tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21052789
12.03.2016
Tư liệu
Quan hệ Nga – Việt Nam & Vài nét về Cam Ranh



Quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga là quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Nga kế thừa quan hệ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Liên Xô trước đây.


Quan hệ Việt - Xô đã chính thức được thiết lập vào 30 tháng 1, 1950 khi Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết mở đại sứ quán tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.


Báo chí Việt Nam luôn ca ngợi sự khăng khít trong quan hệ giữa hai nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nói:


“Đối với Lênin, đối với Cách mạng Tháng Mười, đối với Đảng Cộng sản, Chính phủ Liên Xô và nhân dân Xô Viết, chúng ta 'Uống nước phải nhớ nguồn'”.


Lê Duẩn, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, cũng nói:


“Nhân dân Việt Nam hiểu sâu sắc rằng mỗi bước đi lên, mỗi chặng đường thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với những sự kiện trọng đại diễn ra trên đất nước Liên Xô”.


Năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập.


Nước Việt Nam non trẻ phải đối mặt với nhiều khó khăn: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm... Chính quyền cách mạng chưa được củng cố, lực lượng vũ trang còn non yếu. Vì vậy, một trong những cố gắng đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phá vỡ thế bao vây của kẻ thù và tranh thủ sự ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa.


Ngày 22-9-1945 - 20 ngày sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi mật điện cho I.V. Stalin (qua Đại sứ Liên Xô A.E.Bogomolov tại Pháp), thông báo về sự ra đời của Chính phủ cách mạng ở Việt Nam:


Bức mật điện đầu tiên Liên Xô nhận được từ Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (22-9-1945)


Kính gửi đồng chí Stalin. Moksva.


Chúng tôi xin thông báo với Ngài rằng Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập với Chủ tịch là Hồ Chí Minh. Ngày 25 – 8, Hoàng đế Bảo Đại thoái vị và chuyển giao chính quyền cho Chính phủ mới được toàn dân ủng hộ.


Trong khi đó, do hệ thống đê điều bị phá vỡ, một nửa Bắc Bộ bị ngập lụt, gây thiệt hại to lớn, dân bắt đầu chết đói. Chúng tôi xin Ngài giúp đỡ ở mức độ có thể.


Trân trọng. Hồ Chí Minh


Nguồn: Архив внешней политики Российской Федерации (АВП РФ), ф. 0136, оп. 29, п.197, д. 31, л.187.


Bức điện trên và một loạt các bức điện khác được gửi trong tháng 9,10/1945 đều không được hồi âm. Theo Bukharkin, "Matxcova tiếp nhận những bức điện khẩn của lãnh đạo Việt Nam với thái độ khá dè dặt". Vấn đề Đông Dương đã không được ưu tiên bởi Moskva như vấn đề phương Tây sau chiến tranh thế giới thứ hai, đồng thời, Stalin "không muốn làm suy yếu Đảng Cộng sản Pháp khi ủng hộ cuộc chiến giành độc lập ở Đông Dương", vì thế, Stalin đã "khoán" cho Trung Quốc nhiệm vụ hỗ trợ Hồ Chí Minh và Việt Minh. Maurice Thorez, lãnh đạo Cộng sản Pháp, từng nói rằng "Stalin không tin tưởng nhóm của Hồ Chí Minh". Thorez nói rằng Hồ Chí Minh đã đi quá xa trong quan hệ với Mỹ và tình báo Anh. Hơn thế nữa, Stalin không vui khi Hồ Chí Minh không chịu nghe lời mình.


Sau khi được Trung Quốc đặt quan hệ ngoại giao (18-1-1950), Chủ tịch Hồ Chí Minh tới Bắc Kinh (21-1-1950). Nhân dịp này, Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ Trung Quốc thông báo cho Stalin biết Hồ Chí Minh đang thăm Trung Quốc và đề nghị được gặp Stalin để thông báo cho Chính phủ Liên Xô biết về tình hình cách mạng Việt Nam.


Ngày 23-1-1950, Bộ trưởng Ngoại giao Hoàng Minh Giám thay mặt Chính phủ Việt Nam gửi công hàm cho Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô, đề nghị hai nước kiến lập quan hệ ngoại giao chính thức và trao đổi đại sứ. Mao Trạch Đông, lúc đó đang đàm phán với Stalin để kí Hiệp ước Hữu nghị, Đồng minh và Tương trợ Trung - Xô tại Moskva, đã đề nghị Stalin mời Hồ Chí Minh tới Moskva để bàn về việc hợp tác Xô - Việt. Stalin đã miễn cưỡng chấp nhận điều này và ngày 30-1-1950, Moskva chính thức công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Quan hệ giữa VNDCCH với Liên Xô được lên cấp đại sứ vào tháng 4 năm 1952.


Từ năm 1950 trở đi, Liên Xô bắt đầu viện trợ những khoản vật chất quan trọng cho Việt Nam. Số lượng hàng đầu tiên gồm "pháo cao xạ 37 ly, một số xe vận tải môlôtôva và thuốc quân y".  Nhìn chung, nếu từ tháng 5-1950 đến tháng 6-1954, Việt Nam nhận được 21.517 tấn hàng viện trợ quốc tế với tổng trị giá 54 triệu rúp từ Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ nhân dân khác, thì trong đó "toàn bộ pháo cao xạ 37 ly- 76 khẩu, toàn bộ hỏa tiễn (cachiusa), toàn bộ số tiểu liên K50, phần lớn số ôtô vận tải 685 trên tổng số 745 chiếc và một số lượng lớn thuốc kháng sinh ký ninh là của Liên Xô".


Sau sự kiện Liên Xô tan rã, mối quan hệ lại được tạo dựng giữa Việt Nam và Liên bang Nga, quốc gia kế tục Liên Xô.


Ngày 27 tháng 12 năm 1991 Việt Nam tuyên bố công nhận Nga là quốc gia thừa kế Liên Xô, mặc dù tổng thống Nga Boris Yeltsin vào ngày 29 tháng 8 đã ra lệnh cấm tất cả các hoạt động của Đảng Cộng sản Liên Xô, sau cuộc đảo chính Xô viết năm 1991.


Ngày 16/6/1994, Việt Nam và Nga đã ký Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản của quan hệ hữu nghị. Tháng 3/2001, Việt Nam và LB Nga đã xác lập mối quan hệ song phương lên tầm đối tác chiến lược nhân chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Vladimir Putin. LB Nga là nước đầu tiên Việt Nam thiết lập quan hệ đối tác chiến lược.


Tháng 8 năm 1998 Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã thăm chính thức Liên bang Nga. Hai bên đã khẳng định sự mong muốn phát triển quan hệ song phương và đã ký Tuyên bố chung Nga-Việt.


Tháng 9 năm 2000 Thủ tướng Phan Văn Khải đã thăm chính thức Nga, ký các hiệp định liên Chính phủ về giải quyết nợ của Việt Nam vay trước đây trước Nga, về hợp tác liên khu vực, v.v...


Từ 28 tháng 2 đến 2 tháng 3 năm 2001 đã diễn ra chuyến thăm chính thức Hà Nội của Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin. Đã ký Tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược, nghị định thư liên chính phủ về việc rà soát cơ sở điều ước-pháp lý và hiệu lực các hiệp ước và hiệp định song phương, và các văn kiện ngành khác.


Từ 26 đến 28 tháng 3 năm 2002 Chủ tịch Chính phủ Liên bang Nga M. M. Kasiyanov thăm chính thức Hà Nội, hội đàm với Thủ tướng Phan Văn Khải và Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh.


Tổng thống Vladimir Putin và chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết


Hai nước duy trì cơ chế Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế - thương mại và khoa học - kỹ thuật đồng thời thành lập Hội đồng Doanh nghiệp Việt Nam – Liên Bang Nga nhằm trao đổi biện pháp tăng cường hợp tác và hỗ trợ xúc tiến thương mại, đầu tư cho doanh nghiệp hai nước.


Năm 2007, Việt Nam và Nga đã công nhận lẫn nhau có nền kinh tế thị trường, tạo thêm điều kiện cho doanh nghiệp của nhau thâm nhập thị trường. Gần 5% con số chính thức người Việt tại Nga là sinh viên theo học bằng học bổng của chính phủ Nga.


Thương mại song phương hai nước đã đạt tới 550 triệu USD vào năm 2001; Nga xuất khẩu sang Việt Nam máy móc và thép; trong khi Việt Nam xuất khẩu sang Nga lúa gạo và vải vóc. Hai nước cũng giữ vững mối quan hệ trong lĩnh vực năng lượng với việc liên doanh Vietsovpetro khai thác dầu thô tại mỏ Bạch Hổ.


Hợp tác quân sự


Ngài Dimitry Medvedev viếng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tháng 10, 2012


Sau khi có Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô Viết,- kí ngày 3.11.1978, tại Matxcơva-  Liên Xô một mặt đưa Hải quân và Không quân tới đóng và hoạt động ở quân cảng Cam Ranh, lập cầu hàng không vận chuyển vũ khí và phương tiện chiến đấu cho Việt Nam, một mặt thiết lập đoàn cố vấn quân sự từ cấp sư đoàn bộ binh và trung đoàn binh, quân chủng kỹ thuật trở lên. Liên Xô cũng yêu cầu Việt Nam bỏ cơ chế Đảng ủy trong Quân đội, đồng thời đưa cả 19 sư đoàn bộ binh lên áp sát biên giới Việt-Trung. Họ còn đề nghị Việt Nam thành lập Quân đoàn thứ 10 nâng quân số thường trực của Việt Nam lên tới một triệu sáu trăm ngàn. Tuy nhiên Việt Nam từ chối những yêu cầu này và không cho phép Liên Xô đưa đầu đạn hạt nhân vào cảng Cam Ranh.


Tương phản với quan hệ ngoại giao và thương mại, hợp tác quân sự giữa hai nước đã đi xuống kể từ sau khi Liên Xô tan rã. Hải quân Liên Xô đã duy trì hiện diện quân sự tại căn cứ ở vịnh Cam Ranh (được Mỹ xây dựng và chuyển giao cho Hải quân Việt Nam Cộng hòa trước khi quân đội miền Bắc giành được năm 1975). Trước năm 1987, căn cứ này đã được mở rộng ra gấp 4 lần kích thước ban đầu của nó, được cho là để gìn giữ hòa bình cho khu vực Đông Nam Á, điều này trái ngược với thông tin tình báo của Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ.


Các nhà phân tích cho rằng phía Việt Nam nhìn nhận sự có mặt của Liên Xô là đối trọng chống lại bất kỳ mối đe dọa tiềm tàng nào từ phía Trung Quốc. Liên Xô và Việt Nam luôn chính thức phủ nhận bất kỳ sự hiện diện quân sự nào ở đây. Tuy nhiên, vào đầu năm 1988, ngoại trưởng Liên Xô khi đó Eduard Shevardnadze đã thảo luận về khả năng rút quân khỏi vịnh Cam Ranh và sự cắt giảm quân đội cụ thể đã được thi hành vào năm 1990. Nga bắt đầu rút nốt số quân ít ỏi còn lại vào năm 2002.


Tuy nhiên, trong những năm gần đây, Việt Nam trở thành đối tác quốc phòng quan trọng của Nga, thể hiện qua hầu hết các khí tài quân sự hiện đại của Việt Nam đều nhập từ Nga, một phần do lệnh cấm vận của Mỹ đối với Việt Nam.


vi.wikipedia.org


Sáng 8/3/2016, tại Căn cứ quân sự Cam Ranh, Quân chủng Hải quân đã tổ chức lễ khai trương Cảng Quốc tế Cam Ranh. PGS. TS, nguyên Giám đốc Học viện Hải quân Nha Trang, Chuẩn đô đốc Lê Kế Lâm, và Đại tá Nguyễn Đôn Hòa, nguyên phó chủ nhiệm kỹ thuật Hải quân, là thế hệ đầu tiên được đào tạo sử dụng tàu ngầm tại Liên Xô (cũ)- nói về quân cảng Cam Ranh:


Cam Ranh có vị trí địa chiến lược hết sức đặc biệt, nằm ở bán đảo Đông Dương có bờ biển dài trên 3.200 km, nhìn ra Biển Đông. Biển Đông bao la chính là một nửa biên giới của Việt Nam, là quyền lợi sống còn của dân tộc. Đất nước ta dài nhưng hẹp nên việc phòng thủ cũng như phát triển ra hướng biển là chiến lược hết sức quan trọng, đặc biệt trong thời đại khoa học – kỹ thuật – công nghệ hiện nay.


Cha ông chúng ta ngày xưa dù chưa đủ lực và trình độ như bây giờ nhưng đã biết vươn ra biển từ rất sớm. Từ thế kỷ 17, 18, ông cha ta đã quản lý và khai thác tận Hoàng Sa và Trường Sa là một ví dụ. Và để quản lý những đảo và quyền lợi biển như thế, phải có căn cứ trên biển. Từ thế kỷ 20 trở về trước, nhà Nguyễn đã xây dựng đảo Lý Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi để quản lý, khai thác đánh bắt hải sản, thu lượm phân chim tại Hoàng Sa. Nay đất nước phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng tiên tiến thì rất cần những căn cứ như Cam Ranh.


Cam Ranh là một vịnh thiên nhiên có diện tích trên 13.800 ha. Chiều dài toàn bộ từ cửa vịnh cho đến cầu Mỹ Ca là 32 km. Còn chiều rộng từ bờ tây cho tới bờ đông hơn 3 km. Nhưng đừng lẫn lộn bán đảo Cam Ranh, căn cứ Cam Ranh với cảng Ba Ngòi, thuộc huyện Cam Ranh.


Ba Ngòi là cảng dân sự ở phía Tây cảng Cam Ranh.


Thiên nhiên đã phú cho Cam Ranh thế phòng thủ cực kỳ tiện lợi cho phòng không, cho tàu ngầm, tàu mặt nước.


Cam Ranh là một vịnh nước sâu kín, không có đá ngầm, có núi cao trên 1.000 mét che chắn bên ngoài. Bên trong là đất liền. Dù bên ngoài có bão, sóng cấp 5 – 6 thì bên trong không bao giờ sóng tới cấp 3. Rất lý tưởng.


Tại Cam Ranh có sân bay lớn, hiện đại. Trước năm 1975 máy bay B.52 của Mỹ đã hạ cánh xuống đây. Sau khi Việt Nam và Liên Xô ký Hiệp định hợp tác hữu nghị Việt – Xô (1978), Liên Xô đã sử dụng quân cảng Cam Ranh một thời gian. Máy bay TU- 95 của Liên Xô thường xuyên vận chuyển hàng từ Vladivostock xuống sân bay Cam Ranh tiếp tế cho binh đoàn 17 thuộc hạm đội Thái Bình Dương của Liên Xô đóng tại đây.


Căn cứ Cam Ranh là nơi cho tàu Hải quân xuất phát làm nhiệm vụ bảo vệ Trường Sa, bảo vệ chủ quyền biển đảo và bảo vệ ngư dân, bảo vệ tài nguyên trên biển, trong lòng biển của Tổ quốc rất thuận lợi. Đây cũng là nơi tiếp tế hậu cần, đưa đón bộ đội lên đảo, trở về nghỉ ngơi thay ca… Cam Ranh có hồ nước ngọt rất lớn, cung cấp nước cho quân và dân trong vùng.


Trước kia, dù là căn cứ hải quân rất quan trọng, có sân bay quân sự lớn nhưng nhà ở cho quân nhân chỉ là nhà cấp 4 và nhà dã chiến. Khi Liên Xô đồn trú ở đây họ chỉ xây dựng một số nhà 2 – 4 tầng cho sĩ quan và khu gia binh. Liên Xô rút quân, gần như không còn sử dụng được. Gần đây được sự quan tâm của Nhà nước, tất cả nhà ở của quân nhân đều xây mới 2 – 4 tầng khang trang.


Nếu cộng Cam Ranh với căn cứ Subic và Clark của Philippines thì sẽ thành một thế liên hoàn xem như toàn bộ Biển Đông đều bị kiểm soát và có thể chi phối Biển Đông.


Biển Đông là một con đường hàng hải tấp nập nhất của quốc tế. Hàng ngày có ¼ tàu vận tải cỡ lớn của thế giới đi qua. Nếu tính cả tàu quân sự thì bình quân mỗi ngày có hàng ngàn chiếc đi qua đây.


Tất cả tàu chở dầu từ vịnh Ba Tư qua Ấn Độ Dương, đi qua eo Malacca để đi lên Đông Bắc Á đều đi qua Biển Đông. Cái yết hầu là chỗ này!


Biển Đông không chỉ là vùng có quyền lợi gắn bó với các nước xung quanh, mà còn liên quan quyền lợi của các nước lớn như Mỹ, Nga, Nhật, kể cả Ấn Độ vì hàng hóa của họ đều đi qua đây. Cho nên tại sao tranh chấp ở Biển Đông lại trở thành cuộc tranh chấp của Mỹ, Nhật, Nga, Ấn Độ và ASEAN là vì vậy.


Giới chuyên gia quân sự đánh giá, một chiếc tàu ngầm diezel với vận tốc 10 hải lý/giờ chỉ cần 3 tiếng đồng hồ xuất kích từ Cam Ranh có thể tiếp cận giao thông của Biển Đông. Tàu ngầm nằm dưới nước với vũ khí như hiện nay có thể vươn tới bất cứ nơi nào trên vùng biển địa chiến lược này.


Cam Ranh không chỉ bảo vệ vùng biển, các đảo và tài nguyên biển mà còn là căn cứ bảo vệ Tây Nguyên và phía Nam của Tổ quốc.


Cam Ranh là căn cứ cho các tàu Hải quân xuất phát đi làm nhiệm vụ ở Trường Sa, bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông, bảo vệ ngư dân đánh cá, khai thác hợp pháp trên vùng biển của Tổ quốc, bảo vệ tài nguyên trên biển, trong lòng biển v.v…


Chúng ta nên biết thêm là vùng lãnh hải của quốc gia tính từ bờ ra là 24 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế là 300 hải lý. Vì vậy phạm vi bảo vệ chủ quyền biển đảo rất rộng lớn.


Đúng là Cam Ranh không chỉ bảo vệ biển đảo mà còn là căn cứ bảo vệ phía Nam của đất nước, án ngữ bảo vệ Tây Nguyên vô cùng quan trọng.


Nhiều sĩ quan Nga đã từng tâm sự với tôi hồi họ còn đóng quân ở cảng Cam Ranh: “Hải quân Nga được ở đây chẳng khác gì được “chạm vào giấc mơ” mà từ thời hải quân Sa hoàng tới nay chưa thực hiện được!”


Vì sao ư? Sau khi Việt Nam và Liên Xô ký Hiệp ước hợp tác hữu nghị năm 1978, Liên Xô được sử dụng quân cảng Cam Ranh 24 năm, tức tới năm 2004. Binh đoàn 17 -do phó đô đốc, phó tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương của Hải quân Liên Xô, sau này là Liên bang Nga, làm tư lệnh binh đoàn 17,- đóng tại Cam Ranh. Cam Ranh trở thành căn cứ chỉ huy và tiếp tế hậu cần cho tàu của hạm đội Thái Bình Dương đi qua Ấn Độ Dương. Tầm hoạt động của hải quân Liên bang Nga mở rộng ra từ Thái Bình dương đến Ấn Độ dương.


Nhờ Cam Ranh, cánh tay của hạm đội Thái Bình Dương vươn dài ra trên đại dương hơn 3.000 km.


Từ ngày hải quân Nga rút khỏi Cam Ranh, ta đã hoàn toàn quản lý quân cảng Cam Ranh. Cam Ranh đã trở thành căn cứ hải quân chính của hải quân Việt Nam.


Xây dựng Cam Ranh thành căn cứ chính của hải quân ta là đúng vì vị trí chiến lược đặc biệt của nó. Kết hợp giữa kinh tế và quốc phòng như hiện nay là hợp lý. Ví dụ như sân bay kết hợp khai thác đường bay quốc tế để khỏi lãng phí.


Vịnh Cam Ranh phần phía tây có cảng Ba Ngòi có thể phát triển kinh tế thủy sản, xây dựng cảng dịch vụ là cần thiết. Còn phần cảng quân sự Cam Ranh phải xây dựng hoàn chỉnh thành căn cứ hải quân liên hợp gồm hải quân, không quân, phòng không và phòng thủ bộ binh kết hợp làm dịch vụ hải quân cho các nước như tiếp dầu, tiếp nước; sữa chữa phương tiện, có bệnh viện điều trị, chữa bệnh cho bệnh binh các nước có tàu hải quân hoạt động gần đấy.


Các cường quốc biển trên đại dương đều có tàu chiến hoạt động trên vùng biển Thái Bình dương và Biển Đông. Với môi trường hòa bình và hội nhập, ta có thể cung cấp dịch vụ đường biển cho tàu quân sự không chỉ Nga mà còn có Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ v.v… Tất nhiên ai vào đây cũng phải tuân thủ luật pháp và chủ quyền của Việt Nam.


Một điều hết sức quan trọng nữa là cần phải thường xuyên giáo dục ý thức quốc phòng, ý thức bảo vệ Tổ quốc cho tất cả tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên. Đặc biệt là trách nhiệm bảo vệ căn cứ Cam Ranh và những phương tiện hiện đại bên trong thật vững chắc. Tuyệt đối không vì quyền lợi kinh tế nhỏ nhen mà cho người nước ngoài vào bên trong nuôi cá, thăm dò thủy sản, nuôi trồng hải sản v.v…


Hoạt động gián điệp, tình báo thì không nước nào là không có. Vì vậy, ta phải hết sức cảnh giác, cần phải đề cao tự hào dân tộc và bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.


Rút kinh nghiệm từ lịch sử, theo tôi, chúng ta không nên cho bất kỳ nước nào vào đồn trú lâu dài tại Cam Ranh như trước nữa. Vì được nước này thì mất nước kia.


Thực tiễn đã chứng minh rằng, trong cạnh tranh đối tác luôn tiềm ẩn đối thủ, luôn có cạnh tranh, có thể xảy ra tranh chấp, mâu thuẫn lợi ích bất cứ lúc nào. Do vậy, ta nên tự quản, đồng thời xây dựng, sử dụng và cung cấp dịch vụ cho tất cả họ là hay nhất.


Phản xạ tự nhiên của nước nhỏ trước sự lấn lướt của nước lớn là phải ứng xử thông minh, dứt khoát và thậm chí liên kết để bảo vệ lợi ích hợp pháp… Đấy là chuyện khác nữa.


 Tuanvietnam.


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thế kỷ đẫm máu - Stephen Kotkin 07.11.2017
Nhà Lê sơ - Lê sơ triều - Tư liệu sưu tầm 06.11.2017
Đông Kinh Nghĩa Thục: Cuộc cách mạng giáo dục đầu tiên ở VN - Nguyễn Hải Hoành 05.11.2017
Mao, Tập và “Cơn bão tháng Giêng” - Tư liệu sưu tầm 05.11.2017
Vai trò của Stalin trong Chiến tranh Triều Tiên - Nguyễn Hải Hoành 05.11.2017
02/10/1966: Báo Liên Xô đưa tin sĩ quan Nga bị tấn công - Tư liệu sưu tầm 05.11.2017
Đặng Tiểu Bình và quyết định của TQ tiến hành chiến tranh với VN - Tư liệu sưu tầm 04.11.2017
Nhìn lại cuộc chiến Việt-Trung năm 1979 - Tư liệu sưu tầm 04.11.2017
Ngoại tộc giày xéo, cai trị Trung Quốc (2) - Hồ Bạch Thảo 03.11.2017
Dơi, bộ dơi, con dơi - Tư liệu sưu tầm 03.11.2017
xem thêm »