tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20224682
Những bài báo
26.03.2016
Nhiều tác giả
Dấu xưa Đồng Tháp Mười



Bí ẩn miếu Hoàng Cô


Ðồng Tháp Mười là vùng đất trải rộng trên 3 tỉnh Tiền Giang, Long An, Đồng Tháp. Các nhà khảo cổ học khẳng định cư dân Phù Nam từng sinh sống ở đây.


Vùng đất này còn là vựa lúa của đồng bằng Nam bộ, gắn liền với quá trình khai hoang mở cõi và chứa đựng nhiều điều bí ẩn.


Nằm trong quần thể khu di tích Gò Tháp, miếu Hoàng Cô tọa lạc giữa Gò Tháp Mười và Tháp Linh cổ tự, ngày xưa chỉ là một ngôi miếu nhỏ, làm bằng gỗ.


Nghi vấn ngôi mộ cổ


Trong miếu, giữa gian chính có đặt một bức tượng tương tự như tượng Bà Chúa Xứ. Anh Võ Tấn Nghĩa (Ban Quản lý khu di tích Tháp Mười) cho biết ngôi miếu hiện tại được người dân góp tiền xây dựng năm 1998 để có chỗ rộng rãi cho khách đến viếng.


Vì nằm trong khu vực bảo vệ đặc biệt của khu di tích Gò Tháp nên miếu không được phép xây dựng kiên cố mà chỉ làm bằng gỗ, nền xây kè. Riêng ngôi miếu nhỏ có từ trước năm 1975 đã dẹp bỏ, chỉ giữ lại ngôi mộ. Hằng năm, vào ngày rằm tháng 3 âm lịch, khi tổ chức cúng vía Bà Chúa Xứ thì cúng luôn bà Hoàng Cô.


Người dân vun gạch vụn, đá cuội lên nấm mộ được cho là của bà Hoàng Cô. Gần ngôi mộ có một cây bún “đặc trưng, duy nhất của vùng Đồng Tháp Mười”, còn gọi là cây cần sen. Theo anh Văn Công Khánh, nhân viên của Ban Quản lý khu di tích Gò Tháp, thì cây bún có tuổi đời chừng 70 năm. Mỗi khi trổ bông, cây bún tỏa ra mùi hương rất thơm.


Gần cạnh ngôi mộ còn có một giếng nước xưa. Trước đây, khi chưa có nước máy, người dân vẫn lấy nước sinh hoạt từ giếng cổ này. Anh Khánh nói cho đến bây giờ, các nhà khảo cổ và cả những “nhà ngoại cảm” đã đến khảo sát nhiều lần nhưng chưa ai dám xác định rằng bên dưới ngôi mộ có hài cốt hay không?


Cuối năm 2014, Trường ĐH KHXH-NV TP.HCM cho đào thám sát và phát hiện phía sau nền của ngôi chùa cũ, gần khu mộ, có di tích nền kiến trúc cổ của thời Vương quốc Phù Nam. Qua khai quật đã xác định đây chính là đền thờ của nữ thần Parvati, tức là vợ của thần Shiva.


Sắc phong của vua Khải Định?


Xưa nay trong dân gian có truyền thuyết rằng một bà Hoàng Cô, em gái vua Gia Long, trong khi chạy trốn sự truy đuổi của quân Tây Sơn đã về đây trú ngụ ít lâu rồi đi nơi khác. Một thời gian sau nghe tin bà qua đời, người dân nhớ thương nên lập miếu và lập mộ thờ vọng. Lại có câu chuyện bà Hoàng Cô hiện về nhập xác, báo mộng… cho dân lập mộ. Để câu chuyện thêm phần thuyết phục, dân địa phương tin rằng địa danh “Đường thét” ở vùng này chính là con đường do đàn voi của Tây Sơn đi qua lúc truy đuổi chúa Nguyễn Phúc Ánh.


Căn cứ vào tờ sắc được thờ trong miếu thì bà Hoàng Cô tên là Nguyễn Phúc Hồng Nga. Nhưng theo nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường, người đã dịch tờ sắc phong này, thì đạo sắc ghi ngày 25.7 năm Khải Định thứ 9 (1924). Nội dung nêu rằng từ trước thôn Tháp Mười, xã Mỹ Thọ, tổng Phong Nẫm, tỉnh Sa Đéc, đã thờ bà Nguyễn Phúc Hồng Nga, được phong “Thuần nhất - Hồng nhân - Báo nghĩa - Phương khiết - Đức tâm - Đoan trinh - Diễm lệ Thiện Khánh Trưởng công chúa” và được vua Khải Định gia phong “Minh Nghi Thái Trưởng công chúa”, đặc chuẩn cho thờ.


Tuy nhiên, ông Tường cho rằng nội dung lá sắc có nhiều điểm nghi vấn. Thứ nhất, không có sử liệu nào ghi chép chúa Nguyễn Phúc Ánh từng đến Tháp Mười. Thứ hai không có bà Hoàng Cô nào tên là Nguyễn Phúc Hồng Nga lại được phong thần bởi lẽ các mỹ tự trong đạo sắc: “Minh Nghi Thái Trưởng công chúa” được nhà Lê sử dụng trước đó. “Không lẽ vua Khải Định lại không biết điển lệ của tổ tiên hay sao mà tiếp tục phong tặng “Minh Nghi Thái Trưởng công chúa” cho một vị Hoàng Cô ”, ông Tường phân tích.


Khu di tích khảo cổ miếu Hoàng Cô được tiến hành khai quật vào năm 2010. Lúc bấy giờ các nhà khảo cổ đào tường thành phía tây Gò Tháp Mười thì lộ ra kiến trúc Ao thần. Ao có chiều dài 122 m, chiều rộng 113 m, nằm khuất trong đầm nước mọc đầy cỏ và cây dại. Tại đây các nhà khảo cổ đã tìm thấy một bộ linga-yoni nhỏ. Phăng theo hướng định vị, vào năm 2013 các nhà khảo cổ phát hiện tiếp kiến trúc rời khác, là một đền thờ. Khi giở lớp đá mặt, họ gặp mảnh vàng có hình mặt trời và khẳng định đây là kiến trúc đền thờ thần mặt trời Surya.


Ngoài ra, trong hố khai quật này các nhà khảo cổ còn tìm được bức tượng thần Shiva, một số hiện vật đá, nồi gốm rất quý. Anh Nghĩa cho biết khu vực này đất rất cứng, khi khai quật phải đổ nước cho mềm đất, dùng cuốc chim xới đất, may mắn là các hiện vật không bể. Hiện Ao thần đã khai quật được một hố. Do diện tích quá lớn không thể bảo tồn hết ao nên hiện thời chỉ xây dựng mái che để vừa bảo vệ hố đã khai quật vừa phục vụ khách tham quan.


Dấu xưa Đồng Tháp Mười: Bà Chúa Xứ Gò Tháp và Đìa Phật - Đìa Vàng


Hằng năm, lễ hội Bà Chúa Xứ Gò Tháp được tổ chức vào hai ngày 14 và 15 tháng 3 âm lịch, thu hút hàng trăm ngàn lượt khách thập phương.


Mấy năm nay vào các ngày lễ hội, đường vào khu di tích Gò Tháp thường bị tắc nghẽn. Du khách cho rằng “Bà Chúa Xứ ở Châu Đốc là chị, còn Bà Chúa Xứ ở Gò Tháp là em” nên kéo đến miếu Bà Chúa Xứ Gò Tháp chiêm bái rất đông. Miếu nằm trong quần thể khu di tích khảo cổ Gò Tháp Mười (tỉnh Đồng Tháp), xung quanh có nhiều cây cổ thụ trăm năm xòe bóng mát, cao sừng sững.


Miếu thờ cả Hai Bà Trưng


Theo Ban Quản lý khu di tích Gò Tháp thì miếu Bà Chúa Xứ được dựng lên vào khoảng năm 1914 trên nền gạch cổ ở đỉnh gò, nhưng sau đó bị hư hại do chiến tranh. Đến năm 1973, miếu được xây dựng lại cũng bằng gạch, nhưng quy mô nhỏ, chỉ chừng 50 m2. Năm 1984, khi các nhà khảo cổ tiến hành khai quật khu vực này thì ngôi miếu được dời qua phần đất bên cạnh, cách đó khoảng 40 m về hướng tây nam. Từ năm 1996, ngôi miếu được xây dựng với quy mô kiên cố như hiện giờ.


Theo nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường, Bà Chúa Xứ (Chúa xứ Thánh mẫu) là thần chủ quản một địa phương nhỏ làm nghề trồng lúa. Vị nữ thần này truy nguyên có nguồn gốc từ Pô-Nagar, tức bà mẹ xứ sở của dân tộc Chăm, mà nguồn gốc xa hơn là nữ thần Uma của đạo Bà La Môn ở Ấn Độ, người Việt gọi là Ngung Mang nương hay thần tiền chủ, thường được tôn thờ ở những vùng đất mới khai hoang.


Điểm đặc biệt, theo anh Võ Tấn Nghĩa (Ban Quản lý khu di tích Gò Tháp) là ở miếu Bà Chúa Xứ Gò Tháp có thờ cúng Hai Bà Trưng và một người phụ nữ chuyên làm việc thiện, bố thí cho dân, người dân nhớ tới công đức nên đem vào thờ nhưng không ai còn nhớ tên họ. Việc phối tự Hai Bà Trưng có lẽ diễn ra sau năm 1954. Có ý kiến cho rằng lúc này Đồng Tháp Mười trở thành biểu tượng cho tinh thần yêu nước, kháng chiến của dân Nam bộ. Một vài tờ báo ở Sài Gòn lúc bấy giờ phát động các cuộc thi thơ văn viết về Đồng Tháp Mười. Trí thức yêu nước cũng có những hoạt động hướng về Đồng Tháp Mười như một cách biểu thị ủng hộ thời 9 năm kháng chiến chống Pháp.


Hằng năm, lễ hội Bà Chúa Xứ Gò Tháp được tổ chức vào hai ngày 14 và 15 tháng 3 âm lịch, thu hút hàng trăm ngàn lượt khách thập phương.


Đền thờ thần Mặt trời


Di tích đền thờ thần Mặt trời Surya bắt đầu được khai quật từ năm 1984. Hiện nay khu di tích đã được xây dựng công trình mái che hình chóp rất thoáng và nổi bật với mái tôn màu đỏ. Cổng vào di tích được trang trí các phù điêu hình hoa sen cách điệu. Các bức bình phong chắn gió được đắp phù điêu tượng thần.


Anh Nghĩa cho biết trước khi khai quật, người ta phát hiện trên mặt đất gò Bà Chúa Xứ lộ ra nhiều viên gạch cổ và một số vật thờ cùng những bức tượng bể… được gom lại dưới gốc cây trước miếu thờ ông Tà. Sau khi khai quật đã phát lộ ra một công trình kiến trúc cỡ lớn được xây bằng gạch thẻ có kích thước khoảng 10 x 20 x 30 cm. Trung tâm nền gạch có xếp hình tia mặt trời bằng 8 viên gạch. Ngoài ra, trong quá trình khai quật dưới độ sâu gần 1,4 m, các nhà khảo cổ cũng đã tìm thấy 2 mảnh vàng, trong đó một mảnh có vòng tròn hình mặt trời và một mảnh có 8 tia hình mặt trời, vì vậy các nhà khảo cổ khẳng định đây chính là đền thờ thần Mặt trời Surya. Cũng tại khu vực này, trước đó người dân đã phát hiện được một tượng thần Surya bằng đá.


Cách miếu Bà Chúa Xứ khoảng hơn 100 m là một khu vực trũng thấp, đất nhiễm phèn nặng. Đìa sen, lung nước bao phủ xung quanh bởi cỏ năn, sậy đế và tràm. Anh Nghĩa cho biết vào khoảng năm 1978, khi người dân trong vùng đào đìa đã phát hiện được 10 pho tượng Phật bằng gỗ nên gọi là đìa Phật. Cũng trong khoảng thời gian này, người dân đào mở rộng đoạn lung cách đìa Phật chừng 500 m đã bắt gặp nhiều mảnh vàng mỏng, mạt vàng và một ít đồ trang sức bằng vàng, từ đó khu vực này có thêm địa danh là Đìa Phật - Đìa Vàng. Đến tháng 4.2013, Trường ĐH KHXH-NV TP.HCM và Ban Quản lý khu di tích Gò Tháp kết hợp khảo sát toàn bộ khu vực Đìa Phật - Đìa Vàng. Đợt này, các nhà khảo cổ tiến hành đào 4 hố khai quật và 9 hố thám sát, đã làm xuất lộ một phế tích kiến trúc cư trú bằng gạch với các kích cỡ khác nhau. Ngoài ra, còn có loại ngói phẳng dạng hình vuông mà các nhà chuyên môn cho rằng thuộc giai đoạn văn hóa Óc Eo phát triển.


Cũng theo anh Nghĩa, đợt khai quật nói trên đã phát hiện số lượng hiện vật khá phong phú và đa dạng về chủng loại, bao gồm gạch ngói, đất nung, mảnh vàng, chuỗi thủy tinh và hơn 20 bức tượng gỗ và một số tượng đá. Đặc biệt là tại đìa Vàng đã phát hiện một tượng Phật bằng gỗ cao 123 cm rất giá trị bổ sung vào kho tàng hiện vật độc đáo ở khu di tích Gò Tháp Mười. Ngoài ra, các nhà khảo cổ còn phát hiện các cọc gỗ có dấu vết gia công, cọc gỗ nhà sàn và nhận định đã từng có một giai đoạn khá dài cư dân cư trú.


Sư tử huyền thoại ở chùa Tháp Linh


Gò Tháp Mười là gò lớn và cao nhất trong quần thể khu di tích Gò Tháp (tỉnh Đồng Tháp). Cách đó chừng 100 m về phía bắc là Tháp Linh cổ tự.


Mở đất, lập chùa


Người dân địa phương cho biết trước năm 1975 chùa Tháp Linh lợp lá, nền gạch đơn giản, được cất ở khu vực triền gò. Mặc dù ghi là cổ tự, song niên đại ngôi chùa còn nhiều điểm nghi vấn.


Theo mô tả của nhà văn Nguyễn Hiến Lê trong quyển Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười, đó là “một ngôi chùa bằng gạch, rộng thênh thang mà đồ thờ rất ít, chỉ có vài tượng Phật bằng gỗ sơn hoặc để mộc, vài bình hương, một ngọn đèn dầu cá leo lét. Không có một bức hoành, một đôi liễn. Hỏi người giữ chùa về di tích thì người ấy đáp nền chùa này ở trong đồn Tháp hồi xưa. Mấy năm trước, dân chúng quanh đây đào được ở chân giồng những viên sắt lớn bằng đầu ngón tay, chắc là những viên đạn thời đó. Ngoài ra, còn thấy những cây cừ bằng gỗ sao chôn ở dưới đất, đen như than. Còn chùa cất từ năm nào thì không rõ”.


Căn cứ vào thời điểm ra đời của quyển du ký nói trên, vào năm 1937, khi tác giả về đây đo đạc ruộng đất thì ngôi chùa này đã hiện diện. Còn theo nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường thì vào năm 1853, Khâm sai đại thần Nguyễn Tri Phương đến Gia Định thực hiện kế hoạch khai hoang lập đồn điền, ông đã mời Hòa thượng Hải Tịnh đến tại tư dinh đàm đạo. Hai người cùng chung ý tưởng “muốn dân chúng lạc nghiệp thì trước tiên phải an cư” nên đã thỏa thuận, hễ đại thần khai hoang mở ruộng đến đâu thì hòa thượng cho tăng chúng theo sau xây cất chùa chiền đến đó.


Vậy là nhiều ngôi chùa được xây cất trong vùng đất vừa mới được khai hoang lập làng. Công việc hoằng dương Phật pháp theo kế hoạch đồn điền còn dang dở thì quân viễn chinh Pháp tấn công vào Gia Định. Hòa thượng Hải Tịnh là một nhà sư có nhiều đệ tử, đặc biệt có công lớn trong việc khai hoang, lập đồn điền sau năm 1853. Do đó có thể khẳng định niên đại chùa Tháp Linh không thể có trước năm 1853 được.


Khi cuộc kháng chiến chống Pháp của nghĩa sĩ Nam kỳ nổ ra, nhiều đệ tử của Hòa thượng Hải Tịnh đã tích cực ủng hộ và tham gia kháng chiến, trong đó có Lãnh binh Nguyễn Văn Cẩn, quê ở Cái Thia (H.Cái Bè, Tiền Giang). Lãnh binh Cẩn và Đốc binh Kiều là hai thuộc tướng của Thiên hộ Võ Duy Dương. Sau thất bại ở căn cứ Tháp Mười, Lãnh binh Cẩn đi tu ở chùa Tây An (Châu Đốc).


Theo TS Phạm Văn Khanh, những năm cuối 1870, Lãnh binh Cẩn trở về làng Hòa Hưng (Cái Bè) trùng tu chùa Thắng Quang để hành đạo. Ông lại vào Gò Tháp Mười xây dựng chùa Tháp, lập bàn thờ Thiên hộ Dương, Đốc binh Kiều và những nghĩa binh tử trận năm xưa ở nơi này. Bị Trần Bá Lộc theo dõi, ông trở về làng Mỹ Lợi (Cái Bè) lập chùa Phước Quang và trụ trì. Ông viên tịch tại đây ngày 25 tháng chạp (âm lịch) năm 1902, thọ 100 tuổi và được an táng tại ấp Lợi Tường (xã Mỹ Lợi A, Cái Bè) trong vườn nhà của ông Nguyễn Văn Tâm - hậu duệ đời thứ năm và là người cúng giỗ ông hằng năm.


Năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm cho dời chùa Tháp Linh, cách Gò Tháp Mười khoảng 100 m để xây dựng tháp 10 tầng. Ông Phạm Ngọc Em, người địa phương, mô tả ngôi tháp ấy có hình lục giác tương tự tháp chùa Thiên Mụ (Huế), cao gần 40 m, nhưng chỉ tồn tại đến năm 1960 thì bị đánh sập. Sau khi di dời, chùa Tháp Linh được cất tạm, lợp lá, nhưng có xây tường, lót gạch tàu. Trước năm 1975, chùa có nhiều tượng gỗ, tượng đồng do người dân nhặt được đem vô thờ. Đến năm 1990, một số tượng được đem về Bảo tàng Đồng Tháp để gìn giữ.


Tổng thống và thú “lạ”


Trước năm 1955, tại chùa Tháp Linh có trưng bày một con thú “lạ”. Theo một số tư liệu, đây là linh vật được nhà khảo cổ người Pháp H.Parmentier tìm thấy vào năm 1932 trong đống gạch đá của phế tích Gò Tháp. Còn theo nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng, thú lạ đó là “con Tao” - một loại sư tử huyền thoại tượng trưng cho sức mạnh chính pháp, thường được tạo tác bằng đá đặt trước đền đài Bà La Môn giáo để làm nhiệm vụ canh giữ.


Nhiều người dân địa phương kể lại rằng, sau khi xây xong ngôi tháp 10 tầng, bấy giờ “Tư lệnh Biệt khu Đồng Tháp Mười” Nguyễn Văn Là (sau này là trung tướng) đã mời Tổng thống Ngô Đình Diệm về cắt băng khánh thành công trình Tháp Mười và kinh Phước Xuyên. Phát hiện linh vật nói trên, ông Diệm ra lệnh chở về dinh Độc Lập với lý do “mượn làm mẫu” rồi tịch thu luôn không trả lại cho chùa. Vị sư trụ trì chùa Tháp Linh lúc đó là thầy Thích Thiện Hảo (dân gian gọi là thầy Hai) không dám lên tiếng đòi lại.


Sau khi ngôi tháp 10 tầng bị đánh sập, thầy Hai rời Gò Tháp đến chùa Thanh Lương (Cao Lãnh, Đồng Tháp) tiếp tục tu hành. Cuối năm 1963, nghe tin Ngô Đình Diệm bị phe đảo chính giết chết, ông khăn gói lên Sài Gòn tìm thấy cặp linh vật đặt ở dinh Độc Lập và thuê người chở về chùa Thanh Lương. Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Hiếu (Hội Khoa học lịch sử tỉnh Đồng Tháp) cho biết, cặp “Tao” ở chùa Thanh Lương hiện nay có một con bị mất đuôi là linh vật ở Gò Tháp, còn con nguyên vẹn thì của Tổng thống Diệm đã “mượn” ở đâu đó.


Sau thời gian dài hoang phế bởi chiến tranh, năm 1999 chùa Tháp Linh được xây dựng lại hoành tráng uy nghi với kiến trúc hiện đại mang dáng dấp chùa Từ Đàm ở Huế.


Kỳ bí Gò Minh Sư


Vào khoảng năm 1919 - 1920, một người theo đạo Minh Sư tên là Trần Văn Huê đến đây, thấy cảnh quan u tịch nên cất một cái am tu hành, tổ chức cầu cơ quy tụ tín đồ. Từ đó người dân địa phương quen gọi là Gò Minh Sư.


Mặc dù nằm giữa vùng Đồng Tháp Mười nhưng trong trận lụt lịch sử năm 2000, người dân địa phương cho biết trong khi khu vực xung quanh nước ngập sâu qua khỏi ngực thì Gò Minh Sư chỉ hơi mấp mé. Gò có diện tích 1.500 m2, cao 4,311 m, xung quanh trồng cây ăn trái và nhiều loại cây dại bao phủ tạo không gian mát mẻ. Hiện nay Gò Minh Sư được bảo quản bằng công trình mái che 2 lớp thông thoáng.


Phát lộ đền thần Shiva


Từ năm 1989, Gò Minh Sư được Bộ VH-TT xếp hạng là di tích cấp quốc gia. Đến năm 2012, Thủ tướng Chính phủ xếp hạng là “di tích quốc gia đặc biệt”. Hiện nay Gò Minh Sư là một trong những điểm tham quan hấp dẫn du khách mỗi khi Gò Tháp có lễ hội, đồng thời cũng là nơi còn chứa đựng nhiều điều bí ẩn đối với các nhà khảo cổ.


Theo tài liệu của Ban Quản lý khu di tích Gò Tháp thì Gò Minh Sư được xác định là một trong những quần thể di chỉ khảo cổ của Vương quốc Phù Nam thuộc nền văn hóa Óc Eo từ hàng ngàn năm trước. Năm 1984, đoàn khảo cổ thuộc Phân viện Khoa học xã hội TP.HCM đã đào một hố sâu trên đỉnh gò và kết luận rằng đây không phải là gò đất tự nhiên mà do con người đắp. Chiều cao của gò được cấu tạo gồm 12 lớp đất xen kẽ nhau, cứ mỗi lớp đất được cách một lớp gạch nhằm tạo nền móng vững chắc cho ngôi đền.


Qua các đợt khai quật từ năm 2001 - 2003, các nhà khảo cổ đã mở rộng vị trí ở phía đông nam cách chân Gò Minh Sư chừng 100 m và đã làm rõ các đặc điểm của di chỉ cư trú ở vùng này. Đây là hình thức cư trú trên các đồi gò thấp bên các con lạch nhỏ. Đến đợt khai quật năm 2009 đã khẳng định đây là một trong những kiến trúc đền thờ thần Shiva thuộc nền văn hóa Phù Nam, sau khi phát hiện từng mảng lớn những khối gạch được lát theo kiểu hình trụ đứng. Từ trung tâm di tích tỏa đi các hướng là khối gạch được xếp theo hình chữ nhật với chiều dài khoảng 12 m, ở giữa có một lỗ hình chữ nhật kéo dài và cắt một cạnh của hình chữ nhật khác, có rãnh khoảng 0,5 m...


Khi ngôi đền được khai quật tổng thể đã xuất lộ một bình đồ kiến trúc xây dựng bằng gạch khá phức tạp, gồm khu vực trung tâm có dạng hình ngôi đền khối vuông, hành lang ngoài, bờ tường, kiến trúc cổng đền và máng dẫn nước thiêng. Ở phía tây khối gạch trung tâm, các nhà khảo cổ đã thu được lớp tro đen và những vật dụng như đồ gốm cổ, đầu ngựa làm bằng đất nung. Lớp cuối cùng là những cột gỗ mà các nhà nghiên cứu nghi là người Phù Nam đã sử dụng để chống lún.


Ngoài ra, trong đợt khai quật lần này, nhiều hiện vật đã được phát hiện như khuyên tai bằng vàng, vòng đeo tai bằng đồng, đầu ngựa bị vỡ, vật hình bánh xe và một số đĩa nhỏ... Đặc biệt là tìm thấy ở bờ tường khu vực phía nam một chiếc nhẫn vàng khắc hình con ốc Sankha, biểu tượng của thần Vishnu, xung quanh có chạm dây lá cách điệu. Theo anh Võ Tấn Nghĩa (Ban Quản lý khu di tích Gò Tháp) thì đây là hiện vật thuộc loại “độc bản” quý hiếm.


Đến năm 2013, tiếp tục khai quật phía tây Gò Minh Sư, các nhà khảo cổ đã tìm thấy một số tượng thần Vishnu bị mất tay nhưng còn nguyên chân đế và khoảng 80 hiện vật bằng vàng, có chạm khắc hình con bò rất sống động, hình bánh xe và một số đồ trang trí mỹ nghệ khác... “Những hiện vật này nhà khảo cổ Đặng Văn Thắng cho là đồ tế lễ, cúng thần. Gò Minh Sư có 2 lớp di chỉ, trùng tu nhiều lần, lớp trên đậy lớp dưới và các nhà khảo cổ khẳng định đây là đền thờ thần Shiva”, anh Nghĩa cho biết.


Nhiều hiện vật được hiến tặng


Cũng theo anh Võ Tấn Nghĩa thì trước khi khai quật, ở chính giữa Gò Minh Sư có miếu Ông Tà, bên cạnh có hai phiến đá bùn. Hiện nay, miếu Ông Tà đã được dời dựng cạnh Gò Minh Sư. Ở đây người dân thường nhặt đá chất xung quanh miếu để thờ cúng, trong đó có cả một số hiện vật đá như linga - yoni.


Cũng tại đây đã phát hiện được phiến đá vỡ tạo hình 2 bàn chân của thần Vishnu, giới chuyên môn gọi là “dấu chân thần”. Năm 1992, một người dân cũng đã hiến tặng một cục gạch có hình dấu chân thần. Trước đó người dân địa phương cũng đã hiến tặng rất nhiều hiện vật như chân đế tượng thần Vishnu đá, cánh tay gãy của tượng thần Vishnu, rìu đá, xương cá sấu, tượng Phật bằng gỗ, linga - yoni bằng đá...




Truyền thuyết mộ Đốc binh Kiều


Đền thờ Thiên hộ Dương và Đốc binh Kiều được xếp hạng di tích quốc gia nằm trong quần thể khu di tích Gò Tháp (tỉnh Đồng Tháp).


Đền thờ được xây vào năm 1958 thờ Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều, đến năm 1993 được sửa chữa lại và thờ thêm Thiên hộ Võ Duy Dương.


Theo tư liệu lịch sử tỉnh Đồng Tháp, tháng 10.1866, sau khi căn cứ Tháp Mười thất bại, Thiên hộ Dương dâng sớ lên triều đình cho rút về miền Trung, nhưng khi thuyền của ông ra đến cửa biển Thần Mẫu (Cần Giờ) thì bị cướp biển giết chết. Riêng vị phó tướng tài ba của ông là Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều bị thương rồi hy sinh.


Ly kỳ chuyện xác định mộ thật


Nơi an nghỉ cuối cùng của vị đốc binh huyền thoại này đã có nhiều tranh luận trong giới nghiên cứu lịch sử. Địa chí Đồng Tháp ghi chép, trước sự tấn công ồ ạt của giặc, Đốc binh Kiều điều động nghĩa quân chống trả quyết liệt, đến chiều giặc rút lui. Khi ông trèo lên đài quan sát theo dõi cuộc thoái binh của giặc thì chẳng may bị thương. Mấy ngày sau khi hay tin đại đồn thất thủ, ông uất mà chết. Lại có ý kiến cho rằng sau khi bị thương ông được chở về quê nhà ở xã Long Hưng (nay thuộc H.Châu Thành, Tiền Giang) điều trị rồi mất ở đó.


Ở Gò Tháp Mười, truyền thuyết và giai thoại nở rộ xung quanh địa danh, nhân vật, sự kiện lịch sử gắn chặt tên tuổi Thiên hộ Dương, Đốc binh Kiều, Thống Linh, Phòng Biểu... Người dân có thể kể vanh vách chuyện ông “quan lớn” tập hợp hàng chục chủ trâu gom hàng trăm con trâu rồi huấn luyện cho chúng: một tiếng mõ trâu nằm, hai tiếng mõ đứng dậy, ba tiếng mõ xung phong càn quét vào đội hình giặc, giặc bắn không xuể, bỏ chạy...


Đốc binh Kiều là vị thần được tôn sùng và có ảnh hưởng đối với dân nhất. Dân ở đây gọi ông là “tổng đốc” hoặc “quan lớn thượng”. Lễ hội cúng giỗ, múa hát cũng có bài nói về Đốc binh Kiều. Theo nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường thì việc thờ cúng Đốc binh Kiều là dạng tín ngưỡng theo quan niệm “sinh vi tướng tử vi thần”.


Theo lời kể của dân địa phương, sau khi ngài đốc binh mất, để tránh tai mắt của giặc nên người ta đã làm rất nhiều ngôi mộ, không biết mộ nào giả, thật. Năm nọ, vào tháng 3 âm lịch, là mùa tát đìa, người ta dùng trâu vận chuyển cá từ ngoài đồng về. Bất chợt có một con trâu mài sừng dưới gốc cây sao, tự dưng bị mắc kẹt sừng dưới gốc cây không kéo lên được. Người dân xúm lại kéo trâu lên nhưng cũng không được. Bỗng có một bô lão không biết từ đâu mách rằng đây là vùng đất thiêng nên phải bày mâm cỗ cúng vái. Sau khi cúng vái xong thì con trâu tự nhiên rút sừng lên được. Người ta thấy trên sừng trâu có dính một miếng gỗ trai khắc tên Đốc binh Kiều. Từ đó người dân cho rằng nơi đây là mộ thật của ngài rồi tiến hành đắp mộ tu sửa.


Một dị bản khác kể rằng, vào một mùa tát đìa trước năm 1940, một tay chuyên đấu thầu đìa cá thu được số lượng cá rất lớn. Cho rằng trời đất đã phù hộ mình trong việc làm ăn, nên trước khi rời Tháp Mười, ông ta tổ chức cúng tế tạ ơn rất trọng thể, có mời bà bóng đến múa. Lúc mọi người mải mê xem bóng múa, bỗng một cậu bé chừng 14 tuổi lột phăng áo ra bịt đầu chạy lên sạp tát cho bà này mấy cái nảy lửa rồi quát: “Ta không ưa cái trò đồng bóng này, dẹp hết ngay, nếu không ta vặn họng hết bây giờ”.


Tay thầu đìa không biết chuyện gì xảy ra, nhưng thấy cậu bé mặt mày đỏ gay, thái độ dữ dội, liền sụp xuống lạy. Cậu bé ấy phán rằng, ta là quan Đốc binh Kiều, mộ ta ở phía sau chỗ này. Hát bội còn làm cho ta thấy thích thú, chớ cái trò múa may quay cuồng này làm ta rối mắt quá. Nói xong, cậu bé ngã xuống đất bất tỉnh nhân sự, mồ hôi vã ra như tắm. Theo sự chỉ dẫn từ cậu bé ấy, người dân Gò Tháp vun đất chất đá thành một nấm mồ và dựng một mái che bằng tre lá để tưởng niệm. Địa điểm ấy là vị trí của ngôi mộ và đền thờ Đốc binh Kiều hiện nay.


Anh Võ Tấn Nghĩa (Ban Quản lý khu di tích Gò Tháp) cho biết ngôi mộ theo huyền thoại đó đã được dân trong vùng đắp khoảng năm 1946 - 1947. Sau năm 1954, ngôi mộ được xây dựng lại bằng gạch, cũng là vị trí ngôi mộ từ đó đến giờ.


Một đền thờ hai vị tướng


Sau năm 1955, đền thờ Đốc binh Kiều được sửa sang, nhưng do chiến tranh nên đến sau năm 1975 vẫn còn khá đơn sơ, lợp ngói. Năm 1993, sức hút của lễ hội khiến du khách tới đền thờ Đốc binh Kiều rất đông. Thế là một ngôi đền quy mô hơn được xây dựng thờ cả hai vị Đốc binh Kiều và Thiên hộ Dương.


Trước đây lễ hội Đốc binh Kiều và Thiên hộ Dương được tổ chức vào ngày 14 - 15.11 âm lịch. Thời gian sau này, có lẽ xuất phát từ quan niệm “cúng bà phải kiến ông” nên vào ngày lễ hội Bà Chúa Xứ rằm tháng 3 âm lịch, người dân và khách thập phương cũng tổ chức lễ cúng hai ngài.


Hiện nay đền thờ Thiên hộ Dương đang được xây dựng rất quy mô nhằm tách ra 2 cơ sở tín ngưỡng. Tỉnh Đồng Tháp cũng đang có kế hoạch tổ chức hội thảo, bàn việc tách ra 2 lễ hội thiên hộ và đốc binh, sau khi xây dựng xong đền thờ Thiên hộ Dương.




Kỳ bí bia đá trấn thủy


Tấm bia đá do người dân vớt dưới lòng rạch lên dựng trước đình thần xã Mỹ Phước Tây (TX.Cai Lậy, Tiền Giang) là chứng tích của thời kỳ khai hoang, phát triển các công trình giao thông và thủy lợi thời thuộc địa.


Mạng lưới thủy lợi đầu tiên tại Đồng Tháp Mười


Theo tài liệu lịch sử, xã Mỹ Phước Tây hiện nay (TX.Cai Lậy, Tiền Giang) gốc là thôn Mỹ Hạnh Tây, lập vào khoảng năm 1808. Năm 1850 - 1853, cai đội Phạm Văn Huy lập đồn điền Long Phước, khai hoang khu vực phía nam Đồng Tháp Mười. Sau khi đồn điền Long Phước giải thể, dân đồn điền tham gia cuộc kháng Pháp do Thiên Hộ Dương lãnh đạo. Đến năm 1913, thôn Mỹ Hạnh Tây được sáp nhập với thôn Long Phước thành làng Mỹ Phước Tây, thuộc tổng Lợi Trinh, Q.Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho.


Vào thời Pháp thuộc, ở vùng này có nhân vật Trần Bá Lộc, tức tổng đốc Lộc, là một tay sai đắc lực của thực dân trong việc đàn áp các cuộc khởi nghĩa ở Nam kỳ. Nhưng ông ta cũng là người thường được nhắc đến với các công trình giao thông và thủy lợi quan trọng đầu tiên ở vùng Đồng Tháp Mười.


Với mục đích khai thác vùng Thiên Hộ, Phụng Thớt, năm 1895 Trần Bá Lộc huy động dân phu vùng Cái Bè, Cai Lậy đào một con kinh chạy từ Rạch Ruộng đến Bà Bèo dài 47 cây số. Dân gian kể lại, khi phóng kinh Tổng đốc Lộc cầm ống nhòm ngồi trên chiếc ghe lườn trải chiếu bông, bắt dân kéo theo tầm ngắm của ông ta, rồi căn cứ vào dấu sậy đế, đưng, lác rạp xuống do ghe lướt qua mà cắm bông tiêu, chia từng đoạn ra đào. Kinh được đào bề ngang khoảng 3 - 4 thước. Hồi đó dân phu đào kinh chết rất nhiều do thiếu nước ngọt và dịch bệnh kiết lỵ.


Khi con kinh hoàn thành vào tháng 7.1897, đích thân Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer xuống dự lễ khánh thành; dân gian gọi là kinh Tổng đốc Lộc. Từ năm 1918 - 1924, thực dân Pháp nhiều lần dùng xáng múc mở rộng nên còn gọi là kinh Xáng. Đến năm 1947, kinh Tổng đốc Lộc được đổi thành kinh Nguyễn Văn Tiếp, tên vị chủ tịch đầu tiên của Ủy ban Kháng chiến hành chính tỉnh Mỹ Tho.


Ngoài con kinh chính nêu trên, tổng đốc Lộc còn cho đào các con kinh sườn, hình thành một mạng lưới kinh tháo nước và dẫn nước phía nam của Q.Cái Bè, Cai Lậy để cho nước từ vùng trũng Đồng Tháp Mười chảy thoát ra các con sông cái vào mùa nước lũ. Các con kinh này được đào thẳng hàng, song song nhau và đánh số thứ tự từ kinh Một đến kinh Mười Hai...


Ngoài ra, theo ghi chép trong địa chí Cai Lậy, năm 1915 người Pháp dùng xáng đào một con kinh tên là Lacour nối rạch Ba Rài vào kinh Tổng đốc Lộc ở khu vực giáp ranh 2 xã Mỹ Phước Tây và Mỹ Hạnh Trung. Nhờ mở rộng các con kinh nên việc đi lại, vận chuyển hàng hóa, nông sản của người dân được thuận tiện hơn.


Đá Thái Sơn trấn giữ


Đình làng Mỹ Hạnh Tây nằm trên bờ rạch Ba Rài ở xóm Rạch Trắc, dân gian quen gọi là đình Rạch Trắc, nay đổi lại là đình thần xã Mỹ Phước Tây (TX.Cai Lậy, Tiền Giang). Ông Lê Văn Thời, Trưởng ban khánh tiết đình, cho biết đình xưa bằng gỗ, lợp ngói, giai đoạn đầu chống Pháp phải dỡ bỏ theo chủ trương “tiêu thổ kháng chiến”. Sau năm 1975, nền đình lại bị trưng dụng làm xí nghiệp gỗ. Mãi đến năm 2005, bà con trong xóm Rạch Trắc mới được chính quyền cho phép cất lại ngôi đình. Người dân đóng góp tiền bạc, công sức và đình Mỹ Hạnh Tây được hoàn thành vào năm 2007.


Ông Thời kể, ngày xưa ngôi đình cất chỗ ngã ba, đất thường xuyên sụp lở. Có người chỉ vẽ phải dựng tấm bia “Thái sơn thạch cảm đương” (đá Thái Sơn trấn giữ ở đây) để ngăn “bà Thủy”. Các bô lão bèn nhờ một người Hoa tìm tấm đá khắc bia. Nhận tiền cọc xong, có người nói nếu làm tấm bia đó sẽ bị “bà Thủy” bắt, vì vậy ông ta hoảng hốt trả lại tiền, từ chối việc khắc bia. Bấy giờ trong xóm có một ông thầy cúng tên Trọng nhận lời khắc tấm bia ấy. Ông mua một phiến đá bề ngang 4 tấc, viết chữ lên đó rồi chạm khắc. Tấm bia được dựng trước mé sông, tại khúc vịnh thường xuyên bị sạt lở.


Vài năm sau khi người Pháp đào kinh Lacour, dùng xáng múc cải tạo rạch Ba Rài, dòng chảy thay đổi. Chỗ bị lở triền miên trước kia giờ tự nhiên trở thành khúc sông bồi. Thiên hạ bắt đầu tin sự linh nghiệm của tấm bia trấn thủy. Về phía thầy Trọng, ít lâu sau có người mời ông đi cúng tuần thất ở Cái Bè. Khi xuồng đến đoạn sông Hòa Khánh, gần miễu Cậu thì bị lật, 2 người chết chìm, riêng thầy Trọng không tìm thấy xác. Cái chết của ông khiến cho lời đồn về sự linh nghiệm của “bà Thủy” càng thêm giá trị.


Tấm bia “Thái sơn thạch cảm đương” tồn tại đến sau năm 1975. Rồi các công trình thủy lợi làm dòng chảy mạnh hơn, nước xoáy, đất lở, trong trận lũ lớn năm 1978, tấm bia bị sụp đổ xuống lòng rạch.


Năm nay ông Thời đã 89 tuổi, người duy nhất ở địa phương còn nhớ sự tích tấm bia. “Năm ngoái tôi đã nhờ thanh niên trong xóm vớt tấm bia lên, tiếp tục dựng ở bờ sông phía trước cổng đình. Dù biết chẳng còn linh nghiệm, nhưng để làm kỷ niệm”, ông Thời chia sẻ.



 


Hoàng Phương - Ngọc Phan


thanhnien.vn


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ngày này 9 năm trước nhà văn Sơn Nam đi xa... - Phạm Sỹ Sáu 13.08.2017
Tượng đài chiến thắng gãy đổ do trẻ 12 tuổi đùa nghịch! - Vũ Viết Tuân 11.08.2017
Đặc khu sẽ không hội đồng nhân dân và có đặc quyền casino - Như Bình 11.08.2017
Chuyện vụn về Đại hội Hội Nhà văn Hà Nội... - Trần Thanh Cảnh 10.08.2017
Phú Quốc lúng túng với cô gái nước ngoài ngồi thiền xin tiền - Nhiều tác giả 10.08.2017
Hang Tám Cô - Huyền thoại và sự thật: Không thể tồn tại sự mù mờ - Nhiều tác giả 09.08.2017
Đất quốc phòng sân bay Tân Sơn Nhất: Chấm dứt liên doanh, sẵn sàng bàn giao - Nhiều tác giả 09.08.2017
Trở lại với câu hỏi: Con người rời khỏi châu Phi khi nào? - Hà Văn Thùy 06.08.2017
Truy giấy phép biểu diễn với cậu bé kéo đàn ở bờ hồ Hoàn Kiếm là không ổn - Nhiều tác giả 30.07.2017
Biển Đông: Một năm sau phán quyết của Toà PCA - Nhiều tác giả 29.07.2017
xem thêm »