tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20004434
12.02.2016
Phan Quang
Phan Quang Du ký (3)

Nguồn: Bên mộ vua Tần. Tập ký của Phan Quang. NXB Văn học, 2003.


www.trieuxuan.info


 


 


 


 


 


 


CHUYỆN NGÀI ĐẠI SỨ KỂ


 


Chuyện này do Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam, ông Lý Gia Trung, thuật lại trong một cuộc gặp mặt thân mật.


Hôm ấy chúng tôi đang bàn luận về những đặc điểm của thức ăn Trung Quốc và thức ăn Việt Nam - hai trong số không nhiều lắm những nơi trên thế giới có nghệ thuật ẩm thực tinh tế. Có ai đó nhắc đến món vịt quay Bắc Kinh.


Nét mặt vị đại sứ bỗng trở nên nghiêm trang. Ông có vẻ trầm ngâm như đang nhớ lại một chuyện cũ. Lát sau ông nói:


Tôi xin kể lại chuyện này để góp thêm một nét minh họa phong cách xử sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh.


Cách đây hơn ba mươi năm, tôi làm việc ở Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, công tác phiên dịch. Sức khỏe Chủ tịch Hồ Chí Minh hồi ấy dường như bắt đầu có những biểu hiện không được tốt. Đảng và Chính phủ Trung Quốc có gửi một đoàn giáo sư, bác sĩ sang Hà Nội cùng các thầy thuốc Việt Nam chăm lo sức khỏe cho Bác.


Một hôm Bác Hồ cho mời đoàn cán bộ y tế Trung Quốc lên gặp, và nói:


- Bác cảm thấy trong người dạo này khỏe, làm việc, sinh hoạt bình thường. Bác đề nghị các đồng chí về Bắc Kinh thăm gia đình và nghỉ hè một tháng rồi lại sang.


Trước khi lên đường về nước, các giáo sư, bác sĩ đến chào Chủ tịch. Trưởng đoàn nói:


- Chúng tôi sẽ báo cáo với các vị lãnh đạo Trung Quốc về tình trạng sức khỏe tốt của Hồ Chủ tịch. Sau một tháng, sẽ xin trở lại Hà Nội. Chủ tịch có cần gì, xin vui lòng cho biết.


Bác Hồ đáp:


- Các đồng chí thấy đấy, mọi việc đều tốt. Tôi rất cảm ơn và thấy chẳng cần gì hơn nữa.


Và Bác kết thúc bằng một câu nói vui:


- Nếu có cần chăng thì đó là món vịt quay Bắc Kinh.


Đúng một tháng sau, tôi theo vị Đại sứ Trung Quốc ra sân bay Gia Lâm đón đoàn cán bộ y tế. Thấy trong số hành lý lỉnh kỉnh, hai thùng sắt tráng men trắng có nắp đậy, loại thời ấy vẫn dùng đựng nước uống ở các phòng họp, tôi cứ tưởng là thuốc.


Đoàn giáo sư, bác sĩ sang tới nơi. Đại sứ Trung Quốc xin đến thăm và báo cáo với Hồ Chủ tịch.


Bác Hồ tiếp, thăm hỏi sức khỏe, chuyện trò với mọi người.


Lúc Đại sứ đứng dậy xin từ biệt, Bác Hồ nói:


- Hôm nay là kỷ niệm ngày thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Bác mời Đại sứ cùng phu nhân và Tham tán Đại sứ quán tối nay đến dùng vịt quay Bắc Kinh với Bác.


Tôi dịch cho Đại sứ mà cứ sợ mình nghe nhầm. Nhưng nhầm sao được. Bác Hồ nói rất rõ.


Tối hôm ấy tôi được theo Đại sứ vào Phủ Chủ tịch, giúp việc phiên dịch. Đúng là có món vịt quay Bắc Kinh chính hiệu. Mới vỡ nhẽ hai cái thùng sắt tráng men ấy dùng đựng hai con vịt quay Bắc Kinh cùng các thứ phụ gia, đoàn y tế mang sang. Bác Hồ đã tặng cán bộ phục vụ một con, còn một con mời Đại sứ và mấy người nữa cùng đến thưởng thức.


Hóa ra đoàn thầy thuốc về đến Bắc Kinh, được Thủ tướng Chu Ân Lai mời vào, trực tiếp nghe báo cáo. Trưởng đoàn đã không quên câu nói vui của Hồ Chủ tịch. Thủ tướng Chu Ân Lai nói:


- Khi trở lại Hà Nội, nhất thiết các đồng chí phải mang theo món vịt quay. Phải đặt làm hai con, vì tôi biết tính Hồ Chủ tịch, có quà bao giờ Người cũng chia cho anh chị em phục vụ. Vịt quay thì dĩ nhiên không khó. Cái khó là làm sao cố gắng mang sang Hà Nội vẫn giữ nguyên vẹn hương vị như khi thưởng thức món này tại Bắc Kinh.


Đại sứ Lý Gia Trung nói thêm:


- Hồi ấy, việc bảo quản và vận chuyển thực phẩm tươi không giản tiện như bây giờ. Vậy cho nên mới có hai cái thùng sắt tráng men được thực hiện theo chỉ thị của Thủ tướng Chu Ân Lai mà tôi cứ ngỡ là dùng đựng thuốc.


*


Sau khi nghe câu truyện nói trên, tôi cũng hơi phân vân. Vì vậy, trở về nhà, vội tìm tư liệu kiểm tra. Tại Hồ Chí Minh - biên niên tiểu sử, tập 10, trang 369, (năm 1968) quả có chép nguyên văn như sau:


Tháng 6, ngày 30


Chiều tối, nghe tin đoàn thầy thuốc Trung Quốc đã trở lại Việt Nam để tiếp tục chữa bệnh cho Người, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chuyển lời hỏi thăm và cảm ơn các thầy thuốc Trung Quốc.


Tháng 7, ngày 1


Chiều tối, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho mời Đại sứ và Tham tán của Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam vào Phủ Chủ tịch dùng cơm thân mật mừng ngày kỷ niệm 48 năm thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc.


 


Hà Nội, 1999


 


 


HOÀNG ĐẾ CUỐI CÙNG


 


Vâng, tôi đã gặp vị Hoàng đế cuối cùng. Một con người mà cuộc đời gắn với những trang sử bi thảm nhất của nhân loại những năm giữa của thế kỷ hai mươi sắp kết thúc, một con người hẳn đã bị mọi người hoàn toàn quên lãng, nếu không có bộ phim nổi tiếng thế giới mang đầu đề Vị Hoàng đế cuối cùng.


Ấy là vào tháng 10 năm 1965, ở thủ đô Bắc Kinh. Hồi ấy, đế quốc Mỹ đã đưa cái mà chúng gọi là chiến tranh đặc biệt ở Việt Nam thành một cuộc chiến tranh cục bộ thật sự. Chúng đổ quân vào trực tiếp xâm lược miền Nam nước ta. Quân đội Mỹ hùng hùng hổ hổ vừa đặt chân lên bờ biển Nam Trung Bộ, đã bị Quân giải phóng miền Nam đánh cho một phủ đầu tơi bời ở Vạn Tường. Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đang thực hiện những bước đi có tính toán nhằm phát huy ảnh hưởng của một nước đông cả tỉ dân trên chính trường quốc tế. Đó cũng là những năm tháng huy hoàng nhất của ban lãnh đạo Trung Quốc thế hệ đầu tiên, vào đêm trước của cuộc “Cách mạng Văn hóa” sẽ bùng nổ mấy tháng tiếp ngay sau đó, biến động bi thảm làm đảo lộn mọi giá trị của con người và kìm hãm đà phát triển của nước Trung Hoa vĩ đại.


Tôi được mời sang Trung Quốc dự Quốc khánh nước bạn với tư cách nhà báo, phụ trách một ban biên tập của báo Nhân dân. Tại cuộc chiêu đãi chính tại Đại lễ đường nhân dân do Tổng lý Quốc vụ viện Chu An Lai thay mặt Chính phủ Trung Quốc chủ trì đêm 1 tháng 10, có mặt hơn bốn nghìn khách quốc tế và trong nước. Đến dự có đông đủ các vị lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thời ấy: Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức, Trần Vân, Bành Chân, Đặng Tiểu Bình, Trần Nghị, Đổng Tất Vũ..., có thể nói gần đủ những gương mặt tiêu biểu nhất của lịch sử Trung Quốc đương đại sáng chói hào quang, kể từ sau cuộc vạn lý trường chinh.


Khách nước ngoài có nhiều nhân vật nổi tiếng. Tôi nhận ra Quốc vương Campuchia Sihanuk cùng bà Hoàng Monique, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Indonesia Aidit cùng một đoàn đại biểu quân sự rất đông tướng tá của nước ấy (các vị này đang có mặt tại Bắc Kinh thì ở Jakarta xảy ra đảo chính), một nhà lãnh đạo cấp cao của Pakistan, cùng nhiều chính khách, nhà báo hàng đầu của các nước và nhiều gương mặt Hoa kiều tiêu biểu...


Trong số các khách mời từ nước ngoài vừa đến Bắc Kinh, có một người Trung Hoa rất được dư luận trong nước và thế giới hồi ấy quan tâm. Đó là Lý Tế Thâm, nguyên Phó Tổng thống Trung Hoa dân quốc của Tưởng Giới Thạch trước ngày thành lập nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Sau khi đại lục Trung Hoa hoàn toàn giải phóng, họ Lý chạy sang Hoa Kỳ. Lần này ông từ Mỹ về thăm đất nước sau mười sáu năm sống lưu vong, theo lời mời của lãnh đạo nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.


Vua Phổ Nghi chắc có mặt tại buổi chiêu đãi chính thức ấy. Tôi không nhìn thấy ông. Tiệc mời những bốn nghìn thực khách và là tiệc ngồi, ai yên vị chỗ nấy. Vả chăng, nếu có gặp ông tôi cũng không sao biết được, nếu không có người giới thiệu cho. Tôi được gặp ông trong một dịp khác, tại tiệc rượu do Nguyên soái Trần Nghị - Bộ trưởng Ngoại giao chiêu đãi giới báo chí nước ngoài tối hôm sau. Theo tôi hiểu có lẽ đây là lần đầu tiên Trung Quốc có một cử chỉ mở cửa khoáng đạt đến thế. Lần đầu tiên, những nhà báo các nưỡc Xã hội chủ nghĩa hoặc thuộc thế giới thứ ba chen vai thích cánh tại thủ đô Bắc Kinh với rất đông nhà báo và học giả phương Tây nổi tiếng, cùng không ít ký giả gốc Trung Quốc lừng danh từ Hồng Kông và Ma Cao về lục địa mừng Quốc khánh.


Tôi thật sự ngỡ ngàng khi ông bạn nhà báo nước chủ nhà được phân công hướng dẫn tôi, rỉ tai: người đứng trước mặt tôi, đang nâng ly rượu lên ngang mày, khẽ chạm vào ly rượu của tôi kia là cựu Hoàng đế Phổ Nghi. Trước mặt tôi là một người đàn ông vóc dáng trung bình, không khác mấy các vị tổng biên tập báo, đài Trung Hoa thời ấy. Và cũng giống như số đông cán bộ Trung Quốc khác, ông mặc bộ lễ phục màu be, áo bốn túi cài kín cổ (màu be cùng màu ghi là hai màu được giới mày râu ưa chuộng nhất ở Bắc Kinh thời bấy giờ). Đôi mắt ông mệt mỏi và không có vẻ gì là thông minh, sắc sảo lắm sau đôi kính cận thị - ít ra đấy là cảm nghĩ đầu tiên của tôi lúc bấy giờ. Cho đến nay, qua hơn một phần tư thế kỷ, tôi vẫn còn nhớ như in đôi mắt mệt mỏi của vị cựu Hoàng.


Trước khi gặp vua Phổ Nghi, tôi có được đọc một số tài liệu về chiến tranh thế giới lần thứ hai. Tôi đã nhìn thấy tấm ảnh nhà vua và gia đình bị kẹt ở sân bay Thẩm Dương, sau khi đạo quân Quan Đông, lực lượng dự bị hùng hậu và gần như còn nguyên vẹn của Nhật Bản trên đất Trung Hoa đầu hàng Hồng quân Liên Xô. Trong ảnh, vua Phổ Nghi mặc âu phục, đội mũ dạ và khoác áo choàng dài màu xẫm, trông lịch sự như một vị đại gia tư sản. Trong hồi ký của mình, Đại tướng S.Stêmenkô, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Liên Xô thời chiến tranh thế giới thứ hai, có kể lại khá chi tiết sự kiện này. Khi theo lệnh của ông, Thiếu tướng đặc phái S.Pritula chỉ huy hai trăm ba mươi lăm sĩ quan và chiến sĩ được lựa chọn kỹ càng từ Tập đoàn quân xe tăng Cận vệ số 6 đổ bộ bằng đường không xuống thành phố Thẩm Dương đúng vào ngày 19 tháng 8 năm 1945, thì đã có một đại diện của Hoàng đế Mãn Châu Quốc và giám binh Nhật Bản chờ sẵn và đón tận đường bay.


Trong lúc đang kiểm tra các ngôi nhà ở sân bay để sắp xếp nơi tạm đóng quân, một sĩ quan phát hiện đích thân Hoàng đế Phổ Nghi đang có mặt ở phi trường. Ông cùng gia đình và một số tùy tùng thân cận đang chờ máy bay. Ông hy vọng quân đội phát xít Nhật Bản sẽ không quên phái chuyên cơ đến đón người cộng sự gần gũi số một đưa đi “lánh nạn” ở một nơi an toàn nào đó, như họ từng bao phen thề thốt. Hoàng đế Phổ Nghi chờ đỏ cả mắt. Nhưng chiếc máy bay to lớn vừa hạ cánh kia không phải là chuyên cơ nước Phù Tang mà là máy bay chuyên dụng của Hồng quân Xô Viết. Tuy nhiên, ông vẫn được những người đại diện đội quân chiến thắng đối xử khá lịch sự. Vua Phổ Nghi - vẫn theo hồi ký của Đại tướng Stêmenkô - đã khóc khi tiếp cận Hồng quân. Ông khóc cho tình cảnh thảm thương của nhân dân Mãn Châu quốc thời kỳ phát xít Nhật cai trị. Ông khóc cho số phận nhục nhã của chính mình. Ông nhờ Thiếu tướng đặc phái A.Pritula chuyển giúp về đại bản doanh Liên Xô bức thông điệp của cựu Hoàng đế Mãn Châu quốc kính gửi Tổng tư lệnh tối cao của Quân đội Xô Viết Stalin. Bức thông điệp kết thúc với câu: “Với lòng tôn kính sâu xa ngưỡng vọng Đại nguyên soái Liên Xô Stalin, tôi xin bày tỏ với Ngài lòng biết ơn chân thành và chúc Ngài sức khỏe dồi dào”.


Tôi có biết vua Phổ Nghi là ai. Vì vậy tôi không hề thoáng có ý nghĩ là ông được phép xuất hiện trong một buổi chiêu đãi Nhà nước chính thức trọng thể thế này. Trong khi tôi chăm chú quan sát ông, nét mặt ông hoàn toàn không biểu lộ cảm xúc gì. Có lẽ ông quá quen với sự ngạc nhiên của những người thoạt gặp ông. Cũng có thể con người ấy biết cách tự giấu mình, một đức tính của người Trung Hoa từ thời Xuân Thu, Chiến Quốc cách chúng ta những mấy nghìn năm chăng. Ông chẳng chút quan tâm đến sự “ngứa ngáy” của tôi đang bị máu nghề nghiệp thôi thúc. Tôi muốn đặt với ông một câu phỏng vấn ngắn. Nhưng làm sao thực hiện được vào lúc này? Mỗi người chỉ nói được một câu ngắn xã giao thường lệ, mà thực ra chẳng ai nghe rõ lời ai. Dòng người trước mặt tôi đã tiến lên. Những người sau lưng tôi đang bước tiếp. Các vị khách đi ngược dòng cũng trịnh trọng, ly rượu trên tay, tiếp tục cuộc chạm ly của họ cho hết vòng lễ tân. Ông đi ngược, tôi đi xuôi, tiếp tục chào hỏi, chúc mừng lẫn nhau, người nào cũng lịch sự trong một buổi tiếp tân ngoại giao thật lịch sự.


Sau buổi gặp bất ngờ ấy, một người bạn hỏi cảm tưởng của tôi về cựu Hoàng đế Phổ Nghi, Nhà vua cuối cùng của triều Mãn Thanh đã từng thống trị nước Đại Trung Hoa suốt ba trăm năm. Tôi đáp: “Tôi thấy dáng dấp ông ta giống hệt một cán bộ cấp huyện của Trung Quốc ngày nay”.


Tôi nói thật lòng. Đến nay, Vua Phổ Nghi đã đi về thế giới bên kia. Riêng phần mình, sau khi đã xem phim Vị Hoàng đế cuối cùng, sau khi đã đọc nhiều trang trích dịch từ chính bản hồi ký của ông sang tiếng Việt, tôi vẫn nhớ như in và vẫn nghĩ những ấn tượng của mình về ông vua bất hạnh ấy hai mươi bảy năm trước cho đến nay còn đúng.


 


Hà Nội, 1992


 


 


CUỘC TRƯỜNG CHINH CỦA BẢO VẬT


 


Đêm Bắc Kinh tháng giêng năm Quý Dậu ấy vô cùng lạnh lẽo, vắng vẻ và tối tăm. Gió bắc hun hút. Đường phố được chút ánh sáng yếu ơt có lẽ không phải từ dãy đèn đường đã vàng vọt lại càng mờ mịt hơn bởi những chao đèn phòng không, mà từ những đám cháy đang bùng lên ở mạn Bắc và Tây Bắc thủ đô hắt lại. Trong gió hút, thỉnh thoảng vọng lại tiếng đại pháo gầm. Hôm nay mới mùng mười Tết(1). Lại nữa, với thời tiết này, chẳng ai muốn ra khỏi nhà nếu không có việc thật khẩn cấp.


Chỉ có một đoàn người - không, nhiều đoàn người, rất đông - lặng lẽ nối đuôi nhau đẩy những chiếc xe chất đầy những hòm gỗ lớn, âm thầm rời khỏi Tử cấm thành qua cổng Bắc. Đoàn xe thô sơ chật vật bò đến ga xe lửa. Ở đây đã có hai đoàn tàu đầu máy đốt lò chờ sẵn. Tất cả hòm xiểng, cái nào cũng được gắn xi, đánh số và niêm phong cẩn mật được những người vận chuyển với sự hỗ trợ của công nhân đường sắt, vội vã bốc xếp lên các toa. Kiểm tra, bàn giao xong - tổng số mười chín nghìn năm trăm năm mươi bảy hòm tất cả - hai đoàn tàu vội vã khởi hành, lao vào đêm đen về hướng Nam.


Phải nhiều năm sau, khi những người tổ chức chuyến vận chuyển gần hai vạn hòm báu vật ấy công bố hồi ký của mình, mọi người mới biết đấy là cuộc tháo chạy của kho tàng nghệ thuật lưu giữ trong hoàng cung triều đình Mãn Thanh. Kho tàng này được thu thập vào đây suốt mười thế kỷ, bắt đầu từ vị hoàng đế đầu tiên của nhà Tống, năm 960. Ngọc ngà, châu báu, vàng bạc, đồng thau; hàng gốm sứ Trung Hoa nổi tiếng từ xưa trên toàn thế giới; vật dụng của các Đế, Hậu, Hoàng tử, Vương tôn; gấm vóc, đồ gỗ, đồ đá quý và nửa quý... cất xếp tại các kho hoặc bày biện ở chín trăm chín mươi chín căn phòng trong Tử cấm thành. Và có giá trị hơn hết có lẽ là các tác phẩm nghệ thuật: hội họa, thư pháp, điêu khắc cùng các cổ vật nhiều thứ đã hơn mấy ngàn năm tuổi...


Với sự xuất phát của hai đoàn tàu rời ga Bắc Kinh trong đêm lạnh, bắt đầu cuộc trường chinh của kho tàng báu vật thuộc các hoàng đế nhiều triều đại Trung Hoa, chạy trốn sự tàn phá của súng đạn, lửa chiến tranh và bàn tay cướp bóc của quân đội Phát xít. Cuộc chiến tranh xâm lược do chủ nghĩa Phát xít Nhật Bản gây ra chống nhân dân Trung Quốc diễn ra vừa được hai năm. Từ tháng 9 năm 1933, quân đội của Thiên Hoàng chiếm các tỉnh Đông Bắc Trung Quốc lập nên nước Mãn Châu. Từ bàn đạp này, chúng tiếp tục cuộc tiến công. Bắc Kinh, Thiên Tân bị đe dọa.


Trước tình hình khẩn cấp, tiên liệu cuộc rút lui khỏi thủ đô và các thành phố lớn là không tránh khỏi, Tưởng Giới Thạch, người đứng đầu chính phủ Trung Hoa dân quốc thời ấy, bí mật ra lệnh sơ tán kho bảo vật trong cố cung. Đây không chỉ là những vật báu quốc gia mà còn là biểu tượng của quyền uy. Theo các nhà nghiên cứu, từ xưa, các hoàng đế Trung Hoa đã hiểu bộ sưu tập các tác phẩm nghệ thuật và vật báu thu gom từ nhiều đời và được giữ trong phạm vi Tử cấm thành không chỉ vô giá về mặt tiền bạc, mà nó gắn liền với quyền uy và vận mệnh quốc gia. Bởi vậy triều nào cũng có nghiêm lệnh không được đưa bất cứ một vật gì trong cung điện ra ngoài. Kho báu còn, là quyền uy còn. Để mất những bảo vật ấy, thì quyền uy cũng tiêu tan. Năm 1924, vua Phổ Nghi, Hoàng đề cuối cùng triều Mãn Thanh và cũng là Hoàng đế cuối cùng trong lịch sử Trung Hoa, ban hành sắc lệnh cho tiến hành cuộc kiểm kê và lập thư mục những vật báu trong phạm vi Thành Cấm.


Là con người có bản lĩnh lại ôm ấp nhiều tham vọng, Tưởng Giới Thạch ý thức rõ điều ấy. Lịch sử sờ sờ trước mắt. Cứ mỗi lần quân nước ngoài tràn vào được Bắc Kinh - cũng như vào bất cứ thành phố nào trên thế giới xưa cũng như nay - thì sự tàn phá, cướp bóc và hủy hoại vật quý là không thể nào tránh khỏi. Đích thân Tưởng giao cho ba nhà nghiên cứu cổ vật và nghệ thuật thân tín chịu trách nhiệm tổ chức việc lựa chọn, đóng gói và sơ tán ngay những gì có thể sơ tán được trước khi quá muộn...


Một trong ba người chịu trách nhiệm chính tổ chưc việc sơ tán bảo vật, Ngãi Chi Lang, về sau nhớ lại và viết trong Hồi ký của mình: “Đó thật sự là một sự lựa chọn khó khăn, đau đớn và tàn nhẫn nữa đối với chúng tôi. Dĩ nhiên phải để lại những thứ cồng kềnh, quá nặng hoặc xem ra giá trị kém hơn. Mà trước mắt những người nghiên cứ nghệ thuật chúng tôi, chẳng có thứ gì ở đây là kém giá trị, chẳng có thứ gì không đáng cất giấu hoặc mang đi...”.


Những thứ nhẹ, dễ sơ tán nhất là tranh quốc họa, thư pháp “quốc hồn quốc túy độc đáo của nền nghệ thuật Trung Hoa”. Tranh quốc họa cũng như thư pháp nói chung được vẽ và viết trên những khổ giấy to nhỏ khác nhau do vậy dễ cuộn lại xếp vào thùng. Ấy thế mà riêng hai mục này đã chiếm gọn chín nghìn hòm gỗ. Đồ đồng chỉ chọn những loại nhẹ, gọn, trước hết những cái được tạo tác nên nhiều nghìn năm trước - xếp chặt ba nghìn hòm. Rồi cũng chừng ba nghìn hòm nữa đồ ngọc, đồ sứ quý hiếm...


Người ta phải dùng nhiều tấn bông vải, phoi bào, rơm rạ đóng gói. Mỗi thùng có danh mục riêng và được niêm phong, gắn xi, đánh số thứ tự.


Hai đoàn tàu hỏa mở hết tốc lực chạy về hướng Nam, chỉ dừng lại hẳn khi đến Nam Kinh, thủ đô thứ hai của chính phủ Dân quốc. Gần hai vạn hòm báu vật được xếp vào những nhà kho lớn đã chuẩn bị sẵn. Những người phụ trách cuộc vận chuyển tưởng Nam Kinh là địa chỉ cuối cùng. Không ai ngờ rằng, rồi họ còn tiếp tục phải đưa những thứ ấy đi, phân nhỏ ra theo từng toán một, đi bằng xe lửa, ô tô, xe ngựa, xe trâu, thuyền bè, cả trên lưng súc vật và cả trên lưng người. Một cuộc rút lui dài tổng cộng mười nghìn ki lô mét, gấp hai lần chiều dài Vạn Lý Trường Thành. Không kể một bộ phận rồi sẽ xuống tàu cùng với họ Tưởng lúc này đã trở thành viên tướng thất trận, vượt biển tháo chạy sang Đài Loan. Khi đã mất hết lục địa Trung Hoa, Tưởng vẫn còn cố níu giữ một phần báu vật. Từ khi rời cố cung cho đến lúc những chiếc hòm của quý ấy cuối cùng kết thúc chuyến đi, thời gian kéo dài mười sáu năm ròng rã.


Gần hai vạn hòm vật quý được tạm thời cất giữ ở thành phố Nam Kinh bốn năm. Nhưng tình hình Trung Quốc ngày một xấu hơn. Mùng bảy tháng hai năm 1937 - lại một ngày lạnh lẽo áp Tết Đinh Sửu - Phát xít Nhật chính thức tuyên chiến với Trung Hoa. Chiến tranh mở rộng nhanh chóng. Bắc Kinh, Thượng Hải lần lượt bị chiếm đóng. Không quân Nhật ném bom, bắn phá bừa bãi. Quân đội Thiên Hoàng khua gót giày đinh ngay ở ngoại thành Nam Kinh. Các bảo vật lại phải đưa ra khỏi các kho, tiếp tục cuộc rút lui chiến lược. Để thuận tiện cho việc vận chuyển và cất giấu trong tình hình chiến sự lan ra gần cả nước, người ta chia kho báu thành ba bộ phận, giao cho ba người lãnh đạo vốn xuất phát từ Bắc Kinh bốn năm trước chịu trách nhiệm riêng rẽ.


Tám mươi hòm chứa những vật quý nhất do Ngãi Chi Lang phụ trách được đưa xuống tàu thủy, rồi tiếp tục đi bằng đường xe lửa đến thành phố Trường Sa. Các nhà ga bị không quân Nhật ném bom, bắn phá. Giữa các làn đạn pháo và các đám cháy đang bùng lên, các hòm được vội vã chất lên xe tải, và cuối cùng cũng đến được thành phố ấy. Ở đây có một trường đại học lớn. Dự kiến tạm gửi các hòm bảo vật vào thư viện của trường.


Nhưng thư viện không còn nữa. Thay vào đấy là những hố bom. Các hòm bảo vật phải dời tiếp đến một thị trấn miền núi vùng Tây Nam Trung Quốc, rồi đưa vào giấu trong các hang động tự nhiên, chờ chiến tranh kết thúc.


Nhóm thứ hai do Hàn Lệ Uyển chịu trách nhiệm đưa bảy nghìn hai trăm hai mươi chín hòm khác, rời Nam Kinh lên đường theo hướng Tây Bắc sơ tán về thành phố Hán Thành. Không có đường xe lửa. Mỗi chuyến ô tô vận tải chỉ chở được khoảng hai mươi hòm. Trước sau, hơn ba trăm chuyến đi về vượt qua dãy núi Thiên Lĩnh đỉnh cao chạm trời. Những chuyến xe vô vàn gian khổ, bởi đường đâu có ra đường, nhất ở những quãng đèo cheo leo heo hút.


Nhưng Hán Thành chưa phải là địa điểm an toàn. Cuộc rút lui còn phải tiếp tục hơn năm trăm ki lô mét nữa đến thành phố Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên. Tại đây, gần bảy nghìn ba trăm hòm báu vật được đưa vào cất giấu phân tán trong các hang động hiểm trở.


Còn lại ở Nam Kinh chín nghìn ba trăm sáu mươi chín hòm. May mắn sao, bộ phận này kịp đưa rời khỏi thành phố bằng đường thủy, ngược sông Dương Tử, đúng vào hôm quân đội Nhật Bản tiến chiếm Nam Kinh, ngày 03 tháng 12 năm 1937, vừa vặn thoát khỏi thảm họa mà lịch sử Trung Quốc gọi là “cuộc tàn sát Nam Kinh” do quân đội xâm lược gây nên. Điều kỳ diệu làm cho nhiều người Trung Quốc tin kho tàng báu vật quốc gia được thần linh phù hộ, bởi năm 1947, sau khi chiến tranh kết thúc, người ta thu thập các hòm trở lại Nam Kinh và kiểm kê, thì nhận ra không một hòm nào bị hư hại qua cuộc rút lui dài vạn dặm.


Năm 1949, nhân dân Trung Quốc giành lại chủ quyền trên toàn lục địa Trung Hoa. Quân Quốc dân đảng bị đánh tơi bời. Trước khi tháo chạy sang Đài Loan, Tưởng Giới Thạch không quên mang theo kho báu vật - dĩ nhiên trong lúc bối rối, chỉ mang theo được một phần. Bốn nghìn hòm được đưa xuống ba chiếc tàu lần lượt rời cảng Thượng Hải. Chiếc cuối cùng vội vã nhổ neo giữa cơn mưa tầm tã và trong tiếng gầm không xa của đại bác Quân giải phóng. Cuối cùng, đành bỏ lại ở bến cảng bảy trăm năm mươi sáu hòm, nhường chỗ cho các vị quan to và gia đình họ “di tản”.


*


Cũng như phần đông du khách nước ngoài ngày nay có dịp đến Bắc Kinh, người viết bài này được đôi ba lần tham quan Cố cung. Những vật bày ở đây, ai cũng biết, chỉ là một phần rất rất nhỏ của kho báu vật đã được trở về với nhân dân, hơn nữa nhiều thứ trưng bày ở đây cũng chỉ là phiên bản. Nhớ lại lần sang Đài Bắc, chúng tôi cũng tranh thủ thăm Viện bảo tàng bảo vật vừa được xây dựng. Nghe giới thiệu ở đây lưu giữ đến sáu mươi vạn tác phẩm nghệ thuật và vật quý. Lần đầu tiên có thời giờ nhẩn nha, tôi được nhìn tận mắt nhiều thứ lạ, chỉ mới nghe nói qua báo chí. Như bức tranh lụa dài mười ba mét, căng suốt ba mặt tường của một gian phòng, vẽ với rất nhiều chi tiết tỉ mỉ cảnh sinh hoạt đời thường ở Trung Quốc thời xưa. Một bức tranh lụa dài mười ba mét, trong thiên hạ chắc chẳng nơi nào có. Tác giả là một họa sĩ đời nhà Minh. Lại nhớ một lần khác vào cuối năm 1998, tôi có việc ghé Paris, vào lúc báo chí nước này đang xôn xao về một cuộc triển lãm mới khai trương và sẽ kéo dài ba tháng ở Grand Palais. Một tờ báo có uy tín đưa lên tít lớn, khuyến cáo bạn đọc: “Dịp may hiếm có để hiểu rõ quốc hồn Trung Hoa, chớ nên bỏ lỡ”. Thật ra cuộc triển lãm chỉ bày có hơn một trăm bức tranh và thư pháp, cùng hai trăm năm mươi báu vật khác: tượng cổ, đồ đồng nhiều cái từ đời Xuân Thu Chiến Quốc và Tần Thủy Hoàng đế, hàng sứ đời Minh đời Thanh... Một phần rất nhỏ trong số mấy nghìn hòm báu vật từng trải qua cuộc sơ tán dài vạn dặm, chạy tuốt đến Đài Loan. Càng chẳng thấm tháp gì so với những gì còn giữ lại được ở lục địa Trung Hoa sau cuộc trường chinh kéo dài nhiều năm ấy.


 


2002


 


 


 


MỘT CHIẾC GHẾ BÀNH TRONG ĐIỆN PANTHÉON


 


Viện Hàn lâm Văn học Pháp vừa bầu nhà văn gốc Trung Quốc Francois  Cheng làm viện sĩ của Viện.


Đây là lần đầu tiên kể từ khi Viện Hàn lâm Văn học Pháp ra đời cách đây ba trăm sáu mươi tám năm, một người gốc Á được bầu làm thành viên của viện danh tiếng này.


Viện Hàn lâm Văn học Pháp do Hồng y giáo chủ Richelieu thành lập năm 1634, và ngay năm sau được vua Louis XIII ra sắc lệnh công nhận là một thiết chế quốc gia trong đời sống văn học nước Pháp. Trở thành viện sĩ Viện hàn lân Văn học là ước mơ của không ít người cầm bút (và cả chính khách) Pháp từ xưa tới nay. Người được bầu làm thành viên của Viện trở thành viện sĩ suốt đời. Vì vậy Viện được gọi một cách bóng bẩy - và không phải không ẩn ý mỉa mai - là Điện Panthéon của những người có thể chết (Điện Panthéon ở Paris là nơi gìn giữ di hài các danh nhân bất tử), và các viện sĩ là Những đấng bất tử còn sống trên đời.


Được bầu làm viện sĩ là những nhà văn có sự nghiệp văn chương nổi tiếng. Đương nhiên rất nhiều người rồi tác phẩm sẽ tồn tại mãi với thời gian, nhưng cũng không ít nhà văn sau khi qua đời, từ từ trôi vào quên lãng. Do số lượng hạn chế của nó (bốn mươi thành viên), Viện Hàn lâm Văn học chỉ bầu viện sĩ khi cần thay thế vị từ trần. Mặc dù văn chương Pháp xưa nay đâu có thiếu nữ danh sĩ tài hoa, mãi đến năm 1980, mới có người phụ nữ cầm bút đầu tiên trở thành viện sĩ. Đó là bà Marguerite Yourcenar (1903 - 1988). Bởi vậy Viện Hàn lâm Văn học Pháp vẫn chịu tiếng - và chẳng oan chút nào - là bảo thủ.


Ông Francois Cheng đến Pháp cuối năm 1948 lúc vừa tròn hai mươi tuổi với thân phận một người nhập cư. Hoạt động tinh thần của ông được ví như một chiếc cầu nối giữa hai nền văn hóa Pháp và Trung Hoa. Francois Cheng là nhà thơ, nhà thư pháp, nhà nghiên cứu nghệ thuật Trung Quốc, giáo sư đại học. Ông đã dịch tác phẩm nhiều nhà thơ lớn của Pháp sang Trung văn. Cuốn tiểu thuyết tự truyện của ông, Chuyện Tiany (Nhà xuất bản Abin Michel), được giới phê bình Pháp cho là thấm đượm tính nhân văn sâu sắc.


Trả lời một phỏng vấn của tuần báo L’Express cách đây hai năm, R.Cheng bộc bạch, sau khi đến Pháp ông từng có nhiều năm tháng sống trong tình trạng “cực kỳ nghèo túng, cực kỳ cô đơn, cực kỳ tuyệt vọng”. Chán chường nhất là cảnh cứ ba tháng lại phải đi xếp hàng xin gia nhận giấy phép cư trú. “Ngày nào cũng phải đi xếp hàng chờ đợi trước sở cảnh sát từ năm giờ sáng đến lúc tan tầm chiều, để rồi được nghe thông báo: Hôm nay hết giờ, ai cần, sáng mai giải quyết tiếp...”Ông nhiều lần có ý định bỏ nước Pháp trở về quê hương. Nhờ có nghị lực phi thường, ông đã vượt qua mọi khó khăn, để học tập, làm việc, cống hiến, và thành đạt.


Việc một nhà văn gốc Trung Quốc được bầu vào Viện Hàn lâm Văn học Pháp dĩ nhiên do công lao của ông đối với văn học và văn hóa Pháp. Tuy nhiên một số nhà quan sát đặt câu hỏi, ngoài ý nghĩa thuần túy văn chương, chắc hẳn sự kiện này còn mang một tín hiệu gì khác nữa, trong bối cảnh quan hệ hợp tác về kinh tế thương mại Pháp - Trung đang được cả hai bên quan tâm đẩy lên một cách mạnh mẽ.


 


2002


 


 


 


BÃO CÁT QUA ĐI, NẮNG XUÂN LẠI ĐẸP


 


Tôi đến Bắc Kinh lần này trong đầu còn mang nặng hình ảnh những trận bão cát dữ dội mà Truyền hình Việt Nam và nhiều hãng truyền hình lớn trên thế giới đều  đưa tin. Một tối vào nửa cuối tháng ba vừa qua, đang ở cố đô Marrakech của vương quốc Maroc, đêm khuya tình cờ mở đài Euro Nevvs ra xem, thấy tình hình Bắc Kinh ngày hôm đó dưới chuyên mục No comment (Không bình luận). Trên màn ảnh nhỏ chỉ có hình những con người đang chống chọi với gió mạnh để bước đi trong bão cát đục ngầu. Bởi không có âm nhạc, không có lời bình, chỉ có tiếng gió hú, càng làm tăng thêm vẻ hăm dọa của thiên nhiên.


Sau này về nước đọc báo mới biết thêm, trong hai ngày mười chín và hai mươi tháng ba ấy, bão cát đã dữ dội tấn công hơn một trăm hai mươi huyện thuộc tám tỉnh và thành phố phía Bắc Trung Quốc. Khoảng một triệu bốn trăm ngàn ki lô mét vuông trong đó có hai ngàn tám trăm ki lô mét vuông đất canh tác và hai mươi ba ngàn ki lô mét vuông đồng cỏ chịu tác động nặng nề của bão cát, làm ảnh hưởng đến mùa màng và đời sống một trăm ba mươi triệu người.


Nhưng thiên tai đã qua. Bắc Kinh giữa mùa xuân rất đẹp trong nắng lạnh, dù có lúc trời hơi mù và về đêm gió còn khá to. Tuy nhiên cây cối đã xanh mượt lá non, và đêm đêm thủ đô rực rỡ ánh đèn màu chào mừng các đoàn nghị sĩ từ gần bốn mươi nước châu Á về dự đại hội thường niên của Hiệp hội Nghị viện châu Á vì Hòa bình (AAPP). Trong số đó có đoàn Việt Nam do Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An dẫn đầu.


Bão cát là một tai họa của Trung Quốc từ xa xưa. Đáng quan tâm là nửa thế kỷ gần đây, tần số bão tăng dần. Nếu trong thập niên 60 của thế kỷ trước có tám lần bão cát lớn, thì thập niên 70 có mười ba lần, thập niên 80 có mười bốn lần, những năm 90 là hai mươi ba lần. Đặc biệt riêng năm 2000 bão cát xuất hiện mười hai lần và năm ngoái những ba mươi hai lần. Trận bão cát xảy ra cũng vào cữ này năm 1998 đã làm ngưng trệ tất cả các sân bay ở phía Bắc Trung Quốc do gió quá mạnh và tầm nhìn quá thấp. Ay thế mà việc trồng cây chắn gió, chống cát bay đã được đặt ra ở Trung Quốc từ nhiều chục năm nay.


Qua quan trắc bằng vệ tinh, có thể thấy bão cát xảy ra do gió mạnh mang cát bụi từ sa mạc Gobi ở Đông Nam Mông Cổ và sa mạc Đông Kazakhstan, cũng như từ khu tự trị Nội Mông và phần sa mạc thuộc các tỉnh Cát Lâm và Tân Cương của Trung Quốc, về trung nguyên.


Khí hậu toàn cầu biến đổi, thiên tai càng gay gắt. Dự báo nếu quá trình này tiếp tục mà không có biện pháp phòng ngừa, thì riêng ở Trung Quốc diện tích sa mạc từ ba mươi chín vạn sẽ tăng lên đến nửa triệu ki lô mét vuông vào năm 2030.


Con người chưa có điều kiện khống chế đối lưu không khí và làm chủ bề mặt sa mạc. Tuy nhiên vẫn có thể hạn chế thiệt hại bằng rừng cây. Từ nhiều năm qua, Trung Quốc đã thực hiện kế hoạch trồn cây, tạo nên vòng sinh thái bên ngoài Bắc Kinh và Thiên Tân, bảo vệ hai thành phố này đỡ bớt ảnh hưởng của bão cát. Nhịp độ tạo vùng sinh thái “lá chắn xanh” với ba vòng phủ xanh: vùng cách ly sa mạc, vùng đồng bằng và miền núi. Diện tích rừng và cây xanh ở thủ đô Bắc Kinh hiện đã chiếm 44% sẽ mau chóng đạt 45 - 46% vào những năm tới. Đấy cũng là một trong những công việc chuẩn bị Thế vận hội 2008 mà Trung Quốc là nước đăng cai. Trung Quốc hy vọng, với việc tăng đầu tư và áp dụng khoa học, công nghệ mới, sẽ có thể khống chế được nạn sa mạc hóa trong vòng nửa thế kỷ tới.


Đêm xuân ở Bắc Kinh còn lạnh, nhất là vì gió to. Không thể không liên tưởng tới gió nóng đang thổi ở miền Nam nước ta. Không thể không nghĩ tới cuộc chiến đấu gian khổ của bao nhiêu người ở rừng U Minh Hạ nhằm hạn chế thiệt hại do cháy rừng. Ai cũng biết thiên nhiên xấu đi do con người. Cuộc chiến đấu bảo vệ môi trường, chỉ có thể thực hiện thành công với sự hiệp đồng của các quốc gia, trong đó không một quốc gia nào vì lợi ích riêng mà làm thiệt hại tới quốc gia khác. Người sống trong vùng sa mạc cần nghĩ tới người ngoài sa mạc. Người đầu sông phải nghĩ tới người cuối sông. Và thật đáng xấu hổ là những nước giàu có nhất, phát triển nhất, trước hết là Mỹ, lại chưa ý thức (hoặc không muốn ý thức) đầy đủ trách nhiệm của mình. Càng đồng tình với Chủ tịch Quốc hội Trung Quốc Lý Bằng trong diễn văn khai mạc Đại hội đồng  AAPP tối mười sáu tháng tư vừa qua. Trong cơn lốc toàn cầu hóa hiện nay, bên cạnh những mặt thuận lợi, các nước đang phát triển phải đương đầu với không ít khó khăn, thách thức trong đó có tai họa về suy thoái môi trường do thiên nhiên mang đến và con người gây nên. Không có cách nào khác hơn là đoàn kết nhau lại và chân thành hợp tác với nhau.


 


Bắc Kinh, 2002


 


 


TRẦM NGÂM BÊN MỘ VUA TẦN


 


Trong dòng người nườm nượp da trắng, da đen, da vàng - đông nhất là các đoàn du lịch từ các tỉnh xa của Trung Quốc đổ về đây chiêm ngưỡng lăng mộ vị Hoàng đế đầu tiên trong lịch sử nước mình - tôi chú ý một đôi vợ chồng già. Đấy là hai người Âu. Ông chồng tóc bạc phơ nhưng vóc người vẫn thẳng, dong dỏng cao, phong thái lịch sự, vai bên trái khoác cái túi con của mình, vai bên phải là cái xắc đầm của vợ, tay cầm can. Đi cạnh là một bà lão vẻ già hơn ông nhiều, đầu đội chiếc mũ vải mềm màu trắng, lưng còng, tay chống gậy, chân lê những bước ngắn chậm chạp. Chỉ nhìn qua cũng biết đấy là một con người đã trải qua cơn tai biến nặng về tim mạch, may mà có thể phục hồi. Một cô gái địa phương, chắc là người vừa hướng dẫn vừa phiên dịch, giương chiếc ô đen che cho bà những giọt mưa lất phất bất thường của tiết vào thu nơi lưu vực sông Hoàng Hà, những giọt mưa nhẹ đến mức không làm cho bất cứ một du khách nào khác ngoài bà cụ ốm yếu quan tâm.


Tôi ngắm chiếc can bằng kim loại nhẹ hình dáng kỳ quái ông cầm ở tay và chợt hiểu ra: Đó là một cây gậy của người già, có thể dùng chống khi bước đi như mọi cây gậy khác bằng gỗ, bằng trúc, bằng song mây; nhưng phần dưới lại có gắn thêm hai nhánh hình chữ U dựng ngược và một tấm đĩa tròn bọc da. Vâng, cây gậy ấy khi cần có thể kéo hai cái nhánh phụ ra và lật cái đĩa lên thành một cái ghế để tạm ngồi mà thở, khi đôi chân già yếu không còn muốn kéo lê nữa, khi bộ ngực lép không còn đủ để hít không khí cho một sự vận động dù đã hết sức nhẹ nhàng và chậm rãi.


Hai cụ già này từ phương nào tới? Cuối cuộc đời khá dài, chắc họ đã qua nhiều lúc suy ngẫm và bàn luận với nhau về cuộc sống mai sau có thể là vĩnh hằng có thể là hư vô, và nay họ quyết định đi một chuyến “dối già” đến tận miền Tây Bắc này của lục địa Trung Hoa bao la để ngắm nhìn những di tích của một con người sống cách chúng ta hơn 2200 năm đã dày công suy nghĩ và “thiết kế” cho cuộc sống mai sau của mình.


Cái khái niệm về thời gian vô thủy vô chung so sánh với ý thức về cuộc đời ngắn ngủi đến là vô nghĩa của một sinh vật phù du quả đã làm day dứt biết bao người từ thời cổ đại đến ngày nay. Nhưng với Tần Thủy Hoàng mơ ước về cõi vĩnh hằng là sự vĩnh hằng cùng với quyền uy tuyệt đối, với sự độc đoán thậm chí cường bạo đến mức mất hết nhân luân mà ông muốn mang theo nguyên vẹn xuống nhà mồ.


Anh chàng Triệu Chính con của một người tì thiếp được lập làm Tần Vương, đã cất quân thôn tính sáu nước, lập nên đế chế phong kiến độc quyền đầu tiên ở Trung Quốc, tự phong cho mình danh hiệu vị hoàng đế đầu tiên (Tần Thủy Hoàng đế), và thâu tóm mọi quyền hành trên trời dưới đất vào một tay.


Vừa mới lên ngôi đã nghĩ tới chuyện xây lăng mộ. Điều động bảy mươi vạn người làm suốt ba mươi bảy năm; và để xóa hết dấu tích đã cho chôn sống tất cả những người hoàn tất việc thi công. (Theo các nhà sử học, dân số toàn Trung Hoa hồi ấy ước hai mươi lăm triệu người). Biết bao người theo lệnh vua đã lên núi xuống biển tìm thuốc trường sinh, song cái chết vẫn là cái chết, nó không biết nể vì quyền uy.


Và cả đại quân mà vua Tần tính mang theo mình về cõi bên kia đã rơi vào lãng quên hơn hai nghìn năm ngoại trừ mấy dòng ngắn ngủi mà nhà làm sử trứ danh Tư Mã Thiên đã ghi lại một cách khá mơ hồ trong bộ Sử ký của ông.


Sẽ còn bị lãng quên, nếu không nhờ một sự tình cờ. Năm 1973, một nông dân trong khi làm thủy lợi đã phát hiện một pho tượng chiến binh bằng đất nung to bằng người thật, vội báo cho cơ quan văn hóa. Trước ông, đã có người tìm thấy tượng, nhưng vì mê tín cho là điềm không lành, đã treo lên cây dùng gậy đập vỡ.


Thế là một cuộc khai quật lớn bắt đầu, kéo dài đã một phần tư thế kỷ và đến nay người ta vẫn tiếp tục kiên trì và cẩn thận moi từng tấc đất để tìm các di vật, nhiều cái đã vỡ thành trăm mảnh, chắp nối lại nguyên hình. Cái mới là bên trên khu khai quật, người ta đã làm mái che cao rộng như mái một sân vận động ngoài trời và xây dựng những tiện nghi cần thiết để đón khách du lịch từ khắp năm châu đổ về.


Tiền của theo đoàn khách du lịch chảy về cố đô Tràng An. Còn người nông dân đã phát hiện ra khu lăng mộ Tần Thủy Hoàng được phần thưởng duy nhất là ngày ngày đến một phòng trong khu lưu niệm, để ký tên phục vụ những du khách hiếu kỳ thích sưu tập chữ ký những người lừng danh.


Sáu nghìn tượng ngựa chiến, xe chiến, bộ binh, kỵ binh, có tả quân, hữu quân, tiền quân... to lớn như người ngựa thật (có khi còn hơn người thật vì chiều cao của tượng nguyên mẫu mà tôi thấy bày trong nhà kính kia cao đến 1m82, còn ngựa đến 1m70), hàng ngũ chỉnh tề. Mà không phải đúc bằng khuôn, vì không gương mặt nào giống gương mặt nào. Còn quân phục thì tùy theo binh chủng, quân hiệu mà khác nhau: những chiếc áo giáp đồng hoặc đan bằng mây; tóc búi (cho những quân hầu trong trung quân) hoặc đội mũ (cho lính chiến ở tuyến đầu) v.v... Có điều là không có tướng chỉ huy. Chẳng có gì đáng cho ta ngạc nhiên, vì Tần Thủy Hoàng quan niệm chính ông ta sẽ là Tổng tư lệnh vĩnh viễn của đạo quân ấy chứ tuyệt đối không chia sẻ quyền hành cho một ai khác. Gần đây người ta còn phát hiện hai cỗ xe bằng đồng, rất tinh xảo, có xe, có ngựa, với đầy đủ yên cương, có người đánh xe trang bị kiếm cung. Cỗ xe đầu là xe của vị tướng tiên phong, không có mui, vị tướng cầm cương đứng thẳng, hông đeo kiếm, vai khoác cung, bên trái là giỏ đựng tên đồng. Cỗ xe sau người cầm cương ngồi, dáng cung kính, xe có mui, có cửa sổ và bên trong trống không, vì người ngồi bên trong ấy sẽ là Tần Thủy Hoàng và chỉ có Tần Thủy Hoàng mà thôi chứ tuyệt đối không phải là một ai khác.


Tất cả những vật tùy táng ấy nằm yên dưới đất, không sâu. Vì thật ra lúc đầu nó được xây trên mặt đất, có mái che, cột nhà bằng gỗ như một đền thờ sau này bị cháy đổ, phù sa và cát bụi Hoàng Hà đã dần dần phủ lên nhận chìm mọi dấu vết.


Gần một phần tư thế kỷ trôi qua kể từ ngày phát hiện, nhưng cho đến nay ngày ngày dưới ánh đèn pha, các nhà khảo cổ, các công nhân giúp việc vẫn tiếp tục công việc nạo từng tấc đất để moi lên các cổ vật hoặc còn tương đối nguyên vẹn hoặc đã vỡ vụn trăm ngàn mảnh để chắp nối lại và xếp nguyên vào chỗ cũ của nó đúng như hơn hai ngàn năm trước.


Đã có quá nhiều bài báo và cuốn sách, đã có không biết bao bức ảnh và thước phim về khu mộ táng này được giới thiệu khắp thế giới. Và còn biết bao công trình nghiên cứu nữa đã và sẽ ra đời. Khách du lịch tò mò đổ về đây, để được tận mắt nhìn, hiếu kỳ trong vô tư hoặc trầm ngâm trong suy tưởng về quá khứ và hiện tại, về hôm nay và ngày mai, về cái hiện hữu và điều hư vô, về tham vọng và sự bất lực của con người...


Trở về thành phố Tây An tức Tràng An xưa, thủ phủ tỉnh Thiểm Tây, tôi lại gặp đôi vợ chồng già ngồi nghỉ chân dưới gốc cây móng rồng (long trảo) trước tháp Đại Nhạn, mà Đường Tam Tạng đã cho xây để tàng trữ các bộ kinh sau chuyến hành hương thỉnh kinh từ Tây Trúc trở về. Ôi cái tên Tràng An xiết bao gợi cảm. Chúng ta gặp tập trung nơi đây một phần lịch sử Trung Quốc, một phần nền văn hóa Trung Hoa. Trong hơn một nghìn năm, đây là kinh đô của mười hai triều đại, trước khi được dời về Yên Kinh tức Bắc Kinh ngày nay. Anh bạn Trung Quốc của tôi nói:


- Chế độ phong kiến Trung Hoa từ cổ đại đến nay tập trung thể hiện ở hai kinh đô: Tràng An với bốn triều đại rất lớn: Tần, Hán, Tùy, Đường và Bắc Kinh với bốn triều đại lớn khác: Tống, Nguyên, Minh, Thanh cùng những tên tuổi lừng lẫy như Hán Cao Tổ, Đường Tam Tạng, Đường Minh Hoàng, Võ Tắc Thiên... và Chu Nguyên Chương, và Càn Long và Khang Hy... tôi hy vọng còn có dịp ghi lại những cảm xúc của mình về những tên đất, tên người ấy. Nhưng xin hãy được trở lại với đôi vợ chồng già người Âu hôm nay.


Vâng, tôi lại gặp hai ông bà trước tháp Đại Nhạn. Họ không hề nói gì với nhau. Bỗng dưng tôi cũng trở lên trầm ngâm như hai cụ. Trầm ngâm về những con người đồ sộ như Tần Thủy Hoàng, Đường Tam Tạng và những dấu tích họ để lại. Trầm ngâm trước sự nhỏ bé về tầm vóc, sự ngắn ngủi trong đời sống con người, của tất cả những nhân vật trong quá khứ dù cuộc đời, sự nghiệp và tham vọng của họ vĩ đại đến bao nhiêu, so với chiều dài lâu của lịch sử và sự trường tồn của nhân dân.


Và mấy câu mở đầu bài Tương tiến tửu của Lý Bạch chợt trở về trong trí tôi:


Quân bất kiến


Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai


Bôn lưu đáo hải bất phục hồi!


Hựu bất kiến


Cao đường minh kính bi bạch phát


Triêu như thanh ti mộ thành tuyết...


(Bác chẳng thấy


Sông Hoàng từ trời nước đổ xuống


Một mạch xuống biển không về lui


Lại chẳng thấy, gương sáng lầu cao buồn tóc bạc


Sớm mới xanh tơ, chiều đã tuyết...)


 (Bản dịch của Khương Hữu Dụng)


Kìa, hai vợ chồng già đã đứng lên. Bà cụ dựa vào tay cô gái chậm rãi lê những bước chân. Ông cụ gấp chiếc can - ghế, lặng lẽ bước đi bên cạnh. Đến cả cô hướng dẫn du lịch mà nghề thường có thói quen nói nhiều, hôm nay dường như cũng trầm ngâm nốt.


Họ sẽ còn đi về những nơi đâu, đôi vợ chồng già ấy những ngày cuối đời?


Tôi chợt nghĩ đến một hình ảnh khác: Bác Hồ. Tháng 8 năm 1959, Bác đã đặt chân đến đây sau một chuyến đi hai vạn ba ngàn ki lô mét qua các nước thuộc Liên Xô cũ, Đông Âu, Mông Cổ về Trung Hoa. Chúng ta đều biết những chuyến đi thăm nước ngoài của một nguyên thủ quốc gia, chương trình bận rộn và nặng nhọc đến thế nào. (Mặc dù Bác cũng có một số ngày được nghỉ ngơi và Bác đã khiêm tốn gọi chuyến đi của mình là “cuộc nghỉ hè”). Thế mà Bác đã đến đây, cố đô của nhà Đường, lúc xế chiều Bác ung dung viếng cảnh chùa Đại Từ Ân, rồi ung dung leo lên tận tầng cao của tháp Đại Nhạn, tới đỉnh tháp, Bác nói vui: “Hôm nay, Hồ Chí Minh đã lên được tháp Đại Nhạn của đời Đường!”.


Một điểm vừa nói lên nhân sinh quan và phong thái của Người, là Bác vừa leo lên tầng cao bảo tháp, vừa ngâm hai câu thơ của Vương Chí Hoán - cũng là một thi sĩ đời Đường.


Dục cùng thiên lý mục


Cánh thướng nhất tầng lâu


(Muốn nhìn xa được ngàn dặm


Hãy lên cao thêm một tầng lầu)


Lúc này Bác đã sáu mươi chín tuổi, sắp bước vào tuổi mà cùng một nhà thơ khác đời Đường - Đỗ Phủ, đã gọi là xưa nay hiếm.


Mười năm sau, Bác sẽ ra đi vào cõi vĩnh hằng cùng chiếc áo vải, chỉ gửi gắm lại cho người sau muôn vàn tình thương yêu và một sự nghiệp vĩ đại.


Thì ra thời gian cứ trôi đi, nhưng đối với mỗi con người, mỗi số phận, nó trôi đi theo những hướng khác nhau.


 


Tây An, 1996


 


 


THIẾP LAN ĐÌNH


 


Khen rằng bút pháp đã tinh


So vào với thiếp Lan Đình nào thua


(Kiều)


Tôi quen ông Lý Mạch Dực đã lâu. Mỗi lần tôi có dịp ghé Quảng Châu, thế nào ông cũng sắp xếp để gặp gỡ và cùng nhau trò chuyện. Có những lần ông đãi đằng trọng thể và cũng không ít lần một số bạn bè thân thiết cùng nhau gặm chân vịt và “nâng lên đặt xuống” ở cái căng tin nằm ngay trong khuôn viên tòa báo, cơ quan của đảng bộ tỉnh Quảng Đông. Thế mà mãi gần đây tôi mới biết ông không chỉ là nhà báo, nhà văn, giảng viên đại học mà còn là một nhà thư pháp có hạng.


Ông Lý nổi tiếng trong giới tân văn toàn Trung Quốc bởi ông là người lãnh đạo tập đoàn Nam Phương nhật báo tỉnh Quảng Đông, đồng thời là Phó Chủ tịch Hiệp hội tân văn ký giả (Hội nhà báo) toàn Trung Hoa. Tỉnh Quảng Đông, như mọi người biết, là nơi đi đầu trong cải cách mở cửa. Vốn là nơi gần gũi Hồng Kông về mặt địa lý, những thành tựu tỉnh này gặt hái được mấy chục năm gần đây có tác dụng cổ vũ và nêu gương cho các địa phương khác toàn Trung Hoa, kể cả Bắc Kinh và Thượng Hải. Tập đoàn báo chí Nam Phương nhật báo - lấy báo Nam Phương, cơ quan của Đảng bộ Đảng Cộng sản tỉnh Quảng Đông làm nòng cốt - do Lý Mạnh Dực làm Chủ tịch, cùng với tập đoàn Dương Thành vãn báo - tên tờ báo ra buổi chiều, cơ quan của Thành ủy Quảng Châu - tập hợp các báo chí trong toàn tỉnh dưới hai tổ chức, tạo thành hai quả đấm mạnh có nguồn lực hùng hậu, có sức cạnh tranh lớn, hiệu quả kinh tế và xã hội đều cao hơn so với thời gian trước.


Từ kinh nghiệm ấy, năm 1999 Trung ương cho phép thành lập thêm hai tập đoàn báo chí nữa ở Thượng Hải và Bắc Kinh, vẫn coi là làm thí điểm, ít lâu sau nữa mới mở rộng ra một số tỉnh và thành phố khác hội đủ điều kiện, rồi lan đến ngành phát thanh - truyền hình vốn cực kỳ hùng hậu và mang tính tập trung cao từ trước.


Với trọng trách lớn, đủ rõ ông Lý bận rộn thế nào, vậy mà ông vẫn có thời giờ viết văn, có tác phẩm tốt, được kết nạp làm hội viên Hội nhà văn toàn Trung Hoa. Lại còn có thời giờ trau dồi nét bút lông... Lần ấy, thấy tôi mải ngắm nghía bức thư pháp lớn chiếm gần hết mảng tường chính của phòng đại sảnh khách sạn Bạch Thiên Nga, người bạn dẫn đường hỏi nhỏ: “Có vẻ ông thích thư pháp Trung Hoa. Chắc ông hiểu bài thơ kia?”


Tôi cười:


- Tôi thích thư pháp. Như xưa nay tôi vẫn thích tranh trừu tượng...


- Ông chưa biết nhỉ - người bạn nói tiếp - Anh Lý hôm nay phấn chấn lắm, cho nên mời cánh ta đến đây. Anh ấy vừa khoe mua được một bộ sách hiếm, tổng quát lịch sử thư pháp Trung Hoa tự cổ chí kim. Giá hơn một vạn tệ (khoảng một ngàn hai trăm đô la Mỹ), mà có phải ai có tiền cũng có thể mua được đâu. Lý mua được vì anh ấy là hội viên kỳ cựu của Hội các nhà thư pháp Trung Hoa, và bút pháp của anh khá đặc sắc.


Ôi cái chuyện thư pháp, tôi đâu có dám là người đua đòi, bởi biết mình kém cỏi về học vấn và tiền tài. Không hiểu sao tính lại thích ngắm nhìn. Hồi còn rất bé, được cha cho theo thầy đồ học dăm chữ của thánh hiền (để đỡ lê la nghịch đất, nghịch cát ngoài vườn), viết chữ to chưa thẳng nét sổ, tôi đã say sưa ngắm các bức đại tự trong đình, chùa. Một đam mê khó lý giải. Trong đầu óc thơ ngây của tôi, mỗi chữ kia chắc đều có nghĩa có hồn. Thật ra chưa thể coi đấy là thư pháp, mà chỉ là “chữ tốt” mà thôi. Các bức thư pháp đích thực sau này được nhìn thấy ở Trung Hoa, Đài Bắc, Nhật Bản hoặc Hàn Quốc, tôi càng thấy rõ nó không chỉ đẹp về mặt tạo hình, mà sự hấp dẫn chủ yếu của nó có lẽ ở cái thần huyền bí tàng ẩn đằng sau từng ngữ nghĩa, từng nét mực đậm nhạt chăng.


Một điều làm tôi ngạc nhiên nữa là khi có dịp sang châu Âu, tôi nhận ra thư pháp ngày nay được các nhà văn hóa bên Tây thích lắm. Có bao nhiêu công trình nghiên cứu chuyên sâu về thư pháp Trung Hoa, đồng thời báo chí phổ thông cũng thường xuyên có bài đề cập. Một nhà thơ đồng thời là nhà thư pháp gốc Trung Quốc sống ở Paris, Francois Cheng, vừa được Viện Hàn lâm Văn học Pháp bầu làm viện sĩ. Đó là nhà văn người châu Á đầu tiên giành được một chiếc ghế bành trong cái điện văn chương già hơn ba trăm năm mươi năm tuổi này.


Trong nền văn hóa Trung Hoa với chiều dày ba, bốn nghìn năm lịch sử và vô cùng phong phú, ít có hiện tượng độc đáo như thư pháp. Thư pháp ra đời cùng với văn tự nhưng nó có đời sống riêng. Thực tình trên thế giới dân tộc nào đã có chữ mà chẳng quan tâm cải tiến, nâng cao tính thẩm mỹ của văn tự mình, song không đâu giống như ở Trung Hoa. Các nhà nghiên cứu Đông Tây đều nhất trí rằng thư pháp đã ghi một dấu ấn sâu sắc vào tất cả mọi biểu hiện nghệ thuật của văn hóa Trung Hoa, đặc biệt rõ rệt ở hội họa. Thư pháp hiện diện trong đời sống dân tộc Trung Hoa từ thượng cổ tới nay, tính từ khi xuất hiện chữ viết trên mui rùa, khắc lên bia đá nhiều nghìn năm về trước cho đến các tranh áp phích và biển quảng cáo thương mại đầy rẫy trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay. Hầu như phần lớn những người thuộc các tầng lớp thượng lưu chính trị, trí tuệ và xã hội Trung Hoa tự cổ chí kim - từ hoàng đế, chính khách, tướng lĩnh, cho đến thi nhân, đạo sĩ, thiền sư... chẳng mấy ai ít quan tâm rèn luyện và thực hành thư pháp, coi đấy không chỉ là phương tiện thể hiện cảm thụ nghệ thuật mà còn là một dấu hiệu của sự thành đạt và độ uyên thâm; là cơ hội để thi thố tài năng sở đắc và giao lưu với đại chúng lúc bình sinh và biết đâu chẳng lưu danh hậu thế.


Chủ tịch Mao Trạch Đông là một thí dụ. Chúng ta biết Chủ tịch Mao cũng như không ít vị lãnh tụ của nước Trung Hoa đương đại là những nhà chính trị lừng lẫy, đồng thời lại có danh tiếng và tài năng đích thực trong các trường thư pháp thế kỷ hai mươi. Một nhà Trung Hoa học phương Tây, rất khách quan, nhận định: “Mặc dù thiếu điều kiện để kinh qua sự đào tạo uyên thâm, thư pháp của Mao Trạch Đông không vì vậy mà kém chói ngời cá tính sáng tạo độc đáo”.


*


Còn nhớ một chuyến chúng tôi sang Bắc Kinh, cách đây đã lâu. Sau khi tham quan cố cung, lúc đi đến cổng xuất, tức là chuẩn bị ra bãi đỗ xe, tôi chợt nhìn thấy một số du khách khá đông xếp hàng trật tự, mỗi người tay cầm một cái tích kê. Có nhiều khách Tây ăn vận áo quần thể thao thoải mái, lại có những ông Nhật Bản hay Hàn Quốc comlê cà vạt nghiêm chỉnh, kiên nhẫn chờ đến lượt mình. Tôi chen vào ngó nghiêng cho biết chuyện gì. Thấy một cụ già, khoác chiếc áo bông xanh cũ kỹ, đang thực hành thư pháp. Ông cặm cụi làm việc, không chuyện trò, trao đổi với bất kỳ ai. Đơn giản có thế thôi. Một cảnh chẳng có gì lạ lẫm, trên các đường phố nước Trung Hoa.


Xe chuyển bánh, người phiên dịch nói: “Các vị có biết người nào đang cho chữ kia không? - Đích thân Hoàng đệ Phổ Kiệt em trai vua Phổ Nghi, vị Hoàng đế cuối cùng của nước Trung Hoa đấy. Cụ là một trong những nhà thư pháp nổi tiếng ở nước chúng tôi hiện nay”.


Tôi giật mình, tiếc rẻ: “Vậy ta có thể xin, hoặc mua, một bức của vị Hoàng đệ ấy hay không?”


Ông bạn đáp:


- Dĩ nhiên ai cũng có thể. Nhưng ông thấy đấy, chương trình của đoàn ta sít sao lắm, hôm nay mà xếp hàng chờ đợi, chắc không đủ thời giờ. Và cái quan trọng là ông phải “nghĩ ra chữ”, ông định xin cụ nội dung gì. Tốt hơn là cho chúng tôi biết, chúng tôi cố gắng thu xếp, nếu lần này không kịp thì sẽ xin gửi sang Việt Nam sau.


Bạn muốn vui lòng khách thì nói vậy, chứ làm sao tôi kịp “nghĩ ra chữ” lúc này. Lại nữa, xa xôi diệu vợi, ai lại dám phiền bạn đến thế. Thôi đành hy vọng lần sau. Lần sau đến Bắc Kinh, riêng tôi đâu có quên việc xin chữ “ông đồ già” đặc biệt của tôi, nhưng được biết cụ Phổ Kiệt đang dưỡng bệnh, đã lâu rồi không thấy nhà thư pháp xuất hiện trước công chúng. Lần sau nữa, thì vị cựu Hoàng đệ vừa mới qua đời do tuổi cao...


Tôi kể câu chuyện ấy cho Lý Mạnh Dực nghe. Ông nói, đúng như vậy. Phổ Kiệt là một trong những nhà thư pháp Trung Hoa nổi tiếng thuộc thế hệ cuối cùng trước ngày thành lập Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Ngày nay, xuất hiện thế hệ thư gia mới, có nhiều cây bút lông xuất sắc... “ Ấy, - Lý Mạnh Dực nói thêm - Chủ tịch Hiệp hội tân văn ký giả Trung Hoa Triệu Hoa Trạch, mà anh quen biết, cũng là một tay thư pháp có hạng đấy...”


Tôi từng nghe bạn bè ngợi khen nét bút ông Triệu. Dịp Đại hội lần thứ VII của Hội nhà báo Việt Nam, ông Triệu không sang Hà Nội dự được, có gửi đoàn đại biểu Hội nhà báo Trung Quốc mang tặng Đại hội của giới tân văn ta một bức liễn, tự tay ông viết ba từ Bút Truyền Tình khá tài hoa. Ông còn nhờ một người bạn chung thành viên trong đoàn, nhắn với tôi: Ong có dành riêng cho tôi một bức, sẽ trao tận tay, lúc nào tôi sang lại Bắc Kinh...


Tôi đã nhìn thấy nét chữ ông Chủ tịch họ Triệu. “Thế còn ông Phó Chủ tịch Hồ Hân Hoa thì sao?” - tôi hỏi anh Lý.


Lý Mạnh Dực có vẻ suy nghĩ: “Hình như không. Theo chỗ tôi biết, anh Hồ không chơi môn nghệ thuật này. Anh ta say mê lĩnh vực khác...”


Tôi hỏi vậy vì đối với Hồ Hân Hoa, tôi cũng có một kỷ niệm riêng liên quan đến chữ nghĩa. Anh Hồ là người lãnh đạo Hội tân văn ký giả thành phố Thiên Tân, một trong ba thành phố lớn trực thuộc chính quyền Trung ương (chưa tính Trùng Khánh, mãi sau này mới tách khỏi tỉnh Tứ Xuyên). Anh đã có lần dẫn đầu một đoàn nhà báo Trung Quốc sang thăm Việt Nam, với tư cách Phó Chủ tịch Hiệp hội toàn quốc. Rời Hà Nội, anh thiết tha nhắc đi nhắc lại lời mời các đồng nghiệp Việt Nam, lần tới nếu đến Bắc Kinh, không thể không ghé thăm thành phố anh. “Thiên Tân gần thủ đô Bắc Kinh lắm. Có một giờ xe lửa thôi mà” - anh Hồ nói vậy.


Thiên Tân đúng là một địa danh nhiều người biết tiếng trong lịch sử Trung Quốc đương đại. Đấy là nơi triều đình nhà Thanh ký với liên quân nước ngoài hòa ước bất bình đẳng. Thiên Tân còn nổi tiếng với trường Đại học Nam Khai, nơi Thủ tướng Chu An Lai từng theo học và hoạt động trong giới sinh viên thời kỳ chiến tranh thế giới thứ nhất... Riêng với anh Hồ là người phụ trách ngành phát thanh - truyền hình khá hiện đại của thành phố, tôi biết trong thâm tâm anh còn có một niềm tự hào khác muốn phô với bạn bè. Đó là Tháp truyền hình Thiên Tân cao hơn bốn trăm mét, đứng thứ ba trên thế giới, chỉ sau có tháp Ostankino của Nga và tháp Toronto bên Canada, trước khi bị tháp Ngọc sáng Phương Đông của Thượng Hải xây dựng sau gạt xuống hàng thứ tư. Nhưng đấy là tháp truyền hình lớn được kiến thiết đầu tiên trong cả nước bằng vốn tự có của ngành và với công nghệ Trung Quốc; trong thành tích ấy có phần đóng góp quan trọng của họ Hồ...


Lúc chia tay ở Thiên Tân, nhác thấy cô nhân viên khệ nệ bưng ra một cái hộp dẹp bọc giấy bóng, tôi đã bắt đầu ngại ngùng nghĩ đến... trọng lượng của tặng phẩm. Hồ Hân Hoa chắc hiểu ý, tủm tỉm cười, nói ngắn gọn. Đây là một vật kỷ niệm nhỏ nói lên một nét tương đồng sâu xa về văn hóa giữa hai nước Trung - Việt chúng ta. Anh chậm rãi bóc lần giấy bọc, trân trọng mở chiếc hộp bìa cứng có trang trí hoa văn rất đẹp, lấy ra một súc gỗ sang trọng có gắn tấm biển đồng; mặt biển khắc toàn chữ Hán và chi chít dấu triện son: “Đây là tấm thiếp Lan Đình, đúng nét chữ của Vương Hy Chi đời Tấn, cách ta một ngàn bảy trăm năm mươi năm...” - Hồ Hân Hoa trang nghiêm giới thiệu.


Tôi đỡ lấy, và buột miệng một câu ngây ngô: “Sao lắm dấu đỏ thế này?” Hồ cười: “Để chứng minh rằng đây là bản chính, chứ không phải là bản ngụy tạo, người đời sau bắt chước”.


Người Việt Nam ta mấy ai không biết hai câu Hoạn Thư đánh giá nét chữ Thúy Kiều, khen người tình địch mà cố tình nói với đức ông chồng: “Khen rằng bút pháp đã tinh - So vào với thiếp Lan Đình nào thua”. Cụ Đào Duy Anh trong Từ điển truyện Kiều giải thích: “Lan Đình là bài tựa một tập thơ do Vương Hy Chi đời Tấn viết ở Lan Đình, đời sau truyền làm chữ tốt kiểu mẫu”. Giáo sư Nguyễn Thạch Giang hiệu đính và chú thích Truyện Kiều, còn cặn kẽ hơn: “...Năm Vĩnh Hòa (niên hiệu Tấn Mục đế ) thứ chín, tức vào năm Quý Sửu (253 năm sau Công nguyên) ngày mùng ba tháng ba, họ Vương cùng các hiền nhân danh sĩ đương thời hội tại Lan Đình huyện Sơn Ân đất Cối Kê tỉnh Chiết Giang... Vương Hy Chi có bài tự  tập Lan Đình nổi tiếng. Họ Vương dùng giấy kén, bút lông chuột, chính tay viết bài tự đó thành hai mươi tám hàng, ba trăm hai mươi bốn chữ với một thể đặc biệt, đẹp vô song...”


Thì ra “chữ tốt kiểu mẫu” và “thể đẹp vô song” mà người xưa người nay ca ngợi là thế này đây. Chữ viết chân phương, cho nên dù trong lúc vội vàng vẫn có thể nhận ra đầu đề Lan Đình tự, tên tác giả Vương Hy Chi, và cái niên hiệu: “Vĩnh Hòa cửu niên...” Hẳn nhà thư pháp hơn một ngàn bảy trăm năm trước đã phóng bút viết bài tựa luôn một mạch, vì tôi thấy có mấy chữ bị xóa đi, mà bản khắc đồng vẫn để nguyên như vậy.


Chủ tịch Triệu Hoa Trạch giữ đúng lời hứa. Lần tôi sang Bắc Kinh gần đây, ông trao tặng tận tay bức thư pháp đã làm từ trước. Ông giảng giải: “Chữ tặng bạn phải thực hiện lúc tâm trí nhà thư pháp thảnh thơi, đầu óc không vướng bận chuyện đời, lòng hướng về bằng hữu... Học tập cổ nhân, tôi chuẩn bị sẵn, nhỡ anh sang Bắc Kinh vào lúc mình lúi búi công việc, lúc ấy mới dở ra làm thì mất hay...”


Ông tặng tôi ba từ Sát Cổ Kim. Tay nâng ly rượu, ông bạn nhà báo già nói rõ ý tứ của mình: “Bạn cũng như tôi, chúng ta từng có nhiều dịp đi đó đi đây, trong đời từng nhìn thấy khối chuyện biển dâu, và ít nhiều chúng ta cũng đã có phần cống hiến. Nay đến lúc được thư nhàn mà quan sát đông tây kim cổ...”


Tôi có kinh nghiệm, người Trung Hoa, người Nhật Bản rất tài hoa trong ứng xử. Họ không tiếc lời khen bạn bè, lại khéo chọn ngôn từ. Song, mình hiểu phận mình. Tôi cười, thưa với bạn: “Rất cảm ơn về món quà quý. Nhưng mấy chữ anh cho, tôi chỉ dám treo ở thư phòng...”. 


2002


Nguồn: Bên mộ vua Tần. Tập ký của Phan Quang. NXB Văn học, 2003.


 


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (2) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Lượm lặt ở đám giỗ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt - Lưu Trọng Văn 06.06.2017
xem thêm »