tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20004408
12.02.2016
Phan Quang
Phan Quang Du ký (1)

TÂY HỒ MÙA THU


 


Chủ tịch Hội nhà báo Trung Quốc Triệu Hoa Trạch nói với tôi: “Mười sáu năm mới có một lần trung thu trùng hợp với Quốc khánh Trung Quốc, mùng một tháng mười dương lịch. Cán bộ, viên chức cả nước nghỉ bắc cầu suốt cả một tuần. Có khoảng một triệu rưởi người từ các địa phương và nước ngoài đổ về thủ đô mừng Quốc khánh. Bởi vậy Bắc Kinh ồn ào lắm. Anh đi Hàng Châu ngày mai là rất phải. Ở đấy lúc nào cũng yên ả. Thưởng ngoạn trung thu trên Tây Hồ thì thật tuyệt vời”.


Hàng Châu cách Bắc Kinh chỉ có hai giờ bay. Song, bởi mải mê với không khí thủ đô ngày hội, chúng tôi đến Hàng Châu hơi muộn. Thủ phủ tỉnh Chiết Giang mà trung tâm là cảnh đẹp Tây Hồ vốn nổi tiếng ở đất Giang Nam(1) cả nghìn năm nay. “Trên trời có thiên đàng, dưới đất có Tô Hàng” (Tô Châu và Hàng Châu), người xưa nói thế và người nay cũng vẫn còn nói vậy.


Phi trường, tiếng là sân bay thuộc tỉnh, nhưng rộng lớn và hiện đại đủ làm ước mơ của thủ đô bao nhiêu nước. Kinh tế Chiết Giang tăng trưởng nhanh, từ vị trí thứ mười ba sau mười năm vươn lên đứng vào hàng thứ ba các tỉnh và thành phố toàn Trung Quốc. Mặc dù vậy, Hàng Châu vẫn giữ được phong độ văn vật cổ kính làm nên niềm tự hào nghìn xưa của nó. Ở đây không có nhiều nhà chọc trời. Không có vẻ lộng lẫy kiêu sa của ánh sáng đêm đêm tỏa ra từ tháp Eiffel bên Pháp. Không có những tia lade ngạo nghễ soi rọi mặt biển từ đôi mắt con hải sư khổng lồ bằng bê tông cốt thép ở đảo quốc Singapore nhỏ bé mà giàu sang bên cạnh chúng ta. Các đỉnh cao nhô lên khỏi các rừng cây cổ thụ ở Hàng Châu phần lớn là những ngôi tháp cổ mờ ảo dưới sương trăng, được tôn cao bởi xây trên các đỉnh núi chập chùng lớp lớp. Điều đập vào mắt du khách đến thành phố này là màu xanh cây cỏ và nét uốn lượn thanh thoát của những cái đao trên mái các đình, từ, quán, sảnh. Khắp nơi ngan ngát mùi hương kín đáo của hoa quế. Mùa thu là mùa hoa quế nở rộ mà Hàng Châu vẫn nổi tiếng toàn Trung Quốc với quế hoa.


Trăng thu ở Hàng Châu không tỏ như trăng thu Hà Nội. Ngồi ở quán trà trên tầng chót vót của khách sạn, nhấm những chiếc bánh trung thu nhỏ xíu và thưởng thức tiếng đàn sáo nhẹ nhàng, đợi cái tầng cao ấy quay hết một vòng thì du khách cũng tạm có cái nhìn khái quát vẻ dịu dàng hư ảo đêm Tây Hồ. Thật ra không phải thành phố ít đèn chiếu sáng, có điều là ánh đèn không quá chói chang. Chẳng hiểu do sương đêm hay chỉ vì liên tưởng mà nhìn các ngọn đèn thấp thoáng trên hồ, tôi cứ cho đấy là ánh lửa bác ngư phủ đơn độc trong chiếc thuyền con vào lúc trăng tà . Xa lắm, có lẽ đâu trên sườn dãy núi mãi tận bờ bên kia hồ, các dãy đèn trang trí như phác họa lên nền màn đêm đường nét thanh tú những công trình kiến trúc cổ. Chị Vương, ký giả tờ Chiết Giang nhật báo nói: “Tỉnh chúng tôi có ba đặc trưng mà người dân ai cũng tự hào: kinh tế phát triển, cảnh quan đẹp và sinh hoạt văn hóa cao”.


Tôi ngắt lời Vương:


- Người đẹp nữa chứ, thưa chị!


*


Chiết Giang vốn được tiếng là đất văn vật. Xưa kia đây là quê hương của lụa mượt trà ngon, là vùng gạo trắng nước trong. Marco Polo, du khách đầu tiên đến từ phương Tây, đã ca ngợi trong Tập du ký của mình rằng Hàng Châu “là thành phố đẹp nhất, huy hoàng nhất thế giới”. Riêng một tỉnh Chiết Giang đã để lại cho lịch sử Trung Quốc hơn ba nghìn danh gia văn hóa. Hai tên tuổi lớn thời xưa có nhiều gắn bó với Tây Hồ, với Hàng Châu và khá quen thuộc với người Việt Nam ta, không ai khác hai đỉnh cao của thơ Đường, thơ Tống: Bạch Cư Dị và Tô Đông Pha.


Chúng tôi bước xuống một chiếc thuyền con vừa đủ chỗ cho bốn người ngồi đối diện, cách một chiếc bàn con, để có thể chuyện trò. Chị lái đò đẩy mái chèo gỗ, đưa con thuyền lướt nhẹ trên mặt hồ còn lưu luyến sương đêm. Trời se lạnh. Gió nhẹ nhàng. Cảnh vật thì nhìn về hướng nào cũng có cảm tưởng như ta đang ngắm những bức tranh thủy mặc, mà không bức nào giống bức nào. Mỗi ngôi chùa, mỗi bến nước, mỗi rặng cây nơi đây dường như đều có sự tính toán từ khi được tạo lập. Đâu đâu cũng có bàn tay chăm chút của con người. Người ta gây dựng cái hồ này từ hơn một nghìn năm rồi cơ mà. Tây Hồ ở về mạn Tây thành phố Hàng Châu. Từ mặt hồ nhìn sang bên này thấy san sát phố phường, nhà cửa, dinh thự; nhìn về bên kia là chập chùng đồi núi trời mây. Rặng cây gần bờ xanh đậm màu thảo mộc; từ đỉnh núi Bảo Thạch, một ngọn tháp trắng lồ lộ vươn lên trời cao. Rặng tiếp sau đó nhạt màu hơn, mà vẫn thấp thoáng những chùa những tháp. Xa hơn nữa là các rặng núi nửa khuất nửa tỏ trong sương mù; rồi lại núi lại cây nối tiếp cho đến khi hòa điệp hẳn vào mây.


Tây Hồ rộng có sáu ki lô mét vuông, độ sâu trung bình chỉ hai mét. Đường bọc quanh hồ dài chừng mười năm ki lô mét là nơi du ngoạn tuyệt vời. Nước trong veo, bởi hồ thông với sông, và mỗi năm nó được thay nước ba lần. Trên mặt hồ nhấp nhô năm hòn đảo lớn nhỏ khác nhau, có đảo thiên nhiên có hòn nhân tạo. Con đê dài với hàng liễu xanh mượt rũ xuống chấm nước hồ kia là công trình của thái thú Tô Đông Pha đời Tống, khi nhà thơ về đây nhậm chức trọng. Sử chép rằng thái thú Tô Thức rất yêu mến Hàng Châu. Ông đã cho khơi Tây Hồ lấy nước tưới ruộng giúp dân. Con đê kia do nạo vét bùn đất, đào sâu thêm lòng hồ mà đắp nên, đời sau gọi là đê của họ Tô (Tô đê). Một công đôi việc. Vừa có nước cho nhà nông, vừa chỉnh trang cảnh đẹp. Vừa tròn trách nhiệm nhà quan, vừa thỏa khát vọng người thơ.


“Trước Tô Đông Pha gần hai thế kỷ, nhà thơ Bạch Cư Dị khi làm quan ở đây cũng có cho đắp một con đập, nhỏ hơn, nó ở về phía bên trái chúng ta kia”, chị Vương nói. Tôi may mắn, có hai người bạn cùng chơi hôm nay, chị Vương là nhà báo địa phương đã đành, mà anh Dao từ Bắc Kinh cùng về, cũng là một người gốc Chiết Giang. Làng quê anh không xa Hàng Châu là mấy. Cả hai người đều rất thông thuộc chốn này.


Bạch Cư Dị, như chúng ta biết, cùng với Lý Bạch và Đỗ Phủ là ba nhân vật cự phách của thi ca Trung Quốc thời Đường. Không thể bàn đến Đường thi mà không nói tới họ Bạch. Ông đã để lại cho hậu thế ba nghìn thi phẩm tài hoa, nhiều bài mang tính xã hội sâu sắc. Bạch Cư Dị tuy là người gốc ở tỉnh Thiểm Tây song thời trẻ sống nhiều năm ở Hàng Châu vào lúc thành phố này đang vươn lên trở thành một trung tâm chính trị văn hóa lớn ở miền Nam Trung Quốc; một sự lớn lên trong niềm khổ ải của bao người lao động bị dồn ép từ nhiều nơi về xây cất dinh thự đền đài. Các nhà nghiên cứu cho rằng niềm thông cảm của họ Bạch khi ông đã đường đường một vị đại thần đối với ông lão nghèo thôn Đỗ Lăng, với cụ già cụt tay xóm Tân Phong, với người bán than, người đào củ đồ hoàng mang cho nhà giàu vỗ ngựa để đổi lấy hạt thóc ngựa ăn thừa, và nhất là đối với người kỹ nữ ở bến Tầm Dương “cùng một lứa bên trời lận đận”, đều bắt nguồn từ thời niên thiếu của ông ở Hàng Châu. Hồi này bậc đại quan còn là một cậu học trò tài hoa song gia thế không lấy gì làm phong độ. Khi được cử về làm trọng trách ở Hàng Châu, ông vừa chăm lo cho dân chúng vừa tâm huyết tôn tạo thắng cảnh Tây Hồ.


Con đê ngăn đôi Tây Hồ mà thái thú Tô Thức cho xây cách đây mười thế kỷ vẫn còn nguyên vẹn. Thân đê có năm cây cầu xây cuốn cho thuyền nhỏ qua lại. Từ đường cái rẽ lên đê, có nhà bia tưởng niệm công đức ông. Nhà thơ họ Tô tuy làm quan to song không che dấu thái độ căm ghét sự hủ bại của triều đình Bắc Tống. Ông thông cảm với đời sống dân nghèo. Tô Đông Pha không chỉ lừng danh với hai bài phú Xích bích mà còn nổi tiếng qua nhiều bài ca ca ngợi thiên nhiên. Bài Uống rượu ở Tây Hồ, trước tạnh sau mưa viết trong lúc say là một bức tranh đầy màu sắc lột được cái thần của cảnh quan và khí hậu Tây Hồ.


Mây đen trút mực chưa nhòa núi.


Mưa trắng gieo châu nhảy rộn thuyền.


Trận gió bỗng đâu lôi cuốn sạch


Dưới cầu nước gợn sóng thanh thiên.


                                    (Bản dịch của Nam Trân)


*


Trong chuyến đi thăm Hàng Châu lần này tôi được làm quen thêm hai người bạn có cảm tình với Việt Nam. Giáo sư Giang Bình, Chủ tịch Hội nhà báo tỉnh Chiết Giang, một cây bút kỳ cựu và vợ là Đàm Lệ Quyên, nghệ sĩ thanh nhạc, Chủ tịch Hiệp hội âm nhạc tỉnh. Chị Đàm nói: “Gia đình tôi gắn bó với Việt Nam. Rất tiếc hôm nay tôi chưa có dịp giới thiệu với anh cô em dâu tôi. Thời các bạn đánh Mỹ, cô ấy làm việc ở Việt Nam và cũng đã biết thế nào là bom đạn Mỹ”. Chị Đàm rất lấy làm vinh dự đã được nhiều dịp hát phục vụ Bác Hồ những lần Bác thăm Hàng Châu. “Hồi ấy tôi còn ít tuổi, được Bác Hồ cưng như đứa cháu gái nhỏ. Gia đình còn giữ được bức ảnh tôi chụp với Bác, tôi cho phóng to treo chính giữa nhà”, chị nói tiếp.


Tôi tự hỏi sao đất Hàng Châu sản sinh ra lắm nhà văn hóa lỗi lạc đến thế. Ba nghìn danh gia, như sử sách chép. Riêng thời đương đại, và chỉ nói về văn học thôi, đã có thể kể: Mao Thuẫn, Hạ Diễn, Phùng Tuyết Phong, Ngãi Thanh, Ngô Hàm... Nổi bật hơn cả là Lỗ Tấn, ngọn cờ văn học cách mạng Trung Quốc thế kỷ XX. Họ đều là người Chiết Giang, người Hàng Châu. Họ có những cống hiến lớn cho văn hóa Trung Quốc. Có người làm bộ trưởng. Có vị đứng đầu Hiệp hội Văn học Nghệ thuật. Không ít vị đã trải qua những ngày tháng lao đao. Nhưng, xã hội tạm thời có thể bất công song lịch sử bao giờ cũng công bằng. Những tài năng đích thực bao giờ cũng sẽ tồn tại bất chấp sự tàn nhẫn của thời gian.


Tây Hồ gợi nhớ những câu thơ Đường, thơ Tống đã đi vào tâm khảm thế hệ chúng tôi từ ngày còn nhỏ tuổi. Cảnh vật ở đây đúng là một bài thơ. Nhưng anh Dao bạn tôi cười: “Rất nhiều danh gia làm thơ, làm phú ca ngợi Tây Hồ. Tuy nhiên có một người con của Chiết Giang dám nói: Cảnh Tây Hồ đẹp lắm, người Hàng Châu xinh lắm, song cứ mải mê lần lữa ở Tây Hồ thì không còn ý chí chiến đấu. Người ấy không ai khác Lỗ Tấn”.


Thú thực tôi chưa từng được đọc câu trên của nhà văn lớn. Nhưng làm sao không tin lời anh bạn, trước hết bởi anh là người Trung Hoa. Ồ, mà đã đến được Hàng Châu, đã chơi thuyền trên Tây Hồ, sao tôi lại dám không viếng thăm quê Lỗ Tấn nhỉ?


 


Hàng Châu, 2002


 


 


 


 


NHÀ CŨ LỖ TẤN


 


“Quán rượu Hàm Hanh ở chỗ cửa ô đi vào Lỗ Trấn”(1) nay không còn như thời Lỗ Tấn mô tả trong tác phẩm của ông nữa. Nó chỉ còn giữ được mỗi cái tên. Thêm vào đó người ta đã dựng nên trước cửa quán, ngay trên vỉa hè bức tượng cao lớn của bác Khổng At Kỷ, “người độc nhất mặc áo dài” vào mùa này, không chỉ ở quận Thiệu Hưng mà có lẽ trong toàn nước Trung Hoa. Song chính nhờ có bác Khổng mà tôi đã nhận ra ngay không chỉ mình đã tới quê hương Lỗ Tấn mà đang sống cùng các nhân vật của ông.


Lỗ Tấn từng viết, không rõ nhờ có văn chương mà nhân vật nổi tiếng hay bởi có nhân vật cho nên văn chương mới được lưu truyền. Rượu Thiệu Hưng, đặc sản quê hương Lỗ Tấn đã có từ rất lâu trước khi nhà văn ra đời. Song có lẽ nhờ có bác Khổng At Kỷ lỗi thời trong quán rượu Hàm Hưng xế cửa ô, nhờ anh chàng trí thức tỉnh lẻ ở tửu quán Nhất Thạch Cư “chật hẹp, ẩm thấp với tấm biển hiệu cũ nát”, mà rượu Thiệu Hưng càng thêm nổi tiếng khắp Trung Hoa. Mỗi lần có dịp tiếp đãi bạn văn từ xa đến, các bạn Trung Quốc, ngay cả ở Đài Loan, thế nào cũng mời khách nếm cho được chén rượu Thiệu Hưng. Thức nhắm ngày nay dĩ nhiên có đủ thứ cao lương mỹ vị, song với các nhân vật của Lỗ Tấn thì vẫn là mấy miếng đậu rán: “Một cân rượu Thiệu Hưng đi. Món nhắm? Mười miếng đậu rán, cho nhiều cay vào!”(2)


Chính nhờ uy danh văn hào Lỗ Tấn mà quán rượu Hàm Hanh ngày nay đã trở thành một “đại tửu lâu” ngất nghểu không biết bao nhiêu tầng. Công bằng mà nói, người ta đã cẩn thận thêm vào một chữ tân, “Tân Hàm Hanh”, cho rạch ròi cũ mới. Khách vào ra như trẩy hội. Quá trưa leo lên gác hai, theo người phục vụ đi hết phòng này qua phòng khác, phòng nào cũng rộng thênh thang và đầy kín khách để tìm ra một bàn còn trống, chúng tôi mới thấy hết quê hương Lỗ Tấn đang thu hút khách du lịch đến mức nào. Khách khứa thời nay phần lớn sang trọng và hiện đại, vừa nhắm rượu vừa líu ríu nói chuyện qua điện thoại cầm tay, song ở mặt tiền đại tửu lâu, bác Khổng At Kỷ vẫn mặc chiếc áo dài cũ  kỹ kiên nhẫn và ân cần đón khách.


Cạnh tửu lâu là các hiệu bốc thuốc bắc và cửa hàng bán rượu Thiệu Hưng. Rượu đựng vào những cái vò gốm da lươn dễ đến mười lít một, đặt trong rọ đan bằng tre cho dễ vận chuyển, xếp thành chồng. Ai cần mua ít hơn, để làm kỷ niệm chuyến đi chẳng hạn, thì đã có những lọ con cũng bằng gốm đựng một phần tư hoặc nửa lít một, dán nhãn giấy hồng điều, lại được phủ lên ngoài nút chai là một mảnh lụa đỏ thắt sợi dây vàng, kèm thêm cái túi lưới tết bằng sợi cỏ cho khách dễ xách mang theo, vừa giữ được vẻ dân dã y như thời xa xưa vừa tiện lợi cho thượng đế đời nay. Còn trong tửu quán, người ta vẫn đong bán rượu bằng cân, và điều tôi lấy làm lạ nhất là rượu không đựng trong bình, trong chai mà trong những cái phễu gò bằng sắt tây, na ná như cái phễu vẫn dùng đong bán dầu hỏa ở các vùng quê ta thời trước. Nhìn sang bàn nào cũng thấy có cái phễu sắt tây trắng hếu.


Đi qua các quán rượu thấy có mùi là lạ. Thưốc bắc ư, tôi hỏi. Bà vợ tôi cười: “Anh không nhận ra mùi đậu phụ lên men sao?”.


*


Ngôi nhà cũ của nhà văn, “Lỗ Tấn cố cư” như chữ đề, cách quán rượu chừng trăm mét. Đấy là một ngôi nhà gỗ, mặt tiền khá rộng, đằng sau có vườn; muốn vào nhà phải bước qua cái ngưỡng cửa khá cao, và càng đi sâu vào càng thấy lớn. Phòng riêng của Lỗ Tấn ở ngay gian ngoài, phần bên trái. Phần bên phải không kê đồ đạc mà chỉ đặt cái bàn cho chị nhân viên nhà lưu niệm ngồi thu vé, và cũng là lối đi để vào nhà trong. Cửa phòng có tấm song gỗ ngăn không cho khách tham quan vào. Lỗ Tấn sống ở phòng này từ tháng 10 năm 1910 đến tháng 02 năm1912. Tác phẩm đầu tiên của nhà văn, Hồi ức về quá khứ, được viết ở đây.


Đồ đạc ít và đơn sơ, cho nên phòng trông khá rộng. Chiếc giường ngủ, một án thư, một tủ sách, tất cả đều bằng gỗ tốt lâu năm đen nhánh như mun. Chiếc gối nhà văn dùng là loại gối tròn và dài thời cũ, không bọc vải để lộ cái cốt đan bằng mây thưa, trông na ná như chiếc hom giỏ. Thời gia đình Lỗ Tấn chuyển đi khỏi Thiệu Hưng, ngôi nhà đã đổi chủ và được bày biện theo cách khác. Khi lập nhà lưu niệm, người ta đã tìm lại đúng những vật dụng của nhà văn ngày trước.


Một sân nhỏ ngăn nhà ngoài với nhà trong. Ở góc sân sát tường kê một cái chum rộng miệng hứng nước mưa. Nửa bên phải là bếp. Gian bên trái bày cối xay lúa, cối giã gạo. Một cái cót lớn ở góc phòng, chắc để đựng thóc. Lại có cả một cái “xe quạt lúa” giống hệt như những cái mà nhà nông khá giả ở miền Trung quê tôi ngày trước vẫn dùng để rê thóc lép ngày mùa; từ ngày ra Bắc tôi chưa hề có dịp nhìn thấy ở đâu. Vườn sau trồng nhiều cây cỏ, có hoa và cây cảnh, lại có cả vài luống khoai luống đậu, được đặt cái tên hoa mỹ là Bách thảo viên. Trong hồi ký của mình, Lỗ Tấn nói rằng đây là “góc thiên đường nhỏ bé của ông” thời niên thiếu. Ông thích ra đây thơ thẩn một mình với cỏ cây. Từ vườn có lối đi thông sang phố khác ở mặt sau nhà, nay để bảo vệ, người ta đã xây một bức tường chắn ngang.


Trường học vỡ lòng của Lỗ Tấn ở phía bên kia phố và đi sâu vào một cái ngõ. Tuy mang tên gọi sang trọng là Tam vị học đường nhưng thật ra nó chỉ là một căn nhà hẹp và sâu hun hút. Sân chơi của học sinh chỉ rộng bằng mươi chiếc chiếu. Cậu bé Chu Thụ Nhân là một học sinh thông minh, được nhiều “thẻ tốt” song thường bị phạt vì tuy nhà ở gần mà hay đi học trễ. Còn giữ được cái bàn nơi cậu Chu ngồi học. Bức ảnh thầy giáo đầu tiên được phóng to, giới thiệu với khách tham quan một cụ già mặc tấm áo chùng mặt mày khắc khổ.


Nhà lưu niệm xây không xa ngôi nhà cũ, lại quá lớn quá cao so với các căn nhà cùng phố. Gian chính giữa bày tượng bán thân của nhà văn tạc bằng đá trắng, uy nghi mạnh mẽ khác hẳn bức tượng bằng cẩm thạch ở thành phố Thượng Hải, nơi ông làm việc những năm cuối đời và từ trần khi mới ở tuổi bốn mươi lăm. Đối với những độc giả quen thuộc với Lỗ Tấn, những thông tin bày trong nhà lưu niệm không có gì mới lắm. Quý nhất có lẽ là các hiện vật: bút tích của nhà văn, những bộ sách cũ, tạp chí Thanh niên do Lỗ Tấn chủ trương, số 1 ra đời năm 1931, dưới măng sét có phụ đề tiếng Pháp La jeunesse. Gây xúc động nhiều là tấm ảnh phóng đại chụp nhà văn lúc lâm chung. Tấm ảnh này, nhà văn - học giả uyên thâm Đặng Thai Mai của chúng ta, người đầu tiên giới thiệu Lỗ Tấn với độc giả Việt Nam, đã được nhìn thấy gần bảy mươi năm trước đây, khi ông tìm mua được ở một hiệu sách Trung Quốc xế chợ Đồng Xuân, Hà Nội, tập Đặc san kỷ niệm ngày mất của “Lỗ Tấn tiên sinh”. Hai mươi lăm năm sau, cụ Đặng nhớ lại suy nghĩ của mình: “Lỗ Tấn chết rồi. Tôi bắt đầu đi tìm Lỗ Tấn”(1)


Gây ấn tượng mạnh cho khách thăm khi vừa đặt chân vào nhà lưu niệm là hai câu thơ quen thuộc Trợn mắt coi khinh ngàn lực sĩ - Cúi đầu làm ngựa đứa nhi đồng khảm bằng chữ vàng lên bức tường cẩm thạch đằng sau bức tượng bán thân của Lỗ Tấn. Bức ảnh chụp lúc ông qua đời bày ở gian cuối cùng. Bên cạnh có mấy câu, dường như là bút tích của chính nhà văn, tổng kết cuộc đời: “Tôi như con bò, suốt đời ăn cỏ làm ra sữa cho người”.


Bên ngoài ngôi nhà cũ của Lỗ Tấn, phố xá tấp nập hối hả người, xe qua lại. Thị trấn Thiệu Hưng ngày nay vẫn thoang thoảng mùi rượu thơm, đang cải cách mở cửa, tiến lên hiện đại. Phòng lưu niệm cũng như “cố cư” của nhà văn thường xuyên đông khách viếng thăm. Không chỉ Lỗ Tấn, không chỉ phủ Thiệu Hưng mà cả nước Trung Hoa tự hào về đứa con nhai cỏ mà làm ra sữa cho người đời.


 


Thiệu Hưng, 2001


 


TRIỀU SÔNG TIỀN ĐƯỜNG


 


Triều đâu nổi tiếng đùng đùng


Hỏi ra mới biết rằng sông Tiền Đường


(Kiều)


Nước triều dâng theo tuần trăng là hiện tượng tự nhiên bất kỳ ở đâu trên trái đất cũng có. Nông dân nước ta gọi lúc ấy là triều cường. Nhưng hiện tượng triều dâng, xua nước sông chảy ngược và tạo nên sóng lớn dữ dội ở cửa sông Tiền Đường tỉnh Chiết Giang (Trung Quốc) đặc biệt hùng tráng và ngoạn mục. Người Trung Quốc từ thời xa xưa đã gọi hiện tượng ấy là “thiên hạ kỳ quan”.


Ngọn triều lớn nhất trong năm xảy ra vào dịp trung thu. Vì vậy trung thu là Tết thưởng trăng; riêng đối với người Chiết Giang, đặc biệt người thành phố Hải Ninh, còn là “Ngày hội quan triều” (xem triều) - và ngày nay là điểm cao của mùa du lịch.


Trung thu năm nay trùng vào ngày kỷ niệm Quốc khánh Trung Quốc 1 -10. Mười sáu năm mới có một lần trùng hợp như vậy. Năm nay lại là năm mở đầu thế kỷ. Cho nên hội xem triều năm nay được tổ chức thành hội lớn, kéo dài suốt một tuần, với tên gọi gợi cảm “đại triều thế kỷ”, thu hút vô vàn khách trong nước và nước ngoài về dự.


Hải Ninh cách thành phố Hàng Châu chưa tới một giờ xe hơi. Sông Tiền Đường chính là con sông chảy cạnh thành phố Hàng Châu, ngược lên Đông Bắc và đổ ra biển thuộc địa phận huyện Hải Ninh. Con đường cao tốc từ thủ phủ tỉnh Chiết Giang về thành phố Hải Ninh rộng thênh thang, hai bên đường là những cánh đồng dâu làm nên lụa Hàng Châu nổi tiếng từ nghìn xưa. Nông thôn hai bên đường đã được quy hoạch và xây dựng lại thành những điểm dân cư san sát nhà ba tầng, cùng một kiểu dáng, cách mặt đường chừng một ki lô mét trở lại. Người bạn cùng đi cho biết đây là vùng thôn quê giàu có nhất Trung Quốc, thu nhập tính theo đầu người ít nơi sánh bằng. Tôi ngắm nghía các khu nhà mới toanh thế kia, nghĩ bụng hẳn là tiện nghi đầy đủ lắm, song dường như đã vĩnh viễn làm mất đi vẻ đẹp truyền thống của xóm thôn.


Càng gần đến thành phố Hải Ninh không khí hội hè càng rộn rã. Không trung lửng lơ xanh đỏ tím vàng bao nhiêu quả cầu bay, chiếc mang dòng chữ thiên hạ kỳ quan, chiếc thì đề thế kỷ đại triều. Các loa truyền thanh mở nhạc hết cỡ. Sân khấu ngoài trời đã đông nghịt khách mời, ngồi ngay ngắn trật tự. Mỗi người chúng tôi được cài lên áo một bông hoa lụa, đeo tòn ten tấm thẻ trước ngực y như đang dự hội nghị quốc tế, lại được phát thêm một chiếc mũ vải và một cuốn chương trình ấn loát công phu. Đã ngồi nghiêm chỉnh từ trước, bên cạnh chiếc ghế dành cho tôi, là một vị khách mặc com lê đen áo cài đủ ba khuy cho dù trời vẫn chang chang tuy đã sang tiết thu. Ông cúi đầu rất thấp khi bắt tay tôi và chìa ngay ra một tấm danh thiếp. Mới biết đấy là vị thị trưởng một thành phố bên Nhật Bản được mời sang dự “Hội quan triều”.


Như đã ghi rõ trong chương trình, ngày hôm nay phải chờ đến đúng mười hai giờ năm phút thì mới quan sát được triều dâng. Tuy nhiên, chờ xong lễ nghi khai mạc và xem qua một vài tiết mục múa dân tộc do đoàn ca múa huyện cho đúng lễ; khi tiếng nhạc hard rock nổi lên và các nữ nghệ sĩ choai choai trong trang phục áo chẽn không cài khuy và quần cộc hở rốn bắt đầu xuất hiện và múa may quay cuồng, thì anh bạn cùng đi bấm tôi. Chúng tôi lặng lẽ lách qua các hàng ghế, lẩn ra ngoài, đi lên đê.


Từ mặt đê cao, có thể nhìn rõ cả một khúc sông dài và rộng mênh mông. Nhìn bèo rác trôi, thấy nước sông đang đổ xiết ra biển. Đây là vị trí tốt nhất để xem triều. Người ta đã xây không biết từ thời nào một ngôi tháp bát giác bảy tầng cao trên bờ sông. Đó là nơi dành cho khách quý ngày xưa. Còn bây giờ thì san sát các lễ đài ghép bằng sắt và nhôm, có gắn những ghế ngồi nhiều bậc được đánh số thứ tự, kéo dài cả cây số trên mặt đê y như trong khán đài danh dự một sân vận động lớn. Bên dưới, chạy dọc theo bãi sông là những hàng rào bằng   nhôm trắng , ngăn không để cho khách xuống  quá gần mép nước. Những người bán hàng rong chạy tới chạy lui chào bán ô che nắng, kính râm và ống nhòm.


Tôi đếm được chín khán đài có mái che, tất cả dễ chứa đến mấy vạn người. Không một chiếc ghế trống, trừ mấy hàng danh dự chắc dành chờ các vị khách quý sẽ đến sau. Có tấm biển ghi rõ, một vé vào khán đài này giá ba mươi nguyên.


Nhiều người nôn nóng đứng lên ngồi xuống, thỉnh thoảng nhìn đồng hồ. Bỗng có ai thốt lên một tiếng; nhiều người cùng ồ lên rồi chăm chăm nhìn về phía chân trời bên trái. Bạn tôi hỏi: “Anh đã nhìn thấy chưa? Đã thấy chưa? Triều bắt đầu lên đấy”.


Một làn sóng trắng đùng đục hiện lên rất xa, vắt từ bờ bên này sang tít tắp không nhìn thấy rõ bờ bên kia, vì sông Tiền Đường quãng này rộng bát ngát. Làn sóng trắng ấy cuộn lên, ngược dòng sông, đẩy nước sông đang chảy xiết dồn trở lại, tạo nên những ngọn sóng bạc đầu, càng đến gần chỗ quan sát càng lớn lên. Theo dự báo của ngành thủy văn, hôm nay sóng chưa cao lắm. Cực điểm là ngày mai và ngày kia, cơn sóng có thể lên cao hơn mặt nước sông gần hai mét rưỡi. Đó là điểm cực đại, sau đấy dần dần hạ xuống; hết tuần thì trở lại mức bình thường. Sở dĩ diễn ra hiện tượng này vì cửa sông Tiền Đường như cái phễu, phía ngoài mở rộng đón thủy triều, vào sâu trong đất liền thì sông thắt hẹp lại như đuôi phễu, chịu áp lực nước từ biển dồn vào. Dòng sông ở đây lại chảy xiết. Hai luồng nước ngược giao nhau, cuộn lên tạo thành sóng lớn chuyển động. Sóng biển mạnh hơn, đẩy nước sông lùi lại và từ từ tiến tới; cho đến khi áp lực bằng không thì cơn giận dữ của thiên nhiên dịu xuống, mặt sông trở lại bình thường.


Ngọn trào trước mặt chúng tôi vẫn cuồn cuộn ngược dòng. Quả thật ở xa tôi không nghe có ”tiếng sóng đùng đùng” như cụ Nguyễn Du viết. Nhưng nhìn những con sóng bạc dữ dội, nghĩ đến thân phận người con gái phải gieo thân xuống dòng nước xiết kia thì thật đáng hãi hùng cho nàng Kiều.


Ngọn triều tiếp tục dâng rồi mất hút về chân trời phía thượng lưu. Mọi người lục đục đứng lên. Tôi nhìn đồng hồ. Quang cảnh hùng vĩ ấy diễn ra gọn trong mười một phút.


Chiết Giang, 2001


 


 


MỘT THỜI CHƯA XA


 


Khách sạn Hải Vịnh đúng là một địa điểm tuyệt vời để từ đó quan sát toàn cảnh thành phố Thượng Hải, bắt đầu từ khu phố cổ ở phía Tây sông Hoàng Phố đến vùng đất mới, Phố Đông. Có lẽ vì vậy mà nó mang cái tên tiếng Anh The Panorama Hotel chăng. Khách sạn tọa lạc ở ngã ba nơi Dự Châu Hà (ngày xưa có tên là sông Ngô Tùng) đổ vào sông Hoàng Phố ngày đêm cuồn cuộn, sóng rập rình xô mạnh vào hai bên bờ dù trời yên gió lặng. Dòng sông không lúc nào ngơi ngược xuôi tàu to tàu nhỏ - những chiếc sà lan đen đủi chở hàng nặng đến mức ta có cảm giác nó sắp chìm xuống đáy sông, những tàu du lịch sáng ngời nhôm kính lướt sóng băng băng như thể đáy tàu không chạm mặt nước, những hạm viễn dương thỉnh thoảng lại hụ lên một hồi còi trầm xa vắng, những chiếc ca nô dã chiến của hải quan, biên phòng bay như tên bắn... Trong khi Dự Châu hà thì vẫn nhẫn lại trườn qua khu phố cũ, chịu cho hàng chục chiếc cầu vắt ngang lên mình, chẳng khác mấy một con kênh mới đào trong nội thị. Ngày nay có ai buồn nhớ, xưa kia khi Thượng Hải chưa ra đời, Ngô Tùng giang là con đường huyết mạch thông từ nội địa trù mật ra biển Đông. Thành phố Thanh Long trên bờ sông Ngô Tùng xưa không đơn thuần là một trung tâm hành chính mà còn là một hải cảng nhộn nhịp vào bậc nhất vùng Giang Nam(1) .


Buổi sáng nấn ná trong nhà hàng sang trọng ở tầng ba mươi của khách sạn sau buổi điểm tâm, nhâm nhi nốt ly cà phê, bạn phóng mắt về phía Tây hoặc phía Nam, xuôi theo ánh mặt trời chói trang vừa mọc, sẽ bao quát trong tầm nhìn hầu như toàn bộ khu phố Thượng Hải cũ. Bên này sông Hoàng Phố, vẫn còn rất nhiều mái ngói rêu phong chen giữa những cao ốc chọc trời và những con đường thẳng tắp, thênh thang mới mở. Đến người Thượng Hải gốc cũng khó phỏng đoán nơi đây xưa kia từng là phường phố gì, những dinh thự một thời vang bóng nay chẳng biết khép nép ở góc nào bên cạnh những “tân lâu”, “đại hạ” mới toanh ngạo nghễ kia.


Buổi chiều, ngó về hướng Đông để khỏi bị lóa nắng, thì trước mắt bạn hiện lên càng rõ nét hơn dưới ánh mặt trời khu phố mới bên bờ Đông sông Hoàng Phố. Cao ngất nghểu và tưởng như nằm sát ngay mép sông là tháp truyền hình Đông Phương Minh Châu, niềm tự hào của dân thành phố. Rồi san sát những cao ốc khu tài chính ngân hàng hình thành chưa lâu, mà những người thích ví von khẳng định nó đúng là Wall Street của Trung Quốc. Những xa lộ chạy tít tắp không biết về đâu bởi xa quá tầm mắt ta, nhưng nhờ các biển báo dẫn đường, rồi bạn có thể chắc chắn đấy là những trục dẫn về sân bay Phố Đông cực kỳ hiện đại mới được khai trương chưa lâu nhằm phục vụ kịp đà phát triển của thành phố.


Người Thượng Hải mê mải làm ăn trong cuộc sống cạnh tranh thời hiện tại và say đắm ngóng về tương lai, chẳng mấy ai quan tâm đến quá khứ chưa xa của thành phố. Vả chăng tuyệt đại bộ phận người Thượng Hải, cũng như của mọi thành phố khác lớn lên với nhịp độ quá nhanh, chẳng phải là người gốc gác nơi đây. Kiến thức của họ về Thượng Hải xưa có lẽ không vượt quá phạm vi các bộ phim truyện nổi tiếng chiếu trên truyền hình.


Thật ra, quá khứ chưa xa của Thượng Hải ngồn ngộn chi tiết gợi cảm. Nói “chưa xa”, bởi cách đây mới có trên dưới nửa thế kỷ, ăn nhằm gì so với lịch sử năm nghìn năm của đất nước vĩ đại này. Quá khứ vẫn hiện diện kia, cũng có khi trừu tượng mơ hồ song tồn tại nhiều hơn dưới dạng vật chất qua những công trình kiên cố và những di tích đang được trân trọng bảo tồn. Chẳng cần đi đâu xa, hãy nhìn xuống chân khách sạn Hải Vịnh này. Bạn trông thấy kia một chiếc cầu sắt cổ, mặt cầu quá hẹp nếu so với quy cách cầu đường thời hiện đại. Đó là Ngoại Bạch Độ kiều bắc qua sông Dự Châu, đúng vào nơi nó nối với sông Hoàng Phố. Sát bên cầu, tòa nhà kiến trúc kiểu Tây phương đầu thế kỷ XIX, phất phới lá cờ ba màu đỏ, trắng, xanh đen: Tòa Tổng lãnh sự quán của Liên bang Nga tọa lạc ở đây từ trước Cách mạng Tháng Mười.


Trong thời gian một trăm năm mươi năm tồn tại, chiếc cầu sắt chứng kiến biết bao chuyện đổi thay, đủ để viết nên nhiều pho sách về những gì từng đi qua bên cạnh nó. Bởi Ngoại Bạch Độ kiều là chiếc cầu nối liền khu biệt cư của người Anh với khu biệt cư người Mỹ, và trong chiến tranh Trung - Nhật là ranh giới giữa vùng quân Nhật chiếm đóng với vùng tô giới quốc tế. Tất cả mọi người dân Trung Hoa thời này có việc đi qua cầu đều bắt buộc phải ngả nón cúi đầu chào tên lính Nhật đứng gác ở trạm canh đầu mố, nếu không muốn nó tống cho một quả đấm vào mặt hoặc xỉa mũi lê vào người. Có lần lính Nhật đã hung hãn ném một cụ già người địa phương xuống Dự Châu hà, trước cái nhìn dửng dưng của đồng bọn và trong tiếng cười hô hố của bọn lính Anh đứng gác đầu cầu phía bên tô giới quốc tế.


Qua khỏi cầu, ta theo đại lộ Trung Sơn xuôi về phía Nam, cũng chính là men theo dòng sông Hoàng Phố trên bờ đê nổi tiếng thế giới. Địa danh lịch sử đầu tiên ta gặp là Công viên Hoàng Phố lộng gió có từ  thời xa xưa, đối diện với công viên Phố Đông rộng lớn hơn mới mở mang sau này ở bờ bên kia. Công viên nằm ven mặt đê cạp đá, dân địa phương gọi là than - bãi sông hoặc bến sông - chẳng có gì đặc biệt lắm ngoại trừ vị trí tự nhiên thuận lợi của nó. Đứng nơi đây, tầm mắt bao quát một khoảng trời nước mênh mông, gió sông rời rợi giúp bạn tạm quên đi cái oi bức dữ dội của chiều hè. Sau lưng bạn, bên kia đường, san sát những công thự cao lớn, uy nghi, kiến trúc nửa cổ điển nửa hiện đại theo đúng mô hình phố xá bên Tây - mà trên thực tế nó cũng chẳng thua kém bất kỳ khu phố sang trọng nào ở đô thành London cổ kính hoặc Paris hoa lệ.


Công viên Hoàng Phố được nói đến nhiều vì nó thuộc tô giới quốc tế. Mọi sinh hoạt trong các khu nhượng địa này đều thuộc quyền sinh quyền sát của nhà cầm quyền nước ngoài, mà người dân lao động Thượng Hải thời trước thật khó hiểu nổi, chính quốc chúng ở nơi xa lắc xa lơ hùng mạnh đến mức nào mà một nhóm người dám sang làm vương làm tướng tại đất thiên triều này. Công viên xưa kia là nơi hóng mát, dạo chơi của những người sang trọng, đồng thời là chốn bàn bạc, cam kết, thực thi những phi vụ hợp pháp hoặc mờ ám giữa các đại gia tư bản hay phái viên ủy nhiệm của họ. Công viên ghi đậm một vết không bao giờ tẩy sạch trong lịch sử chủ nghĩa thực dân với tấm biển ngạo mạn: “Cấm chó và người Trung Hoa vào”. Chẳng ai bịa ra đâu. Nguyên văn chữ Anh chép rành rành giấy trắng mực đen trong Bộ luật vàng của “đế quốc Anh, nơi mặt trời không bao giờ lặn”: Dog and chinese Not Allowed. Điều mỉa mai là công viên này được xây dựng nên và chăm chút hằng ngày bởi công quỹ, nghĩa là tiền của những người đóng thuế, trong đó người Trung Quốc giàu sụ sống trong tô giới đông gấp mấy trăm lần những tên thực dân và nhà kinh doanh da trắng.


Ngày nay uy nghi lẫm liệt giữa công viên là bức tượng đồng toàn thân Nguyên soái Trần Nghị, người chỉ huy phương diện quân giải phóng Thượng Hải và là vị thị trưởng đầu tiên của thành phố, ngày đêm nhìn xuống hàng triệu người Trung Hoa và khách du lịch nước ngoài qua lại quanh đài kỷ niệm những chiến sĩ đã ngã xuống vì sự nghiệp khôi phục phẩm giá đất nước.


*


Mọi sự  bắt đầu từ một ngày hè oi bức nửa đầu thế kỷ mười chín. Thời kỳ này đất nước Trung Hoa dưới sự cai trị của triều đình Mãn Thanh ruỗng nát, lâm vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng. Chính sách bế quan tỏa cảng lỗi thời, xuất phát từ cái nhìn coi mọi người không phải Trung Hoa đều là kẻ hạ đẳng, là giống man rợ, làm sao giúp đất nước giữ yên được bờ cõi. Nhân danh quyền tự do giao thương, đế quốc Anh tìm mọi cách khuyến khích việc tuồn thuốc phiện mua từ Ấn Độ với giá rẻ mạt vào Trung Hoa và bán giá cao - càng dễ cao vì thuốc phiện là mặt hàng bị chính thức cấm đoán. Thương nhân Anh thu nguồn lợi lớn không thể tưởng tượng. Nền kinh tế Trung Hoa kiệt quệ. Các sử gia châu Âu ghi nhận, vào những thập niên đầu thế kỷ mười chín, riêng thuốc phiện nhập khẩu chiếm một nửa kim ngạch ngoại thương toàn Trung Hoa thời ấy.


Sự phản ứng của nhà cầm quyền Mãn Thanh đã thiếu cân nhắc lại mang tính kẻ cả cố hữu của triều đình. Tháng 6 năm 1840, một viên quan tên là Lâm Tắc Từ bất thần ra lệnh tịch thu và thiêu hủy hơn hai vạn hòm thuốc phiện do Công ty Đông An Độ của người Anh nhập khẩu, tạo nên cơ hội ngàn vàng cho đế quốc Hồng Mao. Nhân danh quyền tự do giao thương bị vi phạm, chúng ngang nhiên phát động cuộc chiến tranh xâm lược mà lịch sử sẽ gọi là Chiến tranh thuốc phiện. Thành phố Quảng Châu bị bao vây. Thị trấn Định Hải ở phía Nam Thượng Hải thất thủ. Phóng viên tờ Times xuất bản tại Luôn Đôn hớn hở đưa tin: “Lần đầu tiên quốc kỳ Anh tung bay trên một mảnh đất của Đế quốc Trung Hoa. Ngày Chủ nhật mùng năm tháng bảy (1840), Chu Sơn rơi vào tay người Anh. Như vậy là từ nay có thêm một điểm cư dân nữa ở Viễn Đông được cộng vào Vương triều chúng ta!”


Tháng 6 năm 1842, hạm đội Anh dưới quyền chỉ huy của phó Đô đốc William Parker nã đại bác vào pháo đài Ngô Tùng. Báo Illustrated London News tường thuật cuộc đánh chiếm Thượng Hải như sau:“...Chiến hạm Nemesis tiếp tục pháo kích thành phố Thượng Hải đã bị quân ta chiếm được. Các dinh thự bị đốt cháy, các kho lương thực của chính phủ được mở tung cho dân chúng vào hôi của. Thế nhưng đại pháo vẫn tiếp tục bắn phá không ngớt thêm hai giờ...”


Triều đình Mãn Thanh nuốt nhục hạ bút ký Điều ước Nam Kinh, mở năm cửa khẩu lớn là Quảng Châu, Phúc Châu, Ninh Ba, Hạ Môn và Thượng Hải cho người phương Tây vào tự do buôn bán, đồng thời phải chịu bồi thường chiến phí tới hai mươi mốt triệu lạng bạc!


Một trang lịch sử đầy nghịch lý của Thượng Hải bắt đầu.


Người Anh ghé được một chân lên lãnh thổ Trung Hoa. Nhưng, tháng 11 năm 1842, khi viên lãnh sự đầu tiên của Anh, Đại úy George Balfour đến Thượng Hải nhận việc, trong toàn thành phố này vẻn vẹn hai mươi ba gia đình người Anh. Trong thập niên tiếp theo, mới có nhiều nghìn người Anh khác từ chính quốc hoặc từ các nơi khác trên thế giới đổ về Thượng Hải, mang theo và thiết lập nên ở đây một lối sống xa lạ. Tuy nhiên, trong thâm tâm không mấy người Anh hồi ấy nghĩ “đến đây để ở lại đây”. Chưa mấy ai nghĩ Thượng Hải rồi sẽ trở thành một mảnh đất hứa. Một thương nhân phát biểu thẳng thừng với viên lãnh sự: “Tôi hy vọng trong vòng hai hoặc ba năm, kiếm được một đống tiền rồi chuồn đi nơi khác. Bởi vậy đối với tôi, có là vấn đề gì nếu sau khi tôi giã từ nơi đây, Thượng Hải bị thiêu rụi bởi hỏa hoạn hay đắm chìm trong lũ lụt? Ông chớ có hy vọng những người ở vào địa vị chúng tôi chịu kéo dài cuộc lưu đày của mình nơi khí hậu khắc nghiệt độc hại cho sức khỏe này vì sự phồn vinh của hậu thế. Chúng tôi là những người chuyên đi kiếm tiền, những con người thực dụng. Nghề nghiệp của chúng tôi là làm sao kiếm được tiền, càng nhiều càng nhanh càng tốt...”


Những người phương Tây đầu tiên đến lập nghiệp lâu dài trong các vùng tô giới Thượng Hải, ở bờ Tây sông Hoàng Phố hồi thế kỷ mười chín là ai? Trước hết dĩ nhiên là người Anh, người Mỹ, người Pháp..., trong số đó không ít kẻ phiêu lưu. Sau khi Nhật Bản đánh thắng cuộc chiến tranh Trung - Nhật năm 1894, nhiều người từ các đảo Phù Tang chật chội đổ xô đến Thượng Hải. Rồi tiếp đó, sau Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, đến lượt những người Nga trắng chạy trốn đất nước để khỏi phải trả lời về tội lỗi của mình. Tiếp nữa là làn sóng những người Do Thái vốn nổi tiếng nghề thương mại, di cư tránh chính sách diệt chủng của chủ nghĩa Phát xít do Hitler cầm đầu. Những cộng đồng đông đảo, nguồn gốc và văn hóa khác nhau ấy đã cùng nhau tạo nên bộ mặt đặc thù của Thượng Hải, tạo dựng nhiều thành phố nhỏ trong một thành phố lớn, những Tiểu Paris, Tiểu Tokyo, Tiểu Viena... Đặc biệt là các khu tô giới của nước ngoài, ở đó bọn thực dân da trắng cùng bầu đoàn thê tử và tay chân của họ sống trên đất nước Trung Hoa mà không thèm đếm xỉa đến Luật pháp Trung Quốc; đến lượt những người da trắng coi người bản địa và những ai không tóc quăn mũi lõ đều thuộc giống người hạ đẳng, kém văn minh...


Trong các khu nhượng địa chính quyền Mãn Thanh cắt cho người phương Tây, thì để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử phát triển kinh tế thương mại thành phố Thượng Hải có lẽ là tô giới Anh - Mỹ (còn gọi là tô giới quốc tế, sau khi hai vùng hợp nhất năm 1863) và trong lối sống là tô giới Pháp.


*


Khu tô giới Anh kéo dài dọc theo sông Hoàng Phố từ Dự Châu hà, nơi có cây cầu nổi tiếng Ngoại Bách Độ kiều đến một con lạch có tên là Dương Linh bang (bang là con sông nhỏ). Từ đây là tô giới Pháp chạy mãi đến tận chân thành cổ Thượng Hải. Con bang ấy nay không còn. Nó đã được san lấp để làm thành một đại lộ. Và bởi đại lộ này thuộc “đất Anh”, dĩ nhiên người Anh lấy danh hiệu một nhà vua của mình đặt tên cho nó:Edward VII Str. Người Pháp chẳng có lý do gì để không chấp thuận. Song, làm sao có thể để cho ngôn ngữ của Shakespeare lấn lướt văn tự của Victor Hugo. Bởi vậy, cùng một từ ấy, mặt phố bên kia mang bảng dẫn đường viết theo tiếng Anh, ở mặt phố bên này, người Pháp viết theo cách của mình: Rue Edouard VII. Ngày nay biển phố này dĩ nhiên mang chữ Hoa: Diên An đông lộ.


Người Anh, người Pháp, người Mỹ, người Nhật vừa ghé được chân lên Thượng Hải thì đua nhau bành trướng chéo đất của mình. Tô giới Anh, theo điều ước, thoạt tiên chỉ rộng có một dặm vưông. Thế mà xoay xở một hồi, thời gian sau, nó phình ra tới hơn tám dặm. Tô giới Pháp lúc đầu còn khiêm tốn hơn. Vẻn vẹn một phần tư dặm còm. Nơi làm việc của viên lãnh sự Pháp còn phải đặt trong một ngôi nhà thuê lại của một linh mục truyền giáo ở bờ Nam con lạch Dương Linh. Nhưng làm sao người Pháp chịu kém người Anh cơ chứ. Ấy thế là họ phù phép, ít lâu sau phần đất nhường cho họ nở ra gấp mười sáu lần, rộng tới bốn dặm vuông. Đến nước này thì nhà cầm quyền Trung Hoa không thể không lên tiếng. Nhưng, đằng nào mọi sự đã an bài. Hệ thống cơ sở hạ tầng điện, nước, giao thông... đã được lắp đặt, do nước ngoài quản lý và thu lãi, không dừng lại trong phạm vi tô giới mà còn vươn xa ra ngoài thành phố. Dĩ nhiên nước ngoài giành quyền tiếp tục kinh doanh, tiếp tục thu phí, tiếp tục hốt lãi... Những chi tiết nhỏ nhặt, song điển hình cho sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân.


Sự đời chỉ đổi thay về cơ bản sau khi thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, tháng 10 năm 1949.


Không thể phủ nhận chủ nghĩa tư bản phương Tây đã góp phần làm cho Thượng Hải trở thành một trung tâm kinh tế thương mại nổi tiếng trên toàn thế giới. Người Trung Hoa thời trước nói đến Thượng Hải, đến con người và sản vật được làm ra ở đây, là nói đến cái gì lịch sự, hiện đại, cải tiến, tân kỳ, chất lượng tốt, mang hơi hướng Tây phương... Mua hàng hóa made in Shanghai bạn có thể yên tâm về chất lượng và mẫu mã. Thời trang Trung Quốc khởi đầu từ Thượng Hải, giống như thời trang Pháp là thời trang Paris. Ăn mặc kiểu Thượng Hải đối với người Trung Quốc hồi ấy đồng nghĩa với trang phục hào hoa.


So với tiêu chuẩn Trung Hoa về không gian và thời gian, Thượng Hải là một thành phố mới, chỉ có mấy trăm năm. Người bản địa vốn chiếm phần nhỏ trong cư dân thành phố. Thượng Hải là đất hốt bạc và ăn chơi của giới tư bản phương Tây, là nơi nhiều nhà doanh thương Trung Quốc tài năng phất lên nhanh chóng, là nơi nông dân nghèo các vùng lân cận đổ về tìm kiếm công ăn việc làm, là nơi xã hội đen tồn tại ngang nhiên và phổ biến. Và đương nhiên cùng với đà phát triển công nghiệp, là một trong những cái nôi sớm nhất của vô sản Trung Hoa. Thượng Hải lừng danh là “Paris phương Đông”, “Thủ phủ của các tài công”, đồng thời chịu tiếng “Thiên đường của những kẻ phiêu lưu”, “Chốn đàng điếm châu Á” là do vậy.


Tuy nhiên sẽ rất sai lầm nếu nghĩ rằng sự hoành tráng của Thượng Hải mới bắt đầu có từ khi có người Au Mỹ đến đây lập nghiệp. Thành phố này đã trở thành một thương cảng quốc tế lớn từ ba trăm năm về trước. Theo ghi chép của các thương nhân và nhà truyền giáo châu Âu, đầu thế kỷ mười tám, mỗi tuần đã có không dưới bốn trăm tàu buồm lớn đăng ký ghé thương cảng này - ấy là chỉ tính được những tàu “có đăng bạ”. Ngay trước khi Thượng Hải bị ép mở cửa cho nước ngoài tự do giao thương, khối lượng vận chuyển hàng hóa của Thượng Hải đã ngang ngửa, nếu không vượt trội hơn, khối lượng hàng bốc dỡ ở Luân Đôn cùng thời.


Du khách các nơi ngày nay đến Thượng Hải, thế nào cũng thu xếp để thăm viếng khu phố cổ, mua sắm ở nơi buôn bán cực kỳ sầm uất mang cái tên lạ là Miếu Thành Hoàng, hay thơ thẩn dạo chơi trong Dự Viên, một khu vườn cảnh xây dựng từ thế kỷ mười sáu, không thuộc tài sản các vương triều và vì vậy có thể nói là có một không hai.


Đặc điểm của khu phố cổ Thượng Hải là những đường phố trục khá rộng, hai bên chỉa ra như xương cá cơ man là ngõ là ngách hẹp sâu tít mù. Hai bên những ngõ, ngách này là những ngôi nhà nhỏ, phần lớn một hoặc hai tầng, nhiều nhà nay còn giữ được mái ngói rêu phong. Mỗi nhà là một cái ống hun hút nhờ nhờ ánh sáng, có trời biết được có gì chứa ẩn nơi tận cùng của nó. Thỉnh thoảng chen vào giữa những nếp nhà sin sít ấy một ngôi chùa phất phơ cây phướn, một cái miếu hoặc từ đường trang trí rồng phượng rối rắm. Gian mặt tiền các nhà ở là cửa hàng, văn phòng giao dịch, tửu điếm, trà quán, hiệu ăn... Cửa hàng nào cũng luôn luôn đầy ắp hàng hóa, tửu điếm trà quán nào cũng đông khách ồn ào từ sáng tới khuya, chùa miếu từ đường nào cũng ngột ngạt khói hương quanh năm suốt sáng. Đường ngõ nào cũng ngổn ngang xe cộ chậm rãi len lách qua khách bộ hành đang nghiêng ngó giữa lòng đường.


Khách du từ phương xa đến có thể mua sắm hàng hóa lặt vặt, văn hóa phẩm hoặc vật kỷ niệm như hàng thêu tinh tế, tượng đá đủ màu chế tác tinh xảo, với giá rẻ đến bất ngờ. Có điều xin lưu ý trước, hàng mua ở Miếu Thành Hoàng chẳng có gì bảo đảm made in Shanghai đâu.


Chen lấn, ngó nghiêng, mặc cả kỳ chán, cho đến khi mỏi dừ đôi chân thì bạn có thể dừng lại, đưa tay đẩy bất kỳ một cánh cửa nào bên trên có treo chiếc đèn lồng lụa điều muôn thuở, dấu hiệu để nhận biết tửu quán, trà lâu. Không phải đã được vào ngay nhà hàng đâu, mà thường còn phải leo lên một cầu thang hẹp. Bạn sẽ gật đầu ra hiệu chào ông chủ béo tốt ngồi canh ở cửa, trước khi bước vào gian gác sàn gỗ cót két theo mỗi bước chân. Những người sành ẩm thực tại khu phố cổ thường đến sớm, trước giờ đông khách để dễ kiếm được chỗ ngồi. Nhưng cho dù bạn cẩn thận đến đâu, vẫn có những người đến trước và chiếm hết những nơi thoáng đãng rồi. Còn những ai quen giờ giấc bên Tây, nghĩa là chỉ dùng bữa sáng từ sau chính Ngọ trở về chiều, thì xin các bạn vui lòng xếp hàng. Những ông comlê càvạt đạo mạo kiên nhẫn nối đuôi sau các cô đầm choai choai áo thun quần soọc ba lô lếch tha lếch thếch, thỉnh thoảng hàng người lại phải nép sát vào nhau nhường lối cho khách vừa dùng xong bữa đi ra, cảnh tượng ấy trông đến là hay. Có điều cầm chắc là bạn đã đến đây sẽ được ăn thực phẩm tươi sống chế biến tuyệt vời, với giá rẻ đáng ngạc nhiên và nhất là được phục vụ nhanh... như điện, chắc hẳn để bù vào chỗ bạn mất công xếp hàng chờ. Khách vừa buông đũa chưa kịp đứng lên, đã có hai người hầu sẵn, một anh cầm chiếc khăn trải bàn sạch, một chi ôm chồng đĩa bát ly thìa sán vào thay ca. Cảnh ấy ít ra cũng đủ làm lóe lên niềm hy vọng ở dãy người rồng rắn.


Nếu có thời giờ nhẩn nha, mời bạn ghé trà quán Hồ Tâm Đình - đình xây giữa lòng hồ, đúng như tên gọi. Trà quán này có mặt ở tất cả mọi cuốn sách hướng dẫn du lịch về Thượng Hải xuất bản bên Mỹ bên Anh. Hồ không lấy gì làm rộng, độ sạch của nước đáng nghi ngờ. Đình thực ra là mấy nếp nhà cổ áp sát vào nhau, cái hình vuông, cái lục lăng, cái bát giác, nhà nào cũng có mái đao cong, chóp nhọn và lợp ngói lưu ly. Đình xây trên các cọc nguyên sơ chắc bằng gỗ tốt, nay được gia cố thêm bê tông cốt thép để chịu đựng bước chân hàng vạn người hằng ngày tới lui. Mọi lan can, cửa giả đều chạm trổ tinh vi, phủ lớp sơn đã bóng lộn càng thêm mượt mà nhờ thấm đượm mồ hôi tay của triệu thực khách. Gọi là đình, nhưng gió không lọt vào. Mọi phòng ốc đã lắp kính kín mít để sử dụng máy điều hòa không khí, chống sự oi nồng gay gắt ngày hè. Để từ cổng đi vào tận đình, bạn phải chậm bước trên chiếc cầu gỗ dựng là là mặt nước, hai bên có lan can tiện cũng bằng gỗ đẹp. Cầu gấp đủ chín khúc - chắc hẳn để tăng thêm cảm giác về độ dài vì mặt hồ chẳng lấy gì làm rộng, và cũng có lẽ vì số chín là con số hên đối với người phương Đông chăng.


Dự Viên thật sự là một thắng cảnh. Đây là công trình cầu kỳ của một vị đại thần họ Phan nào đó vào thế kỷ mười sáu tạo dựng lên. Một khu đất rộng với những lối đi không thể đoán trước, sẽ lần lượt hé mở để du khách bất ngờ thưởng thức những công trình xây dựng: nhà cửa, đình cầu, nơi hóng gió, chỗ ngâm thơ mọc lên giữa suối, khe, núi, động cùng bao nhiêu cây kỳ cỏ lạ hoa quý... Nghe đồn xưa kia vườn có cả chim muông. Có một khối đá thạch bích đồ sộ được chở đến từ miền Nam Trung Hoa xa xôi cách trở. Tương truyền một vị hoàng đế triều Bắc Tống có nỗi đam mê sưu tầm những vật lạ trên đời; tảng đá kỳ thú này vốn được trời sinh ra từ đâu đó tận miền núi rừng hiểm trở tỉnh Quý Châu hoặc Vân Nam. Theo lệnh vua nó phải tỉnh giấc mà trườn mà lội lên kinh kỳ. Vừa đến sông Hoàng Phố thì chẳng may gió bão đánh chìm bè... Khối đá chìm nghỉm xuống đáy sông. Chẳng có cách gì cứu vật lạ, cũng như chẳng ai làm được gì trước sự suy vong của triều Bắc Tống. Khối đá nằm yên đấy mấy thế kỷ. Họ Phan bỏ tiền ra mua, và cho phá dỡ cả một mảng tường để chuyển vào đặt trong vườn Dự.


Đến lượt gia đình họ Phan sa sút, Dự Viên rơi vào hoang phế. Tới giữa thế kỷ mười tám, một số nhà doanh thương tai mắt trong thành phố cám cảnh, đứng ra quyên góp lấy tiền khôi phục và tu bổ khu vườn như hiện nay.


Khu phố cổ Thượng Hải xưa kia có thành cao hào sâu bao bọc. Khoảng giữa thế kỷ mười sáu, Thượng Hải bắt đầu hưng thịnh, sông Hoàng Phố là ngõ giao thông với nước ngoài, đồng thời cũng là nơi bọn hải tặc từ phía Đông thường xuyên vào cướp phá. Mùa xuân năm 1553, trong vòng hai tháng bọn cướp từ các đảo Phù Tang năm lần tập kích vào cướp bóc. Mùa thu năm ấy, nhà cầm quyền phải đi đến quyết định táo bạo xây thành cao đào hào sâu bảo vệ dân an cư lạc nghiệp.


Thành Thượng Hải xưa dài năm ki lô mét, cao hơn tám mét. Thành có sáu cổng đêm đêm đóng lại sau canh hai; không kể những cống thoát nước đồng thời là những ngõ giao thông đường thủy và cũng có thể đóng mở khi cần. Trên thành dựng hai tháp canh cao và trổ đúng ba nghìn sáu trăm lỗ châu mai. Chung quanh thành có hào sâu bao bọc. Một kiến trúc phòng vệ thật sự ghê gớm. Mà quả thật, nhờ có thành này, nạn hải tặc đột kích vào cướp phá dân lành bị chặn đứng.


Thành cổ tồn tại ba trăm năm mươi chín năm, cho đến năm thứ hai sau khi thành lập Trung Hoa dân quốc (1912) mới bị san bằng. Thành cũ trở thành con đường vành đai. Du khách ngày nay chạy xe trên con đường vòng tròn khó mà nhận biết nếu không được giới thiệu trước. Đến người Thượng Hải gốc còn không rõ nguồn gốc của nó nữa là.


Mặc dù Thượng Hải có bước phát triển và hiện đại hóa rất mạnh mẽ mấy thập niên lại đây, khu phố cổ về cơ bản vẫn không bị biến dạng. Đương nhiên không thể thiếu những cải tạo cần thiết như mở mang đường sá, nâng cao kết cấu hạ tầng... Quy hoạch đúng đắn hướng sự mở rộng thành phố sang phía Đông sông Hoàng Phố nơi đất đai chua mặn còn bạt ngàn, tạo điều kiện cho khu phố cổ giữ được cảnh quan, phong thái và hương vị đặc biệt Trung Hoa của nó.


*


Sự phồn thịnh của Thượng Hải thể hiện rõ nét nhất ở khu phố cũ, nơi xưa kia có các tô giới nước ngoài. Đường Nam Kinh (tên cũ là Garden Lane), gợi nghĩ tới những lanes quen thuộc ở kinh thành Luân Đôn. Có người còn muốn ví nó với đại lộ Champs Elysées ở thủ đô Paris. Nam Kinh chắc hẳn là một con đường đẹp nhất, và có lẽ vào loại dài nhất ở thành phố cũ, chia thành Đông lộ và Tây lộ. Hai mươi sáu đường phố khởi phát từ Nam Kinh lộ đổ xuống phía Nam đến tận khu phố cổ, tạo thành những ô bàn cờ phố xá đẹp đẽ tiện nghi với cuộc sống ngày đêm sôi động.


Đường Nam Kinh bắt đầu từ trước công viên Hoàng Phố, với một tòa nhà bề thế và sang trọng: Khách sạn Hòa Bình - Peace Hotel. Dưới cái tên khiêm tốn, khách sạn mới bao gồm cả hai cánh ngày xưa, bên này là Palace Hotel và bên kia Cathay Hotel, những “đại hạ” thường xuyên được báo chí Anh quảng cáo là “Những hòn ngọc của ngành khách sạn bên Viễn Đông”. Cùng một dãy với khách sạn Hòa Bình và cùng ngửa mặt đón gió sông Hoàng Phố là những công trình kiến trúc rất đẹp tạo cho khu phố này của Thượng Hải dáng dấp cổ điển Au châu. Ngày nay đó là Tòa thị chính và trụ sở Hội đồng nhân dân thành phố, nhà Hải quan, cửa hàng Bách hóa (xưa là The Sun, một trong Big Four của thành phố cũ), khách sạn Đông Phương (vốn là Shanghai Club vang bóng một thời). Cạnh trụ sở Ngân hàng Trung Quốc còn có nhiều ngân hàng lừng danh thời trước nay đã thay tên đổi chủ: Hongkong and Shanghai Bank, the Oriental Bank, the Mercantile Bank, the Chartered Bank, le comptoir d`Escompte de Paris... Những cái tên đến là rối rắm và lạ lẫm đối với người Thượng Hải ngày nay.


Cũng như nhiều trung tâm thành phố lớn khác trên thế giới, đường Nam Kinh có một quãng dành riêng cho người đi bộ dạo chơi và mua sắm hàng hóa. Vỉa hè được dỡ bỏ, mặt đường lát đá nhẵn thín tràn vào tận cửa các cửa hiệu nhà hàng hai bên. Du khách tha hồ thả bộ, thoải mái quá bước vào bất cứ hiệu nào mà nhìn ngắm hàng họ. Những người bán hàng đứng khuất không biết ở một nơi nào lặng lẽ quan sát động thái của khách, họ chỉ xuất hiện để niềm nở chào mời khi bạn thoáng tỏ nhu cầu mua thức gì đấy. Ở đây đúng là trên trời dưới hàng hóa - trời đã hẹp lại, vì bị các nhà cao tầng lấn lướt.


Đặc biệt rộn rịp là những dịp hội hè truyền thống của người Trung Hoa. Phố Nam Kinh ngày nay không chỉ có ông tây bà đầm đi du lịch. Phần lớn là các nhà doanh nghiệp và nhân dân lao động. Tôi có dịp đến đây đúng vào đêm Quốc khánh Trung Quốc, và lần ấy may sao trùng hợp với tiết trung thu. Công viên Hoàng Phố, quảng trường Nhân Dân, đường Nam Kinh cũng như các phố lớn khác ở Thượng Hải tràn ngập người từ khắp nơi đổ về thăm Thượng Hải. Họ là công nhân viên chức, là những người làm công ăn lương tranh thủ dịp nghỉ bắc cầu dài hơn một tuần lễ để thăm viếng đó đây. Nhiều đôi vợ chồng mang theo con nhỏ, có khi là cả gia đình. Ông bà, con cái, chị em quây quần vừa đi chơi vừa lo lắng chăm chút một hoàng tử tí hon, bởi cả hai bên nội ngoại có mỗi một mụn ấy. Chỉ thấy người và người ngược xuôi đi lại trong ánh đèn huỳnh quang trang trí rực rỡ xanh đỏ tím vàng và những chớp sáng hầu như không lúc nào ngơi của đèn máy ảnh. Thời buổi vật liệu ảnh sản xuất trong nước bày la liệt với giá phải chăng, những chiếc máy ảnh tối tân tuy mang tên Nhật tên Mỹ nhưng toàn lắp ráp nội địa, chơi ảnh không còn là đặc quyền của giới thượng lưu, ai dại gì chẳng cầm theo cái máy nắm gọn trong lòng bàn tay, biết đâu rồi chẳng ngáp được một vài pô độc đáo mang về khoe với bạn bè chuyến viếng thăm nơi đô hội phồn hoa nhất nước.


Tuy nhiên, theo những người am hiểu Thượng Hải thời xưa, đại lộ Nam Kinh (Garden Lane do người Anh quản lý) sầm uất nhưng chưa hẳn là sang trọng. Nam Kinh là phố tài chính ngân hàng, phố đầu tư kinh doanh. Đến phố Nam Kinh là để tìm cơ hội làm giàu. Còn muốn phô trương sự hào hoa phong nhã, muốn chơi bời điệu nghệ phải sang bên tô giới Pháp. Tiêu điểm của khu này là con đường thẳng tắp, còn dài và thẳng hơn cả Garden Lane, trước đây có nghịch lý là mang tên dữ dằn một vị thống soái thời thế chiến thứ nhất - Avenue du Maréchal Joffre. Tên phố này nay vẫn giữ hơi hướng trận mạc nhưng ý nghĩa khác: Hoài Hải lộ - Hoài Hải là một trong những chiến dịch oanh liệt nhất của quân dân Trung Hoa thời chiến tranh giải phóng. Đường Hoài Hải dài ngút mắt, cũng chia thành Đông lộ Tây lộ để tiện đánh số nhà. Tôi ngờ là cầm quyền Pháp ở Thượng Hải thời xưa hẳn tưởng nhớ đô thành chính quốc họ khi nghĩ ra cái tên nhà binh này, bởi gần một nửa trong số mười hai đại lộ chầu về Khải hoàn môn hiện tại ở Paris vẫn mang tên các vị thống chế, vậy mà chẳng được tiếng là những đường phố giàu có sang trọng nhất đó sao. Người ta đến Avenue Joffre để ngắm thời trang mới nhất của Paris, để nhìn người đẹp lượn lờ mua bán, có khi chỉ để lười biếng nhâm nhi một ly cognac chính gốc Fine Champagne hoặc một tách cà phê phin Arabica thơm lựng nhập khẩu từ Brasilla. Phần đông họ là những người thừa tiền sẵn của nên đến đây để... chẳng làm gì cả, trừ việc giết thời giờ một cách tốn kém.


Chiều lòng hiếu kỳ méo mó nghề nghiệp của tôi, anh bạn nhà báo Trung Quốc vui lòng dẫn chúng tôi đến xem tận mắt một tòa nhà Tây kiến trúc cổ điển nằm trên đường Hoài Hải. Đây là hiệu Café Renaissance đặc biệt trang nhã một thời vang bóng. Người ta kể lại rằng những chàng trai cô gái chạy bàn ở đây thời trước thế chiến, tuy vóc dáng không còn trẻ nhưng vẫn giữ được cốt cách hào hoa, toàn là quý tộc Nga chính cống. Những người mà nghề nghiệp không cho phép được lắm lời, chỉ mong sao có vị khách hạ cố hỏi chuyện để được dịp thổ lộ rằng, họ đích thực là những hoàng thân, tướng lĩnh, đích thực là những bá tước và hầu tước phu nhân từng có cuộc sống huy hoàng đích thực ở cố đô Saint Petersbourg hay thành phố Moscou, chẳng qua vì thời thế đổi thay mà sa cơ lỡ bước đến chốn Viễn Đông nóng ẩm này.


Anh bạn tôi kể, thời trước chiến tranh thế giới thứ hai, hiệu cà phê này lúc nào cũng đông khách vì người ta tranh nhau đến đây để thưởng thức giọng hát vàng của danh ca Nga Alexander Vertinsky, người từng là một (trong vô vàn) bạn tình của ngôi sao màn bạc Marlene Dietrich. Bậc danh ca ấy, theo lời anh ta thề thốt, từng vào ra Cung điện Mùa Hè, Cung điện Mùa Đông như cơm bữa, mang tài năng thiên phú phục vụ Nga hoàng cùng các vị danh gia tiếng tăm nhất đế quốc Đại Nga. Anh chàng đến Thượng Hải không còn một đồng xu dính túi, sau khi đã nếm đủ mùi thất bại ở Paris, New York và Hollywood. Dù sao con người tài hoa này rốt cuộc cũng được sao Thái Bạch kim tinh chiếu mệnh. Cuối cùng anh vẫn được trở về Moscou theo lời mời của đích thân Đại Nguyên soái Stalin, một thính giả hâm mộ giọng hát của anh - vẫn theo lời quả quyết của Alexander - để sắm vai chính không tìm ai thay thế nổi trong vở opéra Trà hoa nữ thắm đượm chất chữ tình. Câu chuyện ấy đích thực đến đâu, không ai dám chắc, bởi chính anh bạn tôi cũng chỉ được nghe người ta kể lại.


Thượng Hải vốn là một nơi có phong trào quần chúng đấu tranh mạnh mẽ vì độc lập dân tộc, chống cường quyền. Là một trung tâm kinh tế lớn, Thượng Hải có đội ngũ công nhân sớm trưởng thành về chính trị. Các nhà cách mạng lợi dụng quy chế các khu tô giới nước ngoài - nơi cảnh sát và quân đội của nhà cầm quyền Trung Quốc thời ấy không được phép vào - để né tránh sự quấy rầy của bọn phản động. Chủ tịch Mao Trạch Đông hoạt động ở Thượng Hải vào những năm 1924 - 1926. Quanh ngôi nhà Chu Ân Lai cư trú vào đầu những năm bốn mươi thế kỷ trước ở phố Massenet (nay là Tân An lộ) lúc nào cũng nhung nhúc bọn đặc vụ Nhật Bản và Quốc dân đảng rình mò.


Một ngôi nhà cũ khác gần công viên Hoài Hải ngày nay trở thành một di tích lịch sử xếp hạng quốc gia. Tháng 7 năm 1921, ngôi nhà mang biển số 106 phố Wantz (nay đánh số 76) là nơi họp Đại hội thành lập Đảng Cộng sản. Khách tham quan có thể nhìn thấy nguyên trạng cái bàn trên bày mười hai chén trà và hai cái gạt tàn thuốc lá. Thật ra, cuộc họp ấy vừa bắt đầu được ít lâu thì cảnh sát Pháp đã ập vào. Các đại biểu rút về Hàng Châu tiếp tục công việc của mình trên một chiếc thuyền tạm mướn.


Một ngôi nhà khác nữa, tọa lạc số 29 phố Molière, là nơi vị Tổng thống đầu tiên của Trung Hoa dân quốc Tôn Dật Tiên sống cùng gia đình, nay cũng trở thành nhà lưu niệm. Trên bức tường gạch trần xây theo phong vị kiến trúc Ănglê, tấm biển đề mấy đại tự chỉ rõ nơi đây đích thị Tôn Trung Sơn cố cư. Chính tại ngôi nhà khiêm nhường này chàng sĩ quan trẻ Tưởng Giới Thạch lần đầu tiên gặp và làm quen người đẹp Tống Mỹ Linh. Lễ thành hôn của họ sẽ được tiến hành phô trương trong khung cảnh xa hoa tại phòng khiêu vũ Hotel Majestic thuộc tô giới Pháp, tháng 12 năm 1927.


*


Một quán giải khát bình dân đầu công viên Hoàng Phố. Mấy cái bàn, mươi chiếc ghế nhựa rẻ tiền kê ngay dưới chân chiếc cầu vượt dành cho khách bộ hành từ bờ sông sang bên kia đại lộ Trung Sơn. Chúng tôi ghé vào không phải bởi nhu cầu giải khát mà chỉ vì nhìn thấy mấy chiếc ghế, có thể là nơi tạm cho đôi chân lội bộ đã mỏi nhừ được nghỉ ngơi chốc lát. Hơn nữa đây cũng là địa điểm lý tưởng ngắm nhìn mặt sông Hoàng Phố mà không phải chen lấn. Đê ở quãng này rất cao, tầm nhìn chúng tôi chỉ bị hạn chế bởi một lan can sắt làm hàng rào bảo vệ khách bộ hành.


Chị chủ quán đẫy đà cùng cô phục vụ trẻ lăng xăng săn đón. Bàn bên cạnh chúng tôi là một gia đình - thoạt nhìn tôi đã đoán không sai. Hai vợ chồng đứng tuổi. Cô con gái duy nhất. Người đàn ông cao lớn, đầy tự tin, dáng dấp như một hảo hán trong truyện xưa. Cô gái dáng người thô nhưng cố giữ cho gầy đúng mốt ngày nay, thoải mái trong bộ quần gin áo bó, lưng tòn ten chiếc ba lô nhỏ xíu và nhẹ tưng đeo chỉ để làm cảnh. Khuôn mặt bà mẹ, ngược lại, hiền lành chất phác. Sống mũi cao thanh tú, đôi mắt sâu và xa xăm, vầng trán hẹp, từa tựa vẻ người vùng Trung Á.


Người đàn ông cởi mở, chỉ một lát sau đã chuyện trò rôm rả với anh bạn Trung Quốc cùng đi với chúng tôi. Bạn tôi quay lại giới thiệu, đây là một sĩ quan quân đội đồn trú ở mãi tỉnh Tân Cương, cùng gia đình du lịch nhân kỳ nghỉ phép năm. Lần đầu tiên tới Thượng hải. Ông đang phát biểu cảm tưởng về thành phố này. Đại thể khen ít chê nhiều. Chê giá đắt, tinh thần phục vụ kém, ấy thế mà động đến thứ gì cũng đòi tiền; muốn đi tới đâu, vào xem cái gì cũng chẳng tránh khỏi xếp hàng chờ đợi... Vâng, từ thủ phủ Urumsi tỉnh Tân Cương đến miền Giang Nam này, đường đi xa xôi diệu vợi lắm. Chúng tôi đã đi máy bay, xe lửa, ô tô... Nhưng, nghỉ phép năm cả một tháng ròng. Chi phí tàu xe ăn ở đã có quân đội trang trải. Dại gì không cho vợ con đi theo để biết thêm đất nước Trung Hoa vĩ đại. Cháu là sinh viên đang theo học ngành y ở Trường đại học Tây An, tỉnh Thiểm Tây; thật ra cháu đã có dịp cùng bạn bè đồng khóa tham quan Thượng Hải rồi. Song lần này được đi cùng bố mẹ, lại có cái vui...


Ông rút máy ảnh. Ba người thay nhau chụp. Rồi nhờ chúng tôi bấm giúp mấy kiểu cả gia đình bên bờ sông Hoàng Phố. Lại đề nghị chụp chung với vợ chồng tôi, hết kiểu này đến kiểu khác. Ồ, các bạn mãi từ Việt Nam sang ư, vinh hạnh quá. Ta làm thêm mấy kiểu nữa đi, thưa các bạn. Thế nào tôi cũng gửi ảnh tặng ông bà. Còn các kiểu chụp trong máy các bạn, xin chớ quên gửi cho chúng tôi. Theo địa chỉ này, này...


Ông rút tấm danh thiếp, cẩn thận ghi thêm số điện thoại cầm tay và số máy riêng ở gia đình mình đưa cho bạn. Rồi rút một tấm khác, nắn nót ghi địa chỉ và số điện thoại của bạn tôi bỏ vào túi áo ngực, cài khuy. “Anh thường xuyên ở Bắc Kinh ư? Hảo, hảo. Vậy là chúng ta dễ liên hệ với nhau... Thế nào cũng nhớ gửi ảnh cho chúng tôi nhé. Chỉ còn chiều nay nữa thôi. Chúng tôi đã sang bên Phố Đông một ngày. Và cả một buổi sáng ở la cà khu phố cổ. Đêm nay đáp xe lửa về Hàng Châu... Đừng quên gửi ảnh nhé. Tái chéng. Tái chéng”(1) .


Ông giữ chặt tay tôi trong bàn tay to, khỏe, thô ráp của người chiến sĩ đồn trú chốn biên cương.


 


2002


Nguồn: Bên mộ vua Tần. Tập ký của Phan Quang. NXB Văn học, 2003.


www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (2) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Lượm lặt ở đám giỗ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt - Lưu Trọng Văn 06.06.2017
xem thêm »