tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21072810
Tiểu thuyết
06.02.2016
Triệu Xuân
Trả giá

Hòa tiếp Đước và Thơm như những người bạn chân tình. Vốn tin yêu Trầm, nên ông Hòa quí mến Đước. Khi nghe toàn bộ câu chuyện của Đước từ ngày chuyển về Mỏ Tôm đến khi bị kỷ luật, ông Hòa hiểu rằng Đước là một người có tâm huyết, đáng kính trọng. Sự thể sẽ ra sao nếu như tất cả những người chính trực, có tấm lòng với cuộc đời, đều bị hãm hại? Ông Hòa thoáng rùng mình. Ông nhớ lại hai lần bị “gọi” ra Hà Hội thuở ông còn là phó giám đốc! Tin cậy, trọng nể - đó là ấn tượng mà Đước để lại nơi ông Hòa sau cuộc thăm viếng này. Giám đốc Hòa đưa xe hơi cho Trầm dẫn anh, chị đi tham quan Vũng Tàu. Ông hỏi Trầm, hóm hỉnh:


- Chắc cậu không làm “người hướng dẫn” được đâu! Hãy đón cô Thiền Lan đi cùng!


- Anh tâm lý quá! Không nói, em cũng làm vậy, giám đốc ạ.


- Thôi đi đi! Chúc các bạn vui vẻ. Cô Thơm có nhiệm vụ nặng nhất đó nghe. - Hòa nhìn Thơm đang e lệ ngồi bên Đước - Cô phải làm sao để những ngày ở Vũng Tàu, anh Đước khỏe mạnh, thanh thản. Được chứ?


Người lái xe cho giám đốc là Hiểu, một thanh niên hoạt bát và tận tụy. Vợ anh là giáo viên dạy văn. Vợ chồng anh có hai con trai rất kháu khỉnh. Trong hai ngày, Hiểu đưa bốn người đi hầu khắp Vũng Tàu. Nơi họ dừng lại lâu nhất là bãi Dâu và chùa Phong Lan Tự.


Ở chùa Phong Lan Tự, Đước đã thay mặt gia đình, xin phép bà mẹ cho em trai mình được kết duyên với Thiền Lan. Thiền Lan và Thơm quấn quít bên nhau làm bữa ăn chiều. Ở bãi Dâu, họ tắm biển. Thiền Lan không ngờ người “chị” của mình bơi giỏi hơn cả cô. Hai chị em bơi rất xa, đến mức Trầm phải ra kêu hai người vào. Trong suốt những cuộc dạo chơi, Trầm tránh không hề nhắc lại chuyện buồn. Nhìn anh ruột, Trầm thấy lòng rưng rưng. Sao mà mọi chuyện bất hạnh cứ liên tiếp giáng xuống gia đình?


Thiền Lan tâm sự với Thơm về gia cảnh của mình, chuyện cha cô và anh trai đi tập kết rồi bặt tin từ đó đến nay, chuyện má con cô bỏ nhà trốn lên núi nương cửa Phật... Thơm thì kể cho Lan nghe những chuyến đi biển gặp dông bão, những đêm săn cá mập đầy lo âu và lý thú trên đại dương; chuyện đời sống thiếu thốn, bị chèn ép đủ điều của ngư dân hiện tại. Trong những câu chuyện của mình, Thơm không giấu được niềm tự hào về Đước, cô nói: “Cả xứ Mỏ Tôm, bà con mình thương ảnh như ngày trước thương ba ảnh. Người như ảnh mà bị trù dập, bà con Mỏ Tôm uất lắm”.


*


Trong cả tiến trình tạo lập lãnh thổ tiến ra biển, đước không bao giờ mọc một cây mà luôn mọc thành rừng. Một cây đước không thể tồn tại trước sóng cồn bão táp. Con người cũng thế. Qui luật sinh tồn của tự nhiên dạy cho người ta muốn sống thì phải biết yêu thương đồng loại; muốn tồn tại và phát triển thì phải nương vào nhau, đỡ đần nhau, vì nhau. Thế nhưng còn quá nhiều kẻ không hề rung động, xót thương trước nỗi đau khổ của người khác. Đước đã gặp những kẻ như thế ở Mỏ Tôm, và nay anh lại gặp ở thành phố này. Trong đội xây dựng của Trầm đang có đám tang. Vợ của một người thợ không may bị mái nhà sập xuống đè chết. Cũng như phần lớn công nhân trong đội, gia đình Tư Cò sống tạm bợ trong một góc của tòa biệt thự đổ nát đang được xây dựng lại. Tư Cò là con của một thợ xây nổi tiếng ở Sài Gòn - người đã xây nền móng của dinh Độc Lập, rồi sau đó là tòa Đại sứ Mỹ. Cha chết, Cò bị bắt lính và trở thành sĩ quan công binh. Sau khi ở trại cải tạo ra, Tư Cò thất nghiệp, sống vất vưởng ở lề đường Hàm Nghi, làm đủ mọi nghề, đêm về ngủ dưới mái hiên của một ngân hàng lớn. Tư Cò gặp cô gái làng chơi trong một đêm mưa, rồi cùng cảnh ngộ, họ thương nhau, ở với nhau. Khi được Trầm tuyển vào đội xây dựng số Một thì vợ chồng Tư Cò đã có hai đứa con trai. Họ hăm hở về Vũng Tàu và làm việc hết mình. Vợ Tư Cò là một thiếu phụ đẹp, rất giàu tình thương. Cả đội xây dựng, ai cũng quí cô, vì cô luôn luôn lo cho bữa ăn của đội có cơm nóng, canh ngon. Khi trời mưa lớn, vợ Tư Cò hối hả dọn hết đống củi vào nơi khô ráo thì chẳng may mái nhà sập xuống đầu chị. Khi Tư Cò và anh em trong đội biết, thì chị đã qua đời...


Được tin, Trầm lặng đi vì đau xót. Nhưng anh càng đau lòng hơn khi Tư Cò báo tin: Anh đi khai tử để làm thủ tục mai táng vợ thì chính quyền đã không giải quyết. Lý do thật đơn giản: Vợ chồng anh không có hộ khẩu thường trú ở đây!


Ngoài số công nhân còn độc thân, trong đội xây dựng của Trầm có hai chục công nhân có vợ con. Hai năm qua, anh đã rất nhiều lần đi lại xin xỏ để nhập hộ khẩu cho anh em trong đội nhưng vô hiệu. Không ai chấp nhận đề nghị của anh. Không có hộ khẩu nên tất cả trẻ em bị thất học vì không được đến trường. Trầm phải tổ chức lớp học ban đêm cho các cháu nhỏ. Khi ốm đau, các cháu cũng không được khám, chữa bệnh theo hệ thống y tế ở phường! Đoàn thể thiếu niên, nhi đồng cũng không được sinh hoạt. Tưởng rằng cũng chỉ đến mức ấy là hết cỡ, nào ngờ...


Tư Cò năm nay bốn mươi lăm tuổi, là thợ tô đá mài, đá rửa vào loại giỏi nhất của ngành xây dựng phía Nam. Trong đợt thi tay nghề do Bộ Xây dựng tổ chức, anh đã đoạt giải đặc biệt. Cả ngày nay anh không ăn, không ngủ, câm lặng ngồi lì bên xác vợ. Hai đứa con trai cũng ngồi như anh. Khi anh em Đước và Trầm cùng giám đốc Hòa tới, anh ngước đôi mắt ráo hoảnh, đau đớn nhìn mọi người rồi cúi xuống xác vợ, anh thốt lên: “Mình ơi! Mình có tội tình gì! Tôi đi lính thì tôi có tội, chớ mình có tội tình gì!”.


Phải can thiệp đến cấp lãnh đạo của thành phố, thủ tục mai táng mới được giải quyết. Nhưng, cùng với sự mất đi một con người mà Tư Cò yêu thương nhất, anh đã mất đi một thứ lớn hơn, ấy là lòng tin vào cuộc sống... Nhìn đôi mắt Tư Cò, cả Đước và Trầm đều nhận ra điều ấy. Chắc chắn những người thợ trong đội - những người, ngoài sức lao động ra, không có cái gì cả vì không có hộ khẩu - cũng đang đau nỗi đau của Tư Cò. Nỗi mất mát, niềm đau thương không của riêng một người nào, nhất là sự mất mát niềm tin.


Có thể nào con người tồn tại được khi không có niềm tin?... Suốt đêm, Trầm trăn trở không ngủ được. Ngày mai, Đước và Thơm về lại Mỏ Tôm rồi. Những gì đang chờ đợi hai người? Trầm lo, rất lo cho anh mình.


Ngày hôm sau, Trầm cùng đi với Đước và Thơm về Sài Gòn. Đước đồng ý để Trầm giới thiệu cho anh gặp Tư Phương và Hai Trung trước khi về Mỏ Tôm.


Út Thơm và Thiền Lan lưu luyến mãi trước khi chia tay.


Chương Ba


Vào đúng ngày Đước gặp Tư Phương và Hai Trung ở Liên hiệp Xuất khẩu Thủy sản tại Sài Gòn thì Mỏ Tôm xảy ra chuyện chưa hề có: Tại trạm liên hợp kiểm soát và thu mua nông lâm hải sản, người ta bắt giữ một bà mẹ ngoài năm mươi tuổi mang theo mười ký lô tôm khô và hai chục ký lô tôm thẻ còn sống. Bà nói rằng, tôm khô của con trai bà phơi; còn tôm tươi là của bà nuôi trong vuông vườn, bà mới xổ đêm qua. Sáng nay, bà đem lên chợ bán để lấy tiền mua đồ làm giỗ chồng và sắm cho con trai cái áo mới đặng đi hỏi vợ cho nó. Giọng bà khàn khàn, phải lắng nghe mới rõ:


- Tội nghiệp thằng con trai tôi lắm mấy chú. Nó lành như con tôm, cây đước à! Ham làm lắm à! Cha nó chết hồi nó còn ẵm ngửa, ngày mai là đám giỗ ổng. Tôi chỉ trông cưới vợ cho nó rồi chết cũng an lòng... Tội nghiệp, nó chỉ có mỗi bộ đồ đi biển, rách quá trời.


Trưởng trạm kiểm soát ngắt lời bà mẹ:


- Chớ kể lể dài dòng, không ai hơi đâu nghe bà, bà ơi. Tại sao bà không bán cho trạm thu mua của huyện? Bà đi buôn, bà là chân rết của tư thương chớ cưới hỏi cái gì. Sức mấy bà qua mặt được tôi!


- Chèng ơi! Tôi nói sai thì trời bắt tôi chết khô trong chang đước! - Bà mẹ nhìn người trạm trưởng, thành tâm.


- Khỏi thề thốt mất công!


- Là tôi nói thiệt tình mà! Ai đời, trạm thu mua nợ tiền sáu tháng trời nay, đi tới đi lui cả trăm lượt mà không lấy được đồng cắc. Nè, biên nhận cả đống như giấy lộn đây nè. - Bà mẹ moi ở thắt lưng ra một xấp giấy biên nhận - Bởi thế, kẹt tiền quá, tôi mới phải mang tôm đi chợ bán. Mấy chú thông cảm cho.


- Thông với cảm sao được bà già?


Người trạm trưởng nhếch mép cười nhạt rồi tuyên bố:


- Tôi ra lệnh tịch thu toàn bộ số hàng lậu của bà và cảnh cáo bà đã cố tình vi phạm pháp luật, chống đối lại chính sách của Nhà nước.


- Ô! - Bà mẹ kêu lên rồi không ngậm miệng lại được, bà trố mắt vì kinh ngạc.


- Bà có thể về được rồi. - Trạm trưởng vứt mẩu thuốc lá vừa cháy tới đầu lọc qua cửa sổ, và bước ra khỏi trạm.


Bà mẹ từ kinh ngạc chuyển sang uất hận, vùng chạy theo níu tay áo trạm trưởng:


- Chú Hai! Chú thương tình cảnh góa bụa neo đơn, nỡ lòng nào tịch thu của tôi!


- Đừng lải nhải nữa bà! - Trạm trưởng giật tay ra và quát lên - Tôi tha không bắt giam bà là phước rồi.


- Trời đất quỉ thần ơi! Mấy chú ác nhơn quá chừng quá đỗi. Tôi năn nỉ mà không cho, tôi nhảy sông chết liền trước mắt mấy chú nè.


Trạm trưởng lại nhếch mép cười nhạt nhìn người mẹ đang chạy về phía sông. Mấy nhân viên trong trạm cũng há miệng cười như đang xem một vở kịch. Bà mẹ chạy tới mép sông. Trước mặt bà là ngã ba sông mênh mang sóng nước, ngập tràn ánh nắng. Nắng gắt lóa mắt bà. Hai mươi lăm năm trước, lúc con trai bà chưa đầy tuổi, giặc đã bắn chết chồng bà ngay trên ngã ba sông này chỉ vì ông không chịu chỉ nơi du kích trú chân. Sáng nay, số phận lại dẫn bà đến đây. Bà hiểu rằng, bà đang đối mặt với những kẻ mặt người mà lòng dạ độc địa, nhẫn tâm. Bà quay lại nhìn họ và ráng sức hét lên:


- Quân ác nhơn thất đức! Rồi trời sẽ tận diệt bay!


Bà lao xuống sông.


Một người tính lao theo lôi bà mẹ lại nhưng anh ta gặp ánh mắt lạnh băng của trạm trưởng. Vẫn cái nhếch mép cười nhạt, trạm trưởng thủng thẳng:


- Dân ba đời ghe mà chết chìm sao được!


Nhưng sự thực đã ngược lại với câu nói của trạm trưởng. Chờ mãi không thấy tăm hơi bà mẹ, trạm trưởng tái mặt và để nguyên áo lao xuống sông. Rõ ràng là anh ta lao xuống cho có lệ, chớ mặt sông lóa nắng không có gì khác ngoài sóng nước đỏ ngầu phù sa. Ở trên bờ, trong mớ tôm tươi người ta tịch thu của bà mẹ, những con tôm còn sống đang giãy lên đành đạch…


*


Hai Đước đến nhận việc ở trạm thu mua hải sản thuộc cụm trạm liên hợp kiểm soát - thu thuế - thu mua nông lâm hải sản được ba ngày thì người ta mới tìm thấy xác của người mẹ. Một điều kỳ lạ là người ta đã mò tìm rất kỹ trong ngày đầu tiên ở nơi bà lao xuống mà không thấy xác; nhưng đến ngày thứ năm thì xác bà mẹ lại trôi vào đúng chỗ mà bà đã đứng trước khi trầm mình. Ai cũng cho đó là chuyện lạ. Có người bàn thêm rằng, xác bà đã bị thủy triều cuốn ra biển nhưng linh hồn bà oán hận người trạm trưởng, nên bà đã quay lại đây. Quả là có điều trùng hợp. Khi vớt xác bà lên, đôi mắt bà còn mở lớn, giữ lại một cái nhìn căm giận đời đời. Và người trạm trưởng, ngay khi nhìn thấy đôi mắt ấy, đã ngất đi. Người ta phải dùng vỏ lãi gắn máy Kôle chín đưa trạm trưởng đi cấp cứu.


Đước cùng anh em trong trạm thu mua đứng ra mai táng cho bà mẹ. Anh tìm mọi lời an ủi Tôm, con trai của người mẹ xấu số, nhưng vô hiệu. Đó là một thanh niên rất hiền lành, hiếu thảo. Mẹ chết, Tôm rơi vào trạng thái hoảng loạn, tìm trạm trưởng để trả thù. Trạm trưởng trốn biệt. Tôm đổ xăng đốt chiếc xuồng máy của trạm kiểm soát, chính cái xuồng đã bắt má Tôm. Tôm bị bắt, bị còng tay, mãi đến khi người ta tìm thấy xác má anh, anh mới được thả ra.


Đước yêu cầu truy tố viên trạm trưởng kiểm soát. Phó chủ tịch huyện phụ trách công nghiệp Đặng Thục - người rất hiểu và thương Đước - khuyên anh không nên làm chuyện này! “Nếu làm, cậu lại đối đầu với những kẻ đang hãm hại cậu”. “Nhưng mình là một thằng người! Làm sao có thể làm ngơ trước hiện thực đau lòng như vậy?”.


Công việc ở trạm thu mua do Đước phụ trách thật đơn giản: Ngồi chờ ai mang tôm đến thì mua, rồi ghi giấy biên nhận hẹn khi nào có tiền thì trả. Nếu bên trạm kiểm soát bắt được người mang tôm đi bán nơi khác, kêu trạm thu mua, thì qua nhận, ký vào biên bản “đã nhận tôm”. Thế là hết.


Trạm thu mua có sáu người, chỉ có trạm phó, không có trạm trưởng. Khi Đước còn là giám đốc Công ty Thu mua, anh đã cách chức Ngô Văn Sài - trạm trưởng của trạm này - vì tội xâm phạm quyền công dân, xâm phạm thân thể của công dân. Nay chính anh lại về nhận ghế trạm trưởng. Trọng Phái được huyện cử kiêm nhiệm chức giám đốc Công ty Thu mua. Và tất nhiên, Phái đã phục hồi những người trước đây bị Đước cách chức. Sài được đề bạt làm phó giám đốc Công ty, cánh tay đắc lực của Phái. Trên thực tế, Đước đã lọt vào cái bẫy do Phái và Sài giăng sẵn. Vì giá thu mua rẻ mạt, lại không có tiền mặt, ngư dân không mang tôm bán cho trạm. Hai Đước hiểu rằng, cứ đà này, chỉ sau mấy tháng không hoàn thành chỉ tiêu thu mua, anh sẽ bị cách chức trạm trưởng và có thể bị thải hồi.


Nhưng điều anh lo lắng nhiều nhất, suy tính nhiều nhất, không phải là chức vị, là cái ghế của mình, mà là nghề cá của bà con, là nhà máy đông lạnh phải đóng cửa, là chuyện đất nước đang cần ngoại tệ mà không có tôm để xuất khẩu. Hai Đước bày tỏ điều ấy với phó chủ tịch huyện phụ trách công nghiệp Đặng Thục:


- Tôi chỉ ước ao những người có thẩm quyền hiểu ra thực tế, chấp nhận những đề xuất của tôi... Phải có cuộc đổi mới thật sự, trước hết là đổi mới con người, thì ngành thủy sản mới phục hồi được. Riêng chuyện mua tôm của bà con ngư dân, tôi sẽ thực hiện thế này: Bà con nào nhận xăng dầu của huyện thì mua theo giá chỉ đạo. Ngoài ra, số tôm của bà con đánh bắt bằng xăng dầu mua ở bên ngoài thì tôi mua theo giá thỏa thuận. Để gỡ bí về tiền mặt, tôi huy động vốn của số chủ vựa có thiện chí. Khi giao tôm cho nhà máy, tôi đòi thanh toán ngay. Nhà máy phải chấp nhận giá này, vì nếu không, họ phải đóng cửa.


- Nguy hiểm! - Thục nói - Cậu làm đúng lý, hợp tình, nhưng ai cho phép cậu làm? Coi chừng lại tạo thêm cớ cho người ta trị cậu nặng hơn...


- Tôi đã nói với anh rồi, tôi không bận tâm nhiều lắm về cái ghế của riêng mình.


*


Trong ngày xảy ra sự kiện chưa hề có ở trạm kiểm soát: người đàn bà xấu số đã trầm mình chết vì uất ức, tại phòng riêng của hai mẹ con Bảy Tụ cũng xảy ra một sự kiện. Gọi là sự kiện vì đối với đời một cô gái đẹp như Thanh Tú, đây là lần đầu tiên, cô hiểu được tận cùng của sự bí ẩn kỳ thú của cuộc đời.


Ngay trong đêm đầu tiên trưởng đoàn cải tạo Trọng Phái đến làm việc riêng trong phòng Bảy Tụ ở căn nhà xinh xắn tại Chợ Lớn, Thanh Tú đã hiểu rằng lại thêm một người đàn ông nữa dan díu với má cô. Giống hệt mẹ về ngoại hình lẫn tâm tính, Thanh Tú có cái nhạy cảm đặc biệt của người phụ nữ đẹp, đa tình, đầy ham muốn. Bởi thế, cũng ngay trong cái đêm đầu tiên ấy, Thanh Tú biết rằng ông trưởng đoàn cải tạo rất khao khát được nằm trong vòng tay của cô. Nhìn vào đôi mắt rực lửa tình của Phái lúc cô rót bia mời, cô có cảm tưởng mình bị lột trần như nhộng, khiến cô nổi da gà khắp thân mình... Khi về Mỏ Tôm, Thanh Tú thầm ghen với mẹ, vì hầu như tuần nào hai người cũng tìm đến ân ái với nhau, khi thì ở phòng má cô, khi thì họ hẹn hò nhau lên thị xã, rồi đi Sài Gòn... Bắt đầu bằng sự tò mò, sau đó là thèm muốn và ghen tuông, Thanh Tú đã sống trong niềm khao khát bị ức chế, nhưng cô không biết làm cách nào. Má cô quản lý cô chặt chẽ như tiền bạc, và thường răn đe cô rất khắc nghiệt. Cuối cùng, cô nảy ra sáng kiến: Ở cả hai bức vách ngăn bàn ăn với giường ngủ ở phòng má cô, cô đều kín đáo tạo một khe hở để có thể ghé mắt nhìn vào. Và cô đã nhiều lần tận mắt, nhiều lần chứng kiến... Có một điều cô không ngờ tới là Phái hiểu hết nỗi lòng cô, và cách đây một tuần, Phái đã phát hiện ra cô đang dòm qua khe vách... Người đàn ông sành sỏi càng nung nấu quyết tâm chiếm đoạt con mồi non tơ đáng giá.


Buổi chiều sau sự kiện người đàn bà lao xuống sông trôi mất xác, Bảy Tụ sai con gái qua mời Phái. Bảy Tụ có lý để vui vì mụ đã xỏ mũi được tất cả. Mụ mua gom hàng chục tấn tôm mỗi ngày mà không hề hấn gì, trong khi một kẻ nghèo khó mang vài chục ký lô tôm thì bị bức tử! Mụ khoái chí vì ý nghĩ rằng, té ra thời nào cũng giống thời nào: Tiền và tình vẫn làm chúa tể. Ngày trước, mụ chẳng đã xỏ mũi được hàng lô từ quận trưởng, cảnh sát trưởng, nghị sĩ, tá, tướng đó sao? Hôm nay, Bảy Tụ thết Phái món chạo tôm nổi tiếng do tay mụ làm. Vừa ăn vừa đưa tình, Bảy Tụ thỏ thẻ với Phái những món tôm của các nước trên thế giới. Phái tỏ ra vô cùng thích thú vì càng ngày anh càng thấy người tình quả là bộ bách khoa thư về các món ăn uống.


- Người Pháp rất mê ăn tôm nõn sốt chua ngọt đựng trong ly pha lê có chân nạm bạc sang trọng. Khi được mời món tôm sốt chua ngọt, khách biết mình được chủ rất quí trọng. Người Italia thích ăn tôm lụi vào thanh sắt. Dân Brazin lại ưa chuộng món tôm nấu theo kiểu Bahia. Người Bỉ thích nhất tôm sốt cà chua. Còn dân Nga lại khoái món súp Sôlianka nấu với tôm vừa chua vừa béo của dầu ôliu. Anh thấy đó, chẳng có món nào hợp khẩu vị với mình. Đúng không?


- Chỉ có món của em là anh mê thôi!


Phái nói với Bảy Tụ nhưng liếc mắt say đắm nhìn Thanh Tú. Ngực cô phập phồng. Cô mặc chiếc rốp mới may cổ rộng, gần như phô cả bộ ngực nõn nường ra. Bảy Tụ thấy Phái hau háu nhìn ngực con gái, vội vàng lừ mắt cho con rồi nâng ly bia lên:


- Nào, ta cạn ly. Em mệt muốn xỉu vì làm món chạo tôm đây nè.


Tay giơ ly bia lên, mụ lại lừ mắt ra hiệu cho con gái rút lui. Hai người cụng ly. Thanh Tú giận sôi trong người, miễn cưỡng đứng dậy dọn bàn ăn. Cô nấn ná dọn thật chậm. Bảy Tụ lấy khăn nóng cho Phái lau tay rồi kéo Phái vào giường... Thanh Tú sập cửa thật mạnh, cố dằn nỗi ghen tức mà không được. Rồi cô rón rén trở lại, dán mắt vào khe hở của tấm vách ngăn do cô tạo ra... Cô nuốt nước miếng ừng ực, trống ngực đập mạnh, tay cô run lên vì sự khao khát đã bức xúc đến cao độ. Không chịu nổi, Thanh Tú tự cào cấu lên thân thể mình bởi cơn rạo rực dày vò. Thanh Tú nằm vật ra giường, hai tay bấu chặt lấy mép giường, răng cắn chặt vào gối. Đúng lúc đó, cửa phòng cô hé mở, Phái lẻn vào. Cô không hề ngạc nhiên, vùng dậy lao vào người đàn ông. Từ giây phút đó, nỗi khắc khoải mong chờ bấy lâu nay đã thành hiện thực.


Ở phòng bên, mụ Bảy Tụ co quắp trong giấc ngủ vùi vì mệt mỏi.


Gần sáng, Thanh Tú mới nới vòng tay chịu để cho Phái về.


*


Thiền Lan nhận được thư của Út Thơm. Thơm viết cho Lan như viết cho một người bạn thân, dù rằng trong tương lai cô sẽ là chị của Lan. Thơm kể rằng, cô được lên Sài Gòn học lớp ba tháng về phương pháp bảo quản và vận chuyển tôm nguyên liệu. Từ ngày cô được giao nhiệm vụ trưởng ban thủy sản của xã, cô thường về huyện họp luôn. Ở phòng thủy sản huyện, cô đã tận mắt thấy con người đã và đang gây đau khổ cho gia đình Hai Đước. Đó là Trọng Phái. Thơm viết:


“... Thiền Lan có hiểu được mình khinh ghét anh ta đến mức nào không. Con người có cái mã bề ngoài như tài tử xinê, nói năng như nhà hùng biện, nhưng lòng dạ thì sao mà hiểm độc. Biết mình và anh Hai thương nhau, vậy mà anh ta vẫn đeo theo mình, tán tỉnh bằng những lời lẽ ngọt ngào. Thậm chí, anh ta còn giở mặt đạo đức, làm bộ thương, tiếc cho anh Hai đã bị kỷ luật. Anh ta nói, nếu mình biết khéo léo một chút trong quan hệ... với một vài cán bộ lãnh đạo ở huyện (tất nhiên là ám chỉ bản thân anh ta) thì anh Hai sẽ mau chóng trở về cương vị cũ! Anh ta không úp mở, đã trắng trợn nói thẳng với mình là vì thương mình, nên mới quyết định cho mình lên Sài Gòn học. Cả huyện chỉ có hai người được đi. Học xong khóa này, mình sẽ được anh ta điều về làm việc ở Công ty Thu mua, trợ lý cho anh ta về vấn đề chất lượng. Lúc trao quyết định đi học cho mình, anh ta nói rất yêu thương mình, mong được sống với mình! Rồi anh ta chộp lấy tay mình và kéo lại để... May mà lúc đó có người bước vào phòng. Thật lố bịch! Lần đầu tiên trong đời, mình tiếp xúc với một kẻ như vậy. Mình biết, kể lại thì anh Hai sẽ buồn, nhưng mình không nỡ giấu ảnh. Anh Hai là tất cả đời mình. Ảnh đang chịu kỷ luật mà vẫn kiên gan để làm việc tốt, không nản chí, không giận lẫy ai... Thật đáng kính phục, phải không Thiền Lan? Càng ngày, mình càng nhận ra ở anh Hai có một cái gì đó, người ta kêu bằng phẩm chất, như ngọc trai hàng ngàn năm bị vùi lấp dưới đáy biển cũng không lu mờ. Ba mình bảo, cái khí chất là do cha mẹ, do rừng, do biển hun đúc mà nên... Anh Hai nghe mình kể xong giận bầm mặt, hai bàn tay nắm chặt. Mình biết anh có thế võ và cú đấm khủng khiếp do ba truyền dạy... Nhưng rồi anh nhìn vào mắt mình, mặt anh dịu hiền trở lại:


- Em cứ an tâm đi học. Việc học tập mới là cái đích. Đừng vì những chuyện rác rưởi mà bỏ mất cái đích của mình. Em đã nhìn rõ được bản chất của hắn, cảnh giác với hắn thì đâu có sợ gì nữa.


- Nhưng hắn nói, hắn sẽ lên Sài Gòn... thăm em!


- Ăn nhằm gì! Em cảnh giác với hắn là được rồi! Xung quanh em còn có mọi người kia mà!


- Còn anh! Xa anh ba tháng, em lo quá. Anh đừng quên là những kẻ ác nhơn đang rình rập để hại anh.


- Ôi, khỏi lo! Anh đã đủ khôn lớn rồi!


Vậy đó Thiền Lan ạ. Mình lên Sài Gòn được ba bữa rồi; học ngày hai buổi, đêm về ngủ một mình trong khách sạn, sợ ghê lắm. Toàn nằm mơ thấy chuyện chẳng lành. Có đêm, mình nằm mơ thấy anh Hai bị chìm xuồng, rồi bị một con cá dữ nuốt mất xác... Mình học ở ngay Xí nghiệp 23 tháng 9, là xưởng đông lạnh cũ của bác Hải, ba anh Hai đó Lan. Chuyên viên kỹ thuật của Liên hiệp Xuất khẩu Thủy sản đến giảng. Nói chung là học theo kiểu vừa học vừa làm nên mau hiểu, mau nhớ. Có điều mình rất buồn là ở Xí nghiệp, công nhân không có tôm để làm, thu nhập thấp quá, mọi người kêu bằng “đồng lương chết đói”, ăn uống thì cực hơn ở quê mình rất nhiều.


Mình rất nhớ chuyến đi Vũng Tàu vừa rồi, rất nhớ Lan, đặc biệt là má của Lan khiến mình nhớ má mình quá. Má mình bị giặc bắn chết năm năm chín, cùng ngày với má của anh Hai đó. Chắc là Trầm có kể cho Lan nghe rồi. Lan mất ba, còn mình mất má! Chúng ta giống nhau ở cảnh mồ côi. Nhưng Lan ơi! Mình hy vọng rằng, tình yêu sẽ bù đắp lại cho chúng ta. Mình chúc Lan và Trầm yêu thương nhau ngày một say đắm hơn, sâu sắc hơn...”.


*


Trong nhà hàng ở tầng trệt của khách sạn Thanh Bình, kế bên hồ cá, Trầm và Lan ngồi ăn crème và đọc thư của Thơm. Nhận được thư của Thơm lúc bốn giờ chiều, Lan phone ngay cho Trầm, hẹn anh hết giờ làm việc ở công trường đến Thanh Bình. Trầm không hiểu có chuyện gì mà Lan gọi anh gấp thế, mà lại đến ngay Thanh Bình. Mấy lâu nay, hai người có thói quen đi dạo ở các bãi tắm vắng vẻ, yên tĩnh như bãi Nghênh Phong, bãi Vọng Nguyệt. Chủ nhật thì leo núi Tao Phùng(1) lên tận đài quan sát của hải đăng để ngắm biển. Ít khi họ ngồi ở các khách sạn, lý do chủ yếu không phải vì họ ngại ngùng gì, mà vì họ không có nhiều tiền.


Đời sống ngày một khó khăn.


Tiền lương của Trầm không đủ để ăn phở trong mười buổi sáng. Ở Liên hiệp Dịch vụ Biển, người ta đã lên tiếng về chuyện phải may áo dài và mua son phấn cho nhân viên tiếp tân. Người ta không còn khả năng tự may sắm cho mình để giữ vẻ lịch sự của khách sạn.


Trầm đọc hai lần lá thư của Thơm, anh trầm tư hồi lâu. Ly crème đã tan ra nước gần hết. Thiền Lan nhắc anh ăn nhưng Trầm chỉ khẽ gật đầu rồi châm thuốc hút. Lan ái ngại nhìn gói thuốc Đà Lạt loại bao trắng không nhãn hiệu. Khói thuốc lá khét lẹt, tàn thuốc đen ngòm. Lan nhìn vào gương mặt hốc hác của Trầm, đôi mắt trũng, thâm quầng vì thiếu ngủ. Bàn tay Trầm nổi gân chằng chịt. Anh gầy đi mau dễ sợ! Lan thấy xót xa trong lòng. Đội xây dựng của anh đang gấp rút thi công khu bệnh viện dành cho chuyên gia dầu khí Liên Xô. Mọi thứ vật tư đều thiếu, kể cả cát và gạch, nhưng tiến độ thi công đòi hỏi rất nhanh. Hầu như Trầm không còn thời gian rảnh nữa. Đã hai tuần nay, anh chưa có dịp đưa Lan đi dạo. Cả đến thói quen bơi buổi sáng, anh cũng không duy trì được. Nhiều đêm thức khuya quá, anh ngủ quên vì đói, vì mệt, cho đến giờ làm việc buổi sáng mới bật dậy. Không còn thời giờ cho người yêu.


Đang giờ cao điểm, nhà hàng đầy nghẹt người và ồn ào như chợ cá. Những vỏ chai bia lăn lóc. Những gương mặt đỏ bừng bừng. Những giọng nói hung hăng của đủ loại người.


Thiền Lan chống hai tay áp má, lấy hai ngón tay trỏ bịt lỗ tai để đỡ chói óc. Cô thấy ân hận vì đã hẹn người yêu tới vào giờ này. Trầm hút hết điếu thuốc khét lẹt, toan châm điếu khác, Lan ngăn lại:


- Kìa, anh hút ít thôi. Anh không nhận ra đây là thuốc dỏm à?


Trầm nhìn Lan, cười chua chát:


- Biết chứ em. Nhưng... anh hết tiền rồi!


- Dạo này anh ốm quá! Em lo anh bệnh mất thôi... Hay là, anh về ăn cơm với má và em? Anh ăn một mình, thất thường quá hà.


- Không sao đâu. Anh lo cho công việc và buồn về gia cảnh nên vậy đó. Không sao đâu! Linh tính báo cho anh biết anh Hai sẽ gặp chuyện chẳng lành, hậu quả sẽ nghiêm trọng hơn. Có lẽ, anh phải đi gặp anh Hai. Kẹt nỗi... công trường đang thi công nước rút. Mùa mưa đến nơi rồi mà chuyên gia thì đã tới.


 - Anh không ăn kem, nó tan hết rồi. Thôi, anh ngồi đây, để em mua chai ba ba anh uống.


Trầm ngăn lại:


- Khỏi, để tiền mà ăn sáng. Anh thấy em cũng ốm và xanh lắm...


Nhưng Lan đã đứng lên, đúng lúc một vỏ chai bia bay tới chỗ cô vừa rời khỏi. Một tiếng “choang” nhức nhói. Miểng thủy tinh văng tứ tung. Ở nơi bàn nhậu vừa bay ra cái vỏ chai ấy, đang diễn ra cuộc ẩu đả. Hai kẻ bị bể đầu, máu đỏ trộn lẫn với bia và thức ăn nôn thốc tháo từ trong miệng ra sàn nhà. Trầm nắm tay Lan đi như chạy khỏi nhà hàng. Đội bảo vệ của khách sạn tới cũng không dẹp được biến loạn. Nguyên do của sự việc lặp lại y hệt những ngày trước: Năm chàng thủy thủ của tàu đánh cá mặc quần tây, cởi trần vào kêu bia và món nhậu. Họ ngồi từ hai giờ chiều tới năm giờ thì say khướt. Một người trong nhóm kêu cô phục vụ lại gọi thêm bia; cô phục vụ thấy cả bàn đã say quá, khéo léo từ chối bán thêm, thì lập tức bị anh ta nắm lấy tay và hôn lên mặt. Một thanh niên ngồi ở bàn nhậu kế cận (về sau mới biết là anh ta trong nhóm năm thủy thủ của tàu viễn dương vừa cập bến) xô tới can thiệp. Anh ta lôi cô phục vụ ra, cho một cú đấm vào mặt kẻ vừa hôn cô, cùng với câu chửi tục đầy miệt thị:


- Đ.m thằng ba đời ghe(1).


Cú đấm làm hộc máu mũi nạn nhân. Lập tức cả bàn thủy thủ đánh cá tràn sang thanh toán thủy thủ tàu viễn dương. Trận ác chiến diễn ra chóng vánh; nhiều gương mặt ở các bàn xung quanh nham nhở cười khoái trá. Kết quả là hai người phải đi cấp cứu; một lô chén dĩa hiệu Noritake của Nhật tan tành. Một chậu lan quí của ông Mật lăn nhào xuống hồ cá. Một con cá tai tượng nặng năm ký lô bị thương nặng do chậu lan rơi trúng.


Quản đốc khách sạn Thanh Bình ngao ngán nhìn bãi chiến trường, chợt thấy Trầm cũng đang đứng đó, Thanh Thảo mời Trầm vào phòng làm việc của mình. Ông già Mật còn đang tê tái vì chậu lan quí bị bể và con cá cảnh bị thương, thấy Trầm vào, mau mắn pha trà mời khách.


- Anh thấy đó, - Thanh Thảo mời Trầm hút thuốc và nói - không mở cửa cho khách nội địa vào thì kiện cáo, thắc mắc, chửi bới; mà mở cửa thì như vậy. Một tháng qua, kể từ ngày mở, ngày nào cũng ít nhất một trận xô xát. Khách sạn đón khách nước ngoài mà người mình ăn mặc quần áo lếch thếch vào đây, ăn nhậu xả láng, gây gổ, đập phá. Họ không cần biết đến lịch sự tối thiểu chớ nói gì văn minh, văn hóa trước khách nước ngoài.


- Tại sao ta không nhắc nhở khách ngay từ khi chưa bước chân vào nhà hàng?


- Nhắc rồi! Và kết quả là hai nhân viên bị đánh, bốn người khác bị chửi mắng thậm tệ. Họ ỷ có tiền. Họ nghĩ rằng, có đồng tiền trong tay họ có quyền vào bất cứ đâu, mua bất cứ thứ gì, làm bất cứ việc gì. Anh thấy đó, trong số những người uống hàng chục két bia mỗi ngày kia, có ai là người lao động chân chính không? Rất ít. Vậy mà chúng tôi vẫn bị phê phán đó. Làm thế nào xây dựng được một khách sạn du lịch đạt tiêu chuẩn quốc tế, một thành phố du lịch có nếp sống văn minh trong hoàn cảnh này?


Trầm hiểu ý Thanh Thảo và rất thông cảm với tâm trạng của nữ quản đốc khách sạn:


- Đúng! Rất khó, vì đây không chỉ là vấn đề kinh doanh thuần túy của một cơ sở. Đây là vấn đề xã hội. Cần phải nhìn nhận thực tế từ bản chất xã hội của nó để không ảo tưởng, không sai lầm. Hoàn cảnh quyết định tính cách con người, chị Thảo à.


Chiếc Rado treo trên tường điểm mấy tiếng chuông. Âm thanh ồn ào, náo động ở nhà hàng dội vào phòng từng đợt, từng đợt như tiếng sóng biển. Ông Mật với bộ mặt rầu rĩ bước vào, ảm đạm nhìn Trầm, nhìn Thanh Thảo:


- Báo cáo cô quản đốc, chú ấy bị bể sọ, không cứu được!


- Chết! Có biết anh ta là ai, ở đâu không? - Thảo bật dậy.


-Dạ, thưa không, là tôi nói chú cá tai tượng cơ mà!


- Trời! Vậy mà tôi tưởng... - Thảo nhìn ông Mật, cảm thông nỗi lòng ông già - Thôi đành đưa cho tổ bếp làm món cá tai tượng chiên xù cho khách chớ sao!


- Phải. - Ông Mật thở dài não nuột! - Thế là hết đời một chú cá. Tôi đã thấy hàng vạn người đứng ngắm cả giờ chú cá ấy. Tự tay tôi đi mua chú ấy về, thả vào hồ, chăm bẵm hàng ngày. Những lúc nắng sớm mưa chiều, tôi thường ra trò chuyện với chú ấy. Cả chục năm liền, chú ấy làm đẹp cho người đời, làm vui thú bao người, được bao người Tây cũng như ta chiêm ngưỡng. Vậy mà, nay chú phải chết vì những tên nát rượu. Lũ sâu mọt! - Ông Mật nói cho hả giận, dù ông biết rằng lẽ ra không nên nói năng như vậy ở phòng quản đốc - Lũ sâu mọt! Chú tai tượng chết còn làm được món chiên xù cho khách nước ngoài, thu được vài đô la, chứ lũ sâu mọt nát rượu ấy có chết thì quạ cũng chẳng thèm rỉa. Ôi trời ơi! Thế là hết một đời cá.


Đêm ấy, Trầm ở ngoài công trường về, ngang qua phòng ông Mật, anh thấy ông Mật đang ngồi thu lu một mình với một chai rượu. Chai rượu sản xuất tại Pháp, bình pha lê, nắp bằng hợp kim mạ vàng dùng thay ly. Trầm nhìn chai rượu và hiểu ngay là ông xin cái vỏ chai ở tổ bàn, rồi mua rượu đế đổ vào. Ông uống rượu để khuây khỏa nỗi buồn nhân thế, hay là để chia tay vĩnh viễn với con cá tai tượng bị bể sọ hồi chiều?


Trầm về tới nhà đã thấy Thiền Lan ngồi đó. Cô mua được chục gói mì ăn liền cho anh. Cô bảo anh đi tắm, nước nóng cô đã nấu rồi. Ở trong phòng bước ra, Trầm thấy Thiền Lan mở cái dĩa đậy tô mì nóng hổi. Mấy cọng hành trắng ngần, mùi tiêu thơm phức. Anh ăn ngon lành. Trầm hỏi Lan:


- Sao em không ăn cùng anh cho vui?


Cô nói:


- Em không đói, em chỉ thích ngó anh ăn!


Chờ cho người yêu uống xong tách trà, cô ôm lấy cổ anh, hôn lấy hôn để lên gương mặt anh và ra về. Cô kiên quyết không để Trầm đưa về nhà như mọi khi.


- Mười một giờ rồi. Anh nghỉ cho lại sức, mai còn làm việc.


- Nhưng...


- Nếu anh không nghe em, mai em không đến nữa!


(còn tiếp)


Nguồn: Trả giá. Tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Văn Nghệ TP.Hồ Chí Minh in lần đầu và lần thứ hai, năm 1988. Các NXB Văn học, NXB Hội Nhà văn… tái bản nhiều lần.


www.trieuxuan.info  


 


 








(1) Nghênh Phong: tên chữ của bãi Dứa. Vọng Nguyệt: bãi Ô Quắn. Tao Phùng, tức núi Nhỏ, có ngọn đèn biển ở đỉnh núi; tại đây còn lưu giữ chiếc ống nhòm cổ, rất lớn để quan sát biển.




(1)   Ba đời ghe: Câu nói đầy miệt thị chỉ những người ba đời làm nghề biển.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »