tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21087710
12.02.2016
Phan Quang
Phan Quang Du ký (2)

TÍN HIỆU TỪ THƯỢNG HẢI


 


Trong khoảng mấy năm gần đây, tôi có việc đến Thượng Hải nhiều lần. Lần nào cũng không quên thăm khu phố mới xây dựng bên bờ đông sông Hoàng Phố, nổi tiếng thế giới với tên gọi chính thức Phố Đông. Tôi cũng được đọc không ít bài báo, tư liệu về thành phố này.


Càng có dịp đến, càng tiếp cận nhiều tư liệu thì càng ngại ngần khi định đặt bút viết một cái gì đó về nơi này, cho dù dưới dạng ghi chép. Ngại ngần bởi sự phát triển kinh tế xã hội ở đây diễn ra với nhịp độ quá nhanh, khiến người nơi khác thỉnh thoảng đến luôn cảm thấy như mình bị hụt hơi, không nắm bắt kịp thực tế. Những điều mình vừa trông thấy, những tư liệu mình thu thập được cho đến hôm nay thì tháng sau, quý sau có thể trở thành lạc hậu rồi. Mà cái nghiệp báo chí lại không cho phép tôi bỏ qua nhân tố cập nhật.


Cuối năm ngoái, đến Thượng Hải, tôi muốn sang Phố Đông ngó nghiêng cho biết. Người lái xe taxi trước khi mở máy quay lại hỏi:


- Phố Đông, OK. Nhưng ông muốn xem chỗ nào, và ông có bao nhiêu thời gian? Bởi vì Phố Đông rộng lắm, và có nhiều thứ đáng xem lắm.


Tôi ớ người ra, rồi đáp:


- Thôi thì anh cho tôi xuống chỗ trước tháp Minh Châu vậy.


Tôi trả lời đại, bởi tháp truyền hình Minh Châu đã trở thành biểu tượng của Thượng Hải mới, ai cũng biết, đứng ở đâu cũng dễ nhận ra, và cũng bởi vì tôi có khá nhiều kỷ niệm về công trình kiến trúc này. Lần đầu tôi trở lại Thượng Hải sau khi hai nước lập lại quan hệ bình thường, cảm giác mà thành phố lớn này để lại trong tôi là sự chật chội. Trừ khu tô giới cũ, phố xá phần lớn vẫn chật hẹp và lộn xộn, người đông nườm nượp, nạn kẹt xe xảy ra thường xuyên; riêng một chuyện rủ nhau đi ăn tối chẳng hạn, có khi mất vài tiếng đồng hồ. Sân bay lớn nhưng không được hiện đại lắm so với vị trí, tầm cỡ và sinh hoạt sôi động của thành phố này.


Để đến công trường xây dựng tháp Minh Châu lần ấy, chúng tôi phải khó nhọc lách qua những con đường cũ ở Phố Tây đang ào ạt phá các dãy nhà hai bên phố, giải phóng mặt bằng để mở rộng đường cho bốn làn xe. Chúng tôi phải chạy xe trên những trục đường mới làm nền, còn tung bụi mù mịt ở Phố Đông. Mất bao nhiêu thời giờ mới đến được chân tháp Minh Châu khi đó còn lố nhố rừng cọc thép chuẩn bị đổ bê tông tầng trệt. Ấy thế mà chỉ vài năm sau, trở lại Thượng Hải, tôi đã được mời lên uống nước và ngắm toàn cảnh thành phố ở hiệu cà phê tự quay trên tầng cao. Người bạn Trung Quốc tự hào giới thiệu: “Tháp Ngọc sáng Phương Đông (Đông phương Minh Châu) của chúng tôi cao nhất châu Á, và so với toàn thế giới thì đứng thứ ba, chỉ sau có tháp Ostankino nước Nga và tháp Toronto bên Canada thôi”.


Lần ấy, tôi từ khu phố cũ ở bờ Tây sang sông Hoàng Phố trên một chiếc cầu mới, duy nhất hiện đại. Lần này, người lái xe trước khi sang sông, lại quay đầu hỏi: “ Ông muốn đi đường ngầm hay cầu nổi?” và trỏ hai cỗ máy đang đào đất ở gần đấy, anh nói thêm: “Chúng tôi đã có ba cầu mới và hai đường ngầm vượt sông. Không đủ. Phải xây thêm ba đường ngầm nữa. Kia là một, vừa khởi công”.


Lần ấy, Thượng Hải bắt đầu cơn sốt xây dựng, phát triển. Hầu như đi tới đâu bên khu phố cũ cũng gặp cảnh san phá mặt bằng. Để mở rộng hoặc nắn thẳng các trục giao thông nội thị. Để làm cầu vượt, giải quyết nạn ùn tắc giao thông, không chỉ lãng phí thời gian, tiền của mà làm căng thẳng thần kinh ghê gớm. Để xây những công trình mới bề thế tối tân thay vào chỗ các căn nhà lụp xụp tồi tàn. Trên các công trường, ven các đại lộ nổi bật dòng khẩu hiệu: “Làm việc một năm bằng ba năm, sau mười năm biến đổi hoàn toàn Thượng Hải”. Bây giờ không nhìn thấy khẩu hiệu ấy nữa, song tinh thần người dân Thượng Hải thì vẫn vậy, và cuộc sống ở thành phố dường như mỗi ngày càng sôi động hơn.


Còn nhớ lời một vị lãnh đạo thành phố nói với tôi lần hội kiến trước: “Trung Quốc cải cách, mở cửa cho đến nay đã được một thời gian không ngắn, nhưng Thượng Hải thành phố lớn nhất nước chưa bắt kịp nhịp đi. Ngoài những bất cập chủ quan, còn có một nguyên nhân: Hằng năm chúng tôi đóng góp cho ngân sách một phần đáng kể, tuy chưa thể gọi là nhiều, song phần dành lại cho thành phố để đầu tư phát triển còn mỏng. Vừa qua, đồng chí Đặng Tiểu Bình đi thị sát phương Nam, thăm Thẩm Quyến, sau khi về làm việc với lãnh đạo thành phố có nói đại ý: Trung ương bỏ quên Thượng Hải. Tôi sẽ đề nghị Trung ương cho phép Thượng Hải dành lại một phần thích đáng tích lũy để đầu tư xây dựng, đồng thời cho Thượng Hải được thực hiện một cơ chế đặc biệt về quản lý. Sự bật dậy của Thượng Hải bắt đầu từ chủ trương ấy của Trung ương”.


Lần trước đến thăm Truyền hình thành phố, tôi đã có ấn tượng sâu sắc về cách thức bạn kết hợp làm thông tin văn hóa, tức là công tác tư tưởng, với hoạt động kinh tế. Phải có nguồn lực mạnh thì mới phát triển, mới tiến nhanh lên hiện đại được. Nhưng Trung ương không bao cấp. Thành phố chỉ tạo cho một số điều kiện bước đầu. Ấy thế mà nhìn cơ ngơi nhà cửa, trường quay, thiết bị... đã thấy ngợp. Nghe giới thiệu hoạt động kinh tế mới bị ngợp hơn. Nói theo ngôn ngữ đời thường, báo chí, phát thanh, truyền hình ở đây “mạnh” lắm, mạnh chẳng kém gì các tập đoàn kinh tế có tên tuổi. Tuy nhiên bạn vẫn chưa hài lòng. Giám đốc Truyền hình thành phố Trần Bình nói: “Cái quan trọng để có những chương trình hay, hấp dẫn, là phải tạo cho được sức cạnh tranh. Độc quyền, độc tôn khắc dẫm chân tại chỗ. Chúng tôi đang làm thử. Lần sau anh đến, mới dám giới thiệu kỹ hơn”.


Lần sau tôi đến, bạn mời sang Phố Đông, thăm một cơ sở truyền hình mới, một đài riêng biệt, mới được xây dựng gọi là Orient TV, đài Phương Đông, tách từ đài truyền hình thành phố nhưng tự lực phát triển. Và xem chừng chương trình của đài này đang hút khách của “đài mẹ”; đặc biệt lớp trẻ thích xem đài Phương Đông hơn. Tuy mới ra đời, người ta mạnh dạn tung phóng viên đi hoạt động trên thế giới. Theo ý kiến nhiều người, tin bài do đài Phương Đông đưa tin về World Cup France 1998 là hấp dẫn nhất trong số các đài vốn rất mạnh ở lưu vực sông Dương Tử. Tuy còn nghèo, người ta dám trang bị cho phóng viên và tung theo các đoàn thám hiểm; phương tiện duy nhất của nhà báo truyền từ cao nguyên Tây Tạng về Studio là điện thoại vệ tinh - vì chẳng có trạm bưu chính viễn thông nào trong sa mạc hay rừng sâu. Một cách tập dượt phong cách làm báo hiện đại.


Lần này thì tận mục sở thị nhé. Bạn mời tôi xem, quây quần quanh trụ sở chính ngất nghểu mấy chục tầng với những thiết bị xịn nhất, bên này là nhà hát bên kia là khách sạn ba sao. Để phục vụ hoạt động nghề nghiệp và cũng để kinh doanh, bạn nói vậy. Tôi nghĩ thầm: Xây dựng được thế này dĩ nhiên là khó. Sử dụng có hiệu quả công nghệ thông tin hiện đại còn khó hơn. Nhưng cái khó lớn nhất là cái khó “đầu tiên”; lấy đâu ra tiền để làm nên những cái này? Liệu bạn có nói thật, nói hết cho mình nghe không?


Và lựa lời đặt câu hỏi. Dường như bạn cũng đã lường trước. Lời đáp thật mạch lạc, rõ ràng. Vốn được cấp chừng này. Vay ngân hàng chừng này. Anh chị em đóng góp (cổ phần) ngần này. Nguồn thu, qua quảng cáo ngần này. Tiền bán chương trình và thu dịch vụ phí, ngần này. Sau mấy năm, đã trả được bao nhiêu phần trăm nợ ngân hàng. Chừng này năm nữa sẽ thanh toán xong nợ nần. Lúc đó thu nhập hằng năm, sau khi trang trải mọi chi phí và đóng thuế cho nhà nước, còn lại là lãi ròng. “Lúc ấy mới dám nói rằng chúng tôi “mạnh”. Lúc ấy mới gọi là có bước phát triển thật sự. Cái khó là ở cơ chế. Cái dễ cũng do cơ chế, các bạn à”.


*


Thượng Hải là thành phố mang đặc trưng Trung Quốc nhất mà cũng là thành phố có dáng dấp phương Tây nhất Trung Hoa. So với lịch sử năm nghìn năm của đất nước này, tuổi đời thành phố còn trẻ lắm. Nó mới thật sự được thế giới biết đến chừng hơn một thế kỷ nay. Nhưng, trong hơn một trăm năm ấy, lịch sử thành phố lại khá tiêu biểu cho lịch sử dân tộc Trung Hoa. Bây giờ người ta ít nhắc đến chuyện cũ, chứ vài ba mươi năm về trước, mỗi khi có bạn bè từ nơi khác đến thăm, thế nào chủ nhà cũng mời khách ra bên bờ sông Hoàng Phố, nơi gần với khách sạn Hòa Bình trên đại lộ Nam Kinh nổi tiếng ngày nay, để chua chát giới thiệu: “Cái công viên này đây, các bạn ạ, ngày xưa khi nơi đây còn là tô giới của nước ngoài, người Anh dám treo một cái biển hỗn xược trước cánh cổng khép hờ: Cấm chó và người Trung Quốc vào vườn hoa”.


Thời trước, Thượng Hải biết thế nào là tủi nhục. Đồng thời Thượng Hải cũng rất đỗi tự hào là một nơi nhen nhúm và góp phần vào vinh quang của đất nước qua hoạt động của các danh nhân tiếng tăm lừng lẫy: Cù Thu Bạch, Lỗ Tấn, Chu An Lai, Tống Khánh Linh..., bên cạnh bao nhiêu thợ máy, sinh viên, trí thức, dân nghèo đã chiến đấu, đã hy sinh mà không hề lưu lại cho lịch sử một cái tên riêng, ngoài dòng chữ chung mạ vàng gắn trước nhà lưu niệm: Nơi đây, năm 1921, Đảng Cộng sản Trung Quốc ra đời.


Trên bến sông xưa tủi nhục ấy, ngày nay sừng sững bức tượng toàn thân của Nguyên soái Trần Nghị người giải phóng Thượng Hải và cũng là vị thị trưởng đầu tiên của thành phố sau ngày đất nước khôi phục trọn vẹn độc lập, chủ quyền. Và ở bờ sông bên kia, cao vút lên trời xanh như một niềm kiêu hãnh, tháp truyền hình Minh Châu chen vai thích cánh cùng bao nhiêu cao ốc, nhà chọc trời mới xây dựng sáng lóe kính, và thép không gỉ của Phố Đông.


Hơn năm mươi năm về trước, Thượng Hải chia làm hai phần rành rẽ. Hay đúng hơn, thời ấy có hai thành phố Thượng Hải. Một của người Trung Quốc đích thực và một của người nước ngoài, với luật pháp, sinh hoạt, phong tục, tập quán riêng biệt. Tuy nhiên, từ đầu thế kỷ XX, Thượng Hải đã nổi lên như một trung tâm công thương, văn hóa, giao lưu quốc tế lớn ở miền Đông Á. Ngay từ thời ấy, sản vật mang nhãn mác Thượng Hải - từ cỗ máy lớn cho đến mét lụa, bánh xà phòng hay thời trang, lối sống đều bao hàm ý nghĩa cách tân, chất lượng, tinh tế. Thượng Hải là nơi ra đời nhiều nhà doanh nghiệp lớn của Trung Quốc ganh đua trên trường quốc tế. Có hiểu chút ít về bối cảnh lịch sử và tính cách con người Thượng Hải, mới có thể lý giải vai trò và những cống hiến nổi trội của những nhân vật đương đại như Giang Trạch Dân, Chu Dung Cơ, Tăng Khánh Hồng, Hoàng Cúc... và những người lao động trên đôi bờ sông Hoàng Phố đối với sự phát triển của đất nước Trung Quốc ngày nay.


Tôi đến Thượng Hải lần rồi đúng vào dịp thành phố đăng cai Hội nghị cấp Bộ trưởng Tổ chức hợp tác Kinh tế các nước châu Á - Thái Bình Dương (APEC). Lại có Hội nghị các nước “Nhóm Thượng Hải”; trong số các nguyên thủ đến dự hội nghị, có đương kim Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ chưa thật sự định thần sau cơn choáng mà “sự kiện 11 tháng 9” bi thảm vừa diễn ra tại Mỹ.


Thượng Hải chuẩn bị cho các hội nghị ấy từ vài ba năm nay. Trong khoảng thời gian ngắn, có thêm ba mươi công viên mới hình thành, mười vạn cây cổ thụ được đưa từ nơi khác đến trồng tại thành phố. Mấy tháng cuối năm 2001, khánh thành năm công trình lớn: Vườn khoa học công nghệ, Trung tâm triển lãm quốc tế Phố Đông, Trung tâm báo chí quốc tế Thượng Hải, đường cao tốc và đường băng chuyên dụng ở sân bay quốc tế mới. Chất lượng không khí thành phố cũng được thường xuyên theo dõi, kiểm tra và thông báo công khai, để tìm cách cải thiện. Đúng là một loạt tín hiệu đánh đi cho toàn thế giới: Thượng Hải ngày nay không chỉ là nơi kinh tế phát triển, có thu nhập bình quân tính theo đầu người cao nhất Trung Quốc, chỉ kém có Hồng Kông và Ma Cao, là nơi đầu tư nước ngoài thuận tiện, hiệu quả cao, mà Thượng Hải còn là một địa bàn lý tưởng cho cư trú, sinh hoạt, giải trí. Thành phố dang tay đón mời bè bạn: Hãy đến đây làm ăn, hãy đưa gia đình, thân thuộc đến đây làm việc và sinh sống lâu dài, các bạn sẽ trở thành những người giàu sang, sung sướng trong đầy đủ tiện nghi.


 


Thượng Hải, 2001


 


 


ĐƯỜNG VÀO ĐẤT THỤC


 


Vừa nghe nói đi Tứ Xuyên, trong đầu tôi đã dội lên hai câu thơ gập ghềnh mở đầu bài thơ nổi tiếng của Lý Bạch Thục đạo nan (Đường xứ Thục khó đi) thuộc lòng từ thời còn đi học:


Ôi! Chà! Gớm! Hiểm mà cao thay!


Đường Thục đi khó, khó hơn đường lên trời.


                                    (Bản dịch của Ngô Tất Tố)


Tỉnh Tứ Xuyên, cũng như Trùng Khánh mới trở thành thành phố trực thuộc Trung ương năm năm nay, vốn là một phần của nước Ba Thục xưa, đã có ba nghìn năm lịch sử. Cách đây một nghìn tám trăm năm, khi vương triều nhà Hán suy yếu, một viên quan nhỏ cháu nhiều đời của Hán Cao tổ là Lưu Bị đã lui về đây, cùng hai người anh em kết nghĩa Quan Công và Trương Phi và Quân sư Gia Cát Lượng lập nên nước Thục, với hoài bão dùng vùng núi non hiểm trở này làm căn cứ tiến lên khôi phục cơ đồ nhà Hán. Thành phố Thành Đô thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên ngày nay thời ấy có tên là Thục Đô - kinh đô nước Thục. Ba nước Ngụy, Thục, Ngô ở những nơi xa lắc xa lơ sao mà quen thuộc với người Việt Nam ta đến thế, nhất là thế hệ những người nay đã lớn tuổi từng say mê bộ truyện Tam Quốc chí. Cái tên Trùng Khánh không kém nổi tiếng mới xuất hiện từ thế kỷ XIII. Hồi ấy, một vị hoàng thân thống lĩnh vùng đất này được phong vương rồi lên ngôi đế, tức Vua Tống Quang Tông triều Nam Tống. Quang Tông cho đấy là dịp hai điều mừng trùng hợp “song trùng gia khánh”, từ đó đặt tên kinh đô của mình là Trùng Khánh.


Chính nhờ địa thế hiểm trở, nằm lùi sâu vào miền Tây Nam Trung Quốc, ở thượng lưu sông Dương Tử cách thành phố Thượng Hải những hai nghìn năm trăm ki lô mét, lại có vùng hậu xứ đông tới hai trăm triệu dân, mà thời chiến tranh thế giới lần thứ hai, Tưởng Giới Thạch đã dời chính phủ về Trùng Khánh tổ chức điều hành cuộc kháng chiến chống phát xít Nhật xâm lược. “Chính phủ Trùng Khánh” là tên quen thuộc vẫn xuất hiện đều đều trên các báo hằng ngày xuất bản tại Hà Nội, Sài Gòn cũng như trên bản tin của Hãng thông tấn ARIP đầu những năm bốn mươi thế kỷ trước. Hoàng Sơn, một nơi nghỉ mát, được chọn làm đại bản doanh của vị Thống chế họ Tưởng. Đây cũng là nơi đặt trụ sở Cục Hoa Nam của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Bộ tư lệnh Viễn Đông của Không quân các nước Đồng minh trong chiến tranh chống phát xít Nhật. Ngày nay, Hoàng Sơn là một điểm du lịch. Ngôi biệt thự nhỏ của Tưởng Giới Thạch, các ngôi nhà mà nhiều nhân vật nổi tiếng trong lịch sử đương đại Trung Quốc như Chu Ân Lai, Tống Khánh Linh... từng sống và làm việc, cũng như cư xá của tướng Mỹ Catlett Marshall đặc phái viên Tổng thống Hoa Kỳ bên cạnh Chính phủ Trung Quốc, hiện được bảo tồn và tiếp tục nâng cấp, đón khách tham quan.


Mảnh đất mà Lý Bạch từng mô tả:


Ban ngày quạ gào trên cổ thụ


Ban đêm cuốc kêu dưới ánh trăng


Đồi núi đều quạnh hiu


Đường Thục đi khó, khó hơn đường lên trời.


Còn ai phải vào đất Thục là lâm vào cảnh:


Sang tây chẳng bao giờ về


Sợ đường chon von không thể leo...


Và nhà thơ đặt câu hỏi:


... Nó hiểm là như thế


Hỡi người xứ khác, làm chi mà lần sang?


Con đường vào đất Thục hiểm là như thế, ngày nay tôi là người xứ khác lần sang. Nhưng từ thủ đô Bắc Kinh bay đến chỉ mất có ba tiếng đồng hồ.


Trên đất Thục xưa, mây trắng ngày nay vẫn như hai nghìn năm trước lãng đãng rất nhiều, song không phải bay bên đầu ngựa của người lữ khách (đầu ngựa bóng mây quanh - thơ Lý Bạch) mà lởn vởn quanh những cao ốc hai ba mươi tầng xây dựng trên những quả đồi chập chùng, càng làm tăng vẻ bề thế. Đây là nơi hợp lưu giữa sông Gia Lăng và sông Dương Tử (còn được gọi là Trường Giang), có núi cao sông sâu, có đồng bằng rừng hiểm, chính vì vậy có thời vùng đất này được gọi là Giang Châu, lại có tên là Sơn Thành. Khí hậu á nhiệt đới, bốn mùa có những nét đặc trưng rõ rệt, được người xưa đúc kết thành tám chữ: xuân sớm, hè nồng, thu mưa, đông ấm.


*


Hai chiếc máy bay Boeing 747 kềnh càng chở Chủ tịch Quốc hội Trung Quốc Lý Bằng cùng mấy trăm nghị sĩ và quan chức của bốn chục nước châu Á, trong đó có đoàn đại biểu nước ta do Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An dẫn đầu, đáp xuống sân bay Trùng Khánh trong cơn mưa tầm tã. Đường bay lênh láng. Các tấm thảm đỏ trải đón mừng khách quý sũng nước. Nhưng các vị lãnh đạo thành phố chủ nhà đã đón ở chân cầu thang máy bay. Đội nhạc binh mặc lễ phục trắng vẫn cử nhạc ngoài trời, dưới mưa. Các cô gái chàng trai đồng phục mới toanh vẫn niềm nở chạy đi chạy lại trong mưa hướng dẫn khách. Bạn Trung Quốc nói: “Vùng này bị đại hạn từ nhiều tháng nay. Hôm nay có khách quý từ nhiều nước đến, trời đổ cơn mưa rào, ấy là điềm đại cát”.


Càng đi về gần trung tâm thành phố, chúng tôi càng ngạc nhiên. Mặc dù trời mưa, hai bên đường rất đông nhân dân xếp hàng trật tự che ô chờ hoan hô khách. Hỏi ra mới biết, nhân có sự kiện trọng đại này, chính quyền thành phố cho cán bộ, công nhân viên nghỉ việc hẳn mấy hôm.


Trùng Khánh được tách khỏi tỉnh Tứ Xuyên và trở thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương năm 1997. Đấy là một bước thực hiện đường lối cải cách mở cửa của Trung Quốc: tiếp tục đẩy mạnh đà phát triển ở phía Đông đồng thời mở mang khai thác tiềm năng miền Tây đất nước. Phía Đông, tức là các tỉnh và thành phố thuộc đồng bằng duyên hải vốn là nơi có nhiều thuận lợi từ xưa: cơ sở hạ tầng hiện đại, giao thông tốt, dân trí mở mang, mức sống tương đối cao, dễ thu hút đầu tư nước ngoài... Miền Tây có nhiều khó khăn, trở ngại hơn, càng đi về vùng sâu vùng xa sự chênh lệch về trình độ phát triển và mức sống so với các vùng ven biển phía Đông càng lớn, tuy từ những năm sau ngày lập nước năm 1949 đã có nhiều biến đổi sâu xa.


*


Lịch sử và truyền thống, cũng như sản xuất nông và lâm nghiệp của đất Ba Thục đương nhiên có chiều dày những mấy nghìn năm, song niềm tự hào của người dân Trùng Khánh ngày nay, nhất là lớp trẻ, trước hết là ở chỗ thành phố rộng tám mươi hai nghìn ki lô mét vuông với gần ba mươi triệu dân tính cả nông thôn và nội thành này đã trở thành một cơ sở công nghiệp hùng hậu phía Tây Nam đất nước. Sản xuất công nghiệp năm vừa qua (2001) tăng hơn mười một phần trăm so với năm trước. Đầu tư nước ngoài thu hút hơn năm tỷ rưỡi USD. Kim ngạch xuất nhập khẩu đạt trên mười tám tỷ USD. Toàn thành phố có gần một vạn xí nghiệp, trong đó có những nhà máy vào loại lớn nhất nước. Năm qua, thành phố sản xuất một triệu chín mươi vạn tấn thép, gần hai mươi lăm vạn xe hơi và hơn hai triệu rưởi xe gắn máy. Trùng Khánh chính là nơi ra đời của xe máy Jialing (Gia Lăng) tràn ngập thị trường nhiều vùng nước ta mấy năm lại đây. Trùng Khánh cũng là một trong sáu cơ sở hóa chất lớn nhất Trung Quốc, với gần một nghìn chủng loại sản phẩm. Sân bay Trùng Khánh là một sân bay quốc tế trang bị hiện đại, đầy đủ tiện nghi phục vụ hoạt động của năm mươi hãng hàng không lên xuống hằng ngày. Giao thông đường bộ, đường sắt, và những năm lại đây ngành viễn thông khá phát triển. Một đội ngũ đông tới bốn mươi vạn nhà khoa học và kỹ thuật làm việc trong một nghìn viện nghiên cứu khoa học cùng bốn mươi ba trường đại học và cao đẳng.


Tôi không đến cơ sở sản xuất xe máy Jialing, nhưng có dịp thăm một doanh nghiệp rất lớn khác cũng chuyên sản xuất xe máy, từ những xe thông dụng cho đến những xe thể thao phân khối lớn, tương tự các loại mang nhãn hiệu Yamaha, Suzuki rất đắt tiền và khá hiếm hoi ở nước ta. Cơ ngơi xí nghiệp hết sức bề thế. Dáng dấp quản lý tương tự bên châu Âu. Một phòng trưng bày giới thiệu nhiều kiểu dáng xe gây ấn tượng. Đây là một doanh nghiệp tư nhân. Đại sứ nước ta tại Trung Quốc Bùi Hồng Phúc hôm ấy cùng đi, quen thân vị tổng giám đốc từ trước. Anh Bùi Hồng Phúc cho biết, cơ sở này khởi đầu cũng vừa phải thôi nhưng nay vốn liếng của công ty đã lên tới bốn tỷ nhân dân tệ. Một con số làm tôi thật sự ngỡ ngàng. Thú thật trong lòng sẵn định kiến với chất lượng xe máy Trung Quốc, tôi chỉ đi lướt qua các phân xưởng, ngó nghiêng một chút chỗ này chỗ kia, và cũng chẳng chú ý lắng nghe lời thuyết minh bằng tiếng Anh rất chuẩn của cô nhân viên ngoại vụ của doanh nghiệp. Tiến sĩ Lê Quang Minh, hiệu trưởng Trường đại học Cần Thơ, rỉ tai tôi: “Loại máy tiện kia thuộc đời mới lắm. Trường tôi xoay xở mới có được một chiếc cho sinh viên thực tập, đang mơ ước cái thứ hai. Tôi đếm ở đây những bốn mươi mấy chiếc”.


Một niềm tự hào khác của chính quyền thành phố Trùng Khánh là các khu nhà mới - tôi thích gọi theo lối quen thuộc với mình là “khu tập thể”. Chúng tôi có dịp ghé thăm một khu nhà ở mới khá rộng, gần hồ Long. Người ta chia ra thành nhiều tiểu khu: bờ Nam (Long hồ nam ngạn), bờ Tây (Long hồ tây ngạn) một khu biệt thự sang trọng hơn, có nhiều cây xanh và hoa cỏ, đặt tên là Long hồ uyển, và một khu công viên, giải trí. Nhà cửa cao hoặc thấp tầng; giá cả, chất lượng, tiện nghi có nhiều cấp độ khác nhau, phù hợp với túi tiền của các loại khách.


Đặc điểm chung nổi bật nhất của khu phố mới này là nhịp độ xây dựng rất nhanh. Khu Long hồ mới bắt đầu khởi công năm 1997, ngay sau khi có chủ trương tách Trùng Khánh khỏi tỉnh Tứ Xuyên để trở thành một trong bốn thành phố lớn trực thuộc Trung ương. Các nhà lãnh đạo thành phố đã có tầm nhìn đúng đắn. Kinh tế phát triển mạnh, dân sẽ giàu lên, lại thêm việc “thanh lý” các khu nhà cổ chật hẹp, ẩm thấp cộng với chuyện “giải phóng mặt bằng”, nhu cầu về nhà ở khang trang tất đặt ra, bức bách.


Quả đúng như vậy. Khu Nam ngạn xây dựng đầu tiên, hai năm sau bắt đầu phân phối. Tiếng lành đồn xa. Trong một tháng bán một nghìn một trăm sáu mươi căn hộ. Sang năm 2000 có tháng chỉ trong một ngày bán bốn trăm bảy sáu căn. Hết sạch nhà. Nhịp độ xây dựng “tăng tốc”. Tháng năm năm 2000 bắt tay xây khu bờ Tây, bốn tháng sau làm luôn khu biệt thự, rồi tháng tiếp ngay sau đó khu công viên... Đồng bộ đường sá, vườn hoa, nhà mẫu giáo, câu lạc bộ, siêu thị... thuận tiện cho mọi người. Khu Long hồ uyển sang trọng, dự kiến tới tháng tám năm nay mới hoàn thành và phân phối, nhưng sang tháng ba đã có gần một nghìn bảy trăm đơn xin mua và đặt trước tiền, chiếm khoảng một nửa số nhà rao bán.


Chúng tôi đi bách bộ trong khu phố mới, ai muốn vào thăm nhà nào xin cứ tự nhiên. Dân cư đã được thông báo trước, hân hoan mở rộng cửa chờ đón khách. Đã xếp sẵn người hướng dẫn và phiên dịch cho những ai cần. Tôi rẽ vào một ngôi nhà ba tầng loại khá. Hai nhà riêng xây liền vách, quay lưng lại với nhau. Mỗi nhà có hai cổng. Cổng và cầu thang chính ở mặt tiền, cổng phụ phía sau thông với phòng để xe hơi ở tầng trệt. Cầu thang và các phòng ngủ lát sàn gỗ. Mặt bằng căn hộ rộng hai trăm ba mươi mét vuông. Không có vườn riêng (đây chưa phải là biệt thự) song tầng nào cũng dành sẵn nhiều không gian cho cây xanh. Sân thượng bày cây cảnh, kê một chiếc bàn mặt đá và những cái đôn gốm truyền thống Trung Hoa. Giá nhà, không tính đồ đạc, mỗi căn khoảng một triệu nhân dân tệ. Rẻ, so với giá nhà đất ở Hà Nội hoặc thành phố Hồ Chí Minh, tôi nghĩ thầm.


Nhà rộng song chỉ có hai vợ chồng. Cô con gái duy nhất - như phần lớn gia đình ở Trung Quốc ngày nay, chỉ có một con - đã đi du học tự túc ở bên New Zealand. Trong phòng khách có bày chiếc dương cầm. Tiện tay, tôi ấn chơi vài phím. Bà chủ nhà khiêm tốn: “Đây chỉ là đàn nội địa, sản xuất ở Trung Quốc thôi, thưa ông”.


Khách lựa lời đặt câu hỏi. Mua nhà phải trả tiền ngay một lúc hay có thể trả dần? Nhà nghiệp chủ tinh ý hiểu ngay. Ông cười: “Trả ngay một lần khi nhận nhà. Vợ chồng chúng tôi kinh doanh nhiều năm nay rồi mà, thưa ông”.


Cô gái hướng dẫn đoàn nói thêm: “Nhà ở khu biệt thự đắt hơn, thế mà cũng có lắm khách. Bây giờ nhiều người giàu lắm, các ông ạ”. Tôi hỏi vui: “Cô đã đăng ký mua chưa?” Cô trả lời đầy tự tin: “Lúc này thì chưa. Tôi đang hoàn tất bậc sau đại học. Chắc chắn rồi đây sẽ mua”.


Khu biệt thự ấy, tôi có ngang qua. Không thật sang trọng như khu biệt thự mới ở thành phố Quảng Châu, trên bờ sông Châu Giang. Có điều là giá nhà đất ở Trùng Khánh rẻ hơn nhiều so với Bắc Kinh, Quảng Châu, Thượng Hải hay Thẩm Quyến. Nghe nói đã có người nơi khác đổ về mua nhà nơi xứ Ba Thục xưa.


*


Trước khi lên đường đi Trung Quốc tôi đã định bụng: Chuyến này đến Trùng Khánh, nhất định không thể không thăm đại bản doanh của Chính phủ Trung Hoa dân quốc. Vì vậy, trong khi mọi người náo nức đi thăm đập Tam Hiệp, công trình thủy điện lớn có lẽ nhất thế giới đang xây dựng ở thượng lưu sông Trường Giang, tôi xin thăm Hoàng Sơn.


Khu di tích lịch sử và du lịch Hoàng Sơn ở ngoại vi thành phố, cách trung tâm chừng vài mươi ki lô mét. Hoàng Sơn nằm trên độ cao gần sáu trăm mét so với mặt biển, biệt lập và yên tĩnh, khí hậu quanh năm mát hơn vùng nội đô chừng năm, sáu độ. Cái tên Hoàng Sơn chẳng phải xa xưa gì. Nó được đặt theo tên họ của một nghiệp chủ, người đầu tiên cho xây một nhà nghỉ trên vùng núi này. Chính ngôi biệt thự bằng gỗ kiến trúc pha trộn Đông Tây của ông chẳng mấy sang trọng nhưng có cái tên thơ mộng là Vân Du Lâu (Lầu mây bay), đã được Thống chế Tưởng Giới Thạch chọn làm nơi đóng đại bản doanh trong chiến tranh thế giới thứ hai, làm cho Trùng Khánh nổi tiếng toàn thế giới.


Vân Du Lâu, theo lời người giới thiệu, đã được họ Tưởng cho nâng cấp và tân trang, tuy vậy cũng đơn giản và sơ sài lắm. Chỉ có khung cảnh thiên nhiên là tuyệt vời. Và về mặt quân sự, khu Hoàng Sơn dựa vào sườn núi cao hiểm trở, chắc cũng thuận tiện cho việc bảo vệ an ninh thời ấy.


Đồ đạc, bàn ghế, giường ngủ, mắc áo đều bằng gỗ thường. Bộ xa lông mây đan đã cũ nát với thời gian. Chiếc quạt bàn cánh kim loại. Máy điện thoại thô kệch thời trước chiến tranh thế giới. Tầng trệt có phòng rộng, chữ đề Hội nghị thất, kê cái bàn dài cùng mười một chiếc ghế gỗ không mấy tiện nghi. Bên cạnh là Thể dục thất, nghe nói cũng là nơi Tưởng Giới Thạch tiếp khách. Tầng hai khoáng đãng hơn, ngoài phòng ngủ, có phòng làm việc của họ Tưởng, phòng nghỉ của tướng Catlett Marshall, và một gian hẹp hơn, chắc để họp bàn những việc cơ mật ít người.


Từ Vân Du Lâu, có những lối ngược lên cao, đường dốc hẹp có xếp những tấm đá chẻ cho dễ đi. Cây cối um tùm. Có bảng chỉ dẫn lên ngôi nhà cũ của Chu Ân Lai, người thay mặt Đảng Cộng sản Trung Quốc cùng Tưởng Giới Thạch thực hiện đường lối kháng Nhật Quốc - Cộng hợp tác hồi ấy (hợp tác giữa Quốc dân đảng và Đảng Cộng sản). Còn có nhiều biệt thự khác được xây dựng thêm về sau, kiến trúc thường thôi nhưng nhà nào cũng mang tên rất hay: Thảo Đình, Tùng Sảnh, Vân Phùng Lâu..., bởi được dành riêng cho Tống Mỹ Linh vợ Tưởng Giới Thạch, Tống Khánh Linh phu nhân có Tổng thống Tôn Dật Tiên người thiết lập chế độ dân quốc Trung Hoa, Tưởng Kinh Quốc con trai cả của Tưởng Thống chế, v.v... Tôi nghĩ quanh đây thế nào chẳng có doanh trại các đội bảo vệ, lực lượng phòng không và văn phòng. Chắc đổ nát hết rồi, chẳng nghe ai nhắc đến. Hiện chỉ có Vân Du Lâu và Tùng Sảnh là được trùng tu để mở cửa cho công chúng tham quan.


Ngoài ý nghĩa lịch sử, Hoàng Sơn chưa có sức hấp dẫn lắm đối với khách du lịch. Dưới chân núi, vài quán cà phê, nhà hàng. Lơ thơ mấy chiếc xe chở khách trong nước đến chơi. Làng mạc, nhà cửa mới xây hai bên đường cho thấy dân tình rõ ràng có mức sống tốt hơn so với trước song chưa hẳn giàu có bằng dân vùng ngoại vi Thượng Hải, Nam Kinh, Thẩm Quyến.


Trùng Khánh ngày nay đã thật sự là một thành phố hiện đại, giao lưu rộng mở với thế giới. Nước Thục của Lưu Bị ngày xưa, nay đã đổi mới gấp vạn triệu lần. Nhưng so với những nơi từng là cứ địa nước Ngô của Tôn Quyền vùng đất Giang Nam thì còn lâu mới giàu có và khang trang bằng. Còn lâu các vùng sâu vùng xa ở phía Tây nước Trung Hoa mênh mông mới theo kịp miền Đông vốn đã thịnh vượng lại đang đà phát triển ngoạn mục.


Tôi nghĩ vui một mình, không tiện trao đổi với ai.


 


 Trùng Khánh, 2002


 


 


CUỘC ĐỜI THỢ MỎ


 


Chiếc thang máy lao vun vút với tốc tộ mười hai mét một giây đưa chúng tôi từ đáy lò than lên mặt đất. Ánh nắng mùa thu chói chang đến hoa mắt, mặc dù dưới hầm lò chỗ nào cũng có điện sáng. Mặt mũi chúng tôi đen nhọ bụi than. Chúng tôi đã đi lại gần hai chục ki lô mét ở chiều sâu sáu trăm mét trong lòng đất.


Nhà báo Trung Quốc cùng đi hỏi có ai mệt không. Thấy mọi người vui vẻ lắc đầu, đồng chí cười:


- Ấy là nhờ dưới lò có hệ thống thông gió tốt.


Chủ nhiệm văn phòng mỏ Long Phượng, một công nhân đã làm việc ở hầm lò này từ năm mười bốn tuổi, nói rõ thêm:


- Chúng ta đã ở dưới đất gần hai giờ đồng hồ. Hồi mỏ chưa giải phóng, đến thợ mỏ chúng tôi làm việc mấy giờ liền dưới hầm cũng đã thấy mệt lả người, nói gì các bạn là những người không quen. Bây giờ thì...


Đồng chí bỏ lửng câu nói, cười rất to và dang rộng hai cánh tay:


- Bây giờ thì... mời các bạn rửa mặt, thay áo. Chúng ta đi thăm viện dưỡng lão!


Câu nói bình thường này của người lão công nhân, mãi sau khi thăm viện dưỡng lão và dự cuộc tọa đàm với một số thợ mỏ, rời Phủ Thuận trên đường về thành phố Thẩm Dương trong đêm khuya đã bắt đầu chuyển lạnh của miền Đông Bắc Trung Quốc, tôi mới hiểu hết ý nghĩa thầm kín của nó và càng ngẫm nghĩ càng thấm thía. Thật vậy, nếu làm việc và nghỉ ngơi là những quyền cơ bản đầu tiên của con người, thì người công nhân mỏ ngày nay đã được Đảng và Chính phủ Trung Quốc tạo cho mọi điều kiện cần thiết để làm việc an toàn và có năng suất cao và nghỉ ngơi thoải mái sau giờ lao động hay khi đã về già.


Hầm lò lần theo các vỉa than xuyên sâu vào lòng đất, ngăn cách với cuộc sống bên trên bằng một lớp đất dày hàng nửa ki lô mét, suốt ngày đêm hơi than quyện với hơi nước, hơi đất hầm hập (xưa kia và cả ngày nay có biết bao công nhân mỏ đã bỏ mình vì những vụ nổ hơi than!), nhưng ở nơi làm việc của công nhân, gió luôn luôn thoảng qua mát rượi, có phần hơi lạnh nữa đối với người xứ nóng là tôi. Dọc các đường hầm chi chít trong lòng đất, hầm chếch để khai thác than, hầm bằng để vận chuyển than, hầu như đâu đâu cũng cặp kè những ống lớn thoát hơi than ra ngoài, giữ an toàn cho công nhân. Và còn gì gì nữa, những thiết bị lớn và nhỏ, mắc tại nơi làm việc hoặc mang trên người, tạo điều kiện cho người công nhân làm việc đỡ vất vả mà đạt năng suất cao, đối với một người ngoại đạo như tôi thật khó mà ghi nhớ hết.


*


Viện dưỡng lão của khu mỏ Phủ Thuận gồm một trăm hai mươi ba cụ công nhân đã về hưu, từ sáu mươi ba đến chín mươi hai tuổi. Đương nhiên đây không phải là tất cả số người đã quá tuổi lao động của khu mỏ lớn đến bảy vạn thợ này. Đây chỉ là số ít những người mà thân phận, dưới chế độ cũ, đã được xã hội gọi bằng cái tên chung là những kẻ “sống không nhà ở, chết không đất chôn” hiểu theo nghĩa đen trần trụi của câu nói này. Suốt đời họ đổ mồ hôi quyện nước mắt và máu làm giàu cho bọn tư bản, để rồi khi không còn đủ sức gượng làm được nữa thì chết như một mảnh giẻ rách người ta ném ra đường, không bà con, không thân thích, có chăng chỉ mấy người bạn nghèo cùng giai cấp vẫn hằng đùm bọc lấy nhau. Cách mạng đã lo đến tuổi già của họ. Nhà nước trả tiền hưu cho tất cả những ai đã cống hiến đủ thời gian lao động nhất định cho mỏ. Ai muốn về an dưỡng tuổi già giữa đàn con cháu, thân thích thì về, ai không có gia đình, mời vào viện dưỡng lão.


Ở đây Nhà nước đã lo cho tất cả: nhà cao cửa rộng, từ nơi nghỉ, nơi ăn, hiên đánh cờ, chỗ đọc sách, phòng khám bệnh, phòng cắt tóc cho đến mảnh đất trồng cây hoa, chăm chậu cảnh. Tôi đã đi thăm nhiều nơi trong viện. Tôi sẽ không thuật lại dài dòng ở đây những điều mắt thấy tai nghe đang nức lòng người mà chỉ xin nói một nhận xét nhỏ: trong hầu hết phòng ngủ của các cụ đều có trái cây, phần lớn là táo và lê, nhiều phòng còn có chuối, những quả chuối tiêu chín tới vỏ vàng tươi hoặc bắt đầu lốm đốm trứng cuốc. Ở tỉnh Liêu Ninh, nơi sản xuất tám mươi phần trăm táo của toàn Trung Quốc này, việc nhân dân lao động ăn lê và táo hoàn toàn không có gì đáng ngạc nhiên. Nhưng những quả chuối kia, tôi biết, nếu không phải từ Việt Nam đưa đến thì cũng là từ đảo Hải Nam hay Quảng Đông, Quảng Tây gì đó, ở tận miền Nam Trung Quốc, cách đây hằng năm, sáu nghìn ki lô mét! Tôi được biết nhiều người trong số các cụ ở đây suốt phần lớn đời mình dưới chế độ cũ, chưa bao giờ được biết hình dáng quả chuối như thế nào, nói gì đến hương vị của nó! Bây giờ lương hưu của các cụ rất khá, mà hằng tháng các cụ chỉ phải đóng suất tiền cơm, còn mọi thứ khác đều do quỹ phúc lợi công cộng đài thọ, làm gì các cụ chẳng thích dùng trái ngon vật lạ trên đời!


Mặc dù thời giờ ít ỏi, tôi không thể không đến thăm người cao tuổi nhất viện, cụ Quan Phượng Tường, tại phòng riêng của cụ. Cụ Quan năm nay chín mươi hai tuổi, người còn khỏe, răng cửa còn nguyên vẹn, song tai đã hơi nghễnh ngãng. Cụ nắm tay tôi, mời tôi ngồi xuống giường của cụ, chiếc giường nệm rất êm và phủ khăn rất sạch, đến nỗi tôi do dự không dám ngồi, e bộ áo quần lấm bụi đường trường của mình làm bẩn mất tấm khăn trải giường của cụ. Cụ nói:


- Đời thợ mỏ xưa kia không bằng con chó. Lão mấy chục năm làm thợ, muốn ăn không có ăn, muốn mặc không có mặc, muốn có con không lấy được vợ... Nhờ Đảng Cộng sản, nhờ Mao Chủ tịch, lão không có con cháu mà bây giờ vẫn có gia đình đầm ấm - gia đình lão là viện đây. Bây giờ được ăn cơm ngon, được mặc áo tốt, được ngủ giường êm, lại có người chăm nom, săn sóc... Bao giờ anh về Việt Nam xin cho lão gửi lời cảm tạ Hồ Chủ tịch. Không có Hồ Chủ tịch, Mao Chủ tịch, không có cách mạng, có bao giờ anh từ Việt Nam đến đây thăm lão!


Tôi nhìn lên chiếc huy hiệu trên ngực cụ: huy hiệu Bác Hồ. Lòng cảm động bồi hồi, tôi nắm tay cụ chúc cụ mạnh khỏe, sống trên trăm tuổi. Cụ không cười mà nói rất nghiêm trang:


- Sống trên trăm tuổi chứ! Xưa kia khổ thế còn sống được, huống là bây giờ. Phải sống trên trăm tuổi chứ!


*


Cuộc đi thăm viện dưỡng lão và nhất là mấy phút trò chuyện ngắn ngủi với cụ Quan Phượng Tường làm nảy lên trong tôi ý muốn mãnh liệt đi sâu hơn vào đời người thợ mỏ đã trải qua ba chế độ: chế độ quốc dân đảng, chế độ thuộc địa của Nhật và chế độ Xã hội Chủ nghĩa ngày nay. Cuộc đời của mỗi người thợ mỏ lão thành ấy là một cuốn sách sống phản ánh những sự kiện long trời lở đất xảy ra trên một phần quả đất mấy chục năm gần đây, trong đó đói rách nhường chỗ cho ấm no, nô lệ cho tự do, đen tối cho tươi sáng, đau khổ cho sung sướng...


Trong buổi tọa đàm với các công nhân tiên tiến tối hôm ấy, tôi gặp lại một người quen, cụ Lý Quế Phương mà ban sáng tôi đã có dịp chào ở viện dưỡng lão. Cụ Lý trẻ hơn cụ Quan đến gần ba mươi tuổi nhưng cũng đã từng bốn mươi lăm năm làm nghề thợ mỏ. Khi cụ rời bỏ làng quê ở tỉnh Sơn Đông vượt qua Sơn Hải Quan(1) lên miền Đông Bắc giàu có làm nghề khai mỏ, lúc đó cả khu mỏ Phủ Thuận này nằm trong tay tập đoàn quân phiệt Trương Tác Lâm, và mỏ Long Phượng còn khai thác chủ yếu bằng thủ công, thợ mỏ xuống hầm lò phải tụt từng bậc thang một. Nhà báo Trung Quốc giới thiệu với tôi:


- Cụ Lý đây là một “ Sơn Đông hảo hán”.


Và qua cuộc nói chuyện với những người thợ mỏ, tôi mới hiểu thế nào là người hảo hán Sơn Đông thật ở trên đời, người hảo hán Sơn Đông võ nghệ cao cường, lang thang suốt đời đây đó và hễ “giữa đường gặp chuyện bất bình” thì nhất quyết “chẳng tha”, người hảo hán mà hình ảnh qua các sách truyện, xiết bao hấp dẫn thời thơ ấu của chúng tôi.


Người đồng nghiệp Trung Quốc của tôi không đùa. Anh nói đúng. Cụ Lý Quế Phương vốn là một nông dân quê ở Sơn Đông. Tỉnh Sơn Đông dân đông, ruộng đất ít và xấu. Người Sơn Đông thường phiêu bạt đi làm ăn khắp nơi. Ngay những người nông dân cày cấy xong cũng đi nơi khác kiếm ăn, ngày mùa mới trở về thu hoạch. Dưới chế độ phong kiến, người đi xa không biết dăm ba món võ nghệ phòng thân thì dễ bị bắt nạt, cho nên người Sơn Đông giỏi võ, họ không chịu để cho ai bắt nạt, và những con người như thế thì hay căm ghét những chuyện bất bình. Hảo hán Sơn Đông không phải là những trang hiệp sĩ lưng gió túi trăng, thanh gươm yên ngựa, thực chất họ là những người dân lao động có tinh thần tự cường và tình thương yêu giai cấp đậm đà, hay quý mến, bênh vực những bạn cùng cảnh ngộ.


Cụ Lý nói:


- Tôi vốn là người quan nội (bên trong ải). Năm mười lăm tuổi đi ở cho chủ khổ quá, nghe bọn mộ phu nói làm ở mỏ sướng lắm, rằng đất của mỏ là trại ngàn vàng (thiên kim trại), đến đấy làm ăn có thể hốt được vàng. Thế là tôi đi mỏ. Tôi  có biết đâu cái cảnh mà bao anh em trước tôi đã trải qua, và sau tôi nhiều người cũng không tránh khỏi:


Bước đến thiên kim trại


Lập tức bán chăn gối.


Cái mới đổi lấy cái cũ


Cái cũ đổi lấy bao tải.


Là người bên trong ải, tôi ra ngoài ải làm ăn. Có thế thôi. Tôi cũng muốn trở về quê cũ - thời gian đầu cũng nhớ quê da diết lắm - nhưng không có tiền về. Và sau này, khi phát xít Nhật Bản chia cắt Trung Quốc, lập nên nước ngụy Mãn Châu, tôi không được phép trở về quê, không được phép nhận mình là người Trung Quốc. Thế là không những tôi phải chịu cảnh đói rách, cực khổ, làm việc như ngựa trâu mà còn phải chịu cái nhục mất nước. Mỗi buổi điểm danh đi làm, đi ngang qua một tên cai Nhật Bản, nó hỏi “Mày là người nước nào?”, nếu trả lời: “Người Trung Quốc” sẽ bị nó tống cho một quả đấm ngay vào mặt. Nó bắt chúng tôi phải nhận là người Mãn Châu quốc. Lò sập, anh em chúng tôi chết rất nhiều. Chúng tôi đi cứu. Bọn Nhật không cho. Chúng nó nói: Người Trung Quốc chúng mày chết nhiều nữa cũng chẳng sao.


Nhưng chúng tôi không chịu để chúng nó làm nhục mãi. Chúng tôi đấu tranh, có lần giết một tên Nhật hung ác. Chúng nó cũng phải gờm. Chúng tôi lãn công, phá hoại máy móc, thiết bị. Chúng tôi tìm ra trăm phương nghìn kế gây thiệt hại cho chúng.


Cụ Lý kể những ngày gian khổ, những chuyện đấu tranh. Chúng tôi lặng yên nghe. Cũng như nhiều công nhân ở ta, thế hệ cụ Lý là thế hệ công nhân mà gốc rễ còn là nông dân. Họ được cuộc sống ở hầm mỏ hun đúc tinh thần cách mạng triệt để, ý thức tổ chức và tinh thần tập thể cao, đồng thời họ giữ mối quan hệ rất mật thiết với nông dân. Khối liên minh giữa họ với nông dân không chỉ là khối liên minh về chính trị mà còn là liên minh bằng tình cảm, bằng huyết thống...


Cụ Lý kết thúc câu chuyện về quãng đời cũ của cụ:


- Mấy chục năm làm thợ mỏ dưới chế độ cũ, tôi không có gì cả, đến cả muốn lập gia đình cũng không lập được. Nhưng bây giờ những người tứ cô vô thân chúng tôi đều đã có gia đình...


Câu này sáng nay tôi đã nghe cụ Quan Phượng Tường nói. Bây giờ lại nghe từ miệng cụ Lý Quế Phương. Các cụ muốn nói đến viện dưỡng lão. Nhưng tôi nghĩ câu nói các cụ hẳn còn bao hàm ý nghĩa sâu xa hơn: những người thợ mỏ sống không nhà ở, chết không đất chôn, không bà con thân thích ấy nay, đã có một gia đình đầm ấm vĩ đại: Nước Trung Hoa xã hội chủ nghĩa.


 


Thẩm Dương, 1965


 


 


ĐẤT CẰN


Chu Khẩu Điếm ở ngoại thành Bắc Kinh là một địa điểm nổi tiếng trên thế giới. Nơi đây, mấy chục năm về trước người ta đã tìm thấy di tích của một trong những loại người vượn cổ nhất, tổ tiên của loài người. Mấy năm gần đây, tên Chu Khẩu Điếm lại được báo chí Bắc Kinh nhiều lần nhắc đến vì trong công xã nhân dân mang tên lịch sử ấy có một đại đội, đại đội Nam Hàn Kế đã nêu cao gương tự lực cánh sinh, cải tạo thiên nhiên, sáng tạo nên bộ mặt sản xuất mới.


Vừa qua, tôi có đến thăm thôn Nam Hàn Kế. Năm chục vạn năm về trước, những con người đầu tiên có lẽ đã từng sinh sống trên mảnh đất này, trước hết bằng trái cây và thú rừng, sau đó rất lâu mới biết chăn nuôi và trồng trọt. Đương nhiên không phải do loài người sinh sống lâu đời đã khai thác hết màu mỡ của đất, song rõ ràng chế độ canh tác không hợp lý mấy nghìn năm dưới quan hệ sản xuất phong kiến là một nguyên nhân quan trọng làm cho đất trở nên cằn cỗi. Ngày nay, với quan hệ sản xuất mới, khách đi trên đường trông xuống cánh đồng vẫn thấy xanh mướt ngô và cao lương, nhìn kỹ mới thấy chất đất khô xác trắng xóa; thỉnh thoảng mặt đất nứt ra tạo thành những rãnh sâu ba, bốn mét và rộng chừng năm, sáu mét; núi thì trọc lóc, sông chỉ là một giải đất trũng ngoằn ngoèo với cát sỏi và đá cuội cuốn trong lòng khô cạn và nông choèn. Hầu như quanh năm sông không có nước, chỉ đến mùa mưa, nước từ trên các núi trọc kia ào xuống đổ vào, lúc đó con sông cạn mới trở thành thác nước chảy xiết gây úng để rồi lại khô cạn rất nhanh. Nhân dân ở đây có câu nói: “Mệt chết Hải Long Vương cũng không làm lụt được đất này”.


Trên mảnh đất mà Hải Long Vương mệt chết vẫn không đủ nước tưới ấy, đại đội Nam Hàn Kế đã trồng lúa mì đạt năng suất bình quân trên ba mươi sáu tạ một héc ta, ngô gần bốn chín tạ và khoai lang ba mươi tấn! Dĩ nhiên đấy chưa phải là năng suất cao nhất ngoại thành Bắc Kinh, càng chưa phải là năng suất cao nhất toàn Trung Quốc, nhưng nếu chúng ta biết rằng trước ngày giải phóng, năng suất lúa mì ở Nam Hàn Kế - năm thời tiết thuận lợi nhất cũng không vượt quá một trăm cân một mẫu Trung Quốc (tức bảy tạ rưỡi một héc ta) thì mới thấy hết bước tiến của đại đội lớn đến chừng nào. Bảy năm qua, từ năm 1958 đến 1964, trung bình hàng năm sản lượng nông nghiệp của đại đội tăng mười sáu phần trăm. Năm 1956, Nhà nước còn phải cung cấp cho Nam Hàn Kế hơn mười tấn lương thực; năm 1963 đại đội (gồm một trăm bốn mươi hộ) đã bán cho Nhà nước hai mươi tấn lương thực và một trăm bảy mươi con lợn. Đi đôi với tăng năng suất, đại đội Nam Hàn Kế chú trọng tăng vụ, trồng xen; năm nay đã tăng thêm một vụ gieo trồng trên hầu hết diện tích. Với điều kiện thời tiết và khí hậu của xứ rét, đạt được kết quả thâm canh và tăng vụ như vậy quả là một thành tích  lớn lao.


Con đường tăng năng suất, tăng vụ của đại đội Nam Hàn Kế không có gì cao siêu, xa lạ. Ngoài việc cày bừa và bơm nước mới được cơ giới hóa mấy năm gần đây, các khâu canh tác khác còn làm bằng thủ công. Đại đội đã nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, phát động quần chúng bỏ công bỏ của, tiêu ít tiền mà làm được nhiều việc, không ỷ lại sự giúp đỡ của Nhà nước, quyết tâm phát triển nông nghiệp. Trong sản xuất, thực hiện tốt hệ thống biện pháp kỹ thuật liên hoàn, chủ yếu là các khâu thủy lợi, phân bón, cày bừa kỹ nhằm cải tạo và bồi dưỡng đất, đi đối với việc chọn lọc giống và cải tiến các cách gieo trồng.


Hai đại đội trưởng Cát Vạn Thành và Vương Văn Trung - một người phụ trách trồng trọt, một người phụ trách chăn nuôi - đã đưa tôi đi thăm cánh đồng và nhiều nơi trong thôn Nam Hàn Kế. Vừa đi, các vừa kể cho nghe quá trình phấn đấu của đại đội.


Quá trình ấy bắt đầu bằng một cuộc điều tra nghiên cứu của chi bộ đảng: phải làm gì để thay đổi bộ mặt sản xuất, cải thiện đời sống xã viên, có cống hiến cho Nhà nước? Sau khi xác định được phương hướng phấn đấu và các biện pháp chủ yếu rồi, chi bộ động viên toàn thể xã viên trong đại đội bắt tay làm thủy lợi, trong mấy năm đắp xong mười bờ đập lớn ngăn không cho nước, đất và phân trôi đi nơi khác. Sông ngòi khô cạn, làm thế nào có đủ nước tưới? Chỉ một con đường là đào giếng. Giếng ở đây phải đào sâu đến hai chục mét, và không phải đào ở đâu cũng có nước, có giếng chỉ dùng được một vài năm là cạn. Đại đội trong mấy năm đã đào tới hơn sáu mươi giếng nhưng hiện nay chỉ bốn giếng là có nguồn nước dồi dào.


Giếng sâu thăm thẳm. Lòng giếng nhìn hẹp nhưng thật ra khi đào đã phải mở rộng rồi xếp đá tảng giữ cho thành giếng khỏi sụt và lọc nước để đặt máy bơm. Cát Vạn Thành nói: “Đào một cái giếng đặt máy bơm tốn hơn ba vạn đồng và phải mướn người mang máy về đào. Chúng tôi không làm như vậy. Chúng tôi tự đào lấy, bằng sức lao động của mình. Mỗi giếng hết bốn trăm công. Chỉ phải bỏ ra một nghìn đồng mua máy bơm”.


Mùa hè năm nay, công xã bị hạn kéo dài. Cánh đồng của đại đội Nam Hàn Kế chênh từ Đông sang Tây. Từ trước tới nay, các giếng vẫn đào ở mạn Đông rồi dẫn nước xuôi mạn Tây. Nhưng xã viên nhận ra giếng đào ở mạn Đông thường ít nước. Phải đào giếng ở mạn Tây và bắt nước chảy ngược lên Đông. Quyết định là làm. Đại đội bắt tay đào thêm mấy cái giếng, đắp hệ thống máng nổi, và khi đến thăm công xã Chu Khẩu Điếm, tôi được nhìn tận mắt dòng nước leo ngược lên cánh đồng cao, tưới cho lúa tiểu mạch mới gieo, đang bắt đầu nảy mẩm.


Sau nước là phân bón. Không trông chờ phân hóa học, đại đội vận động xã viên nuôi nhiều lợn (hiện nay bình quân hai người có một con lợn, không kể đàn lợn tập thể hai trăm con), và tích cực thu nhặt, chế biến, khai thác nhiều nguồn phân. Việc trữ phân bón được tổ chức chu đáo: trữ phân hằng năm và trữ phân từng vụ, tập thể trữ phân và gia đình trữ phân, trữ phân trong làng và trữ phân ngoài đồng. Đại đội cử ba bốn chục người chuyên làm công tác phân bón; những lúc thời vụ tương đối rỗi như đầu xuân, giữa hè và sau mùa thu, tập trung trên một nửa số lao động của đại đội làm phân bón. Giá mua phân bón của xã viên được quy định hợp lý. Nhờ vậy, trước đây mỗi mẫu (Trung Quốc) bón hai xe phân, nay đã được bón bảy xe rưỡi.


Đại đội Nam Hàn Kế nêu một gương sáng. Từ năm 1962, thành phố Bắc Kinh đã kêu gọi các công xã nhân dân ở ngoại thành đi theo con đường của Nam Hàn Kế. Đầu năm 1964, thành ủy lại nêu lên vấn đề học tập Nam Hàn Kế. Phong trào thi đua với Nam Hàn Kế được nhiều đại đội hưởng ứng và đang được đẩy mạnh với nhiều hình thức phong phú.


Nan Hàn Kế xưa kia vốn là một thôn nghèo xơ xác. Thôn xóm nay đã được sửa sang và xây dựng thêm nhiều. Đường sá sạch sẽ, nhà cửa gọn gàng. Vẻ vui tươi phấn chấn lộ rõ trên nét mặt mọi xã viên tôi được gặp. Các đồng chí ở địa phương đưa tôi vào thăm nhà bà cụ Lý, một trong những xã viên cao tuổi nhất đại đội, lúc trời đã xế chiều. Với tất cả sự niềm nở chất phác của các bà mẹ nông dân, khi biết khách từ Việt Nam đến, bà cụ nhất định giữ lại không cho về: “Anh ở lại đây với già một tối. Muốn ăn mì có mì, muốn ăn cơm có cơm, ngủ có chăn bông nệm bông không phải rét, thích nghe tin đã có máy thu thanh... Xưa kia thì chẳng dám giữ anh lại vì nhà chẳng có gì, nhưng ngày nay ơn Đảng, ơn Mao Chủ tịch, nhà đã sắm được nhiều thứ. Đồng chí Việt Nam ở lại chơi với già...”.


Rời Nam Hàn kế, tôi nhớ mãi nét mặt tươi cười hớn hở của bà cụ xã viên bảy mươi lăm tuổi mà cuộc sống mới đã làm trẻ lại rất nhiều, cũng như cánh đồng khô cằn mà sức lao động tập thể đã làm cho trở lại xanh tươi.


 


Bắc Kinh, 1965


 


 


HÀNH HƯƠNG


 


Sắp đến kỷ niệm bảy mươi lăm năm ngày ra đời báo chí cách mạng Việt Nam, chúng tôi làm một cuộc hành hương về nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh làm báo Thanh Niên. Nơi đây đồng thời cũng là trụ sở của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên những năm 1925 - 1927.


Báo Thanh Niên, ra số đầu ngày 21 tháng 6 năm 1925. Đúng sáu mươi năm sau, ngày 21 tháng 6, được chính thức quyết định lấy làm Ngày báo chí Việt Nam. Từ bấy đến nay, qua mười lăm năm, ngày 21 tháng 6 hàng năm thật sự đã trở thành một ngày hội của không riêng báo giới từ Bắc đến Nam.


Căn gác hẹp trên đường phố nhỏ tấp nập người, xe qua lại ở trung tâm thành phố Quảng Châu (Trung Quốc) trước đây thuộc ngôi nhà mang số 11 -13, nay được đánh số 248 - 250. Mấy chục năm qua hai số nhà ấy đã trở thành một địa chỉ thiêng liêng trong lòng mọi người dân Việt Nam yêu nước. Nhiều đoàn đại biểu chính thức của Đảng, Nhà nước, Quân đội ta do các đồng chí Phạm Văn Đồng, Nguyễn Duy Trinh, Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt, Đoàn Khuê..., cũng như nhiều khách du lịch Việt Nam đã viếng thăm, làm cho căn gác nhỏ càng tăng thêm chiều dày truyền thống.


Tỉnh Quảng Đông được coi là nơi đi đầu trong công cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc. Trong hơn hai thập kỷ qua, bộ mặt thành phố Quảng Châu thay đổi từng ngày. Biết bao ngôi nhà hai ba mươi tầng cho đến năm sáu mươi tầng đã và đang tới tấp mọc lên, thu hẹp dần các khu phố cũ. Theo quy hoạch tổng thể của thành phố, căn gác số 248 - 250 cũng như các ngôi nhà kề bên sẽ bị san ủi để xây dựng một trung tâm thương mại lớn. Để tỏ lòng trân trọng đối với Cách mạng Việt Nam và với nhân dân ta, Đảng và Nhà nước Trung Quốc đã quyết định bảo tồn không chỉ ngôi nhà mà cả một khu nhỏ đằng sau, nhằm giữ cho toàn bộ di tích lịch sử này khung cảnh hài hòa.


Căn phố này từ đầu thế kỷ vốn là một nơi xây cất để cho thuê làm hiệu buôn. Người chủ, sau khi Cách mạng Trung Hoa thành công, vẫn còn sống. Được biết Chủ tịch Hồ Chí Minh từng là một khách thuê nhà, ông vui lòng hiến cho Chính phủ Trung Quốc dùng làm nhà lưu niệm.


Các bạn Trung Quốc đã cố giữ gìn ngôi nhà gần y như bảy mươi lăm năm về trước, đương nhiên sạch sẽ, đẹp đẽ, khang trang hơn nhiều. Người ta đã sưu tầm hiện vật và bày biện lại như thời ông Lý Thụy đến thuê nhà và mở lớp giảng dạy cho số thanh niên ưu tú từ trong nước ra, trước sau bảy mươi hai người tất cả (Người Trung Quốc vốn coi bảy mươi hai là một con số đẹp, giống như “thất thập nhị hiền”). Tên tuổi nhiều người trong số cốt cán đầu tiên của cách mạng ấy đã đi vào lịch sử chói lọi chữ vàng: Trần Phú, Phùng Chí Kiên, Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Hổng Thủy (tức tướng Nguyễn Sơn)... Người hướng dẫn cho biết, khi trở lại thăm nơi này mấy chục năm sau, một học viên cũ đã trở thành Thủ tướng Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - PhạmVăn Đồng đã nhận ra ngay những vật dùng ngày trước.


Vẫn cầu thang gỗ. Vẫn lớp học với mấy dãy bàn mộc sơ sài. Vẫn phòng “nội trú”với những chiếc giường hai tầng và những mảnh chăn chiên mỏng. Phía sau nhà, lộ thiên, vẫn đặt mấy chiếc chậu đồng méo mó dùng để rửa mặt. Đây là nơi đun nấu, mỗi khi gặp mưa phải có người giương ô che cho bếp khỏi tắt. Và ở một góc phòng kia, cạnh cửa sổ, là một cái bàn in, loại công cụ thô sơ với chiếc trục lăn cầm tay dùng để in rời từng tờ giấy khổ nhỏ theo lối thủ công.


Tôi không dám chắc đấy có phải là dụng cụ đã cho ra đời những số báo Thanh niên nổi tiếng hay không. Cũng không có ai trả lời cho chúng tôi câu hỏi ấy. Chị phụ trách nhà lưu niệm hết sức nhiệt tình, kiến thức rộng, thông thạo đến từng chi tiết, song không hiểu sao về chuyện này dường như không nắm chắc lắm.


Điều chắc chắn là Bác Hồ, dưới cái tên Lý Thụy, những năm hai mươi đã từng đến đây với danh nghĩa chính thức là phiên dịch cho Bôrôđin, cố vấn người Nga bên cạnh nhà cách mạng Tôn Dật Tiên, người sáng lập Trung Hoa dân quốc. Bác đã tổ chức nên Đồng chí Hội, và thường xuyên đến đây lên lớp cho những hạt giống đầu tiên của Cách mạng vô sản Việt Nam. Theo một số nhà nghiên cứu, báo Thanh niên xuất bản được đến hai trăm lẻ tám số. Có thể là một điểm tồn nghi. Điều khẳng định là tám mươi tám số đầu ra gần như đều đặn hằng tuần, trong khoảng thời gian từ tháng 6 năm 1925 đến tháng 4 năm 1927, báo Thanh niên được thực hiện dưới sự chỉ đạo và biên tập trực tiếp của Bác Hồ.


Tuy khuôn khổ nhỏ, xuất bản và phát hành về nước trong những điều kiện cực kỳ khó khăn, báo Thanh niên đã có tác động rất to lớn đối với tiến trình vận động cách mạng nước ta hồi bấy giờ. Thực dân Pháp thấy rõ điều đó. Chúng đã theo dõi sát từng tờ báo, và cứ số nào rơi vào tay mật thám thì được dịch toàn văn ra tiếng Pháp để báo cáo với cấp trên và gửi về lưu trữ bên chính quốc. L.Macty, tên trùm mật thám khét tiếng Đông Dương đã sớm quả quyết: Chính Nguyễn Ai Quốc chứ không phải ai khác là người chủ trương và biên tập báo Thanh Niên.


Báo Thanh niên, như tư liệu về lịch sử Đảng ta xác nhận, đã có công lao chuẩn bị về lý luận, chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, tạo nên bước ngoặt quyết định trong lịch sử Việt Nam hiện đại.


Huyền thoại bắt đầu từ căn gác này.


...Chúng tôi thành kính ngắm bức ảnh lớn chụp Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bộ quần áo dạ đen kín cổ, đang tươi cười trò chuyện với Chủ tịch Mao Trạch Đông. Người Bác Hồ hơi ngả về đằng sau lúc cười, vẻ mặt sảng khoái hồn nhiên như thoát tục. Tôi có cảm giác chòm râu bạc của Bác dường như cũng đang rung rung trong tiếng cười. Ở mặt tường đối diện là bản sao chụp lớn bằng cả tấm hoành phi tám chữ đại tự rất đẹp, bút tích của Bác Hồ: Việt Trung hữu nghị vạn cổ trường thanh.


 


Quảng Châu, 2000


Nguồn: Bên mộ vua Tần. Tập ký của Phan Quang. NXB Văn học, 2003.


www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »