tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21301990
Tiểu thuyết
24.03.2016
Henryk Sienkiewicz
Quo Vadis



CHƯƠNG 37


Vinixius gửi Ligia:


"Nô lệ Phlagon, kẻ mà tôi nhờ chuyển cho nàng bức thư này là một Kito hữu, nên bác ấy sẽ là một trong những người được đón nhận tự do từ chính tay nàng, hỡi con người thân yêu nhất đời! Đây là một đầy tớ già của gia đình, nên tôi có thể hoàn toàn tin cậy viết thư gửi qua bác ta, không sợ thư bị lọt vào một bàn tay nào khác ngoài tay nàng. Tôi viết thư từ Laurentum, nơi chúng tôi đang dừng chân vì thời tiết nóng nực. Tại đây, chàng Otho từng có một tòa biệt thự tuyệt vời mà hồi trước chàng đã tặng cho Poppea, còn ả ta, mặc dù đã ly dị chàng, vẫn cho rằng việc tiếp tục giữ món quà kia là hợp lẽ... Cứ nghĩ đến những người đàn bà đang ở chung quanh tôi rồi lại nghĩ về nàng, tôi thấy rõ là một khối đá của Đeukalion đã thành hình đủ loại người khác nhau, những loại không một chút giống nhau, và nàng thuộc về những người được sản sinh từ chính pha lê. Tôi ngưỡng mộ, tôi yêu nàng với tất cả tâm hồn, đến nỗi tôi chỉ muốn nói cùng nàng về mỗi một mình nàng mà thôi, và tôi phải bắt buộc mình lắm mới viết nổi cho nàng về chuyến đi, cùng những gì đang diễn ra với tôi và những chuyện mới mẻ trong chốn cung đình. Vậy Hoàng đế đang là khách của Poppea, ả đã bí mật chuẩn bị một cuộc thù tiếp thật tuyệt diệu. Thực ra, ả chỉ mời rất ít cận thần, nhưng cả tôi lẫn cậu Petronius đều nhận được lời mời. Sau bữa tiệc, chúng tôi chèo những con thuyền vàng trên mặt biển, biển lặng lẽ như đang say ngủ và biếc xanh như màu mắt nàng vậy, hỡi nữ thần! Chúng tôi tự tay chèo thuyền, bởi lẽ rõ ràng Hoàng hậu rất hãnh diện vì đã được chính các vị chấp chính quan tối cao hoặc con đẻ của họ tự tay chèo thuyền đưa đi. Đứng ở cạnh lái, Hoàng đế mặc một chiếc áo toga màu đỏ tía, ngài hát một khúc thiều ca dâng biển, khúc ca mà đêm qua ngài đã soạn ra rồi cùng Điođor phổ nhạc. Những nô lệ xứ Inđi - những kẻ biết đánh đàn bằng vỏ trai biển - hòa theo và chung quanh chợt xuất hiện rất nhiều cá heo, dường như quả thực chúng bị cuốn hút lên từ chốn thẳm sâu của Amphitryđa vậy. Còn tôi, nàng có biết tôi làm gì hay chăng? Tôi nghĩ đến nàng, nhớ nàng, tôi những muốn mang cả biển trời này, cả tiếng nhạc kia tặng cả cho riêng nàng. Nàng có muốn chăng, hỡi Auguxta của tôi, để một ngày kia hai ta sẽ được sống trên bờ biển, cách xa hẳn Roma? Tại Xyxilia tôi có một mảnh đất, nơi ấy có rừng hồ đào về mùa xuân nở hoa hồng rực, rừng cây lan ra sát biển, đến nỗi các đầu cành hầu như chạm vào mặt nước. Ở đó, tôi sẽ được yêu nàng và sẽ thờ phụng giáo thuyết mà đức Paven đã dạy cho tôi, bởi lẽ tôi đã hiểu được rằng giáo thuyết ấy không hề chống lại tình yêu và hạnh phúc. Nàng có muốn thế chăng? Song trước khi được nghe lời đáp từ đôi làn môi yêu dấu của nàng, tôi sẽ kể tiếp cho nàng hay những gì xảy ra trên thuyền đã nhé.


Khi bờ đã lùi xa phía sau, chúng tôi chợt trông thấy một cánh buồm trước mặt, và thế là liền nổ ra cuộc tranh luận xem đó chỉ là một thuyền đánh cá thường tình hay chính là chiếc thuyền lớn từ Oxtia. Tôi là người đầu tiên nhận ra nó, khi ấy Hoàng hậu bèn nói rằng chắc hẳn không gì có thể che được mắt tôi, rồi đột ngột buông sụp chiếc chàng mạng che mặt, ả hỏi xem cứ như thể liệu tôi có thể nhận ra ả hay không. Cậu Petronius liền trả lời rằng không thể nào nhìn thấy ngay cả vầng dương một khi nó bị mây mù che khuất, song Hoàng hậu lại giả vờ cười cợt mà rằng chỉ có ái tình mới có thể làm cho một đôi mắt tinh tường nhường kia trở nên mù quáng. Rồi lần lượt nêu tên các nữ cận thần khác nhau, ả bắt đầu hỏi dò và cố đoán xem tôi phải lòng ai. Tôi đối đáp bình tĩnh, rốt cuộc, ả nêu cả tên nàng. Khi nói về nàng, Hoàng hậu lại để lộ mặt ra, ả nhìn tôi bằng cặp mắt vừa đe dọa vừa thăm dò. Tôi thật biết ơn cậu Petronius, vào chính lúc ấy, cậu đã làm cho thuyền chao nghiêng đi, khiến mọi người thôi tập trung chú ý vào tôi; bởi vì nếu tôi phải nghe một lời không đẹp, một lời bỉ báng nào về nàng, có thể tôi sẽ không kìm nổi cơn tức giận, chắc tôi phải đấu tranh với ý muốn dùng mái chèo phang vỡ đầu mụ đàn bà tráo trở và độc ác kia... Nàng chắc còn nhớ những gì mà đêm trước khi lên đường, tại nhà ông Linux, tôi đã kể cho nàng nghe về chuyện xảy ra ở hồ Agryppa chứ? Cho tới hôm nay, cậu Petronius hãy còn lo lắng và cầu nguyện cho tôi đừng xúc phạm tới lòng tự ái của Hoàng hậu. Song cậu Petronius đâu còn hiểu được tôi nữa, cậu đâu có biết rằng, ngoài nàng ra, tôi không còn có một thứ lạc thú nào khác, một sắc đẹp nào khác, một sự yêu thương nào khác. Còn đối với ả Poppea, tôi chỉ thấy những kinh tởm và khinh bỉ mà thôi. Nàng đã biến đổi tâm hồn tôi nhiều đến nỗi tôi không thể quay trở lại với cuộc sống xưa kia nữa. Song xin nàng cũng đừng lo rằng ở nơi đây tôi sẽ gặp phải chuyện chẳng lành nhé. Poppea không hề yêu tôi, bởi vì ả không có khả năng yêu một ai cả, những cơn ham muốn thất thường của ả chỉ bắt nguồn từ nỗi tức giận Hoàng đế - kẻ vẫn đang chịu sự chi phối của ả, kẻ thậm chí còn đang yêu ả, nhưng vẫn không hề giữ thể diện cho ả, không che giấu trước ả những hành vi trơ tráo của mình. Tôi cũng xin nói nàng hay một điều này nữa sẽ khiến nàng yên lòng: trước khi tôi lên đường, chính đức Piotr đã khuyên tôi chớ sợ Hoàng đế, vì không một sợi tóc nào của tôi bị rụng mất đâu, còn tôi thì hoàn toàn tin Người. Một tiếng nói nào đó tự trong tâm can bảo tôi rằng tất cả những lời Người nói đều sẽ được thực hiện, một khi Người đã ban phước cho tình yêu của đôi ta thì cả Hoàng đế lẫn những thế lực cuồng bạo của Hađex, thậm chí ngay cả bản thân Định Mệnh nữa cũng không thể cướp được nàng đi, hỡi Ligia! Khi nghĩ đến những điều đó, tôi sung sướng như chính tôi là Thượng đế, người duy nhất luôn được bình yên và sung sướng. Có thể - là một Kito hữu - nàng sẽ phật ý khi tôi nói đến Thượng đế và Định Mệnh? Nếu vậy xin nàng hãy tha thứ cho tôi, bởi lẽ tôi chỉ vô tình phạm lỗi mà thôi. Tôi chưa được chịu phép rửa tội, nhưng trái tim của tôi hiện đã như một chiếc cốc rỗng không sẽ được đức Paven rót đầy thứ giáo thuyết ngọt ngào của đạo Kito, với tôi, thứ giáo thuyết ấy còn ngọt ngào hơn bởi đó là giáo thuyết của nàng. Hỡi nàng, hỡi thần nữ của tôi, xin hãy tính thêm công tích cho tôi, vì tôi đã uống cạn từ chiếc cốc kia thứ chất lỏng vốn chứa đầy trong đó, tôi đã không hắt nó đi mà đã dốc cạn nó như một người đang khát nhưng đã đứng ở đầu nguồn suối trong lành. Hãy cho tôi được thấy niềm ân huệ trong đôi mắt của nàng. Ngày đêm ở Anxium đối với tôi sẽ trôi đi trong khi nghe đức Paven thuyết giảng. Ngay trong ngày đầu tiên của chuyến hành trình, ông đã gây được một ảnh hưởng sâu rộng đến nỗi người ta vây quanh ông không chịu rời, người ta nhìn ông không chỉ như một nhà truyền giáo mà gần như một đấng phi phàm. Hôm qua, thấy nét mặt ông hân hoan, tôi bèn hỏi ông đang có công chuyện gì, ông đáp: "Tôi đang gieo hạt!". Cậu Petronius biết rằng hiện nay ông đang sống giữa các gia nhân của tôi, cậu rất muốn được gặp ông, cả ngài Xeneka cũng thế, ngài đã được nghe Ganlon kể về ông. Nhưng này, những vì sao đã nhạt rồi, hỡi nàng Ligia, còn ngôi sao Luxypher của buổi sớm mai mỗi lúc một thêm sáng. Chẳng mấy chốc nữa rạng đông sẽ làm mặt biển ửng hồng, mọi vật hãy còn đang say ngủ, chỉ riêng mình tôi đang nghĩ tới nàng và đang yêu nàng. Xin hãy gửi tới nàng lời cầu chúc cùng lúc với rạng đông, hỡi sponsa mea!(1).


 


CHƯƠNG 38


Vinixius gửi Ligia:


"Nàng thân yêu, đã bao giờ nàng được cùng với ông bà Aulux tới Anxium hay chưa? Nếu chưa, tôi rất sung sướng vì sẽ có lúc được giới thiệu cho nàng chốn này. Suốt từ Laurentum, những tòa biệt thự đã nối theo nhau dọc ven biển, còn chính Anxium là một chuỗi những lâu đài và hàng hiên, những hàng cột của chúng soi bóng xuống làn nước biển xanh trong những ngày đẹp trời. Tại đây, tôi cũng có một tòa gia trạch ngay sát ven bờ nước, với một khu vườn ôliu và một rừng trắc bá phía sau, và cứ nghĩ là một ngày kia, tòa gia trạch này sẽ là của nàng, tôi lại ngỡ như làn đá cẩm thạch của nó trở nên sáng láng hơn, khu vườn thành râm mát hơn và mặt biển như biếc xanh hơn. Ôi Ligia, tốt lành thay khi được sống và được yêu! Cụ già Meniklex quản lý tòa gia trạch này đã cấy nhiều khóm diên vỹ dưới bóng những cây sim thơm trên đồng cỏ, mỗi khi nhìn thấy chúng, tôi lại chợt nhớ đến ngôi nhà của ông Aulux, chiếc bể hứng nước mưa và khu vườn ở đó, nơi tôi đã từng được ngồi bên nàng. Những khóm diên vĩ này cũng sẽ gợi cho nàng nhớ tới ngôi nhà thân thương, vì vậy, tôi chắc hẳn nàng cũng sẽ yêu mến Anxium và tòa biệt thự này. Ngay sau khi tới nơi, tôi đã trò chuyện rất lâu với ông Paven trong bữa ăn. Chúng tôi nói về nàng, sau đó ông bắt đầu giảng giải, còn tôi lắng nghe giờ lâu và xin thổ lộ riêng cùng nàng rằng, dẫu có tài viết giỏi như cậu Petronius đi chăng nữa, tôi cũng sẽ không sao có thể diễn tả hết cho nàng nghe những gì đã đến trong đầu óc và tâm hồn tôi khi ấy. Tôi không ngờ trên đời có thể có một niềm hạnh phúc, một vẻ đẹp và một sự bình yên mà người ta chưa hề biết đến. Song tất thảy những điều đó tôi sẽ giữ lại để trò chuyện cùng nàng, trong dịp rỗi đầu tiên tôi quay về Roma. Xin nàng hãy nói tôi hay, tại sao trên mặt đất lại chứa được đồng thời cả những người như Sứ đồ Piotr và ông Paven xứ Tarxu lẫn những kẻ như Hoàng đế? Tôi hỏi thế, vì buổi chiều ngay sau bài giảng của ông Paven, tôi đã phải đến chỗ Nero và nàng có biết tại đấy tôi đã được nghe điều gì không? Trước tiên, Hoàng đế đọc bản trường ca về sự triệt phá thành Tơroa của ngài, ngài bắt đầu than phiền rằng chưa bao giờ ngài được chứng kiến một thành phố nào đang cháy. Ngài ghen với vua Priam và gọi nhà vua là con người hạnh phúc, chỉ bởi vì nhà vua đã được tận mắt nhìn thấy đám cháy và sự hủy diệt của thành phố quê hương mình. Nghe thấy thế, gã Tygelinux bèn nói: "Xin thánh thượng hãy phán một lời thôi, thần sẽ cầm ngay ngọn đuốc và trước khi đêm tàn, thánh thượng sẽ được nhìn thấy thành Anxium bốc cháy". Song Hoàng đế gọi y là đồ ngốc. "Vậy thì ta biết đi tới đâu - ngài nói - để hít thở khí trời vùng biển và làm trong lại giọng hát mà các thần linh đã ban cho ta, giọng hát mà như người ta nói, ta phải chăm lo gìn giữ vì quyền lợi của chúng dân? Hóa ra không phải chính Roma đã làm hại ta, hóa ra không phải chính những hơi thở hôi hám ngột ngạt từ khu Xubura và Exquilin đã khiến ta bị khản tiếng hay sao? Phải chăng cảnh thành Roma bốc cháy không trăm lần tuyệt vời và thảm khốc hơn so với Anxium?". Đến đây, tất thảy mọi người đều đồng thanh nhất trí rằng cảnh cái thành đô đã chinh phục toàn thế giới bị biến thành một đống tro tàn xám ngắt chắc chắn sẽ là một bi kịch chưa từng nghe nói đến. Hoàng đế tuyên bố rằng, khi ấy bản trường ca của ngài sẽ vượt xa những khúc ca của Homer, rồi ngài nói tới việc ngài sẽ xây dựng lại thành phố ấy ra sao, những cháu con muôn đời sẽ phải thán phục kiệt tác của ngài, bên cạnh kiệt tác đó, những tác phẩm khác của nhân loại sẽ trở nên nhỏ bé biết bao. Khi ấy, đám thực khách đang say liền gào to lên: "Xin hãy thực hiện điều ấy! Làm đi!". Còn ngài thì phán: "Ta cần phải có những người bạn trung thành và tận tụy với ta hơn nữa!". Xin thú thật, nghe những lời nói ấy, lập tức, tôi lo thắt ruột, hỡi nàng thân yêu, bởi vì nàng hiện đang sống tại Roma. Bây giờ thì chính tôi cũng tự cười thầm vì nỗi lo vớ vẩn kia khi nghĩ rằng, dẫu có điên đi nữa, cả Hoàng đế lẫn đám cận thần cũng sẽ không tài nào dám dung túng cho một sự điên khùng đến độ ấy. Thế nhưng nàng biết đấy, con người thường vẫn hay lo sợ cho những người thân yêu của mình, tôi vẫn muốn sao ngôi nhà của ông Linux đừng ở trong cái ngõ hẻm chật chội ở khu Zatybre, trong khu phố dân ngoại kiều sinh sống, đám dân mà một khi nhỡ có chuyện gì xảy ra, người ta cũng ít cần phải lưu ý tới mạng sống của họ. Với tôi, ngay cả những cung điện trên đồi Palatyn cũng không phải là nơi xứng đáng cho nàng trú ngụ, tôi muốn sao nàng không bao giờ bị thiếu đi những đồ trang trí và những tiện nghi mà nàng hằng quen thuộc từ khi còn thơ ấu. Hỡi Ligia của tôi, xin nàng hãy chuyển về nhà ông bà Aulux mà ở. Nơi đây, tôi nghĩ nhiều đến chuyện ấy. Giả sử Hoàng đế đang ở Roma thì tin nàng quay trở lại nhà sẽ có thể được đám nô lệ truyền khẩu nhau đến tận Palatyn, khiến người ta chú ý đến nàng, nàng sẽ bị trừng phạt vì dám hành động ngược với ý chí Hoàng đế. Nhưng ngài còn ở lại Anxium lâu, trước khi ngài quay về thì đám nô lệ hẳn đã thôi bàn tán về chuyện ấy rồi. Ông Linux và bác Urxux có thể về cùng nàng. Thực ra, tôi vẫn hằng hy vọng, rằng trước khi cung điện Palatyn được gặp lại Hoàng đế, thì nàng, hỡi thần nữ của tôi, đã được về ở trong ngôi nhà của chính nàng trên đồi Karyny rồi. Phước phận thay ngày giờ giây phút nàng bước chân qua ngưỡng cửa nhà tôi và nếu đức Chúa Crixtux - người mà tôi đang học hỏi để thuận theo - làm cho điều ấy trở thành sự thực, thì tên tuổi của Người sẽ được ngợi ca. Tôi nguyện sẽ phụng sự Người, sẽ hiến dâng Người cả cuộc đời, cả dòng máu đỏ của tôi. Mà có lẽ nói thế này đúng hơn: hai ta sẽ cùng nhau phụng sự Người, cho tới khi nào guồng đời của đôi ta trọn vòng quay. Tôi yêu nàng biết bao, và bằng cả tấm lòng xin cầu chúc nàng mạnh khỏe".


 


CHƯƠNG 39


Bác Urxux vừa kéo dây buộc đôi bình lấy nước trong thùng chứa, vừa khẽ ngâm nga một khúc ca kỳ dị nào đó của xứ sở Ligi và đưa cặp mắt tràn trề vui sướng ngắm nhìn Ligia và Vinixius. Giữa những cây trắc bá trong vườn nhà ông Linux, trông họ hệt như hai pho tượng trắng ngần. Không một chút gió nào làm xao động trang phục của họ. Bóng chiều vàng tím trùm lên thế gian, trong khung cảnh thanh bình của ban chiều, tay trong tay, họ trò chuyện cùng nhau.


- Chàng Markux, liệu điều gì không lành có thể đến với chàng chăng, một khi chàng rời khỏi Anxium thiếu sự ưng thuận của Hoàng đế? - Ligia hỏi.


- Không đâu, nàng thân yêu của tôi - Vinixius đáp - Hoàng thượng tuyên bố rằng ngài sẽ đóng cửa suốt hai ngày liền để cùng với Terpnox soạn những khúc ca mới. Ngài thường hay làm điều đó, và những lúc như vậy ngài không hề hay biết, không hề nhớ gì đến những chuyện khác. Vả chăng, ngay cả Hoàng đế cũng có nghĩa lý gì đâu khi tôi được ở bên nàng, được nhìn ngắm nàng. Quá đỗi nhớ nàng, những đêm gần đây tôi không tài nào chợp mắt. Nhiều khi thiếp đi vì quá mệt mỏi, tôi lại chợt bừng tỉnh dậy với cảm giác là có một mối nguy hiểm nào đó đang rình rập trên đầu nàng; có lúc tôi lại mơ thấy người ta cướp mất những con ngựa trạm tôi bố trí ở dọc đường, những con ngựa sẽ đưa tôi từ Anxium về Roma, và quả thực trên lưng ngựa, tôi đã vượt quãng đường ấy nhanh hơn tất thảy các điệp sứ của Hoàng đế. Tôi không thể thiếu nàng lâu hơn được nữa. Tôi yêu nàng quá mất rồi, Ligia thân yêu, người yêu quý nhất đời của tôi ơi!


- Em biết trước rằng chàng sẽ về. Theo lời em khẩn cầu, bác Urxux đã hai lần tới nhà chàng trên đồi Karyny để hỏi thăm tin tức của chàng. Ông Linux phải cười em, cả bác Urxux nữa cũng thế.


Quả thực có thể nhận thấy là nàng biết trước việc chàng trở về, bởi lẽ thay cho bộ quần áo màu thẫm thường ngày, lúc này nàng đang mặc một chiếc xtola mềm mại màu trắng, bờ vai và mái đầu nàng vươn lên từ những nếp áo tuyệt diệu nom như những bông hoa mùa xuân đầu tiên nở xoè trên mặt tuyết. Vài đoá thu mẫu đơn màu hồng điểm tô cho mái tóc nàng.


Vinixius áp đôi môi chàng vào bàn tay nàng, rồi cả hai cùng ngồi xuống chiếc ghế dài đặt giữa khóm nho dại, vai kề vai, cùng lặng ngắm hoàng hôn, những tia sáng cuối cùng của ráng chiều lấp lánh trong mắt họ.


Vẻ kiều diễm của ban chiều dần dần chế ngự hai trẻ.


- Chốn này thật lặng lẽ và thế gian mới đẹp làm sao! - Vinixius hạ giọng nói - Đêm đang đến, vô cùng thanh tĩnh. Chưa bao giờ trong đời tôi thấy mình hạnh phúc dường này. Hỡi Ligia, nàng hãy nói xem: đó là cái gì vậy? Không bao giờ tôi lại ngờ rằng có thể có một tình yêu như thế. Tôi cứ ngỡ rằng tình yêu chỉ là dục vọng, là lửa sôi trong huyết quản, và mãi đến lúc này tôi mới thấy rằng có thể yêu bằng từng giọt máu, bằng từng hơi thở mà vẫn cảm nhận được vẻ thanh bình ngọt ngào đến vô biên kia, dường như cả Thần Mộng lẫn Tử thần cùng nhau ru đưa tâm hồn ta vậy. Với tôi, đó thật là một điều mới lạ. Tôi ngắm vẻ bình lặng của những hàng cây kia và cảm thấy sự thanh tĩnh tràn ngập trong lòng. Mãi giờ đây tôi mới hiểu được rằng có thể có một niềm hạnh phúc, mà cho tới nay nhân loại chưa từng được biết. Đến bây giờ tôi mới hiểu tại sao nàng và bà Pomponia Grexyna lại bình tâm đến thế... Phải rồi!... Chính đức Chúa Crixtux đã cho ta điều ấy...


Nàng chợt áp khuôn mặt tuyệt vời của mình vào vai chàng mà thốt lên:


- Chàng Markux thân yêu của em!


Nàng không sao nói được gì hơn. Niềm vui sướng, lòng biết ơn và cái cảm giác rằng giờ đây nàng mới được thỏa nguyện yêu chàng đã khiến cho cổ nàng nghẹn lời, khiến mắt nàng ứa tràn những giọt lệ xúc cảm. Vinixius quàng tay ôm tấm thân nhỏ nhắn của nàng áp vào người mình giây lâu, rồi chàng nói:


- Ligia nàng ơi! Cầu cho được ban phước lành cái phút giây đầu tiên tôi được nghe gọi tên Người.


Nàng khẽ đáp:


- Markux, em yêu chàng!


Rồi đôi trẻ lại lặng im, đôi lồng ngực quá căng tràn không sao nói thêm được lời nào nữa. Ánh hồi quang tim tím cuối cùng đã tắt đi trên những cây trắc bá và khu vườn bắt đầu được dát bạc bởi một lưỡi liềm trăng.


Lát sau, Vinixius cất tiếng nói:


- Tôi biết chứ... Vừa bước chân vào đây, vừa được hôn đôi bàn tay thân yêu của nàng, tôi đã đọc thấy trong ánh mắt nàng câu hỏi: tôi đã thừa nhận giáo thuyết của đức Chúa mà nàng thuận theo hay chưa? Chưa đâu! Tôi chưa được rửa tội, nhưng nàng biết vì sao không, hỡi đoá hoa xinh tươi? Vì ông Paven bảo tôi rằng: "Tôi đã làm cho anh tin rằng đức Chúa đã giáng thế và đã chịu đóng đinh câu rút để chuộc tội cho thế gian, nhưng để ông Piotr sẽ rửa tội cho anh ở ngọn nguồn ân sủng, bởi chính ông làngười đầu tiên đã đưa tay cho anh, là người đầu tiên đã ban phước cho anh". Chính tôi cũng muốn để nàng, hỡi người thân yêu nhất của tôi, được chứng kiến lễ rửa tội của tôi, tôi muốn mẹ đỡ đầu của tôi sẽ là bà Pomponia. Vì thế, cho đến lúc này đây, tôi vẫn chưa được rửa tội, mặc dù tôi đã tin vào Đấng Cứu Thế và giáo thuyết ngọt ngào của Người. Ông Paven đã thuyết phục tôi, đã cải tín cho tôi, và làm sao có thể khác được kia chứ! Làm sao tôi có thể không tin rằng Chúa Crixtux đã từng giáng thế, một khi chính đức Piotr - học trò của chính Chúa - và ông Paven - người đã từng trông thấy Chúa hiển hiện - đều nói như thế? Làm sao tôi có thể không tin rằng Người là đức Chúa, một khi Người đã từng phục sinh? Người ta đã từng được gặp Người cả trong thành phố, cả trên mặt hồ lẫn trên núi, và những người được trông thấy Chúa vốn là những kẻ mà miệng chưa từng biết đến dối trá bao giờ. Tôi đã tin vào điều ấy từ khi nghe đức Piotr nói chuyện ở Oxtrianum, vì ngay từ hồi ấy tôi đã tự nhủ: khắp thế gian, bất kỳ một ai khác cũng có thể nói dối nhiều hơn con người đã thốt ra: "Chính tôi nhìn thấy!". Nhưng hồi đó tôi vẫn còn e sợ giáo thuyết của các người. Tôi ngỡ là nó sẽ cướp mất nàng. Tôi ngỡ là trong giáo thuyết ấy không hề có sự thông tuệ, không có cái đẹp lẫn niềm hạnh phúc. Còn hôm nay, một khi đã hiểu được nó, liệu tôi có còn xứng làm người nữa không, nếu tôi không muốn rằng trên cuộc đời này sẽ ngự trị sự thật chứ không phải điều dối trá, tình yêu chứ không phải hận thù, điều thiện chứ không phải cái ác, sự thủy chung chứ không phải bội bạc, tình thương chứ không phải lòng căm ghét? Liệu có ai kia là kẻ không mong muốn, không thích được như thế hay chăng? Chính giáo thuyết của nàng lại răn dạy điều đó. Những học thuyết khác cũng muốn có công lý, nhưng chỉ một mình giáo thuyết này khiến được cho trái tim con người trở nên công bình. Ngoài ra nó còn khiến trái tim con người trở nên trong sạch như trái tim nàng và bà Pomponia, trở nên trung trinh như trái tim nàng và bà Pomponia. Tôi có là kẻ mù loà mới không nhìn thấy điều ấy. Và nếu như một khi đã có Chúa Crixtux, đức Chúa hứa hẹn một cuộc sống vĩnh hằng, một hạnh phúc vô biên mà chỉ có sự toàn năng của đức Chúa Trời mới cho ta có được, thì liệu con người còn mong muốn điều gì hơn nữa? Nếu tôi có hỏi ngài Xeneka, vì lý do gì ngài lại khuyên người ta sống có đạo đức một khi tính tráo trở hiện đang mang lại nhiều hạnh phúc hơn, thì chắc chắn ngài ấy sẽ không thể trả lời được một điều gì mạch lạc. Nhưng bản thân tôi giờ đây đã hiểu rõ vì sao tôi phải sống có đạo đức. Đó là vì cái thiện và tình yêu toả ra từ chính đức Chúa Crixtux, và còn vì để cho một khi cái chết đã khép kín đôi mắt tôi, tôi sẽ lại tìm được sự sống, tìm được hạnh phúc, tìm được chính bản thân mình và tìm lại được nàng, hỡi con người thân yêu nhất... Tại sao lại có thể không yêu mến, không chấp nhận thứ giáo thuyết vừa nói sự thật vừa đuổi xua cái chết? Ai không đặt cái thiện lên trên cái ác? Tôi đã từng nghĩ rằng giáo thuyết kia chống đối hạnh phúc, nhưng đức Paven đã thuyết phục tôi rằng chẳng những nó không hề tước đoạt một thứ gì, mà lại còn cho thêm nhiều nữa. Khó khăn lắm, tất cả những điều đó mới lọt được vào đầu óc tôi, nhưng tôi cảm thấy quả đúng như thế, bởi lẽ chưa bao giờ tôi sung sướng hơn và tôi cũng không thể nào hạnh phúc hơn, dù tôi có dùng sức mạnh bắt được nàng và có được nàng trong nhà tôi đi nữa. Nàng vừa ngỏ cùng tôi: "Em yêu chàng!" những lời này tôi không tài nào có thể buộc nàng thốt ra, dù có dùng cả sự hùng cường của La Mã đi chăng nữa. Ôi Ligia! Trí óc mách bảo rằng đó chính là giáo thuyết tốt đẹp nhất của thiên giới, trái tim cũng cảm nhận được điều ấy, và liệu có ai cưỡng nổi hai sức mạnh ấy chăng?


Ligia lắng nghe chàng nói và say sưa nhìn chàng với đôi mắt xanh thẳm, trong ánh trăng trông hệt như những cánh hoa huyền hoặc, và cũng bừng nở như hoa.


- Phải đó! Chàng Markux! Đúng lắm! - Nàng nói, mái đầu áp chặt hơn nữa vào vai chàng.


Vào giây phút ấy, cả hai đều cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Họ hiểu rằng, ngoài tình yêu ra, họ còn liên kết với nhau bởi một sức mạnh khác nữa, ngọt ngào mà không sao cưỡng nổi, nó khiến cho ngay cả tình yêu cũng trở nên không thể chạm tới, không chịu ảnh hưởng của sự đổi thay, những đua tranh, phản bội, thậm chí cả cái chết. Trái tim đôi trẻ chan chứa một lòng tin vững chắc, rằng dù có xảy ra chuyện gì chăng nữa, họ cũng sẽ không ngừng yêu nhau, không ngừng thuộc về nhau. Và vì thế lòng họ tràn đầy một sự bình yên khôn tả. Vinixius cảm thấy đó là thứ tình yêu không những chỉ thanh cao và sâu sắc mà còn hoàn toàn mới mẻ, thứ tình yêu thế gian cho đến nay chưa từng được biết, và cũng không ai có được. Trong trái tim chàng trai, tất thảy đã quyện lại để hình thành nên tình yêu ấy: cả Ligia, cả giáo thuyết của Chúa Crixtux, cả ánh trăng đang ngủ yên lành trên những cây trắc bá, cả cái đêm thanh bình này; chàng ngỡ như cả vũ trụ chỉ tràn ngập tình yêu mà thôi.


Lát sau, chàng nói tiếp với giọng khe khẽ, run run:


- Nàng sẽ là linh hồn của linh hồn tôi, nàng sẽ là người thân yêu nhất trên đời! Trái tim của đôi ta sẽ cùng đập chung một nhịp, đôi ta sẽ chung một lời cầu nguyện, cùng một niềm ơn đối với Chúa Crixtux. Ôi, nàng thân yêu! Được cùng sống, cùng thờ phụng một đức Chúa xiết bao ngọt ngào, và biết rằng sau khi cái chết đến, mắt chúng ta sẽ lại được mở bừng ra như sau một giấc ngủ ngon lành để nhìn thấy một thứ ánh sáng mới - liệu còn có thể nghĩ thêm được điều gì tốt đẹp hơn nữa hay chăng! Tôi chỉ ngạc nhiên tại sao mình không hiểu ra được điều ấy sớm hơn. Nàng có biết tôi cảm thấy điều gì không? Rằng không một ai có thể chống lại nổi giáo thuyết này. Sau ba trăm năm nữa, toàn thế giới sẽ tuân phục nó; người ta sẽ quên đi thần Jupiter, sẽ không còn một vị thần linh nào khác ngoài Chúa Crixtux, sẽ không còn một thần miếu nào khác ngoài thánh đường Kito giáo. Ai là kẻ chẳng mong muốn hạnh phúc cho mình? À, mà tôi đã được nghe cuộc trò chuyện giữa ông Paven với cậu Petronius, và nàng có biết rốt cuộc cậu Petronius đã nói thế nào không? "Thứ này không phải dành cho tôi" - song cậu ấy không còn gì hơn nữa để đáp lại.


- Chàng hãy thuật lại lời của đức Paven cho em nghe với nào! - Ligia nói.


- Chuyện đó diễn ra vào buổi tối ở nhà tôi. Như thường lệ, cậu Petronius bắt đầu nói và đùa cợt với vẻ coi thường, nhưng ông Paven bảo cậu ấy rằng: "Thưa ngài Petronius thông tuệ, sao ngài lại có thể bác bỏ việc đức Chúa Crixtux đã giáng sinh rồi lại phục sinh, một khi hồi đó ngài chưa có mặt trên đời, còn chính các ông Piotr và Jan đã từng trông thấy Chúa, riêng bản thân tôi cũng được nhìn thấy Người trên đường đi Đamat? Xin trí thông tuệ của ngài trước hết hãy làm ơn chứng minh rằng chúng tôi là những kẻ dối trá đã, rồi ngài hãy bác bỏ những bằng chứng của chúng tôi sau". Cậu Petronius đáp rằng cậu ấy không hề nghĩ tới chuyện bác bỏ, bởi cậu ấy biết rằng có bao nhiêu điều mà người ta không hiểu nổi vẫn đang xảy ra và được những người khả kính khẳng định. Song cậu bảo rằng việc phát hiện ra một đức Chúa siêu nhiên mới mẻ nào đó là một chuyện, còn thừa nhận giáo thuyết của ông ta lại là chuyện khác. "Tôi không muốn biết - cậu ấy nói - về bất cứ một thứ gì có thể làm hỏng cuộc đời và hủy hoại vẻ đẹp của nó. Các vị thần linh của chúng tôi có thật hay chăng không phải là điều đáng quan tâm, nhưng họ đẹp, bên cạnh họ chúng tôi vẫn được phần vui vẻ và có thể sống không lo lắng là được". Khi ấy ông Paven bèn trả lời: "Ngài chối bỏ một giáo thuyết của tình yêu, công lý và nhân từ vì e rằng phải gánh chịu những nỗi âu lo của cuộc đời, nhưng thưa ngài Petronius, xin ngài hãy suy nghĩ xem có phải cuộc sống của các ngài thật sự không hề vướng bận lo âu? Chính ngài hay bất cứ một người nào khác trong số những người giàu có và hùng mạnh nhất, buổi tối trước khi đi ngủ cũng không biết chắc rằng liệu khi thức dậy có nhận được bản án tử hình hay không. Xin ngài hãy nói đi: nếu như Hoàng đế thâu nhận giáo thuyết này, giáo thuyết truyền bá tình yêu và công lý, thì có phải hạnh phúc của ngài sẽ được thêm phần chắc chắn hơn không? Ngài lo cho niềm vui của ngài, nhưng có phải khi ấy cuộc đời sẽ vui hơn không? Còn nếu nói về những thứ điểm tô cho cuộc đời, về cái đẹp, thì nếu các ngài đã dựng nên ngần ấy thần miếu với các pho tượng tuyệt vời để thờ phụng các vị thần linh độc ác, thù hằn, lang chạ và giả dối, thì tại sao các ngài lại không thể xây đền để thờ phụng một đức Chúa duy nhất của tình yêu và chân lý? Ngài tự khen cho số phận của mình bởi vì ngài giàu có và sống trong lạc thú, nhưng đồng thời ngài cũng rất có thể là một kẻ nghèo hèn và bị bỏ rơi, mặc dù ngài xuất thân từ một gia đình quyền thế; khi ấy hẳn ngài sẽ thấy tốt hơn cho bản thân nếu trên đời mọi người đều tin theo đức Chúa Crixtux. Ở thành đô của các ngài, ngay cả các bậc cha mẹ giàu có cũng không muốn nuôi dạy con cái, mà thường vứt chúng ra khỏi nhà, những đứa trẻ được gọi là alumna. Và chính ngài cũng rất có thể là một đứa trẻ như thế. Nhưng nếu như song thân của ngài sống theo giáo thuyết của chúng tôi thì điều ấy sẽ không bao giờ xảy đến với ngài. Khi tới tuổi thành niên, ngài cưới người con gái ngài yêu, ngài mong muốn rằng người con gái ấy sẽ chung thủy với ngài cho tới trọn đời. Ấy vậy mà ngài hãy nhìn xem chuyện gì đang diễn ra ở chốn các ngài, biết bao nhơ bẩn, bao nhục mạ, bao bỉ báng đối với tình chung thủy vợ chồng! Đến nỗi chính các ngài phải lấy làm ngạc nhiên khi có người phụ nữ nào đó sống đoan chính, những người mà các ngài gọi là univira. Tôi xin thưa cùng ngài, những người phụ nữ mang hình đức Chúa Crixtux trong tim sẽ không bao giờ lừa dối chồng, cũng như những người đàn ông Kito không bao giờ phản bội vợ. Còn các ngài thì không tin cả vua chúa, cả cha ông, cả vợ con lẫn tôi tớ. Toàn thế giới run sợ trước các ngài, nhưng chính các ngài lại run sợ trước đám nô lệ của mình, vì các ngài hiểu rõ rằng từng giờ từng phút họ có thể vùng lên tiến hành một cuộc chiến tranh khủng khiếp chống lại sự áp bức của các ngài như họ đã từng hơn một lần nổi dậy. Ngài đang giàu có đấy, nhưng ngài cũng không dám chắc liệu ngày mai người ta có buộc ngài phải từ bỏ của cải hay chăng; ngài còn trẻ đấy, nhưng rất có thể ngay ngày mai ngài sẽ phải lìa đời; ngài yêu đương đấy, nhưng sự bội phản đang rình rập ngài; ngài say mê biệt thự và tượng đài, nhưng ngày mai có thể ngài sẽ bị lưu đầy đến những miền hoang vu của Panđataria; ngài đang có hàng nghìn đầy tớ, nhưng ngày mai đầy tớ có thể sẽ khiến ngài đổ máu. Và nếu thế thì làm sao các ngài còn có thể yên tâm, có thể sung sướng, có thể sống trong niềm vui được cơ chứ? Còn tôi, tôi truyền bá tình yêu thương, truyền bá cái giáo thuyết khuyên kẻ cầm quyền phải yêu người thuộc hạ, khuyên ông chủ phải yêu nô lệ, khuyên nô lệ phải phục dịch bằng tình yêu thương, thực hành công lý và lòng nhân từ. Và cuối cùng, tôi hứa hẹn niềm hạnh phúc như một biển cả vô biên dào dạt. Vậy, thưa ngài Petronius, sao ngài lại có thể nói rằng giáo thuyết này làm hỏng cuộc đời, một khi nó sửa chữa cho cuộc đời, một khi các ngài đã được trăm lần sung sướng và vững dạ hơn nếu như nó chiếm lĩnh được toàn thế giới như đế quốc La Mã của các ngài đã chiếm lĩnh?".


Hỡi Ligia, ông Paven đã nói như thế. Cậu Petronius bèn đáp: "Thứ ấy không phải dành cho tôi", rồi cậu ấy giả vờ buồn ngủ ra về, khi đi ra còn nói thêm: "Ta thích nàng Eunixe của ta hơn giáo thuyết của các người, hỡi người dân xứ Juđei kia, nhưng ta không muốn tranh luận với người làm chi". Còn tôi, tôi lắng nghe những lời ông Paven nói với tất cả tâm hồn, và khi ông nói đến những người phụ nữ của chúng ta, trái tim tôi tràn ngập lòng ngưỡng mộ đối với giáo thuyết này, giáo thuyết mà từ đó nàng đã lớn dậy như những đoá hoa huệ nhú lên về mùa xuân từ một mảnh đất phì nhiêu. Khi ấy, tôi nghĩ thầm trong dạ: đó là ả Poppea đã vứt bỏ hai người chồng để lấy Nero, là Kanvia Kryxppinilla, là Nigiđia, là gần như tất thảy những người đàn bà tôi từng quen biết, ngoại trừ mỗi mình bà Pomponia, bởi vì bọn họ đã mua bán lòng tin và những lời thề thốt, và chỉ riêng một mình nàng, riêng một mình người thân yêu của tôi đây, là sẽ không chối bỏ, không bội phản, không dập tắt ngọn lửa, dù cho tất thảy những gì tôi tin đều đã chối bỏ và phản bội tôi. Vì vậy, tôi thầm nói cùng nàng rằng: tôi biết đền ơn nàng bằng cách nào đây nếu không phải bằng tình yêu và lòng thành kính? Nàng có cảm thấy rằng tôi đã trò chuyện với nàng tại chốn Anxium kia, trò chuyện hoài không nghỉ dường như có nàng ở bên tôi vậy hay chăng? Tôi yêu nàng trăm lần hơn lên vì nàng đã từng chạy trốn tôi mà rời bỏ cung điện Hoàng đế. Tôi cũng không còn thích thú gì nó nữa cả. Tôi không còn ham những lạc thú và âm nhạc của nó, chỉ khao khát mỗi mình nàng thôi. Xin nàng hãy nói một lời, chúng ta sẽ rời bỏ Roma để về sống ở một nơi nào đó thật xa.


Còn nàng, không nhấc đầu khỏi vai chàng, nàng ngước đôi mắt như đang mải suy tư nhìn lên những ngọn trắc bá đang được vầng trăng dát bạc, rồi nói:


- Hay lắm, chàng Markux! Chàng đã có lần viết cho em về đảo Xyxilia, nơi ông bà Aulux muốn lui về sinh sống những năm tuổi già.


Vinixius sung sướng ngắt lời:


- Phải rồi, nàng thân yêu! Đất đai của chúng ta nằm cạnh nhau. Bờ biển đẹp tuyệt vời, khí hậu lại còn ngọt ngào hơn, ban đêm còn thanh bình hơn ở Roma, những đêm ngạt ngào hương thơm và sáng tỏ... Nơi ấy cuộc sống gần như cũng chính là hạnh phúc.


Rồi chàng bắt đầu mơ về tương lai:


- Ở đó có thể quên hết mọi ưu tư. Chúng ta sẽ đi dạo trong những khu rừng, những khóm ôliu và sẽ nghỉ chân dưới những bóng cây. Hỡi Ligia! Cuộc đời tuyệt vời làm sao khi được yêu nhau, được hoà hợp, được cùng nhau ngắm biển nhìn trời, cùng nhau thờ phụng một đức Chúa ngọt ngào, cùng thực thi điều thiện và công lý trong yên bình với chung quanh.


Cả hai cùng lặng nhìn về tương lai. Chàng ôm ghì nàng sát vào người mình mỗi lúc một chặt hơn, trong ánh trăng, chiếc nhẫn vàng hiệp sĩ trên tay chàng run rẩy lấp loáng. Trong khu lao động nghèo khổ mọi vật đã ngủ say, không một tiếng động nào khuấy động sự tĩnh mịch.


- Chàng sẽ cho phép em lui tới thăm bà Pomponia chứ? - Ligia hỏi.


- Chứ sao, nàng thân yêu. Chúng ta sẽ mời ông bà tới thăm nhà hoặc chúng ta sẽ tới thăm ông bà. Nàng có muốn chúng mình sẽ đưa đức Sứ đồ Piotr đi cùng không? Người đã mệt mỏi vì tuổi tác và công việc rồi. Ông Paven cũng sẽ lui tới thăm chúng ta, ông ấy sẽ cải đạo cho ông Aulux Plauxius; và cũng như binh lính lập các khu dân cư tại những vùng đất xa xôi, chúng ta sẽ lập nên khu đạo Kito giáo.


Ligia đưa tay nắm lấy bàn tay Vinixius định đưa lên môi, song chàng vội thì thầm, dường như sợ xua tan mất niềm hạnh phúc:


- Đừng, Ligia, đừng! Chính tôi mới thờ phụng và ngưỡng mộ nàng, xin hãy đưa tay cho tôi.


- Em yêu chàng!


Song chàng đã kịp áp môi vào đôi bàn tay trắng như những đoá hoa nhài của nàng, và suốt giây lâu, họ chỉ còn nghe thấy tiếng đập của trái tim mình. Trong bầu không khí không một hơi gió thoảng, những cây trắc bá đứng lặng yên, dường như chúng cũng đang nín thở.


Đột nhiên sự im lặng bị rách toạc bởi một tiếng gầm bất ngờ, sâu thăm thẳm, dường như từ dưới lòng đất vọng lên. Cơn rùng mình chạy suốt thân mình Ligia, Vinixius đứng bật dậy nói:


- Đó là lũ sư tử đang gào thét trong các chuồng thú đấy.(1)


Cả hai bắt đầu lắng nghe. Trong lúc ấy, tiếng gầm đầu tiên được tiếng thứ hai, thứ ba, rồi thứ mười vang từ khắp bốn phía, khắp các khu phố đáp lại. Có lúc trong thành phố chứa tới vài nghìn con sư tử, nhốt trong các chuồng thú tại các đấu trường khác nhau, và nhiều khi đêm về, chúng lần tới bên các gióng sắt, tỳ cái đầu khổng lồ của chúng vào đấy để gào lên nỗi nhớ nhung đối với tự do và hoang mạc. Lúc này đây, chúng cũng đang nhớ rừng, con này đáp lại tiếng con kia giữa sự tĩnh mịch của đêm trường, khiến cho cả thành phố ngập tràn tiếng gầm rống. Trong đó có cái gì dữ dội và buồn thảm rất khó tả; những tiếng gầm ấy xua tan cái viễn cảnh tươi sáng và thanh bình của Ligia, nàng lắng nghe chúng với trái tim chợt thắt lại bởi một nỗi sợ hãi kỳ lạ và một nỗi buồn mơ hồ.


Song Vinixius đã quàng tay ôm nàng và nói:


- Đừng sợ, nàng thân yêu. Thế vận hội đã tới gần nên tất cả các chuồng thú đều đầy thú dữ đấy mà.


Rồi cả hai cùng bước vào nhà ông Linux, đuổi theo họ là những tiếng gầm gào mỗi lúc một dữ dội hơn của lũ sư tử.


 


CHƯƠNG 40


Trong khi ấy tại Anxium, gần như mỗi ngày ông Petronius lại thu được những thắng lợi mới đối với đám cận thần đang giành giật với ông những ân sủng của Hoàng đế. Vai trò của Tygelinux bị sụp đổ hoàn toàn. Hồi còn ở Roma, khi cần phải tiêu diệt những kẻ có vẻ nguy hiểm, cướp đoạt tài sản của họ, giải quyết các vấn đề chính trị, bày các trò vui khiến người ta sửng sốt bởi sự xa hoa và kém thẩm mỹ, cũng như để thỏa mãn những ý thích quỷ quái của Hoàng đế, thì Tygelinux - kẻ vừa tháo vát vừa sẵn sàng làm tất cả mọi chuyện - tỏ ra là một người không thể thiếu được. Nhưng tại Anxium, giữa các toà biệt thự soi mình trong sắc biển xanh, Hoàng đế lại sống cuộc sống kiểu Helena(1). Suốt từ sáng đến đêm, người ta chỉ đọc thơ, nghiền ngẫm cấu trúc và sự trác tuyệt của chúng, tấm tắc tán thưởng những tứ thơ may mắn, người ta chỉ chuyên chú vào âm nhạc, nhà hát; nói tóm lại, chỉ quan tâm đến những gì được vị Hoàng đế Hy Lạp thiên tài kia sáng tạo ra, dùng để tô điểm cho cuộc đời mà thôi. Trong những điều kiện như vậy, vốn giàu kiến thức một trời một vực so với Tygelinux và các cận thần khác, lại hài hước, hùng biện, với những xúc cảm và thị hiếu tinh tế, ông Petronius hẳn là phải giành ưu thế. Hoàng đế luôn luôn tìm ở ông một người bạn, luôn hỏi ý kiến và những lời khuyên bảo của ông trong khi sáng tác, và ngài biểu lộ một tình thân ái sôi nổi hơn bao giờ hết. Người chung quanh tưởng rằng rốt cuộc rồi thế lực của ông sẽ giành được thắng lợi cuối cùng, rằng tình thân ái giữa ông và Hoàng đế đã bước vào giai đoạn ổn định và sẽ trường tồn nhiều năm dài. Thậm chí, ngay cả những kẻ trước đây vẫn biểu lộ sự khó chịu đối với vị tín đồ trang nhã này của chủ nghĩa hưởng lạc cũng đã bắt đầu xun xoe săn đón và cầu cạnh sự ưu ái của ông. Nhiều người còn vui mừng một cách thành tâm trước sự giành ưu thế của con người hiểu rõ phải nghĩ về ai điều gì, con người đón nhận lời ca ngợi của kẻ thù hôm trước với một nụ cười hoài nghi, song hoặc do biếng nhác hoặc do quá trang nhã nên chẳng thèm trả thù, và không bao giờ lợi dụng thế lực của mình để tiêu diệt hay làm hại người khác. Có những lúc ông đã có thể tiêu diệt Tygelinux, song ông chỉ thích giễu cợt và chế nhạo sự thiếu học thức và sự thô thiển của y mà thôi. Nguyên lão viện tại Roma thở phào nhẹ nhõm, vì suốt một tháng rưỡi trời nay không có một bản án tử hình nào được phán quyết cả. Thực tình, cả ở Anxium lẫn tại thành đô, người ta có đồn đại những chuyện lạ lùng về sự lọc lõi trong sự trụy lạc của Hoàng đế cùng vị sủng thần của ngài, song ai cũng muốn được cảm thấy trên đầu mình một vị Hoàng đế lọc lõi còn hơn là một kẻ bị thú vật hoá trong bàn tay của Tygelinux. Bản thân Tygelinux cũng hoang mang do dự, không hiểu đã nên đầu hàng hay chưa, bởi vì Hoàng đế đã nhiều phen tuyên bố, rằng trên toàn cõi La Mã, trong toàn đám triều thần, chỉ có duy nhất hai tâm hồn hiểu được nhau, chỉ có hai người Hy Lạp chân chính - ngài và ông Petronius.


Sự khéo léo đáng kinh ngạc của ông Petronius khiến mọi người tin rằng ảnh hưởng của ông sẽ vượt lên trên mọi ảnh hưởng khác. Họ không sao hình dung nổi thiếu ông thì Hoàng đế sẽ ra sao, ngài biết trò chuyện cùng ai về âm nhạc, thi ca, đua xe, biết nhìn vào mắt ai để xét đoán xem những gì ngài sáng tạo ra có thật sự tuyệt hảo hay không. Riêng ông Petronius, với sự hờ hững thường có, dường như vẫn không để ý gì đến địa vị của chính mình. Như thường lệ, ông vẫn khoan thai, biếng nhác, hài hước và đầy hoài nghi. Nhiều lúc ông gây cho mọi người ấn tượng của một người đang giễu cợt họ, đang giễu cợt chính bản thân ông, giễu cợt cả Hoàng đế và toàn thế giới. Đôi khi ông còn dám cả gan chỉ trích Hoàng đế thẳng thừng, và khi những người khác ngỡ rằng ông đã đi quá xa, thậm chí sắp mất mạng đến nơi, thì ông lại đột ngột biến điều chỉ trích ấy theo cách có lợi cho mình, khiến những kẻ chứng kiến phải kinh ngạc và tin chắc rằng không thể có tình thế nào mà ông không vượt qua nổi để giành thắng lợi. Một lần, khoảng một tuần sau khi Vinixius từ Roma quay về, Hoàng đế đọc một trích đoạn trong bản "Thành Tơroa" của ngài cho một nhóm ít người nghe; khi ngài vừa dứt lời và những tiếng xuýt xoa tán thưởng vừa lặng đi, thì ông Petronius - được Hoàng đế đưa mắt hỏi - đã lên tiếng:


- Những vần thơ tồi, đáng ném vào lửa.


Tim những người có mặt như ngừng đập vì kinh hoàng. Kể từ thuở ấu thơ Nero chưa hề nghe ai thốt ra một lời đánh giá như thế bao giờ; riêng gã Tygelinux thì vui mừng ra mặt. Ngược lại, Vinixius tái mặt đi, chàng nghĩ rằng dẫu chưa say bao giờ, nhưng lần này hẳn ông Petronius đã uống say.


Còn Nero bắt đầu hỏi với giọng ngọt như mật, tuy trong đó đã rung lên thanh âm của lòng tự ái bị tổn thương.


- Ngươi thấy có gì không hay trong đó?


Ông Petronius liền tiến công ngài ngay:


- Xin Hoàng thượng chớ có nghe lời họ - ông nói và trỏ tay vào những người đang có mặt - họ chẳng biết gì đâu. Hoàng thượng hỏi là có gì chưa hay trong những vần thơ ấy ư? Nếu Người muốn biết sự thật, thần xin thưa: thơ ấy hay đối với Vergilius, hay đối với Oviđius, hay ngay cả đối với Homer, nhưng không phải là hay đối với Người. Hoàng thượng không được phép viết những vần thơ như thế. Đám cháy mà Người mô tả không đủ rực cháy, ngọn lửa của Người không đủ nóng bỏng. Người chớ nghe những lời tán tụng của Lukan. Thần sẽ thừa nhận y là thiên tài nếu y viết nổi những vần thơ như thế, nhưng đối với Hoàng thượng thì không. Hoàng thượng có biết vì sao không? Bởi vì Người vĩ đại hơn bọn họ. Ai được các vị thần linh ban cho nhiều như Người, nên người ta có quyền đòi hỏi ở Người nhiều hơn. Thế mà Hoàng thượng lại lười biếng. Người thích ngủ sau bữa ăn hơn là ngồi thật kiên nhẫn. Hoàng thượng có thể sáng tạo nên một thiên tuyệt phẩm mà thế gian chưa hề được nghe nói đến, vì vậy thần xin nói thẳng cùng Hoàng thượng rằng: Hoàng thượng hãy viết nên những vần thơ hay hơn nữa!


Ông nói những điều ấy với vẻ miễn cưỡng, dường như bỉ báng và chê trách, nhưng cặp mắt của Hoàng đế lại mờ đi trong một làn sương khoái lạc; ngài phán:


- Các vị thần đã cho ta chút tài năng, nhưng ngoài ra còn ban cho ta nhiều hơn thế, vì đã cho ta một nhà thông thái thực thụ, một người bạn, người duy nhất biết nói thẳng sự thật.


Nói đoạn, ngài vươn bàn tay béo múp phủ đầy lông hung hung đỏ về phía cây đèn nhiều ngọn bằng vàng cướp được ở Đenphơ để đốt những bài thơ.


Nhưng ông Petronius đã kịp giằng lại trước khi ngọn lửa bén vào giấy chỉ thảo.


- Không, không! - Ông nói - ngay cả những vần thơ dở này cũng thuộc về nhân loại. Xin hãy ban chúng cho thần.


- Vậy hãy cho phép ta được gửi chúng đến cho khanh trong chiếc hộp đựng các tư tưởng của ta - Nero vừa đáp vừa ôm chặt lấy ông.


Lát sau ngài lại nói:


- Chính thế. Khanh nói đúng lắm. Đám cháy thành Tơroa của ta không đủ cháy sáng, ngọn lửa của ta không đủ nóng bỏng. Tuy nhiên ta nghĩ rằng, nếu ta sánh ngang Homer cũng là đủ rồi. Nỗi rụt rè và sự thiếu am hiểu bản thân lúc nào cũng cản trở ta. Khanh đã mở mắt cho ta. Nhưng khanh có biết tại sao lại đúng như khanh nói hay không. Đó là vì, nếu một nhà điêu khắc muốn tạo nên hình tượng thần linh, anh ta phải tìm cho mình một hình mẫu, còn ta, ta thiếu hình mẫu. Ta chưa bao giờ được trông thấy một thành phố đang cháy, cho nên sự miêu tả của ta thiếu phần chân thực.


- Vì thế thần mới nói rằng phải là một nghệ sĩ vĩ đại để hiểu ra điều ấy.


Nero trầm ngâm, nhưng lát sau lại nói:


- Petronius này, khanh hãy trả lời cho ta một câu hỏi: Khanh có tiếc là thành Tơroa bị cháy hay không?


- Thần có tiếc không ư?... Thề có người chồng sấm sét của nữ thần Venera, thần không hề tiếc tý nào hết! Thần xin thưa vì sao lại thế. Thành Tơroa đã không cháy nếu Prometeus không trao ngọn lửa cho loài người và người Hy Lạp không tuyên chiến với vua Priam. Một khi không có lửa thì Esilox không thể viết nổi thiên "Prometeus" của mình; nếu không có chiến tranh, Homer không thể viết nổi "Ilyat", mà thần lại muốn có hai thiên "Prometeus" và "Ilyat" hơn là giữ gìn cái thành phố hình như nhỏ bé và bẩn thỉu kia, nơi hiện giờ chí ít cũng có một viên khâm sai bị đầy ải nào đó đang chán ngán những cuộc đôi co với toà án địa phương.


- Thế mới đáng gọi là nói có hiểu biết chứ - Hoàng đế đáp - Có thể và cần phải hiến dâng tất thảy cho thi ca và nghệ thuật. Hạnh phúc thay những người dân Akhai, những kẻ đã cung cấp cho Homer nội dung để viết nên "Ilyat"; sung sướng thay cho vua Priam, người đã được tận mắt chứng kiến sự hủy diệt của quê hương. Còn ta? Ta chưa hề được trông thấy một thành phố nào đang rực cháy cả.


Một giây im lặng, sự im lặng rốt cuộc bị Tygelinux phá tan:


- Tâu Hoàng thượng, chẳng phải thần đã có lần thưa cùng Người rằng - y nói - xin Người cứ ra lệnh, thần sẽ đốt cháy ngay Anxium. Hay thế này chăng? Nếu như Hoàng thượng tiếc thương các biệt thự và lâu đài kia, thần sẽ ra lệnh đốt cháy các tàu thuyền ở Oxtia, hoặc sẽ cho xây dựng ở chân núi Anban một thành phố bằng gỗ, rồi chính Hoàng thượng sẽ tự tay ném mồi lửa vào đó. Người có muốn vậy chăng?


(còn tiếp)


Nguồn: Quo Vadis. Tiểu thuyết của Henryk Sienkiewicz. Nguyễn Hữu Dũng dịch. NXB Văn học, 1999; tái bản 2011. Lời bạt của nhà văn Triệu Xuân.


www.trieuxuan.info







(1) Latinh: Người đỡ đầu của tôi.





(1) Nguyên văn: vivarium (Latinh) - chuồng thú có môi trường sống gần với tự nhiên.





(1) Tức là sống theo phong thái Hy Lạp, coi trọng văn học và nghệ thuật.




 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.Chương 34
6.Chuong 32 & 33
7.Chương 30 & 31
8.Chương 28 & 29
9.Chương 27
10.Chương 26
11.Chương 25
12.Chương 24
13.Chương 23
14.Chương 22
15.Chương 21
16.Chương 17, 18, 19 & 20
17.Chương 15 & 16
18.Chương 14
19.Chương 12 & 13
20.Chương 10 & 11
21.Chương 8 & 9
22.Chương 7
23.Chương 5 & 6
24.Chương 3 & 4
25.Chương 2
26.Chương 1
27.Lời Giới thiệu
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 11.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
xem thêm »