tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20806732
Những bài báo
03.04.2016
Nhiều tác giả
Xâm nhập mặn: Đối phó hay thuận theo?



ĐBSCL bị xâm nhập mặn: Giáo sư Võ Tòng Xuân bày cách làm giàu trên cánh đồng ngập mặn


 Từ sự biến đổi của tự nhiên hãy biến thành cơ hội để chấm dứt thời kỳ tốn tiền tốn bạc, tốn công sức làm lúa bằng mọi giá bằng những chương trình không hiệu quả.


Những ngày qua báo chí trong và ngoài nước liên tục đưa tin, tường thuật về hiện trạng xâm nhập mặn ở các tỉnh ven biển ĐBSCL.


Theo Bộ NN – PTNT, đã có khoảng 58.300 ha lúa bị thiệt hại. Vào Google gõ “Rice damaged by salinity intrusion 2016” sẽ xuất hiện tin tức từ Việt Nam. Chỉ một ít là từ Bangladesh. Còn nếu gõ tiếng Việt “Lúa thiệt hại do xâm nhập mặn 2016” thì hầu như chỉ có tin từ Việt Nam. Đáng nói là tin tức về xâm nhập mặn chỉ cập nhật ở khía cạnh cây lúa, điều này đã gây nên dư luận xem nước mặn như “kẻ thù”  mà cả nước phải gồng chống bằng mọi cách, mọi giá…


Để lý giải tại sao nước mặn không phải là kẻ thù, mời quí vị theo dõi cuộc trò chuyện của Tuần Việt Nam với giáo sư Võ Tòng Xuân.


Thưa GS Võ Tòng Xuân, ông giải thích thế nào về nhận định “không nên lo lắng” trước tình trạng nước mặn xâm nhập gây thiệt hại cho các tỉnh ven biển ĐBSCL của ông?


GS- TS Võ Tòng Xuân: “Không nên lo lắng” ở đây là tôi muốn nói trong tương lai. Bởi chúng ta đã cố gắng rất nhiều để “ngọt hóa” nhưng cuối cùng vẫn không giữ được, ví dụ chương trình ngọt hóa bán đảo Cà Mau và nhiều chương trình khác đắp đê ven biển để giữ cho trồng lúa…


Tới đây nhất định chúng ta phải thay đổi thôi chứ không còn có thể “bằng mọi giá” duy trì cách làm cũ. Vì chúng ta có đổ thêm tiền của, công sức thì vẫn không thể ngăn mặn và giữ ngọt được.


Vấn đề tôi muốn nói ở đây là chúng ta thích nghi với sự thay đổi này như thế nào? Và trong hoàn cảnh của chúng ta hiện nay thì sự thay đổi, chuyển đổi cơ cấu sản xuất đang đặt ra hết sức cấp bách thì chúng ta đón nhận sự xâm nhập mặn này một cách thông minh, tỉnh táo nhằm đem lại lợi ích to lớn cho nông dân. Bởi vùng ngập mặn cũng là hệ sinh thái, tài nguyên thiên nhiên rất tốt nếu chúng ta biết khai thác.


Thưa GS, có thể hiểu tình trạng xâm nhập mặn gây thiệt hại trước mắt cho trồng lúa nhưng lại là cơ hội lớn để chúng ta xoay chuyển thế kẹt hiện nay của ngành nông nghiệp tại ĐBSCL có đúng không?


GS–TS Võ Tòng Xuân: Đúng rồi!


Năm nay sự thay đổi của thiên nhiên đã rõ ràng và chứng minh một điều là chúng ta không thể “cứu” gì được vì không có nước ngọt. Thái Lan đang tổ chức làm mưa nhân tạo cho các vùng bị hạn của họ. Họ cho máy bay bắn đá khô vào các đám mây để tạo mưa, rất tốn kém mà hiệu quả không cao.


Việt Nam không phải là quốc gia duy nhất bị thiệt hại bởi tình trạng khí hậu biến đổi không lường từ thập kỷ vừa qua. Nhìn chung trái đất của chúng ta trong năm qua lượng mưa ít hơn, khô hạn trầm trọng nhiều lục địa nhất là Bắc Mỹ, Úc, Đông Á, Nam Á (Ấn Độ), và Nam Phi làm thiệt hại mùa màng như mía, lúa, bắp…


Chúng ta không có điều kiện như Thái Lan. Và nếu muốn giữ vùng trồng lúa thì vẫn phải đổ ra hàng ngàn tỷ đồng mà không thể giữ. Mà có giữ được thì cũng không có hiệu quả. Cho nên, phải thay đổi là khôn ngoan nhất, là lẽ tất nhiên.


ĐBSCL ngập mặn, trồng lúa ở ĐBSCL, nông dân ĐBSCL, biến đổi khí hậu ở ĐBSCL


DDBSCL bị xâm nhập mặn: 40 năm nay nông dân cắm đầu trồng lúa nhưng đến giờ vẫn chưa giàu. Ảnh: Thu Hà.


Vậy có thể hiểu là, tình thế bắt buộc chúng ta phải xoay chuyển. Thực tế đang diễn ra ở ĐBSCL là cơ hội lớn để chúng ta thay đổi hiện trạng sản xuất vốn đã lạc hậu, cũ kỹ, không hiệu quả. Vậy GS có dữ liệu gì để chúng ta tin rằng có thể tổ chức lại sản xuất trong hệ sinh thái ngập mặn này có hiệu quả hơn canh tác lúa?


GS–TS Võ Tòng Xuân: Ở Indonexia, họ làm thủy lợi ở các vùng ngập mặn ven biển cho nuôi tôm rất tốt.  Họ xây dựng những tuyến kênh cung cấp nước vào và ra cho từng ruộng nuôi tôm. Trong từng vuông tôm có hệ thống tháo nước ra để thanh lọc, xử lý vệ sinh cho ruộng tôm. Trong vùng mặn ven biển họ trồng các loại cây như cây đước để xử lý môi trường, lọc nước, tinh khiết hóa nước vùng ven biển phục vụ cho nuôi trồng.


Ở ĐBSCL có những vùng ven biển nuôi tôm rất hiệu quả. Ở huyện Mỹ Xuyên, Sóc Trăng có vùng nuôi tôm tập trung rộng 11.000 ha. Trước đó người dân trồng lúa, sau mới chuyển qua trồng lúa kết hợp nuôi tôm. Khi lúa chín họ thu hoạch và đưa nước mặn vào khi đất còn ẩm. Thật sự ra mấy ông nông dân làm giàu dưới đó là nuôi tép thôi. 1 kg tép khô hiện nay trên 1 triệu đồng/kg. Sau khi thu hoạch lúa rồi thì nuôi tép. Đây là mô hình đang cực kỳ có hiệu quả, tính ra lợi tức gấp 4–5 lần so với trồng lúa!


Mô hình tôm – lúa đang được nhiều nông dân ở các huyện ven biển khác đang áp dụng nhưng không quy mô nguyên vệt 11.000 ha như ở Mỹ Xuyên mà chỉ vài trăm ha, hiện rải rác khá phổ biến.


Nếu mô hình này hiệu quả như vậy, sao bà con không làm?


GS–TS Võ Tòng Xuân: Cái hướng làm giàu như mô hình tôm – lúa hay chuyên tôm đã có từ lâu nhưng nhiều nông dân không làm được rộng rãi là bởi cái gì không phải là lúa thì không được nhà nước đâu tư. Nhà nước chúng ta chỉ đầu tư cho cây lúa.


Mô hình nhà nước đầu tư như Indonesia cũng là mô hình để chúng ta nghiên cứu và vận dụng. Tùy từng vùng chúng ta có thể quy hoạch và làm thủy lợi cho phù hợp, có thể canh tác lúa – tôm, hay chuyên canh nuôi tôm và các loại hải sản khác.


Vấn đề đầu tiên là nhận thức lại trong khâu quản lý nhà nước, thứ hai là tổ chức quy hoạch lại để có chính sách đầu tư phù hợp hỗ trợ cho nông dân chuyển đổi …


Tại các hội thảo, diễn đàn, nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu kinh tế nêu vấn đề, chúng ta cứ lo xuất khẩu 5 – 7 triệu tấn gạo hàng năm nhưng không hiệu quả bằng Campuchia mỗi năm xuất khẩu 1 triệu tấn! Mặt khác, thị trường gạo của Việt Nam toàn là nước nghèo, còn Campuchia là thị trường cao cấp, họ bán cho nước giàu. Cách làm này vô hình chung chính Việt Nam đang phải "tài trợ” cho các nước khác yên tâm phát triển! Đáng buồn  là cho đến nay là sự thật phũ phàng này vẫn chưa có tín hiệu gì thay đổi?


GS – TS Võ Tòng Xuân: Lẽ ra chúng ta phải thay đổi chính sách phát triển nông nghiệp, trong đó chính sách phát triển cây lúa từ lâu chứ không phải đến tận hôm nay mới “xem xét” hay “bàn bạc”.


Chính sách tập trung phát triển lương thực, chủ lực là cây lúa rất đúng và rất phù hợp sau chiến tranh. Không có chính sách nào khác phù hợp bằng. Ở bất cứ nước nào trên thế giới cũng vậy. Sau thời gian chiến tranh, bị tàn phá nặng nề thì việc đầu tiên khi có hòa bình là giải quyết nạn đói, thiếu ăn cho nhân dân. Nước Nhật đã từng công nghiệp hóa từ trước nhưng sau chiến tranh cũng phải thúc đẩy phát triển lương thực để đẩy lùi nạn đói. Ở Âu châu cũng vậy. Sau thế chiến thứ nhất và thứ hai thì phải tập trung trước mắt là giải quyết vấn nạn lương thực, thực phẩm để cứu đói.


Ở ta, chính sách phát triển trồng lúa phát huy tác dụng to lớn cho đất nước phải trải qua 30 năm chiến tranh tàn khốc. Cho đến năm 1989, nhờ chính sách này chúng ta vươn vai đứng dậy thành đất nước xuất khẩu gạo đứng có thứ hạng cao trên thế giới.


Nhưng thưa GS cái thời thiếu đói, chạy ăn từng bữa đã qua lâu rồi mà?


GS – TS Võ Tòng Xuân: Lẽ ra tới thời điểm 1989 chúng ta từ nước thiếu ăn thành ra quốc gia xuất khẩu gạo thì chính sách an ninh lương thực của chúng ta phải điều chỉnh, thay đổi cho phù hợp tình hình mới. Lẽ ra, từ lúc này chúng ta phải lo cho người trồng lúa là nông dân tăng lợi tức cho họ chứ không nên cột chặt nông dân vào cây lúa nữa. Trên thế giới ai cũng biết lợi tức từ trồng lúa là không thể cao, nhất là trồng lúa chạy theo năng suất tối đa như ở ta.


Trên cùng một diện tích, nếu chỉ trồng lúa 3- 4 vụ/năm thì người nông dân không thể thoát khỏi nghèo mãi. Nếu chúng ta cho nông dân thay đổi, trồng 1 vụ lúa xen canh các loại cây trồng vật nuôi khác thì hiệu quả mới có, mới thay đổi đời sống nông dân.


Năm 1991 tôi chuyển trung tâm nghiên cứu lúa gạo ở Cần Thơ thành Viện nghiên cứu hệ thống canh tác ở ĐBSCL đã cho ra những mô hình bền vững để nâng cao lợi tức cho người trồng lúa. Ví dụ như mô hình lúa – tôm. Thật ra đây không phải do tôi nghiên cứu ra mà từ khám phá của một nông dân ở Bạc Liêu về phương pháp canh tác nuôi tôm trong ruộng lúa rồi tôi đưa về nâng cao, đưa nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật vào cho nông dân áp dụng. Nhưng tiếc là không thực hiện được nhiều vì không có sự đầu tư của nhà nước cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật.


Chính sách đầu tư của nhà nước chúng ta bao năm qua chỉ là cây lúa thôi. Đầu tư cho lúa tốn kém rất nhiều. Nhà nước phải vay tiền của ngân hàng thế giới (WB), của ngân hàng phát triển châu Á (ADB) để làm thủy lợi cho cây lúa. Dù nhà nước có thu lại thủy lợi phí nhưng chẳng đáng là bao so với số tiền bỏ ra. Nói cách khác, nhà nước phải tiêu rất nhiều tiền để có được sản lượng lúa ngày càng nhiều, giúp cho cả nước được ăn gạo ngày càng rẻ.


Đúng là chính sách này giờ đây đang trở thành một nghịch lý. Hóa ra lâu nay chúng ta còng lưng đi nuôi thiên hạ, nuôi những nước giàu có hơn ta!


GS – TS Võ Tòng Xuân: Đúng là cũng vì cách làm như thế này nên chúng ta bao cấp luôn cho nhiều nước khác, trớ trêu nhất là nhiều nước mua gạo của ta họ giàu hơn ta. Malaixia đã chính thức nói thẳng thừng, không cần tự túc lương thực mà chỉ trồng những cây gì, nuôi con gì có giá trị cao.


Còn gạo, nếu thiếu thì mua của Việt Nam vì Việt Nam làm ra gạo nhiều và giá rất rẻ!


Philippine có nhiều vùng đất rộng mênh mông nhà nước họ tập trung trồng chuối, trồng khóm đóng hộp, mứt khóm; trồng sầu riêng, trồng xoài xuất khẩu khắp thế giới. Tất cả những thứ này có lợi tức nhiều và nhiều hơn trồng lúa gấp bội. Và họ mua gạo của Việt Nam cho rẻ, có hiệu quả hơn là trồng. Indonexia cũng vậy. Chính sách của họ là không nhất thiết phải tự túc lương thực mà chuyển qua nuôi tôm, trồng cây cọ dầu. Nguồn thu nhập từ tôm, cọ dầu rất tốt hơn trồng lúa.


Còn chúng ta lâu nay cứ lao vào cây lúa, cột nông dân vào cây lúa với sai lầm kéo dài là lo cho “an ninh lương thực” một cách mơ hồ. Thử hỏi một cách nghiêm túc, Việt Nam làm ra lúa gạo nhiều nhưng có đảm bảo “an ninh lương thực” như những nước mua gạo của ta không?


40 năm nay nông dân ta cắm đầu trồng lúa nhưng vẫn phải bán lúa tại đồng vì không đủ tích lũy, không đủ tái sản xuất. Đến mùa vụ thu hoạch xong phải bán ngay không kịp chở về nhà để trả nợ vay ngân hàng, nợ ứng vật tư phân bón, thuốc trừ sâu, xăng dầu;  lo tiền ăn uống, học phí con cái v.v…  Vậy mà chính sách vẫn cứ đẩy họ trồng lúa hoài thì làm sao thay đổi số phận của họ?


Nói thật đây là cái chuyện chúng ta làm chưa thông minh, chưa khôn ngoan! Chúng ta phải chuyển đổi trước hết là tư duy rồi tới hành động để phát triển những hệ thống canh tác mới phù hợp với hoàn cảnh mới, phù hợp với thiên nhiên. Và quan trọng nhất là đem lại lợi tức chính đáng cho nông dân, giải phóng họ thoát khỏi nghèo túng quanh năm. 


Chuyển đổi theo hướng bớt trồng lúa giúp ta để giành nước ngọt sử dụng cho những mục đích khác như sinh hoạt , phục vụ tưới cho cây trái, chăn nuôi


Nói chung, chúng ta chuyển đổi qua những cây trồng vật nuôi khác có giá trị hơn cây lúa ở vùng mặn và vùng ngọt là có khả năng. Giờ mình nên thật sự thay đổi thực hiện chủ trương đã có là chuyển đổi cơ cấu nhưng lâu nay chỉ nằm trên giấy không làm, phải chuyển một cách thật sự.


Từ sự biến đổi của tự nhiên hãy biến thành cơ hội để chúng ta thay đổi, chấm dứt thời kỳ tốn tiền tốn bạc, tốn công sức làm lúa bằng mọi giá những chương trình không hiệu quả, chấm dứt việc thủy lợi ngọt hóa, ngăn mặn lỗi thời không phù hợp mà tốn tiền của vô ích.


Xin cảm ơn và chúc sức khỏe GS!


Duy Chiến thực hiện


Một giải pháp nước cho Đồng bằng sông Cửu Long


Những tác động của biến đổi khí hậu cùng động thái “giữ nước” của các quốc gia thượng nguồn sông Mekong đang đẩy Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) vào tình trạng thiếu nước ngọt nghiêm trọng và không thể chống chọi khi nước mặn xâm nhập.


* Mekong cạn nước và cuộc đấu pháp lý với Bắc Kinh


Đã đến lúc Việt Nam phải xây dựng mạng lưới nước cho nông nghiệp, hệ thống này không chỉ giải quyết những vấn đề cấp bách mà sẽ tạo nên những giá trị lâu dài để các ngành nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp và đời sống nhân dân ĐBSCL tiến đến phát triển một cách bền vững.


Mạng lưới nước, giải pháp lâu dài cho ĐBSCL


Một quốc gia có bốn loại cơ sở hạ tầng kỹ thuật cơ bản là mạng lưới giao thông, điện, nước và thông tin liên lạc. Hiện nay, mạng lưới giao thông, điện, thông tin liên lạc ĐBSCL tạm gọi là đầy đủ thì mạng lưới nước, điều kiện để tạo sựổn định cho sản xuất nông nghiệp và dân sinh, hiện vẫn chưa được đầu tư đúng mức.


Tại ĐBSCL, 95% kênh rạch là các kênh rạch được xây dựng từ thời Pháp thuộc, Việt Nam chỉ xây dựng thêm và hoàn chỉnh một số kênh rạch. Thế nên mặc dù được tiếng là vựa lúa lớn nhất cả nước, nền nông nghiệp ĐBSCL hầu hết vẫn phụ thuộc vào mạng lưới nước tự nhiên và rất dễ bị tổn thương trước tình trạng biến đổi khí hậu. Con số 10/13 tỉnh bịảnh hưởng bởi hạn hán và nước mặn xâm lấn, nửa triệu hécta lúa bị mất mùa và hàng triệu người đang thiếu nước ngọt sinh hoạt đã chứng minh chúng ta không thể phụ thuộc vào hệ thống nước tự nhiên nữa mà cần những biện pháp tổng thể, lâu dài.


Dự báo về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu dẫn đến nước biển dâng đã được vệ tinh Landsat của Mỹ đưa ra từ năm 1988, cho thấy ĐBSCL cũng là một trong những khu vực sẽ chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu. Do đó, từ năm 1989, Trung tâm Nghiên cứu Phát triển khu vực ĐBSCL đã tiến hành khảo sát ở nhiều tỉnh, thành để đề ra giải pháp ngăn chặn.


Việc xây dựng mạng lưới nước tại một số địa phương đã được chúng tôi đề xuất từ lâu. Ngoài việc tận dụng các kênh rạch đã có, xây dựng các kênh rạch, hồ chứa để trữ nước ngọt, cần xây dựng một hệ thống ống dẫn nước ngọt thô từ các con sông lớn đến các khu vực cận biển. Đây là giải pháp vừa đảm bảo nước cho nông nghiệp, ngăn mặn, vừa là nguồn cung nước ngọt cho các nhà máy lọc nước phục vụ công nghiệp và cư dân.


Năm 1993, khi xây dựng định hướng phát triển cho Tiền Giang, Trung tâm đã cảnh báo việc xâm nhập mặn và đề xuất giải pháp làm đường ống dẫn nước thô.Khi đó, nước mặn thực tế đã xâm nhập tới Bình Đức. Việc làm đường ống tiện lợi ở chỗ có thể triển khai nhanh, chi phí không quá lớn, đồng thời có thể chủ động cung cấp nước thô cho sản xuất nông nghiệp qua các ống xả nước thô ở từng khu vực, vừa là nguồn nước cho các nhà máy lọc nước phục vụ cư dân. Dự kiến, đường ống dài 40 cây số, đi từ Bình Đức – thành phố Mỹ Tho ra tới Vàm Láng, khu vực cận biển của Gò Công Đông. Tuy nhiên, dự án này đã không được triển khai.Nếu những đường ống như vậy được triển khai sớm, Tiền Giang năm nay sẽ không mất 30 ngàn hécta lúa.


Tại Bến Tre, năm 1996, chúng tôi đã tiến hành khảo sát vùng Thạnh Phong, Thạnh Hải (huyện Thạnh Phú – tỉnh Bến Tre). Năm đó, nước biển dâng đã 1 tấc rưỡi so với trước đó. Trung tâm đã đề xuất làm một đường ống dẫn nước ngọt từ bán đảo Sơn Đông – Tân Thạch – huyện Châu Thành để kéo nước thô từ Chợ Lách về thị xã Bến Tre, từ đó sẽ chia làm ba nhánh cung cấp nước cho Ba Tri, Bình Đại và Thạnh Phú. Hiện nay ở Bến Tre, chỉ mỗi Chợ Lách là còn nước ngọt.Nếu hệ thống dẫn nước sớm thì Bến Tre sẽ không thiệt hại nhiều như hiện nay.


Nên đối phó hay thuận theo tự nhiên?


Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và thiệt hại trước mắt của người dân ĐBSCL đang đặt các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu, nhà khoa học lên bàn nghị sự. Ngay lúc này đây, ngoài những giải pháp cấp bách như ngân sách hỗ trợ cho các vùng bị thiệt hại, giải quyết nguồn cung nước sạch cho sinh hoạt cho cư dân, cần một giải pháp tổng thể được nghiên cứu đồng bộ, từ việc xây dựng hệ thống dẫn nước, trữ nước và cả việc thay đổi cơ cấu nông nghiệp sao cho phù hợp nhất.


Gần đây, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã đề xuất hai giải pháp để giải quyết vấn đề này.Giải pháp cứng cho cả trước mắt và lâu dài, là ngay lập tức hoàn chỉnh các công trình ngăn mặn, bên cạnh đó là tìm nguồn để xây dựng các công trình ngăn mặn, tích ngọt với số vốn khoảng 34.000 tỉ đồng (1,5 tỉ đôla Mỹ).


Để giải quyết nước tức thì cho đời sống nhân dân, nước cho sản xuất và chăn nuôi, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ hướng dẫn người dân khoan lấy nước. Bên cạnh đó, lắp ngay máy bơm tại các hồ chứa nước để đưa về. Đồng thời, bà con phải tích trữ tối đa nguồn nước ngọt.


Về giải pháp mềm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã đưa ra một quy trình canh tác lúa và cây ăn trái cho vùng đất bị nhiễm mặn của ĐBSCL cho riêng năm 2016. Ngoài ra, Bộ cũng đang xây dựng một gói kỹ thuật để ĐBSCL có thể thích ứng với biến đổi khí hậu cho những năm tiếp theo, đưa ra một loạt giống chống chịu được xâm nhập mặn, lập bản đồ xâm nhập mặn để bố trí cây trồng cho phù hợp. Với những khu vực bị xâm nhập mặn thường xuyên, không giống lúa nào chịu được thì được quy hoạch nuôi tôm hoặc một vụ tôm, một vụ lúa.


Có thể thấy, việc kết hợp giải pháp cứng và mềm hiện nay là một chiến lược khá đồng bộ với những công trình đồ sộ, hoành tráng.Thế nhưng, trong tình hình ngân sách của đất nước đang hạn hẹp, giải pháp cứng ngăn mặn với những đại công trình nghìn tỉ tốn nhiều công sức và thời gian triển khai liệu có khả thi? Trong khi việc xây dựng hệ thống ống nước dẫn ngọt không quá tốn kém, lại có thể triển khai nhanh chóng để giải quyết được bài toán nước ngọt để cứu lúa ở những vùng bị xâm nhập mặn chưa được thấy bàn đến.


Bên cạnh đó, có cần ngăn mặn để chống lại tự nhiên không? Khi mà thực tế đã chứng minh, nhiều địa phương ở các vùng ngập mặn của ĐBSCL đã thay đổi cơ cấu sản xuất từ hai vụ lúa sang một vụ lúa, một vụ tôm/cá và thích nghi tốt với biến đổi khí hậu, vừa đảm bảo đời sống của người dân mà lại không tốn quá nhiều chi phí đầu tư ngăn mặn.


Năm 1989, dự án Ngọt hóa bán đảo Cà Mau khiến nhiều chuyên gia không đồng tình và cũng vấp phải sự phản kháng của người dân.Việc trồng lúa trên chân ruộng đất nhiễm mặn mang lại năng suất thấp, tốn nhiều công sức và chi phí đã khiến người dân phá đê ngăn mặn để dẫn nước vào nuôi tôm. Gần đây ở Ngọc Hiển, Năm Căn, khi lúa mất hàng ngàn hécta, người dân cũng phá đê ngăn mặn để dẫn nước vào nuôi tôm. Nếu việc thích nghi với tự nhiên dễ dàng hơn với việc làm trái tự nhiên, tại sao chúng ta không chọn thích nghi?


Bên cạnh đó, đã đến lúc Việt Nam cần thay đổi tư duy của ngành nông nghiệp. Tại sao chúng ta phải giữ trọng trách nặng nề để đảm bảo an ninh lương thực thế giới, trong khi ai cũng biết trồng lúa không thể giúp nông dân làm giàu? Tại sao chúng ta phải trồng những giống lúa chất lượng thấp để rồi đem xuất khẩu với giá rẻ? Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng cần hướng đến một nền nông nghiệp có năng suất và chất lượng cao, có giá trị cao hơn.


Thực tế, ĐBSCL chỉ cần đảm bảo nước ngọt cho 1 triệu hécta chuyên canh lúa năng suất cao, chất lượng cao cũng đủ để bà con nông dân sống khỏe. Đây là con đường công nghiệp hóa nông nghiệp. Nếu làm hai vụ, mỗi năm ta có ít nhất 12 triệu tấn, nếu ba vụ 18 triệu tấn, có thừa để xuất khẩu. Năm trăm ngàn hécta lúa còn lại, có thể trồng lúa mùa đặc sản và tôm một vụ, giá trị gia tăng cao.Việc đảm bảo nước ngọt cho 1 triệu hécta sẽ nhẹ nhàng hơn nhiều so với việc cứu thêm 500 ngàn hécta nhiễm mặn. Với 500 ngàn hécta nhiễm mặn, khi đã thay đổi cơ cấu sản xuất, chỉ cần cung cấp nước ngọt để pha loãng và nuôi trồng thủy sản nên nhu cầu về nước ngọt sẽ không quá lớn.


Nông dân yên tâm với nước ngọt để sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản) và sinh sống.Công nghiệp chế biến nông thủy sản tại địa phương được đảm bảo nguồn nước sạch. Có nên chăng?


Nguyễn Văn Sơn – Chuyên viên Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Đồng bằng sông Cửu Long (DNSGCT)


30 năm đổi mới nhìn từ lĩnh vực Nông nghiệp


Lãnh đạo cũng thấy ‘nhức nhối’ cần thay đổi


12/08/2015  01:00 GMT+7


“Không chỉ nhân dân mà các cấp lãnh đạo và toàn xã hội đều thấy những tồn tại nhức nhối cần thay đổi… Nhưng có cái khó khác không đến từ sự “nhạy cảm” về chính trị” – TS Đặng Kim Sơn nói về sự cần thiết của một cuộc đổi mới nông nghiệp tiếp theo.


 Kỳ 1 Tọa đàm đã chỉ ra vai trò tiên phong của nông nghiệp trong Đổi mới, cũng như những thành tựu đạt được. Kỳ 2 đề cập những thách thức mà nền nông nghiệp và người nông dân phải đối mặt. Trong Kỳ 3 này, các chuyên gia thảo luận nhu cầu bức thiết của Đổi mới lần 2 trong Nông nghiệp, những việc trọng yếu cần thực hiện cũng như lường trước các trở ngại.


Hai khách mời Tọa đàm:


- TS. Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, chuyên gia chính sách nông nghiệp.


- PGS.TS Vũ Trọng Khải, nguyên Hiệu trưởng trường đào tạo cán bộ quản lý nông nghiệp nông thôn, chuyên gia nông nghiệp.


Đổi mới lần thứ 2?


Nhà báo Duy Chiến: Quả thật, những diễn biến trong lĩnh vực nông nghiệp gần đây đang là mối quan tâm, ưu tư của cả xã hội cũng như các cơ quan hữu trách. Thưa TS. Đặng Kim Sơn, liệu rồi nông nghiệp có còn giữ được vai trò trụ đỡ như hơn 30 năm qua?


Nông nghiệp, nông thôn, nông dân, tam nông, nông thôn mới, đổi mới, cải cách, Đặng Kim Sơn, Vũ Trọng Khải


TS. Đặng Kim Sơn. Ảnh: VnExpress


TS. Đặng Kim Sơn: Nông nghiệp đã đổi mới thành công và đạt được những thành tựu quan trọng trong 30 năm qua. Và nông nghiệp sẽ tiếp tục thúc đẩy đất nước đi lên trong giai đoạn mới.


Nông nghiệp là lĩnh vực mở đường, là nền tảng vững chắc cho kinh tế phát triển. Trước đây đã có lúc công nghiệp gặp vấn đề, ta khắc phục được. Có lúc thương mại gặp vấn đề, ta cũng khắc phục được, rồi dịch vụ gặp vấn đề, cũng đã khắc phục được! Nhưng nếu nông nghiệp mà gặp vấn đề, thậm chí chỉ cần tăng trưởng chậm lại, cả nền kinh tế sẽ bị chậm. Nếu nông nghiệp rung rinh, nứt vỡ thì cả nền kinh tế sẽ sụp đổ, xã hội lung lay.


Đây là tình trạng đã từng xảy ra ở Việt Nam và nhiều nước khác. Cho nên chúng ta không những không được phép để nông nghiệp tăng trưởng chậm, mà phải giữ cho nông nghiệp tiếp tục duy trì phát triển tốt hơn.


Và, suy cho cùng thì chính nông nghiệp và con người là lợi thế của nước ta trong quá trình hội nhập quốc tế và cạnh tranh toàn cầu. Ta không thể bỏ qua lợi thế của mình. Đó cũng là sứ mệnh và vai trò của nông nghiệp trong giai đoạn mới của đất nước!


Vấn đề là tăng thế nào? Sản xuất của chúng ta có vẻ thừa vì xưa nay ta nhắm vào thị trường dễ tính, thị trường chất lượng thấp, giá rẻ. Giờ chúng ta phải hướng tới cả thị trường khó tính, chất lượng cao, giá cao. Đây chính là tiền đồ của nền NNVN vào giai đoạn mới.


Hiện nay, kinh tế thế giới đang hồi phục và phát triển. Tương lai, loài người có hai thứ tăng mạnh cả dân số và thu nhập. Ở VN, mỗi năm có hàng triệu người bước vào giới trung lưu. TQ có hàng chục triệu người. Nếu tính cả Ấn Độ, Đông Nam Á và cả châu Á là vùng phát triển kinh tế năng động nhất thế giới thì mỗi năm, tại châu Á – Thái Bình dương, có hàng trăm triệu người gia nhập giới trung lưu.


Trên thế giới, dân số đô thị đã vượt quá 50%. Xu hướng dân số đô thị ngày càng tăng, dân số nông thôn ngày càng giảm. Như vậy, thị trường đang chuyển qua thị trường của thị dân, thị trường của người giàu có, người có tiền.


Họ không ăn nhiều gạo, ngô mà chuyển qua ăn thịt, cá. Cá thì họ chuyển sang ăn đồ biển nhiều hơn. Thịt thì chuyển sang ăn gia cầm, thịt đỏ như thịt bò, thịt trâu và sữa. Trong đồ dùng thì họ bớt dùng đồ sắt, plastic mà chuyển qua dùng đồ gỗ, đồ da, giấy v.v… Nghĩa là, nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp cao cấp hơn. Con người sẽ dùng hoa, dược phẩm và đi du lịch ngày càng nhiều.


Như vậy, kết cấu của nông nghiệp đòi hỏi phải chuyển hướng khác hoàn toàn về chủng loại và chất lượng, có giá trị gia tăng cao hơn. Nghĩa là, nếu 1 ha trồng lúa thu nhập được 1 thì chuyển qua trồng rau thu nhập được 3-4; 1 ha cây ăn quả thu nhập được 4-5 chuyển qua trồng thuốc, hoa, năng lượng sinh học được gấp hàng chục lần. Nhu cầu lương thực vẫn còn nhưng giảm đi nhiều. Đây là nền nông nghiệp khác biệt hẳn nền nông nghiệp hiện tại và cũng là thách thức rất lớn để có được thay đổi như thế.


Nhà báo Duy Chiến: Với sứ mệnh vô cùng quan trọng, nền nông nghiệp của chúng ta đang đứng trước thách thức rất lớn phải vượt qua, chuyển hóa hoàn toàn về chất, kết cấu, chiến lược sản phẩm và thị trường. Với những định hướng phát triển như TS. Đặng Kim Sơn vừa đề cập, dường như chúng ta hình dung đó sẽ là cuộc Đổi mới lần thứ 2 của nông nghiệp. Vậy các bước tiếp theo là gì, thưa TS. Đặng Kim Sơn?


TS. Đặng Kim Sơn: Muốn đạt được mục tiêu theo định hướng phát triển trên thì trước hết phải thực hiện thành công tiến trình mà chúng ta đang gọi là “Tái cơ cấu nông nghiệp”. Có ba nội dung chính sau đây:


Thứ nhất, phải làm ngay và làm cho được là mở cửa thị trường. Đầu tiên là mở cửa thị trường cho những nông sản hiện chúng ta đang có trong tay, đang dư thừa, thị trường cũ quen thuộc. Sau đó là mở cửa cho thị trường mới là những thị trường khó tính hơn nhưng sẵn sàng trả giá cao hơn và mở ra sức mua mới. Phải làm cho được. Đây là việc làm rất khó, vượt ra ngoài phạm vi của ngành nông nghiệp, liên quan đến cả các ngành công thương, ngoại giao, giao thông...


Thứ hai, song song với quá trình mở ra thị trường mới thì phải tiến hành thay đổi quan trọng bên trong ngành nông nghiệp. Thị trường mới cần loại nông sản mới. Muốn vậy, đầu tiên phải đột phá về KHCN. Đầu vào của nền nông nghiệp cũ là đất, nước, lao động, vật tư… Tất cả những thứ này đã chạm tới giới hạn. Riêng vật tư thì phải bớt đi chứ không thể giữ mức cao như hiện nay. KHCN khác với những đầu vào truyền thống, có thể đầu tư vô tận nếu chúng ta biết sử dụng.


Toàn bộ hệ thống dịch vụ, cơ sở hạ tầng, đầu tư… đều phải dựa vào KHCN. Đây là những thứ không có sẵn ở VN nên sẽ là bước đột phá rất lớn.


Thứ ba, để làm được những việc như trên, điều quan trọng là phải thay đổi chính sách và tổ chức sản xuất, trong đó, quan trọng nhất là tổ chức. Phải thay đổi cách thức làm việc giữa con người với con người, cách thức tổ chức lại các trang trại, gắn kết trang trại với nhau thành HTX; gắn kết DN với nhau thành hiệp hội; gắn kết hiệp hội của DN với HTX của nông dân thành chuỗi giá trị. Tất nhiên cách thức quản lý của nhà nước cùng phải thay đổi trong mô hình mới.


Việc xây dựng cách thức làm ăn mới, luật chơi mới này chúng ta có thể gọi chung là “Đổi mới thể chế”.


Chỉ tái cấu trúc là chưa đủ


PGS.TS. Vũ Trọng Khải: Theo tôi, nếu chỉ “tái cấu trúc nông nghiệp” thì chưa đủ để thay đổi một cách căn cơ, tạo ra chuyển hóa mạnh mẽ như yêu cầu phát triển. Quá trình này cần phải tạo ra yếu tố mới, kết hợp chúng với nhau trong một chỉnh thể mới, vận hành theo cơ chế quản lý phù hợp với cấu trúc của nó, tạo ra những thuộc tính khác hẳn về chất, vốn không hề có trong chỉnh thể cũ.


Nông nghiệp, nông thôn, nông dân, tam nông, nông thôn mới, đổi mới, cải cách, Đặng Kim Sơn, Vũ Trọng Khải


Chất lượng của chỉnh thể mới sau khi xây dựng lại được thể hiện bằng những tiêu chí phản ánh mục tiêu của nó. Đó chính là tiêu chí nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân cả về vật chất lẫn tinh thần, bảo đảm công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên và nhân văn.


Cho nên, chính xác là phải xây dựng lại nền nông nghiệp chứ không chỉ “tái cấu trúc”, tức là chỉ sắp xếp một cách hợp lý hơn những yếu tố cấu thành vốn có.


Xây dựng lại nền nông nghiệp phải bắt đầu từ chiến lược và quy hoạch phát triển. Trong đó phải xây dựng lại chiến lược sản phẩm trên phạm vi quốc gia, từng vùng, tiểu vùng sinh thái căn cứ vào dự báo thị trường trong và ngoài nước, dựa trên lợi thế cạnh tranh của quốc gia, của từng vùng.


Trên cơ sở đó, xây dựng lại quy hoạch và kế hoạch phát triển kết cấu hạ tầng từ thủy lợi, giao thông, bến cảng, kho tàng, các cơ sở logistic (hậu cần)… trên phạm vi cả nước và từng vùng.


Song song với quá trình trên là phải thiết lập chiến lược phát triển KHCN và đào tạo nguồn nhân lực để thực hiện chiến lược phát triển sản phẩm và xây dựng kết cấu hạ tầng, đô thị nông thôn theo quy hoạch vùng.


Mặt khác, chúng ta phải xây dựng nền nông nghiệp thể chế. Tức áp dụng phổ biến mô hình quản lý theo chuỗi giá trị ngành hàng nông sản từ trang trại đến bàn ăn hay xuất khẩu đến mạn tàu. Tổ chức lại nền SXNN theo hợp đồng ở mỗi vùng và tiểu vùng sinh thái. Trong đó vai trò của DN phải là “nhạc trưởng” tổ chức lại sản xuất theo hợp đồng, quản lý chuỗi giá trị ngành hàng, cùng với các trang trại, HTX thiết lập cơ chế phân chia trách nhiệm và lợi ích. Đây chính là cơ sở kinh tế tạo ra tính bền vững của mối liên kết này...


Nhà báo Duy Chiến: Như vậy, vai trò của người nông dân cũng rất khác trước. Nếu như ở lần Đổi mới thứ nhất, hộ nông dân là đơn vị tự chủ, độc lập thì nay hộ nông dân là một bộ phận của chuỗi ngành hàng?


PGS.TS. Vũ Trọng Khải: Người nông dân dù có giỏi đến đâu cũng không thể tồn tại trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh toàn cầu nếu không tham gia chuỗi giá trị ngành hàng!


Về mặt pháp lý, hộ nông dân là đơn vị tự chủ kinh doanh, có toàn quyền sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu, giá cả ra sao, bán cho ai. Nhưng về mặt kinh tế, nông dân, hộ nông dân, trang trại phải là đơn vị gia công cho DN, nằm trong mạng lưới của DN. Đây là thực tế mà ít người thấy và ít đề cập đến.


nghiệp, nông thôn, nông dân, tam nông, nông thôn mới, đổi mới, cải cách, Đặng Kim Sơn, Vũ Trọng Khải


Nông nghiệp là trụ đỡ cho sự ổn định xã hội. Ảnh minh họa: Văn Trị/ Phân xã Đồng tháp


Đổi mới 2.0: Khó không chỉ ở lập trường, quan điểm


Nhà báo Duy Chiến: Theo quy luật của sự phát triển, cái mới tiến bộ xuất hiện để thay thế cái cũ nhưng bao giờ cũng vấp phải sự chống trả, cản trở. Công cuộc Đổi mới bắt đầu từ 30 năm trước cũng vậy, với nông nghiệp, bắt đầu từ đột phá tư duy, điểm chạm là HTX. Với cuộc “Đổi mới lần thứ hai” này, sẽ có những thách thức khó khăn như thế nào?


TS. Đặng Kim Sơn: Cuộc cải cách mạnh mẽ nông nghiệp lần này cũng giống lần trước từ điểm khởi đầu là những đụng chạm đến đột phá tư duy. Đó chính là cái mà chúng ta hay gọi bằng những cái tên như “quan điểm”, “lập trường”, “cách nghĩ”…


Cuộc đột phá lần trước diễn ra trong bối cảnh toàn bộ nhân dân đã thấy hết sự thật là phải vượt qua khuôn khổ HTX ra để đưa ruộng đất, TLSX về cho nông dân. Trong hệ thống chính trị có người thấy nhưng nhiều người không. Họ sợ rằng chuyển từ làm ăn tập thể sang cá thể thì sẽ vỡ mất nền tảng căn bản của CNXH. Cuối cùng việc này chỉ làm được sau hàng chục năm.


Lần này cũng có những vấn đề tranh cãi không kém phần gay gắt, quyết liệt như thực hiện sở hữu toàn dân đất đai như thế nào trong quan hệ với quyền sử dụng đất đa dạng, vai trò kinh tế nhà nước tới đâu trong quản lý doanh nghiệp… Chính những tư duy cũ đã làm chậm đi quá trình cổ phần hóa DNNN, làm chậm đổi mới các nông lâm trường quốc doanh.


Song nhìn chung thì lần này đã có sự đồng cảm rộng hơn. Và quan trọng là không chỉ nhân dân mà các cấp lãnh đạo và toàn xã hội đều thấy những tồn tại nhức nhối cần thay đổi.


Nhưng có cái khó khác không đến từ sự “nhạy cảm” về chính trị. Nếu như lần trước tất cả mọi người đều nghèo, cả XH bị dồn vào thế bế tắc, không lối ra, nhất là khi phe XHCN không còn, nước ta lại bị cấm vận, mới bước ra khỏi nhiều cuộc chiến tranh, thì mọi người ai cũng thấy Đổi mới là lối thoát. Còn bây giờ đã bước vào cơ chế thị trường, đã có sự phân hóa giữa nhiều thành phần, lợi ích khác nhau nên đã xuất hiện sự xung đột, mâu thuẫn về kinh tế gay gắt. Như đã đề cập ở phần trước, dù xung đột lợi ích là điều tất yếu trong cơ chế thị trường nhưng nó sẽ làm khó khăn và tác động đến tiến trình Đổi mới.


Đặc biệt, sự xuất hiện của các nhóm lợi ích bên trong và bên ngoài là điều cần quan tâm, đòi hỏi chúng ta phải sắc sảo, nhạy bén và quyết tâm đổi mới.


Nhà báo Duy Chiến: Xin chân thành cảm ơn PGS. TS. Vũ Trọng Khải và TS. Đặng Kim Sơn đã tham gia cuộc tọa đàm của Tuần Việt Nam! Hy vọng chúng ta sẽ có dịp thảo luận tiếp những vấn đề mà do thời gian eo hẹp chưa thể đề cập đầy đủ trong lần gặp gỡ này.


vietnamnet.vn


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Võ Hồng Anh, một nhà khoa học chân chính - Tư liệu sưu tầm 21.10.2017
Tác phẩm mới cần đọc ngay: Nhà Triệu - Mấy vấn đề lịch sử - Nguyễn Khắc Mai 19.10.2017
Chuyện Đông chuyện Tây và chuyện An Chi chưa kể hết - Tư liệu 17.10.2017
Con chim trong tay ta đây còn sống hay đã chết? - Nguyễn Quang Thiều 16.10.2017
Về hệ thống Trường học sinh Miền Nam ở Miền Bắc - Nhiều tác giả 16.10.2017
Xót thương Đinh Hữu Dư – nhà báo trẻ đầy tâm huyết vừa đi xa - Tư liệu 16.10.2017
Tác phẩm: Nhà nước Xích Quỷ từ huyền thoại tới hiện thực - Trương Sỹ Hùng 13.10.2017
Kỷ nhà Triệu & Triệu Vũ Đế trong dòng chảy lịch sử - Vũ Truyết 12.10.2017
Cái “tôi” của người Việt - Từ Thức 12.10.2017
Không thể được! Thưa Tổng thống Pháp! - Nguyễn Huy Toàn 12.10.2017
xem thêm »