tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20000965
Tiểu thuyết
11.01.2016
Bạch Diện Nguyễn Văn Cư
Hà Nội xưa và nay

THỰC DÂN PHÁP ĐẶT ĐƯỜNG XE LỬA VÀ BẮC CẦU LONG BIÊN ĐỂ VƠ VÉT TÀI NGUYÊN CỦA TA


(Phụ lục thêm lai lịch đền Bia ở Cẩm Giàng)


 Năm 1895, thực dân Pháp đặt đường xe lửa chạy từ phố Hàng Cỏ xuống đến Văn Điển rồi dần dần xuống đến phủ Lý Nhân thuộc tỉnh Hà Nam ở bên này sông Châu Cầu. Chúng xây một nhà ga nhỏ một tầng ở đường Hàng Cỏ làm chỗ cho xe lửa đỗ và dựng lán chứa hàng. Đầu máy xe lửa hồi bấy giờ bé nhỏ chỉ bằng nửa đầu máy xe lửa bây giờ, đốt bằng củi, kéo được năm toa con, chạy rất chậm, vào khoảng 15 km/h và chuyên chở các lâm thổ sản từ sông Châu Cầu về Hà Nội. Lâm, thổ sản nhiều nhất là gỗ, chặt phá trong các khu rừng gần chùa Hương và Hòa Bình đóng bè thả trên sông trôi về phủ Lý Nhân[1] . Sau này thực dân Pháp cải tiến thêm để chở khách xuôi ngược, kéo dài đường sắt vào đến Vinh, lên Lạng Sơn. Nhà ga Hà Nội được xây dựng lên hai tầng, ta quen gọi là ga Hàng Cỏ. Thực dân Pháp nhường cho một công ty của Pháp mở đường xe lửa Hà Nội đi Hải Phòng và Hà Nội đi Vân Nam. Ta gọi là công ty xe lửa Vân Nam.


Bắt đầu từ năm 1930, Việt Nam và toàn cõi Đông Dương bị lôi cuốn vào cơn bão kinh tế khủng hoảng của thế giới. Nhiều nhà buôn lớn, kinh doanh to đều bị phá sản vì các nhà ngân hàng từ Nam chí Bắc đều thắt chặt túi tiền lại, không cho ai vay tiền nữa. Công nhân thất nghiệp nhiều vì các hiệu buôn, các xưởng công nghệ đóng cửa dãn thợ. Các công sở của Pháp cũng dãn các công chức bắt buộc những ông tham, ông phán phải dần về hưu khi mới có 55 tuổi, dần dần bắt tất cả các ông chưa đến 50 tuổi, và các ông nghiện thuốc phiện phải đi khám sức khỏe: ngực lép cho là có bệnh lao, thở bằng bụng cho là sức khỏe yếu bắt phải về hưu non.


     Từ năm 1933 đến năm 1938, nạn kinh tế khủng hoảng càng trầm trọng nhiều, xe lửa rất vắng người đi, hàng hóa không có để chuyên chở, nhà ga và công ty Vân Nam lỗ vốn tuy đã dãn nhiều nhân công và viên chức. Lúc bấy giờ bọn Pháp bày ra việc cổ động cho người ta đi lễ các đền Sòng (ở Thanh Hóa), đền Kiếp Bạc ở Phả Lại (người đi lễ đi xe lửa đến Bắc Ninh rồi đi thuyền đến Phả Lại); trẩy hội chùa Hương (đi xe lửa đến Phủ Lý tức phủ Lý Nhân, rồi đi thuyền vào bến Đục thuộc làng Yến Vĩ); đi lễ đền Phủ Giầy thờ vọng bà Liễu Hạnh (phải đi xe lửa đến ga Gôi khỏi Nam Định rồi vào đền). Làng Phủ Giầy xưa có tục: mỗi năm vào ngày mùng 8 tháng Giêng âm lịch mở hội tế tại đền thờ bà Liễu Hạnh, rồi tất cả mọi người trong làng có đồ đạc gì đem ra bán trước cửa đền họp thành cái chợ giời bán đồ cũ: giường, chiếu, bàn, ghế, tủ, chạn, chuồng gà. Bán giá rẻ, bán xong rồi lại sắm mới. Trước họ còn bán các đồ dùng cũ của họ, sau nhiều người Hà Nội về mua, họ làm ra và đi mua các món đồ mới các nơi về bán lấy lãi: quả sơn, tráp trầu, đỉnh nến đồng, tủ áo, vv…


Công ty xe lửa Vân Nam bày ra việc cổ động những người mê tín dị đoan đi lễ đền Bia, xin thuốc thánh. Đền Bia thuộc tỉnh Hải Dương, đi xe lửa đến ga Cẩm Giàng rồi đi bộ vào đền. Nguyên tại xã Văn Thai thuộc huyện Cẩm Giàng có ngôi đền thờ Tuệ Tĩnh thiền sư, ông tổ thuốc Nam. Tuệ Tĩnh thiền sư tên là Nguyễn Bá Tĩnh người làng Nghĩa Phú tổng Văn Thai, huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương. Ông đã đậu Thái học sĩ đời Trần Dụ Tông (1341-1379), theo đạo Phật, không lấy vợ, không ra làm quan, chuyên nghiên cứu thuốc Nam. Cuối đời Trần ông được mời sang Trung Quốc chữa bệnh cho Mã hoàng hậu vợ vua Minh Thái Tổ[2]. Ông chữa khỏi được, vua Minh phong là Đại y thiền sư. Ông lưu lại ở Trung Quốc rồi sau mất ở bên đó. Sau khi ông mất ít lâu, bà Mã hoàng hậu bị ốm lại, các quan ngự y Trung Quốc chữa không khỏi, bà ấy chết, Minh Thái Tổ đem chém hết các quan ngự y, vẫn chưa nguôi giận. Ông ta còn sai đi bắt hết các ông lang ở Kim Lăng (kinh đô nhà Minh) đem ra chợ chém chết hết. Hôm sắp làm lễ ninh lăng Mã hậu, trời mưa sụt sùi mãi. Minh Thái Tổ bắt một bọn mấy chục phong sư vào cung lập đàn cầu đảo, hạn cho ba ngày phải cầu trời khấn Phật cho tạnh mưa. Ông sư thầy liền xin cho hạn chín ngày vì đàn bà có chín vía. Ông ta xin thế có hai mục đích: một là trời mưa lâu tất phải tạnh; hai là hẹn dài ngày để thừa dịp sơ hở chạy trốn. Nhưng trong cung họ canh phòng cẩn mật không thể trốn ra được, mà tụng kinh cầu đảo mãi không tạnh, ngày thứ sáu lại mưa to hơn, sấm chớp ầm ầm. Bọn sư lo sợ quá khiến ông sư thầy phải đọc bài kệ:


            Vũ thấp thiên thùy lệ


            Lôi minh địa cử ai


            Thập phương chư bồ tát,


             Tương tống Mã Như Lai.


Bốn câu này ngụ ý nịnh vía mụ Mã hậu, có nghĩa là: Mưa ướt là trời sa nước mắt; sấm nổ vang là đất rên khóc; các vị Bồ Tát mười phương đến đưa ma bà Phật Như Lai họ Mã.


May sao, sau trận mưa to ấy thì ngày thứ bảy ngớt và từ ngày thứ tám trở đi nắng ráo. Thế là các nhà sư được thoát nạn và được ban thưởng rất hậu.


Kể chuyện Minh Thái Tổ (tên là Chu Nguyên Chương) có tính đa sát, tuy lạc đề nhưng tỏ ra rằng Tuệ Tĩnh thiền sư của ta là bậc thầy thuốc giỏi. Khi ông còn ở trong nước, nhân dân làng Văn Thai nhờ ông chữa bệnh được khỏi, khi nghe tin ông mất lập đền thờ. Năm 1845 (Thiệu Trị thứ năm) có người đào được các bia đá cổ, nói là Tuệ Tĩnh thiền sư giáng thế, ban thuốc để cứu dân. Hàng ngày có đến nghìn người kéo đến lễ bái xin thuốc. Họ hái các cây cỏ chung quanh đền về sắc uống. Các quan tỉnh Hải Dương ngăn cấm không được, làm sớ tâu về Huế. Thiệu Trị cho là việc hoang đường quái đản, ra lệnh mài bỏ bia đá, cấm mọi người không được đến lễ, đưa lính đến canh phòng các lối vào đền. Từ đó mới chấm dứt nạn mê tín dị đoan.


Năm 1933, xe lửa ế hàng, vắng khách, công ty xe lửa Vân Nam bí mật sai người đến làng Văn Thai dựng lại bia, nói là Tuệ Tĩnh thiền sư giáng thế cho thuốc cứu dân. Họ còn đặt ra câu hát:


          Đau bụng thì uống nước sông


          Đau mắt lấy nhựa xương rồng mà bôi.


Việc đi lễ xin thuốc thánh lôi kéo người các nơi đổ về đền Bia rất đông. Xe lửa chạy đường Hải Phòng tăng toa tăng chuyến mà ngày nào các chuyến tàu cũng đông nghịt người đi Cẩm Giàng để vào lễ đền Bia. Tại ga Hàng Cỏ, ga Đầu Cầu (nay là ga Long Biên), ga Gia Lâm, ga Cổ Bi, ga Như Quỳnh, ga Lạc Đạo, vv… lúc nào cũng đông người chen chúc lấy vé đi Cẩm Giàng. Tại ga Hà Nội và ga Đầu Cầu, công ty xe lửa Vân Nam cho nhiều nhân viên đặt những cái bàn ra vỉa hè chuyên bán vé cho hành khách đi Cẩm Giàng. Hồi bấy giờ đã có nhiều ô-tô chở khách đi Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, nhưng ô-tô chỉ chạy đến Đình Dù rồi rẽ qua chợ Đường Cái đi Bần, Yên Nhân, Yên Mỹ, qua Phố Nối, một đường đi Hưng Yên, một đường đi Hải Dương, Hải Phòng, không có đường qua Lạc Đạo, Cẩm Giàng. Thế là chỉ có xe lửa là vớ bẫm bằng cách tuyên truyền mê tín dị đoan cho nhân dân.


Về đường xe lửa đi Nam, trước kia chỉ chạy đến Vinh. Năm 1920, thực dân Pháp phát phiếu quốc trái vay tiền của dân để làm đường xe lửa từ Vinh đi Đông Hà, cuối năm 1930 mới có xe lửa chạy đến Huế và Đà Nẵng. Từ năm 1934 trở đi mới có xe lửa chạy Đà Nẵng đi Quảng Ngãi rồi sau vào đến Sài Gòn. Trái phiếu, thực dân Pháp cổ động rồi bắt buộc các làng phải mua, nhưng sau chúng quỵt rất nhiều bằng cách cho những người quyên phiếu cho “Nhà nước” được thưởng các Cửu phẩm văn giai hay cái Bát phẩm, cái Hàn lâm đãi chiếu tùy theo số tiền ghi trong phiếu nhiều ít. Hồi bấy giờ tại Hà Nội có danh từ “Ông Hàn quốc trái”.


 Xe lửa đi Lạng Sơn, Lào Cai và Hải Phòng cần phải vượt qua sông Hồng, nên thực dân Pháp thi hành việc bắc cầu Long Biên, ta quen gọi là cầu sông Cái. Ngày 12–9–1898, tên toàn quyền Paul Doumer đặt viên đá đầu tiên để xây cầu. Chúng mở công xưởng ở bến Nứa lan xuống gần cột đồng hồ phố Trần Nhật Duật ngày nay đặt máy nổ cho chạy điện, tối đến thắp đèn điện sáng choang cả một vùng để công nhân làm đêm. Khi xây xong các trụ cầu dưới sông, công nhân Việt Nam chết hại rất nhiều: mỗi người ngồi trong một cái thùng sắt có không khí ép (caissons à air comprimé) ta gọi là cái chuông, thả xuống nước làm việc dưới đáy sông, làm trong một giờ được kéo lên. Nhiều người lên khỏi mặt nước hộc máu mồm ra chết ngay; người nào khỏe cũng bị ngất đi, phải sưởi lửa và cấp cứu may ra mới sống được. Với việc làm nguy hiểm đến tính mạng như vậy mà mỗi người được trả công có một đồng bạc. Một đồng bạc hồi bấy giờ có thể mua được một tạ gạo ngon, nhưng không đủ bù vào tiền thuốc men bồi dưỡng, tiền làm ma chay mà vợ con công nhân lại mất nhờ suốt đời.


 Một tên tư sản mại bản người Việt Nam theo đóm ăn tàn, làm giàu trong vụ xây cầu này bằng cách lừa lọc các ông lái gỗ. Người đó là Bạch Thái Bưởi, ta thường gọi là Ký Bưởi, vì hắn xuất thân là một anh ký lục của sở công sứ Pháp đã góp phần với cô Tư Hồng phá thành Hà Nội. Nay hắn đứng ra thầu bán gỗ lim cho thực dân Pháp làm dầm cầu, tà vẹt và lát mặt cầu. Hắn vào Thanh Hóa, Nghệ An mua gỗ lim nhiều lần nên quen nhiều lái gỗ. Hắn mời một số ông lái gỗ ra Hà Nội xem công việc làm cầu của thực dân Pháp, tiền phí tổn đi về, tiền ăn ở tại Hà Nội hắn đài thọ hết. Các ông này vốn chân quê, chưa ra khỏi lũy tre xanh bao giờ, nay được đón tiếp ở nhà hắn, một ngôi nhà lộng lẫy lịch sự, ngày hai bữa cơm rượu linh đình, bao nhiêu của ngon vật lạ các ông chưa được nếm bao giờ. Hắn đưa các ông vào công xưởng của Pháp để xem công việc làm toàn những máy móc chạy điện rất mới lạ với các ông. Tối đến các ông còn được xem thấy đèn điện thắp như ngày hội hoa đăng, công nhân làm việc tấp nập. Những hôm không đi xem xưởng lại được dẫn đi xem các di tích thắng cảnh Hà Nội, tối đi xem hát tuồng hát chèo, thưởng thức cuộc hát cô đào. Hắn rủ các ông lái gỗ mua nhiều gỗ đem ra Hà Nội, hắn bán giúp cho sẽ giàu to. Các ông tin thực về nhà bán ruộng, bán vườn, rủ họ hàng bà con bỏ vốn ra mua gỗ lim, chở ra Hà Nội. Khi gỗ lim tới nơi xếp đầy cột đồng hồ thì vừa đúng lúc công xưởng của Pháp nghỉ việc để chờ nguyên vật liệu từ Pháp đưa sang. Các ông lái gỗ đến gõ cửa nhà Bạch Thái Bưởi, thì cửa đóng im ỉm không gặp một ai, đành phải rủ nhau tìm hàng cơm nhà trọ, rồi hàng ngày đến chầu chực trước cửa nhà ký Bưởi. Một lần các ông được gặp anh bếp, hỏi thăm, anh ta nói cho biết: “Ông chủ tôi ốm nặng phải vào nằm nhà thương không có ở nhà!”. Các ông lái gỗ cơm hàng cháo chợ mãi hơn một tháng giời, tiền lưng đã cạn, bấy giờ mới được gặp Bạch Thái Bưởi, thì hắn ta cũng thân hình tiều tụy chống ba-toong ra tiếp khách: “Bây giờ Nhà nước thấy việc làm cầu bắc qua sông rộng quá không làm được, bỏ dở, đang thu xếp để nghỉ. Tôi vì việc này mất hết cơ nghiệp, phát ốm sắp chết, không biết chết ngày nào!”. Nghe câu nói ấy, các ông lái gỗ như bị dội một thùng nước lạnh, chết điếng người, ngơ ngác nhìn nhau. Gỗ lim cây bây giờ là thứ khó bán, các ông lái gỗ lại không quen biết ai ở Hà Nội, đành phải nhờ Ký Bưởi bán giúp hộ để lấy tiền về. Bạch Thái Bưởi lắc đầu lia lịa: “Tôi cũng sắp chết, giúp sao được các ông!”. Cuối cùng các ông lái gỗ phải bán rẻ tất cả số gỗ đem ra cho Ký Bưởi theo câu “bỏ của chạy lấy người”. Ký Bưởi nhăn nhó mãi rồi tỏ vẻ “thương hại” mua “giúp” cho các ông, của đáng mười đồng lấy về chưa được đồng bạc. Thế là hắn vớ bẫm.


Sau việc thầu gỗ hắn đóng tàu thủy chạy các đường sông. Nhà hắn ở góc phố Hàng Tre, Hàng Muối trông thẳng ra cột đồng hồ, hàng ngày treo lá cờ trắng dài có sáu chữ Nho lớn: “Luân thuyền Bạch Thái công ty” nhưng thực tế chỉ có mình hắn thôi, không có ai hùn vốn cả. Tàu của hắn đều đặt tên các danh nhân Việt Nam: Trưng Trắc, Trưng Nhị, Đinh Tiên Hoàng, Lê Lợi, vv… Hắn thuê tiền Phạm Quỳnh ra một số báo Nam Phong đặc biệt chuyên tán tụng và quảng cáo cho hãng tàu của hắn. Tàu thủy của hắn cạnh tranh với tàu thủy của Hoa kiều nhiều phen rất gay go. Có lần tàu Hoa kiều chở khách Hà Nội đi Nam Định giá vé một hào một người, tàu Bạch Thái Bưởi lấy tám xu, tàu Hoa kiều hạ xuống tám xu, tàu của Bưởi hạ xuống nữa, hạ mãi cho đến khi chở khách không lấy tiền. Tuy nói là không lấy tiền, nhưng khi tàu chạy đến giữa sông, Bưởi cho anh ba-toong đàm (patron) đặt những chiếc thùng sắt tây ra giữa tàu, kêu gọi hành khách tùy tâm giúp đỡ cho có tiền mua than mua dầu và gợi lên câu người Nam nên giúp đỡ nhau. Bằng cách ấy, số tiền quyên có khi nhiều hơn tiền bán vé. Ngoài lối cạnh tranh ấy còn có lối cạnh tranh cho tàu húc nhau gây tai nạn và thiệt hại cho địch thủ[3].


Bạch Thái Bưởi chuyên làm giàu bằng lối đi lừa. Hắn đã lừa lấy không ngôi nhà số 82 Hàng Gai. Chủ nhà này là con cháu một người đỗ tiến sĩ từ đời cuối Lê. Thời bấy giờ những người đỗ tiến sĩ gọi là ông nghè (vì đứng nghe xướng danh và nhận mũ áo triều phục dưới cái mái nghè trong sân của triều đình), đều được phép chiếm nhà đất của dân để xây dinh thự[4].


Ngôi nhà số 82 Hàng Gai ngày nay là ngôi nhà rộng nhất phố, ăn thông ra ngõ Hàng Chỉ, bên trong xây dựng nhiều buồng, có sân gạch, có vườn hoa, có giếng nước. Khi Pháp đánh chiếm Hà Nội, lấy ngôi nhà này làm tòa Công sứ Pháp, ngoài cửa treo cái biển gỗ đề chữ Resident de France. Sau Pháp thiên tòa công sứ đi nơi khác, dùng nhà này làm sở Cẩm[5], sau nhà có buồng giam giữ những người chống đối chúng. Khi Pháp xây sở Cẩm Hàng Trống, trả ngôi nhà này cho chủ. Vợ chồng người chủ nhờ mối lái dạm bán cho Bạch Thái Bưởi, hồi bấy giờ chưa đến nghìn bạc. Việc mua bán nhà thời ấy chỉ do hai bên làm văn tự riêng với nhau, chồng ký, vợ điểm chỉ, người viết văn tự (chữ Nho) ký, người làm chứng ký. Thế là đủ. Hôm ký văn tự và giao tiền, Bạch Thái Bưởi làm bữa cỗ to, mời bè bạn của hắn, người làm chứng người viết văn tự, vợ chồng chủ nhà là quý khách, có đến ba chục người ăn vào buổi tối. Vợ chồng Ký Bưởi và bạn bè hắn luôn luôn mời mọc chuốc rượu vợ chồng chủ nhà. Uống rượu nửa chừng, Ký Bưởi bảo vợ đem tiền ra (bấy giờ còn tiêu bằng đồng bạc hoa xòe), đếm, bày từng cọc tiền mười đồng, đặt khắp trên mặt bàn kê giữa nhà. Ký Bưởi mời vợ chồng chủ nhà ra đếm lại sau đó ký vào văn tự. Mọi người ký xong, tiếng cười râm ran và đốt tràng pháo mừng. Bưởi bảo vợ trút hết tiền vào bao tải để một chỗ. Bấy giờ lại thay cỗ, mọi người vào ăn uống trò chuyện có vẻ suồng sã và thúc ép vợ chồng chủ nhà uống rượu say mèm. Đến khuya, vợ chồng chủ nhà xin về, Bưởi sai xà ích đánh xe song mã của hắn đưa về. Khi đứng dậy để ra xe, vợ chồng chủ nhà hỏi túi tiền, Bưởi ngớ ra rồi cứ đổ riệt cho là vợ chồng say rượu nhận tiền ký văn tự rồi, còn đòi nữa. Bè bạn hắn cũng xúm vào nói một giọng như vậy. Thế là hắn được không cái nhà. Về sau Bạch Thái Bưởi bán lại ngôi nhà này cho em rể hắn là Lê Văn Phúc (thường gọi là thông Phúc, bạn học với hắn) mở nhà in Đông Kinh ấn quán.


Trở lại chuyện làm cầu sông Cái. Thực dân Pháp làm suốt bốn năm mới xong cầu. Cầu dài 1.600 mét, dùng cho xe lửa đi, hai bên có lối đi nhỏ dành cho người đi bộ, bên đi bên lại. Ngày nay chúng ta qua gầm cầu nơi gần ga Đầu Cầu (tức ga Long Biên) có cái thang gạch xây kiên cố, đó là thang dùng cho người đi bộ để leo lên cầu. Năm 1922, do ngành ô-tô du lịch và ô-tô chở khách phát triển, nên cầu lại được mở rộng thêm cho xe cộ qua lại hai bên thành cầu.


Cầu này Pháp đặt tên là cầu Paul Doumer, nhưng nhân dân ta vẫn gọi là cầu sông Cái, chính phủ ta đặt tên là cầu Long Biên.


Nhắc lại khi làm xong cầu, ngày 28-2-1902 thực dân Pháp làm lễ khánh thành mở hội mấy ngày, mời quan chức các nước tới dự, có cả đô đốc Vân Nam, đô đốc Quảng Tây (Trung Quốc) đưa cả dân tộc thiểu số các vùng Hà Giang, Tuyên Quang, Sơn La, Lai Châu, các quan đầu tỉnh các tỉnh Bắc kỳ, đem cả Thành Thái và phụ chánh Nguyễn Trọng Hiệp từ Huế ra dự. Bọn người được mời đến dự người nào cũng đọc diễn văn tán tụng Pháp, khen việc làm cầu, riêng Thành Thái đứng đực ra không biết nói gì. Hoàng Cao Khải lúc ấy làm Kinh lược Bắc kỳ chép một bài thơ chữ Hán đưa cho Thành Thái đọc:


Vũ vũ văn văn ý cẩm bào


  Trẫm vì thiên tử đội gian lao


    Tam bôi huỳnh tửu quần lệ huyết


   Kỷ trản thanh trà bách tính cao


 Thiên lệ lạc dư, nhân lệ lạc


    Ca thanh cao xứ, khắp thanh cao


   Can qua thử hội hưu đàm luận


    Lân tuất thương sinh phó nhĩ tào!


Nghĩa là: Các quan văn võ đều xúng xính trong áo gấm, riêng trẫm là con trời chịu sự vất vả. Ba cốc rượu vàng là máu của muôn dân; mấy chén trà xanh là cao của trăm họ. Nước mắt của trời rơi xuống nước mắt của người cũng sa; tiếng hát lên cao thì tiếng khóc cũng cao. Trong hội này không nên nói đến chuyện chiến tranh nữa. Việc thương xót cứu giúp dân đen phó cho bọn các ngươi.


Bài thơ chữ Nho này trước nay ta vẫn nói là của Thành Thái làm, nhưng không phải. Hồi Tự Đức còn sống ông ta đã đưa ra bình nghị với các quan triều thần một số bài thơ nhiều vần và nhiều câu, nhiều chữ giống như bài thơ kể trên, trong đó có hai bài nói là của vua Cao Tông nhà Thanh, niên hiệu Càn Long đầu đề là “Thị bách quan” (Bảo cho trăm quan). Một bài có hai câu kết:


    Quần dương không xử sài lang mục,


Phụ trẫm sơ tâm thị nhĩ tào


Nghĩa là: Không khiến giống sài lang chăn bầy dê, phụ tấm lòng của ta là lũ các ngươi. Một bài khác có hai câu kết:


           Quần dương không phó sài lang mục


Ngộ ngã thương sinh trách nhĩ tào.


Nghĩa là: không giao phó bầy dê cho lũ sài lang chăn; làm nhầm dân ta là lũ các ngươi.


Một bài nữa, có đầu đề là: “Nhân Tông trách thần công thi” (Thơ Nhân Tông trách các công thần) nhiều câu, nhiều chữ và tất cả năm vần đúng như bài thơ Thành Thái đọc. Hai câu kết như sau:


            Bình cư mạn thuyết quân ẩn trọng;


Cô phụ quan ân thị nhĩ tào.


Nghĩa là: ngày thường chớ nói ân vua nặng; cô phụ ân vua là lũ các ngươi.


Nhân Tông niên hiệu Gia Khánh, con Cao Tông. Hoàng Cao Khải nhớ được những bài thơ này chép lại và tự tiện đổi hai câu kết, vì bấy giờ nhân dân ta khắp nơi vẫn nổi lên vũ trang chống Pháp, kiệt hiệt nhất là chiến khu Ba Đình của cụ Phan Đình Phùng và Đinh Công Tráng, chiến khu Yên Thế của Đề Thám.


Năm 1948, thực dân Pháp sắp đưa Duy Tân ở cù lao Réunion về Huế lập lên làm vua lại, thay Bảo Đại, nhưng Duy Tân bị tử nạn trong một cuộc đua ô-tô tại đấy. Sau Pháp đưa gia đình Thành Thái (bố Duy Tân) về Sài Gòn cho ở trong căn nhà một tầng tại Phú Nhuận. Một anh nhà báo đến hỏi ông ta về bài thơ trên, ông ta nói: “Bài thơ ấy của thằng Hoàng Cao Khải làm, không phải của tôi. Thơ tôi hay kia!”.


 


NHỮNG CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG PHÁP


CỦA NHÂN DÂN TA TẠI HÀ NỘI


 


     Từ năm 1858, thực dân Pháp gây hấn ở trong Nam rồi dần dần chiếm gọn sáu tỉnh miền Nam. Mặc dầu triều đình Huế, bọn vua quan nhà Nguyễn cúi cổ đầu hàng, song khắp nơi nhân dân ta vẫn nổi lên chống Pháp. Các sử sách, báo chí của ta nói đến rất nhiều, sau này, các nhà văn nhà báo còn khai thác sưu tầm những phong trào nổi dậy chống Pháp của nhân dân ta mà sử sách còn bỏ sót, song tôi xin phép không nhắc lại nữa. Ở đây, tôi chỉ kể sơ lược những cuộc chống Pháp có liên quan hoặc có ảnh hưởng đến Hà Nội và một số sự việc mà nhiều sách báo không nói đến hoặc ít người biết đến.


Trong các cuộc khởi nghĩa chống Pháp, đồng bào các dân tộc cũng nổi lên chiến đấu rất hăng hái, do đó thực dân Pháp phải đặt bốn hạt quan binh (Territsire militaire) suốt từ Móng Cái đến vùng Tây-bắc. Tất cả bốn địa hạt này giao cho binh lính Pháp cai quản để đàn áp các cuộc nổi dậy của đồng bào các dân tộc. Có những đồng bào các dân tộc ở vùng Lạng Sơn cộng tác với ông Hoàng Hoa Thám trong chiến khu Yên Thế.


Trong số người cộng tác với ông Hoàng Hoa Thám có một người làm chấn động cả Hà Nội và các vùng miền xuôi. Người đó là Kỳ Đồng, tên thật là Nguyễn Văn Cẩm, người làng Trung Lập huyện Duyên Hà tỉnh Thái Bình. Theo truyền thuyết thì Nguyễn Văn Cẩm là một cậu bé rất thông minh, lên năm tuổi đã học giỏi, biết làm câu đối. Người ta đọc vế đầu:


Đứng giữa làng Trung Lập


Cẩm ứng khẩu đối ngay:


Dậy trước phủ Tiên Hưng


(Phủ Tiên Hưng cũng thuộc tỉnh Thái Bình).


Người thử tài lại ra câu:


   Tây bắc sang Nam đông đáo để


   Cẩm đối ngay:


   Ngựa xe theo tướng tốt làm sao!


Thấy Cẩm có tài ứng đối như vậy, mọi người gọi là Kỳ Đồng, nghĩa là cậu bé có tài lạ, về sau thành biệt hiệu. Thực dân Pháp thấy thế liền đem lên Hà Nội cho học chữ Pháp rồi cho sang Algéria học thêm, ít lâu sau Cẩm đã đỗ tú tài Tây, Pháp đem về Hà Nội định lợi dụng, nhưng Nguyễn Văn Cẩm không bị cám dỗ, quay ra tuyên truyền chống Pháp. Khi còn học ở Alge, Nguyễn Văn Cẩm luyện tập được thuật nói bằng bụng (ventriloquie); là thuật làm cho tiếng nói của mình tuy từ trong bụng phát ra nhưng người ngồi bên cạnh hay trước mặt lại nghe thấy từ ngoài đường đưa vào hay từ mái nhà đưa xuống. Hồi bấy giờ nhân dân Hà Nội và các nơi tuyên truyền rằng ông Kỳ Đồng có phép tàng hình, chỉ nghe thấy tiếng nói mà không trông thấy người. Bằng thuật ấy Kỳ Đồng đã tuyên truyền được số đông người theo mình chống Pháp. Ông cộng tác với ông Hoàng Hoa Thám và lãnh đạo nghĩa quân đánh Pháp tại các tỉnh Hải Dương, Thái Bình, Nam Định. Nhưng sau khi chiến khu Yên Thế của ông Hoàng Hoa Thám bị tan vỡ, thì ông Kỳ Đồng bị cô thế và bị Pháp bắt được đem đi đày tại Tahiti.


     Ông Hoàng Hoa Thám hưởng ứng lời hiệu triệu Cần Vương của vua Hàm Nghi mộ quân chống Pháp, đóng căn cứ vững chắc ở Yên Thế, đã làm cho thực dân Pháp nhiều phen lao đao trong ngót a mươi năm. Có lần ông đã thông đồng với các nghĩa sĩ ở Hà Nội, mưu đánh úp Hà Nội vào năm 1908, ta gọi là vụ “Hà thành đầu độc”. Ông Hoàng Hoa Thám cho 200 nghĩa quân kéo vào Hà Nội, cải trang làm lái buôn, khí giới giấu trong đòn ống, một phần vào trọ ở hàng cơm của bà Sáu Tỉnh tức Nguyễn Thị Luyến ở phố Cửa Nam. Bà Sáu Tỉnh là người pha chế thuốc độc giao cho một số nghĩa binh là lính khố đỏ đóng ở trong thành để trộn vào thức ăn đầu độc bọn binh lính Pháp. Các nghĩa sĩ ở ngoài thành, đóng rải rác khắp nơi chờ khi trong thành đánh ngã các binh lính Pháp rồi nổ súng báo hiệu thì ngoài đánh vào trong đánh ra. Nhưng không ngờ trong bọn nghĩa binh có anh theo Thiên Chúa giáo, sau khi pha trộn thuốc độc rồi, sợ hãi và ăn năn vào Nhà thờ Lớn thú tội với cố Ân (Père Dronet). Cố Ân vội đi báo ngay cho bọn võ quan trong thành biết. Vừa lúc ấy có khoảng 300 tên lính Pháp bị trúng độc chưa chết, các bác sĩ Pháp được gọi đến rửa ruột cho bọn ấy. Lập tức binh lính Pháp tổ chức cuộc canh phòng và bắt bớ những người tình nghi. Bà Sáu Tỉnh bị bắt và bị tra tấn đến chết không chịu xưng. Các nghĩa quân của Đề Thám thấy việc đầu độc không thành đều rút lui ra khỏi thành phố hết. Đêm hôm ấy, Pháp cho binh lính và ngựa lừa kéo xe súng tải đạn đi tuần các phố rầm rập suốt đêm, đi đến đâu chúng gọi loa bắt mọi người phải ở trong nhà đóng cửa lại. Ngày hôm sau chúng bắt bớ thêm nhiều người, nhiều cụ nhà nho trong phong trào Đông Kinh nghĩa thục bị bắt.


Cuộc khởi nghĩa của ông Hoàng Hoa Thám đến năm 1913 bị thất bại. Theo tin tức hồi bấy giờ thì ông Đề Thám tin một tên gián điệp mà ông không ngờ tên là Lương Tam Kỳ, một tên lái buôn Hoa kiều đã phản ông nên ông bị Pháp bắt được và ông bị hy sinh. Nhưng theo nguồn tin khác thì ông Đề Thám không bị bắt. Sau khi chiến khu Yên Thế bị tan rã, ông rút lui về ở ẩn ở một nơi rồi sau chết vì bệnh già yếu. Riêng người vợ lẽ và cô con gái nhỏ của ông là Hoàng Thị Thế bị Pháp bắt được. Sau Pháp đem cô Thế sang Pháp cho đi học. Năm 1930 cô đã lớn tuổi, được Pháp đưa về chơi Hà Nội. Năm ấy Bắc kỳ bị lụt, dân chết đói nhiều, một bọn người đứng ra tổ chức cuộc diễn văn nghệ ca nhạc tại nhà nhạc hội Bờ Hồ[6], để quyên tiền giúp dân bị lụt. Cô vào xem, định lên sân khấu hát mấy bài để giúp việc nghĩa nhưng Pháp không cho, sợ cô xuất hiện lại gợi cho mọi người nhớ đến thời kỳ oanh liệt của ông Hoàng Hoa Thám.


Sở dĩ thực dân Pháp bắt nhiều cụ nhà nho trong phong trào Đông kinh nghĩa thục là vì có một số cụ cũng dự mưu trong việc đầu độc này.


Đông Kinh nghĩa thục là một trường tư dạy học không lấy học phí, mục đích là khai dân trí chấn dân quyền. Người sáng lập là cụ cử Lương Văn Can ở phố Hàng Đào. Việc mở trường học bấy giờ thực dân Pháp bắt phải xin phép, vì cuộc biểu tình của dân Hà Nội năm 1906 tại đền Ngọc Sơn (chúng tôi sẽ nói đến dưới đây) nên chúng ra lệnh: các cuộc họp từ hai mươi người trở lên phải xin phép. Cụ cử Can là người bị tình nghi trong các vụ định đánh úp Hà Nội khi Pháp mở cuộc triển lãm tại nhà đấu xảo đường Hàng Cỏ, nên cụ đứng xin phép không được. Cụ phải rủ và dựa vào Nguyễn Văn Vĩnh - chủ báo Trung Bắc tân văn, một tên tay sai đắc lực của Pháp - đứng xin phép giúp. Lẽ dĩ nhiên Vĩnh cũng là một sáng lập viên của nhà trường. Giấy phép do thống sứ cấp. Tháng 3 năm 1907, trường bắt đầu khai giảng. Cụ Cử nhường hẳn tòa nhà số 10 Hàng Đào là tòa nhà vừa sâu vừa rộng làm trường học, còn cụ dọn sang ở số 4 cùng phố. Trường dạy học theo lối mới, không lấy học phí của học trò, các giáo viên cũng sẵn lòng dạy không lấy thù lao. Tiền kinh phí của nhà trường do các nhà buôn, các nhà giàu trong thành phố và các tình nguyện trợ cấp: người một vài trăm, người 500 đồng. Cụ cử Can là người có danh vọng trong thành phố, vợ và dâu con cụ đều buôn bán tơ lụa ở phố Hàng Đào - nhất là bà Cả Tòng, con gái cụ và là con dâu cụ cử Kim Cổ Ngô Văn Dạng được nhiều người mến trọng nên việc lạc quyên ủng hộ cho Đông Kinh nghĩa thục được dễ dàng. Về phần giáo viên thì cụ cử Can, cụ Hoàng Tăng Bí, cụ cử Long Lê Đại, cụ Cát Thành, cụ Dương Bá Trạc và nhiều cụ nữa chuyên dạy chữ Nho bằng các tân thư mua tại Trung Quốc. Ông Nguyễn Văn Đức, giáo sư trường Sư phạm và Nguyễn Văn Vĩnh cùng một số nhà Tây học khác chuyên dạy chữ Quốc ngữ và chữ Pháp. Nhà trường luôn tổ chức cuộc diễn thuyết cổ động mọi người sống theo lối mới, cắt bỏ búi tóc, để răng trắng, mặc Âu phục; công kích thói mê tín dị đoan và những hủ tục về hương ẩm, khao vọng. Cụ Phan Bội Châu, khi ở Trung Quốc về, đến ở luôn trong nhà trường cho đến ngày ra đi. Cụ Phan Chu Trinh ở Quảng Nam ra đến làm giảng viên trong nhà trưòng, chưa kể ông Đào Nguuyên Phổ làm báo chuyên giữ phần chữ Nho trong Đăng Cổ trùng báo cũng làm giảng viên trong nhà trường. Học trò các nơi kéo đến học rất đông, có đến năm sáu trăm người, nhà trường phải chia giờ dạy làm bốn buổi: sáng, trưa, chiều và tối. Những tối có cuộc diễn thuyết, người đến nghe có đến hơn nghìn, ngồi cả ra vỉa hè. Cụ cử Can, cụ bảng Bí (Đặng Hoàng Bí), cụ Lê Đại và Nguyễn Văn Vĩnh nói rất hùng hồn. Nguyễn Văn Vĩnh bấy giờ còn để búi tóc quấn khăn lượt mặc áo the, trên mép để hai cái ria như râu rồng. Khi cổ động mọi người cắt bỏ búi tóc, hắn ta làm trước rồi mặc âu phục để khuyến khích mọi người làm theo. Các cụ nhà nho biết rõ Vĩnh là tên mật thám đầu sỏ của Pháp vẫn luôn luôn đề phòng, mà trong số học trò cũng có nhiều tên mật thám trà trộn vào để dò xét và theo dõi các cụ vì Pháp vẫn nghi ngờ. Đám thanh niên trong thành phố đến nghe diễn thuyết cổ động nếp sống mới, đều rất hăng hái, tự họ cắt bỏ búi tóc của mình. Họ lại còn cầm kéo đi cắt búi tóc của các người khác gây nên những sự cãi nhau, chửi nhau ầm ĩ các phố xá, người ta gọi là “loạn đầu bào”. Việc này lan cả vào đến Quảng Nam.


Thực dân Pháp thấy trường mới mở có mấy tháng mà số học trò và số người đến nghe diễn thuyết đã quá đông liền ra lệnh đóng cửa trường. Tháng 11 năm 1907, tên chánh cẩm đem một số đội xếp vừa Tây vừa ta đến trường nói cho cụ Huấn Quyền - giám đốc nhà trường - biết rằng trường học không có giấy phép không được mở. Cụ cử Can đưa giấy phép của thống sứ ra cho xem, nó nói rằng đây là giấy phép của quan thống sứ trông coi toàn hạt Bắc kỳ, cho mở trường, nhưng mở ở Hà Nội phải có giấy phép của quan đốc lý vì Hà Nội thuộc quyền đốc lý, lại còn để cho người nghe diễn thuyết ngồi cả ra vỉa hè không có giấy phép của Sở Cẩm đều là những việc vi phạm luật vi cảnh của thành phố. Thế rồi chúng sai đội xếp ta hạ biển xuống, xua đuổi hết học trò ra ngoài đóng cửa trường lại và phái cảnh sát mật thám hàng chục tên, canh gác trước cửa trường ngày đêm không cho ai ra vào.


Sang năm sau 1908, xảy ra vụ “Hà thành đầu độc”, nhân có một số cụ trong Đông kinh nghĩa thục can dự vào, chúng liền khủng bố các cụ nhà nho: cụ cử Can, cụ Huấn Quyền, cụ Bảng Bí, cụ Lê Đại, cụ Cát Thành và một số đông các cụ khác nữa, đưa ra hội đồng đề hình xét xử. Các cụ đều bị kết án, người năm năm người mười năm đày ra Côn Đảo. Riêng cụ Bảng Hoàng Tăng Bí là cháu họ ngoại cụ Nguyễn Tư Giản - một vị đại thần dưới triều Tự Đức - được một số quan lại bạn đồng liêu của cụ Tư Giản, xin cho cụ Bảng Bí không phải đi đày ra Côn Đảo mà phải an trí ở Huế (đến năm 1926, cụ Bảng Bí mới được trả về Hà Nội). Đào Nguyên Phổ không bị bắt vì đã làm chủ bút phần chữ Nho Đăng Cổ trùng báo. Có cụ bị đày ra Côn Đảo mười năm khi được về đã phẫn khích bằng hai câu thơ:


Nói nôm ba chữ ma nào sợ


Nhốt chặt mười năm cọp cũng lành


Đây chỉ là sự phẫn khích của một người chớ những người yêu nước vẫn kiên trì đấu tranh không chán nản.


Nhắc lại cuộc biểu tình của nhân dân Hà Nội năm 1906 tại Bờ Hồ. Nguyên từ năm 1902, thực dân Pháp khánh thành cầu Long Biên, mời nhiều người nước ngoài và các nơi trong nước về dự lễ. Hồi bấy giờ chưa có thuốc men gì phòng bệnh, nên trong số những người từ xa đến đem các mầm bệnh đậu mùa, dịch tả, dịch hạch, thế rồi từ năm ấy trở đi nhân dân ta bị mắc nhiều bệnh dịch ghê gớm, nguy hiểm nhất là bệnh dịch hạch, người chết rất nhiều. Không có thuốc chữa, thực dân Pháp chỉ biết dùng cách tẩy uế: thấy nhà nào có người chết trẻ, chúng sai nhân viên vệ sinh đến nhà người ta thu nhặt chăn màn, giường, chiếu, quần áo người chết đem đi đốt, vẩy nước “lô bích kê” (cờ-rê-din) và rắc vôi bột khắp nhà. Bọn nhân viên này vào nhà người ta vơ những quần áo tốt của người sống, đồ dùng đáng giá lấy đi, mọi người giữ không được. Nhân dân các phố họp nhau có đến mấy trăm người trong đền Ngọc Sơn định kéo lên tòa đốc lý biểu tình phản đối việc “tẩy uế” như vậy. Thực dân Pháp dò biết liền phái đội xếp Tây ta và lính khố xanh xông vào đền bắt mọi người giải tán, chúng thừa dịp này giật khăn, cướp ô, cướp nón của dân. Hơn 60 năm quản lý thành phố Hà Nội, thực dân Pháp vẫn bất lực trong việc dập tắt các bệnh dịch, nhất là bệnh dịch tả xảy ra thường xuyên. Một năm (vào khoảng năm 1929) bệnh dịch tả hoành hành dữ dội, ngoài đường phố thường có xác người chết, đốc lý Hà Nội phái nhân viên vệ sinh kéo xe bò, xách thùng vôi bột đi khắp các phố, hễ thấy xác chết là đổ vôi vào khiêng lên xe kéo đi. Bọn này lê đến bãi Phúc Xá thấy một người đang nôn thốc nôn tháo liền đổ vôi vào, người này kêu um lên rằng anh ta bị say nước chè tươi chứ không phải bị thổ tả, bao nhiêu người chung quanh nói giúp chúng mới không lôi đi chôn.


Trước các cuộc đấu tranh của nhân dân ta, thực dân Pháp đàn áp rất dã man, nhưng nhân dân ta đối phó lại còn mạnh mẽ hơn. Năm 1913, một trái bom ném vào nhà Hanoi Hôtel phố Tràng Tiền (nay là khách sạn Dân Chủ) giết chết hai tên võ quan Pháp là Chapuis và Montgrand làm chấn động khắp Hà Nội và các nơi trong nước. Các sách báo trước nay đã nói nhiều đến vụ này, nhưng đều bỏ quên một người không ai nhắc đến. Người đó là ông Nguyễn Văn Tý, công nhân Nhà máy Xe lửa Công ty Vân Nam. Ông Nguyễn Văn Tý là anh ruột ông Nguyễn Văn Tỵ tức cai Tâm, cũng là công nhân Nhà máy Xe lửa Vân Nam (ông cai Tâm có ngôi nhà số 53 phố Ngọc Lân, Gia Lâm. Ông đã qua đời nhưng hiện vợ con ông vẫn còn ở đó).


Ông Nguuyễn Văn Tý đem bom từ Vân Nam về, giấu ở nhà người em rể tại số 126 phố Sinh Từ (nay là phố Nguyễn Khuyến, ngôi nhà này hồi bấy giờ có một tầng, thấp lụp xụp). Ông Tý giấu bom dưới gầm giường trong nhà này, hôm sau ông đem đi giao cho nghĩa sĩ hạ sát bọn Pháp. Sau khi việc vỡ lở, người ném bom bị xử tử, còn ông Tý bị kết án mười năm khổ sai đày ra Côn Đảo. Tại đây ông phải làm việc xay thóc rất cực nhọc, sau bị đau mắt rồi mù, thực dân Pháp mới thả ông về, được mấy năm thì mất.


(còn tiếp)


Nguồn: Hà Nội xưa và nay. Tập Ký của Bạch Diện Nguyễn Văn Cư. NXB Hội Nhà văn, 10-2015.


www.trieuxuan.info


 








[1] Phủ Lý Nhân sau này ta gọi là Phủ Lý.




[2] Việc chữa bệnh cho bà Mã hậu – vợ Minh Thái Tổ, một ông vua thích giết người – là việc làm rất nguy hiểm. Ông thầy thuốc không được vào chỗ buồng bà hoàng hậu nằm, không được nhìn thấy bà, không được nghe tiếng bà nói. Ông chỉ được chắp tay đứng chờ ở một buồng riêng rồi có cung nữ đem cái áo lót mình của bà hoàng hậu ốm trải ra giữa giường. Ông thầy thuốc sụp xuống lạy cái áo rồi quỳ bên cạnh giường kính cẩn đặt ba ngón tay lên cổ áo mà bắt mạch. Bắt mạch xong cổ tay phải lạy bốn lạy rồi đi vòng sang bên kia giường lạy bốn lạy rồi quỳ xuống kính cẩn đặt ba ngón tay lên cổ áo tay trái bắt mạch. Xong rồi lạy bốn lạy, đứng lên hỏi cô cung nữ về sự ăn, ngủ, đại tiểu tiện, kinh nguyệt của bà Mã hậu; hỏi cả về da mặt hồng hào béo tốt hay xanh gầy, tiếng nói to mạnh hay nhỏ yếu. Hỏi cặn kẽ rồi thắp hương viết biểu kể bệnh rồi kê đơn thuốc dâng Minh Thái Tổ. Việc bắt mạch chỉ là tượng trưng, thầy thuốc căn cứ vào lời kể bệnh của cung nữ mà đoán bệnh.




[3] Năm 1930, chiếc tàu thủy của Nguyễn Hữu Thu tức Sen (ta quen gọi là Thông Vôi) vì sự cạnh tranh húc đắm chiếc tàu thủy Giang Môn của Hoa kiều tại gần bến đò Tân Đệ (Thái Bình). Người ta vớt lên được 600 xác chết bày kín hai bên chân đê, tiếng gào khóc của thân nhân bị nạn kéo dài suốt mấy ngày.




[4] Do việc này nên nhân gian có câu: “Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng” vì có anh chưa đỗ ông nghè đã đe dọa nhân dân trong tổng: “Tôi mà đỗ ông nghè, tôi bắt anh phải đi khiêng cáng, rồi tôi chiếm nhà đất của anh để xây dinh thự”.




[5] Do từ Commissaire (tiếng Pháp) mà ra. Từ này có nhiều nghĩa, nhưng thời Pháp thuộc người ta dùng để chỉ  sở Cảnh sát (TTĐP).




[6] Tức là dãy nhà từ hiệu ảnh Kim Lai đến rạp chiếu bóng Hòa Bình.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
xem thêm »