago – Alumni Weekend”. Alumniweekend.uchicago.edu. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2009.


^ Boris, Eileen (1999). Voices of Women Historians: The Personal, the Political, the Professional. Indiana university Press. ISBN 978-0-253-33494-7. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2008.


^ “Hanna Holborn Gray (1978–1993)” (Thông cáo báo chí). University of Chicago News Office. Ngày 9 tháng 3 năm 2006. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2009.


^ Beam, Alex (2008). A Great Idea at the Time. Public Affairs. tr. 152. ISBN 978-1-58648-487-3.


^ Staley and Lippert, Oliver and John (ngày 15 tháng 10 năm 2008). “Milton Friedman Institute Spurs Chicago Faculty Clash (Update3)”. Bloomberg.


^ Jacobsen, Kurt (ngày 26 tháng 8 năm 2008). “Milton Friedman gives Chicago a headache”. The Guardian.


^ Cohen, Patricia (ngày 12 tháng 7 năm 2008). “On Chicago Campus, Milton Friedman's Legacy of Controversy Continues”. The New York Times.


^ “Milton Friedman Petition”.


^ Cochrane, John. “Comments on the Milton Friedman Institute Protest letter”.


^ “Booth Donates $300 Million to Chicago Business School”. Bloomberg. Ngày 7 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2008.


^ Pridmore, Jay. “Make No Little Quads”. University of Chicago Magazine.


^ “$25 million gift from Jules and Gwen Knapp will help build 10-story medical research facility at the University of Chicago” (Thông cáo báo chí). University of Chicago News Office. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2006.


^ “Nobel Laureates”. The University of Chicago. Ngày 10 tháng 12 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2011.


^ “Nobel Laureates and Universities”. Nobel Foundation. 2008.


^ Harms, William (ngày 8 tháng 6 năm 2006). “Graduate students win Fulbright-Hays fellowships” 8. University of Chicago Chronicle. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2009.


^ “Rhodes Scholars”. University of Chicago. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2009.


wikipedia




John Davison Rockefeller. (8-7-1839/ 23-51937)


Chủ tịch Standard Oil Company; đầu tư; philanthropist


John Davison Rockefeller, cha. (1839 – 1937) là một nhà công nghiệp người Mỹ, người đóng một vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp dầu mỏ thời sơ khai, người sáng lập công ty Standard Oil và đồng thời cũng là một nhân vật gây tranh cãi trong lịch sử nước Mỹ. Ông được xem là một trong những người giàu nhất lịch sử với tài sản tương đương khoảng hơn 663 tỷ USD so với USD năm 2007 (theo cách tính của Forbes).


Trong suốt thời gian 40 năm, Rockefeller đã xây dựng Standard Oil thành công ty lớn nhất và có lợi nhuận cao nhất trên thế giới. Việc buôn bán dầu mỏ của Rocherfeller bắt đầu từ thời kì nội chiến Mỹ (1861-1865), trong một vài năm sau đó công ty của ông chỉ thuộc hạng trung bình. Một sự thay đổi lớn đã diễn ra khi ông nhận được một khoản cho vay lớn đến từ ngân hàng đô thị quốc gia Cleveand, chỉ trong một thời gian ngắn Rockerfeller đã cho tất cả thấy tài năng trong lĩnh vực kinh doanh của mình. Tuy nhiên tham vọng của Rockerfeller đã vượt xa những gì người ta có thể tưởng tượng. Tất cả những người tham gia vào ngành công nghiệp luyện dầu đều nhìn thấy cơ hội và triển vọng tốt với mức lợi nhuận ngắn hạn cao, nhưng không có mấy người như Rockerfeller nhìn thấy một sự thật hiển nhiên: đó là cạnh tranh trong lĩnh vực này diễn ra kịch liệt mà không thể kiểm soát được, vì thế sớm hay muộn, các doanh nghiệp tham gia vào cuộc chiến này sẽ rơi vào cảnh cạnh tranh quyết liệt, để tồn tại và phát triển, chỉ có duy nhất một cách: tiêu diệt đối thủ cạnh tranh bằng mọi giá, không từ bất cứ thủ đoạn nào. Sự nghiệp kinh doanh của ông đã gây nhiều tranh cãi. Ông bị các nhà báo chuyên chống tham nhũng tấn công; công ty của ông bị tòa án liên bang Mỹ buộc tội độc quyền và bị chia nhỏ vào năm 1911.


Ông dành 40 năm cuối đời tập trung vào các hoạt động từ thiện, liên quan chủ yếu đến giáo dục và sức khỏe cộng đồng. Ông đã dùng gần hết tài sản của mình cho các hoạt động này.


Lịch sử nước Mỹ từng có một nhà công nghiệp vừa được kính nể và khâm phục bởi tài làm giàu nhanh chóng, nhưng cũng vừa bị khiếp sợ bởi những tham vọng khôn cùng. Đó chính là John Davidson Rockefeller, được mệnh danh là người giàu nhất trong những người giàu nhất.


Từ một người làm thuê đào khoai tây dưới ánh nắng chói chang, mỗi giờ 04 xu về sau Rockerfeller trở thành người có tài sản lên tới 1-3 tỷ USD (tương đương hơn 663 tỷ USD năm 2007). Ông đã từng có thời là người giàu nhất thế giới. Nước Mỹ bấy giờ người có gia sản vài triệu USD mới chỉ có 4 đến 5 người.


Wikipedia


Ông vua dầu lửa Mỹ Rockefeller


John D. Rockefeller, người đứng đầu đế chế dầu lửa hùng mạnh của Mỹ và thế giới, được mệnh danh là vua dầu lửa và có trong tay hàng tỷ đôla. Con đường nào đã đưa một người tay trắng trở thành nhân vật quan trọng nhất chi phối ngành công nghiệp dầu lửa?


Rockefeller sinh năm 1839 tại một vùng nông thôn ở New York. Cha ông, William Rockefeller, là một nhà buôn gỗ và muối. Tính cách của John D. Rockefeller đã được định hình ngay từ khi còn bé. Ông là một người sùng đạo, chuyên tâm, kiên trì, kỹ tính, hay chú ý đến tiểu tiết, có năng khiếu và niềm đam mê với những con số, đặc biệt là những con số liên quan đến tiền bạc. Cha ông dạy các con các kỹ năng buôn bán từ rất sớm. Khi còn đi học, John D. Rockefeller rất giỏi toán, đặc biệt là môn tính nhẩm.


Năm 1904, “Vua dầu lửa” kể lại về vụ kinh doanh tiền đầu tiên của mình là cho một nông dân trong làng vay số tiền 50 USD nhờ công việc đào khoai tây với lãi suất 7% trả trong một năm: “Ấn tượng sâu sắc đầu tiên với tôi là, hãy để đồng tiền làm nô lệ của mình chứ không biến mình thành nô lệ của đồng tiền”.


Năm 1853, gia đình Rockefeller chuyển đến một nông trại gần Cleveland (bang Ohio). Tuy nhiên, Rockefeller không chịu an phận trở thành anh nông dân mà quyết định bỏ ngang trung học và theo học một khóa kế toán sơ cấp ngắn hạn tại một trường đại học cộng đồng. Ở tuổi 16 vào thời điểm nước Mỹ trong tình trạng kinh tế khó khăn, Rockefeller lần đầu tiên xin được việc làm. Học được các thủ thuật điều hành cũng như những ngóc ngách làm ăn trong vài năm làm cho Hewitt & Tuttle, năm 1859, vài tháng trước sinh nhật lần thứ 20, Rockefeller bắt đầu lập doanh nghiệp riêng, hùn vốn chung với một người láng giềng là Maurice B. Clark.


Ban đầu, Clark & Rockefeller chủ yếu buôn bán hàng hóa và nhanh chóng phát đạt nhờ nhu cầu của cuộc Nội chiến Mỹ và sự mở cửa của miền Tây. Họ buôn lúa mì từ Ohio, muối từ Michigan và thịt lợn từ Illinois. Năm 1862, Rockefeller bắt đầu bước vào lĩnh vực lọc dầu. Cùng Maurice Clark, Rockefeller đầu tư vào nhà máy lọc dầu của Samuel Andrews. Thế là công ty khai thác - kinh doanh dầu Andrews & Clark Co ra đời.


Tuy nhiên, bất đồng dai dẳng giữa hai nhân vật chính của công ty đã bùng nổ. Clark và Rockefeller thỏa thuận tổ chức một cuộc bán đấu giá riêng giữa hai người, ai ra giá cao nhất sẽ có được công ty. Cuối cùng Rockefeller trở thành chủ nhân duy nhất của một công ty sở hữu nhà máy lọc dầu lớn nhất trong số 30 nhà máy lọc dầu ở Cleveland. Ông giành thắng lợi đầu tiên của mình trong lĩnh vực lọc dầu vào một thời điểm hoàn hảo - cuộc Nội chiến Mỹ kết thúc năm 1865 đã mở ra một kỷ nguyên mới của việc mở rộng các hoạt động kinh tế trên quy mô lớn, của hoạt động đầu cơ mạnh mẽ và cạnh tranh gay gắt.


Năm 1867, Rockefeller mua thêm một nhà máy lọc dầu ở Cleveland. Đây là thương vụ đầu tiên trong hàng loạt vụ sáp nhập mà Rockefeller “càn quét” ngành công nghiệp dầu mỏ Hoa Kỳ. Năm 1870, Rockefeller thành lập tập đoàn dầu mỏ Standard Oil cùng với anh trai William và các cộng sự. Khi đó, Standard chiếm lĩnh khoảng 10% ngành công nghiệp dầu mỏ Mỹ. Sau cuộc càn quét thứ 2 có tên là “cuộc tàn sát Cleveland” kết thúc vào tháng 4/1872, Standard Oil của Rockefeller đã kiểm soát 25% ngành công nghiệp dầu lửa Hoa Kỳ. Tới năm 1879, Standard Oil đã kiểm soát khoảng 90% ngành lọc dầu Hoa Kỳ, trong đó 70% được xuất khẩu ra nước ngoài. Standard Oil trở thành dạng “khủng long” trong làng công nghiệp dầu thế giới, với sự phát triển cực nhanh mà không đối thủ nào có thể địch lại.


Sau 8 năm liên tục phát triển, bành trướng với một động cơ rất quyết liệt là gây ảnh hưởng và chi phối ngành công nghiệp dầu lửa, Rockefeller đã loại trừ và mua gần hết các đối thủ cạnh tranh. Cái tên Rockefeller nổi tiếng khắp thế giới. Nhân viên và đại diện của ông có mặt tại hầu hết các hải cảng trên toàn cầu. Từ dầu, Rockefeller bắt đầu mở rộng sang nhiều ngành công nghiệp, như sắt thép, tàu hỏa và tàu biển...


Ngay từ khi bắt đầu kinh doanh, Rockefeller đã quyết tâm “ít phô trương nhất ở mức có thể”. Ngay cả khi đã trở thành người giàu nhất nước Mỹ, Rockefeller vẫn duy trì tính căn cơ đến kỳ lạ. Bất chấp sự phản đối của gia đình, ông kiên quyết mặc những bộ complet cũ cho tới khi chúng sờn rách. Một trong những món ăn ông yêu thích vẫn là bánh mì và sữa.


Trong đời sống cá nhân và hoạt động kinh doanh, “Vua dầu” luôn giữ nguyên tắc tiết kiệm. Nhưng đối với phúc lợi xã hội thì ông không bao giờ tỏ ra bủn xỉn. Trái với bản lĩnh quyết liệt và tàn nhẫn trên thương trường, Rockefeller vẫn nuôi dưỡng được lòng từ tâm mà mẹ ông đã hun đúc từ thuở nhỏ. Số tiền tài trợ mỗi ngày một lớn và Rockefeller luôn nỗ lực cho đi một phần lớn trong khối tài sản ông tích lũy được. Các khoản tài trợ của ông đều được dành cho nhà thờ, khoa học, y tế và giáo dục.


Khi qua đời vào ngày 23/05/1937, ở tuổi 98, tổng tài sản của tỉ phú giàu nhất mọi thời đại chỉ còn lại 26.410.837 USD sau khi đã quyên góp phần lớn tài sản cho hoạt động từ thiện, cho con trai và những người thừa kế khác.


Minh Ly  tổng hợp


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cuộc chiến đã qua đi: Hồi ức và bài học lịch sử - Drew Gilpin Faust 22.04.2017
22/04/1994: Richard Nixon qua đời - Tư liệu sưu tầm 22.04.2017
Thần thoại Hy Lạp (8) - Nguyễn Văn Khỏa 22.04.2017
Thần thoại Hy Lạp (7) - Nguyễn Văn Khỏa 22.04.2017
Thần thoại Hy Lạp (6) - Nguyễn Văn Khỏa 22.04.2017
Đánh giá cuộc đời chính trị Mao Trạch Đông (tiếp & hết) - Bành Thuật Chi 18.04.2017
Đánh giá cuộc đời chính trị Mao Trạch Đông (1) - Bành Thuật Chi 18.04.2017
Mao Trạch Đông và Biến cố Thiên An Môn 1976 - Lưu Á Châu 18.04.2017
18/04/1989: Sinh viên Trung Quốc biểu tình chống chính phủ - Tư liệu 18.04.2017
Trường phái Chicago với văn hóa của người nhập cư ở đô thị - Nguyễn Huỳnh Mai 18.04.2017
xem thêm »