tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19732873
Tiểu thuyết
11.01.2016
Đặng Nhật Minh
Hồi ký điện ảnh

Tôi không thể kể hết về dư luận báo chí trong và ngoài nước về bộ phim này. Từ báo Mỹ như Herald Tribune cho đến các báo ở Pháp, Ấn Độ, Thụy Sĩ, Nhật Bản, Canada, Đức v.v.... đã có những bài viết đầy thiện cảm với bộ phim (đặc biệt ở Đức có nhà phê bình tên là Rudolf Tomzac đã xem bộ phim này tới 6 lần, và đã viết một bài về phim thật sâu sắc, cảm động).


Ở Việt Nam khi phim vừa xuất hiện đã có hàng chục bài báo khen ngợi của những người viết có uy tín như nhà thơ Trần Đăng Khoa, nhà văn Lê Lựu.... của các nhà phê bình phim có uy tín như Ngô Phương Lan, Tô Hoàng....; các nhà báo Lưu Trọng Văn, Việt Văn, Nguyễn Trọng Chức v.v.... Những bài công kích chỉ xuất hiện sau này trước khi bước vào thềm Liên hoan phim Việt Nam lần thứ XI. Những bài viết đó xuất phát từ một số ít người nhưng đội tên khác nhau. Họ vận động một số nhà báo quen biết cùng tham gia bằng cách bịa đặt những chuyện không có thật để gây hiềm khích giữa tôi và giới báo chí. Tất cả đều chỉ vì coi thành công của người là thất bại của chính mình. Họ vu cho phim cái tội bôi đen hiện thực, không thấy những thành tựu của đổi mới, những cố gắng của Đảng và Nhà nước ta để cải thiện đời sống ở nông thôn v.v...... Đặc biệt trong chiến dịch này có sự tham gia của một ông chuyên viên Văn phòng Chính phủ có tên là Phạm Duy Khuê với một bài viết khá dài đăng trên tờ Hà Nội Mới chứa đựng những lời lẽ tố cáo, chụp mũ hết sức nặng nề. Ông ta còn bịa cả những chi tiết không có trong phim để lên án (giông bão làm đổ bức chân dung Hồ Chủ tịch sau buổi lễ tiễn tân binh lên đường nhập ngũ!). Đây có lẽ là bài phê bình phim duy nhất trong đời của ông chuyên viên nọ, bởi trước đó và sau này, cho đến tận bây giờ không thấy ông viết bài báo nào nữa. Trước những sự công kích vu khống đó, tôi chỉ giữ thái độ im lặng. Trong cuộc trưng cầu ý kiến khán giả tại Liên hoan phim Việt Nam năm 1996, có 78,6% khán giả đánh giá đây là một phim hay (trong 3 mức đánh giá: hay, trung bình và kém), nhưng ban tổ chức đã không công bố kết quả đó. Nữ diễn viên Thúy Hường kể lại với tôi: một chị nông dân ở Bắc Giang sau khi xem phim này, đã nói với Thúy Hường rằng: Cô cho tôi gửi lời cảm ơn ông đạo diễn phim vì đã nói hộ bà con nông dân chúng tôi. Không biết ông có sống ở nông thôn không mà hiểu đời sống của chúng tôi như vậy. Tình cờ thằng con trai tôi có đem về một tờ báo trong đó có bài lên án bộ phim là bôi nhọ nông thôn. Đọc xong tôi tức quá xé vứt đi. Nhà báo gì mà nói láo thế. Không biết có bao giờ họ về nông thôn chưa?


Tôi định có dịp sẽ tìm gặp chị nông dân ấy để nói với chị rằng: Tôi không phải là nông dân. Hiện tôi ở Hà Nội. Nhưng thưa chị, tôi chỉ cần bước chân ra đầu phố thôi là tôi đã có thể gặp những người nông dân như chị. Họ quảy những sọt su hào, cà chua, bắp cải nặng trịch, rong ruổi cả ngày để bán được vài nghìn bạc. Thưa chị, nếu tôi đi xa hơn chút nữa, tới chân cầu Long Biên thì tôi có thể gặp bà con đông như cả một Tổng, thúng mủng, đòn gánh ngồi chờ có ai đến thuê gánh đất cát, sỏi đá để người thành phố xây nhà, xây biệt thự, vila.... Thưa chị, chẳng cần đi đâu xa, nông thôn ở ngay trong thành phố mà tôi đang ở.


 


Chỉ cần một buổi tối mùa đông dừng lại mua bắp ngô nướng của một cô gái quê bỏ ruộng đồng ra Hà Nội làm thuê kiếm mướn, tối tối tranh thủ quạt một thúng ngô non để có thêm vài nghìn bạc là biết ngay nông thôn ta bây giờ sống ra sao. Thưa chị, ở cái xứ này cứ mười người thì có tám người là nông dân, đi đâu mà chẳng gặp họ. Tôi cũng xin phép báo cáo với chị rằng tôi từng là đại biểu Quốc hội của một tỉnh vào loại nghèo nhất nước, nơi có đến 99% là nông dân. Một năm hai lần, trước mỗi kỳ họp Quốc hội tôi có về gặp bà con. Nhiều câu thoại trong phim là của bà con nông dân nói với tôi trong những lần tiếp xúc ấy. Tôi bị kết tội bôi nhọ nông thôn là vì tôi đã nói như bà con nói. Bây giờ thì tôi thôi là đại biểu Quốc hội rồi. Năm năm làm người thay mặt cho bà con, tôi chẳng làm được gì cho họ, tôi chỉ để lại một bộ phim để nói lên cho bàn dân thiên hạ biết tâm tư nguyện vọng của bà con. Những gì chưa làm được cho bà con nằm ngoài khả năng và quyền hạn của tôi, xin bà con thông cảm cho.


Bộ phim Thương nhớ đồng quê được Phát hành phim Quân đội mua để chiếu rộng rãi trong và ngoài quân đội. Nó đã được mời tham dự hơn 60 Liên hoan phim quốc tế và đã nhận được một số giải thưởng. Quan trọng hơn hết là nó đã đem lại rất nhiều thiện cảm cho đất nước, cho nền điện ảnh Việt Nam. Do có rất nhiều nơi mời chiếu phim này nên đài NHK phải tuyển riêng một nữ nhân viên chuyên theo rõi việc gửi phim đi nhận phim về. Tôi có dịp đến thăm đài và được gặp cô nhân viên đó. Cô chỉ cho tôi tấm bản đồ treo trên tường đánh dấu chi chit đường đi của phim khắp các nơi. Đôi khi có nơi mời gấp nên không kịp thông báo về Việt Nam để xin phép. Biết được chuyện đó có người đã viết thư tố cáo gửi tới Tổng bí thư, Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Văn hóa và cả Bộ trưởng Bộ Công an cho rằng ta đã đánh mất chủ quyền văn hóa. Lại thêm một cái tội nữa của phim: tội được nhiều nơi mời chiếu mà không xin phép mặc dầu nó đã được Bộ Văn hóa cấp giấy phép cho chiếu rộng rãi trong và ngồi nước.


 


Sau khi bị báo chí lên án, Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương mới tổ chức chiếu cho các Tổng biên tập các báo Trung ương và Hà Nội xem. Xem xong, nhiều người ngạc nhiên không hiểu vì sao một phim như vậy lại bị phê phán. Thì ra họ đều không xem phim. Họ đã bị lừa… Nhiều bạn bè ngạc nhiên: tại sao tôi lại có thể đứng vững trước đòn hội chợ này của báo chí. Thực ra tôi chẳng có bản lĩnh gì ghê gớm cả. Chẳng qua trong những ngày ấy tôi cảm thấy mình như người đi đường bị xe đâm nhưng rồi lại im lặng đứng lên phủi sạch quần áo rồi đi tiếp. Tôi đã từng chứng kiến nhiều cảnh tượng như vậy ở ngoài đường và tôi vẫn nhớ đinh ninh gương mặt của những người bị xe đâm đó. Họ chẳng hề la lối mà chỉ im lặng.


*


Đại hội Điện ảnh Việt Nam nhiệm kỳ IV


Đêm trước ngày bước vào Đại hội điện ảnh Việt Nam nhiệm kỳ IV, tôi còn ngồi dựng phim Thương nhớ đồng quê với cô dựng phim Trần Anh Hoa cho đến 12 giờ khuya. Nhiệm vụ của tôi với cương vị Tổng Thư ký nhiệm kỳ III trong Đại hội này là đọc một bản báo cáo tổng kết công tác của cả nhiệm kỳ. Việc này tôi đã chuẩn bị xong từ lâu chỉ còn đem ra đọc trước Đại hội. Ngoài ra, mọi việc khác tôi đều không quan tâm. Toàn bộ tâm trí tôi dồn hết cho bộ phim lúc này đang ở vào giai đoạn hậu kỳ. Trong khi đó từ 6 tháng trước, người ta bắt đầu một chiến dịch để thay thế Tổng Thư ký. Người ta tập hợp lực lượng, hoạch định phương hướng, phân công các mũi tiến công rất bài bản.


Trong cuộc họp cuối cùng trước khi bước vào Đại hội do đồng chí Nguyễn Đức Bình, ủy viên Bộ Chính trị chủ trì; có mặt Phó thủ tướng Nguyễn Khánh; đồng chí Hà Đăng, Trưởng Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương; đồng chí Trần Hoàn, Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin; lại thêm cố vấn của Ban là đồng chí Hà Xuân Trường nữa. Theo dự kiến, Tổng Thư ký mới sẽ là một trong mấy người sau: Bùi Đình Hạc, Huy Thành hoặc Thanh An. Qua thăm dò, qua báo cáo từ dưới lên thì Tổng Thư ký Đặng Nhật Minh chắc chắn không được bầu lại, thậm chí còn có khả năng không trúng cả vào Ban chấp hành. Tôi có cảm tưởng đây là cuộc họp của cấp trên với các lãnh đạo tương lai của Hội. Đồng chí Nguyễn Đức Bình chỉ thị cho Đại hội phải mổ xẻ phân tích sự mất đoàn kết giữa Hội và Cục Điện ảnh mà ông cho đó là vấn đề cơ bản nhất cần tháo gỡ của ngành. Qua cách nói của ông, tôi biết rằng cái lỗi này là ở phía Hội và người gây ra là tôi - Tổng Thư ký. Đến lượt đồng chí Hà Xuân Trường phát biểu càng lộ rõ ý đó hơn. Ông nói Hội và Cục chẳng qua chỉ là một cái nhà treo hai cái biển. Rồi ông kể về cái thời mình làm Chủ tịch Hội thì tiếng nói của Hội và Cục bao giờ cũng là một tiếng nói thống nhất chứ không như bây giờ. Riêng Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh ngồi im lặng từ đầu đến cuối. Đến khi đồng chí Nguyễn Đức Bình yêu cầu phát biểu, ông chỉ nói rất ngắn: Trong nhiệm kỳ vừa qua Hội Điện ảnh đã giúp Chính phủ rất nhiều và anh Đặng Nhật Minh phải chủ trì Đại hội cho đến khi bầu ra Tổng Thư ký mới. Tôi biết ông có những suy nghĩ không giống với những người có mặt trong cuộc họp này. Sau cuộc họp đó, Ban chấp hành họp phiên cuối cùng. Trước sự chuẩn bị hết sức chu đáo, nghĩa là quá bài bản, quá nhịp nhàng, trước một đội ngũ được huy động hùng hậu, nhiều ủy viên Ban chấp hành đã khôn ngoan nhận ra rằng không nên đi ngược lại xu thế chung. Chỉ có một trục trặc nho nhỏ: việc gạt Đặng Nhật Minh ra khỏi danh sách Chủ tịch đoàn không thực hiện được vì bị Phó Tổng Thư ký Thanh An phản đối. Anh cho rằng, cho đến phút này anh Minh vẫn là Tổng Thư ký, anh phải có mặt trên Chủ tịch đoàn cho đến khi Đại hội bầu Tổng Thư ký mới. Lập luận xem ra có lý nên tất cả đành chấp nhận.


Hình 12. Đại hội Hội Điện ảnh Việt Nam


Suốt một ngày rưỡi Đại hội (chỉ trừ sáng hôm khai mạc) các cánh quân được tới tấp tung ra. Khởi đầu là đạo quân đứng dưới hội trường hò hét đòi đuổi Tổng Thư ký ra khỏi Chủ tịch đoàn.... Tiếp đến, đạo quân hô hào đoàn kết, tố cáo Hội là mầm mống gây chia rẽ nội bộ. Cái võ cuối cùng là: vu khống (cứ vu khống cái đã, không ai có thì giờ mà tìm hiểu thực hư lúc này). Họ chiếm hết diễn đàn không cho ai được nói. Nhiều người ngồi bên dưới chỉ biết phẫn nộ. Trước những lời bịa đặt vu khống, Phó Tổng Thư ký Thanh An đã trả lời rành mạch từng điểm một. Ông là người ngay thẳng, không bao giờ nói có thành không, hoặc nói không thành có. Chính vì đức tính quý báu này nên suốt nhiệm kỳ qua và sau này, chúng tôi tuy tính cách khác nhau, nhưng vẫn sát cánh bên nhau làm việc có hiệu quả vì công việc chung của Hội. Người cuối cùng lên phát biểu là nhà báo điện ảnh Đinh Trọng Tuấn. Anh đã vạch mặt đúng kẻ chủ mưu vẫn cố ẩn mình trong bóng tối. Một cú phản công bất ngờ làm người đinh ninh sắp được bầu làm Tổng Thư ký bị lúng túng, lộ rõ trước toàn thể Đại hội. Tiếp theo Tuấn, tôi thấy chẳng có gì cần phát biểu thêm, chỉ xin nói đúng 10 phút. Tôi nói rằng tôi ở trong ngành điện ảnh đã lâu, anh chị em đều biết. Tôi vẫn là tôi như trước khi được anh chị em bầu. Nhiệm kỳ vừa qua tôi được anh chị em bầu lên thì tôi cố gắng làm. Trước sau tôi vẫn là một đạo diễn, cho đến lúc này tôi vẫn ăn lương đạo diễn. Tôi không muốn thanh minh gì cả làm mất thì giờ của Đại hội. Cuộc bầu Ban chấp hành bắt đầu. Kết quả: những đồng chí đinh ninh mình sẽ trúng Tổng Thư ký đều trượt ngay vòng một bầu Ban chấp hành. Một số bỏ về không tham dự tiếp nữa.


Có nhiều người ngạc nhiên không hiểu sao trong hai ngày ngồi trên Chủ tịch đoàn, nghe những lời thóa mạ, vu khống chĩa vào mình mà tôi vẫn bình tĩnh như vậy. Có cô sau này kể với tôi: bọn em ngồi dưới mà thấy thương anh vô cùng, ức đến phát khóc lên được. Có gì đâu, chẳng qua vì có được bầu hay không đối với tôi không có gì quan trọng cả. Tôi đã xác định cho mình từ lâu rằng tôi tồn tại trong điện ảnh bằng những tác phẩm của mình, bằng cái nghề đạo diễn của mình. Hơn nữa trong những ngày Đại hội đó, đầu óc tôi vẫn nghĩ về bộ phim đang dựng dở, nên thêm cảnh nào và bớt cảnh nào, chỗ nào cần cắt gọn và chỗ nào cần kéo dài thêm. Mối quan tâm đó làm tôi có vẻ mặt bình thản của người đứng ngoài cuộc. Tôi lại được anh em bầu làm Tổng Thư ký thêm một nhiệm kỳ nữa. Một lần nữa đa số thầm lặng của những người làm điện ảnh lại đứng bên tôi.


Trong những ngày sóng gió đó người tiếp nghị lực cho tôi chính là con gái tôi: Đặng Phương Lan. Nó ở xa tôi hàng nghìn cây số, tận Budapest, nhưng chỉ vài lần nói chuyện qua điện thoại nó đã truyền cho tôi sức mạnh, sự tỉnh táo để đương đầu trước mọi thử thách. Kết quả của Đại hội làm đảo ngược tất cả mọi dự đoán. Tại văn phòng Hội, một số người đã chuẩn bị sẵn tư thế để đón thủ trưởng mới. Một số khác thực sự buồn nếu có người khác về thay. Tôi cảm động nhìn nỗi hân hoan hiện trên những khuôn mặt bơ phờ của họ sau những ngày mất ăn mất ngủ theo dõi diễn biến của Đại hội.


*


Liên hoan phim Việt Nam lần thứ XI


Cứ hai năm một lần Bộ Văn hoá tổ chức Liên hoan phim Việt Nam. Liên hoan phim lần thứ XI diễn ra vào tháng 10.1996 sau khi hoãn đi hoãn lại nhiều lần. Những gì mà những người chống đối tôi không làm được trong Đại hội Điện ảnh lần thứ IV thì lần này được rút kinh nghiệm để làm trong Liên hoan phim này. Mục đích của họ là cương quyết không để bộ phim Thương nhớ đồng quê lọt vào danh sách các phim được giải. Điều quan trọng đối với họ là phải có những người tin cẩn nằm trong Ban giám khảo. Tiến bộ mới của khoa học kỹ thuật cũng được huy động vào chiến dịch này: tung tin vu khống, kích động qua mạng internet (viết thư rồi cài vào mạng sau đó in ra phân phát đến tận tay từng người trong Ban giám khảo). Đấy là chưa kể hàng loạt báo nhất tề hậu thuẫn với những tên tác giả khác nhau nhưng quanh quẩn vẫn chỉ vài người mà trong giới điện ảnh ai cũng biết. Cuộc bài binh bố trận lần này xem ra kỹ lưỡng hơn, có cả trên cả dưới, cả trong cả ngoài. Cuối cùng thì họ đã thu được thành công tuy chưa trọn vẹn như mong muốn. Phim Thương nhớ đồng quê không được giải thưởng nào của Liên hoan phim nhưng đạo diễn của nó lại được Giải đạo diễn xuất sắc duy nhất (về việc này nhà văn Lê Lựu đã phát biểu trên tờ Nghệ thuật thứ bảy một cách hóm hỉnh như sau: Trao giải thưởng nuôi con khoẻ, dạy con ngoan cho bà mẹ, nhưng lại không thừa nhận đứa con của bà ta!). Liên hoan phim năm đó không có giải Vàng.


Nhưng đối với tôi giải thưởng cao nhất trong Liên hoan phim này là lời phát biểu của ông Klaus Eder, người Đức, Tổng thư ký Hiệp hội các nhà phê bình phim quốc tế trong buổi lễ bế mạc Liên hoan phim. Ông đã nói trước toàn thể hội trường như sau: Tôi sang Việt Nam chính là vì cách đây một năm tôi được xem một bộ phim Việt Nam, phim Thương nhớ đồng quê của đạo diễn Đặng Nhật Minh. Vì vậy mà hôm nay tôi có mặt ở đây. Đạo diễn Đặng Nhật Minh là người đã đưa điện ảnh của các bạn đến với thế giới. Những lời nói của ông đã được cả hội trường im lặng lắng nghe, nhưng cũng làm một số người tức tối. Họ đã gạt được phim ra khỏi giải. Vậy mà bằng lời nói của một người đầy uy tín như ông Klaus Eder, vô hình chung bộ phim đã giành được một giải thưởng tinh thần thật đáng quý.


Thực tình mà nói, niềm háo hức khi được giải Bông Sen Vàng chỉ có một lần đến với tôi, đó là lần nhận giải Bông Sen Vàng cho phim Thị xã trong tầm tay. Lần đó tôi cảm động thực sự, vì đây là giải thưởng đầu tiên của tôi trong điện ảnh, nhất là sau đó lại nhận được thư động viên của bác Phạm Văn Đồng. Sau khi cha tôi mất, vốn là bạn cũ của cha tôi nên bác Đồng luôn theo dõi những bước đi của tôi như một người cha...


Nói chung các phim tôi đã làm, nằm ở thang bậc nào trên bình diện chung của điện ảnh thế giới tôi đều biết rất rõ. Tôi nhớ sau lần chiếu phim Trở về tại Liên hoan phim Nantes (Pháp) vào năm 1994, khi xem xong ông Marcel Martin, nhà phê bình phim nổi tiếng Pháp (ông này đã từng viết cuốn Ngôn ngữ điện ảnh trở thành sách gối đầu giường của tất cả các sinh viên học nghề đạo diễn) đã nói với tôi một câu: Bây giờ thì anh có thể hội nhập với điện ảnh thế giới được rồi. Tôi hiểu sau câu nói ấy có nghĩa rằng từ đây tôi đã được xếp ngồi vào chiếu của làng điện ảnh thế giới. Chiếu dưới thôi. Nhưng được ngồi vào chiếu đó không phải dễ (tôi đã mất ba mươi năm lăn lộn trong nghề). Muốn được ngồi ở chiếu trên, chiếu giữa thì khó hơn. Có thể không bao giờ...


*


“Hà Nội - Mùa đông 46”


Năm 1983, tại Liên hoan phim quốc tế Matxcơva tôi được xem bộ phim Gandhi của điện ảnh Ấn Độ. Tôi nhớ buổi chiếu hôm đó các cô gái Ấn mặc sắc phục dân tộc đứng thành hai hàng trước phòng chiếu rắc hoa lên người khách đến xem, và khi mọi người bước vào rạp đều được chấm một vết son đỏ lên trán. Đây là một phim đồ sộ nói về cuộc đời của thánh Ghandi. Đạo diễn người Anh Richard Attenborough được mời làm đạo diễn và đích thân bà Thủ tướng Ấn Độ Indira Ghandi trực tiếp chỉ đạo việc sản xuất phim này. Bộ phim đã làm tôi xúc động vô cùng. Tôi nhận ra rằng giữa Ghandi và Hồ Chí Minh có những điểm tương đồng nào đó, phải chăng đó là lòng yêu nước, lòng nhân ái, vị tha xuất phát từ bản chất hiếu hòa của người phương Đông. Tôi đọc báo kể rằng năm 1957 khi dẫn đầu phái đoàn Việt Nam sang Ấn Độ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khóc trước mộ Ghandi. Tôi nhận ra trong con người Hồ Chí Minh có một Ghandi trong đó. Sau này có dịp ra nước ngoài nhiều, tôi nhận ra rằng còn có rất nhiều người ở nước ngoài tuy phục Việt Nam đã đánh thắng hai đế quốc Pháp - Mỹ, nhưng cho rằng người Việt Nam hiếu chiến, thích giải quyết mọi công việc bằng vũ lực. Họ không biết rằng trong lịch sử cận đại của Việt Nam có một giai đoạn mà người Việt Nam không muốn có chiến tranh, chỉ muốn giải quyết mọi công việc với người Pháp để giành độc lập bằng thương lượng. Đó chính là giai đoạn cuối năm 1946, một giai đoạn còn ít người nước ngoài biết đến. Từ đấy, ý nghĩ làm một bộ phim về Hồ Chí Minh giai đoạn 1946 hình thành dần trong tôi, nung nấu trong tôi suốt những năm dài. Tôi tìm đọc rất nhiều sách báo trong nước có liên quan đến giai đoạn đó. Các bạn bè người Việt Nam ở nước ngoài cũng sốt sắng giúp tôi có được những cuốn sách viết về giai đoạn đó của các tác giả người Pháp. Thậm chí trước khi quay, anh Trần Hải Hạc ở Paris còn kịp gửi cho tơi cuốn Paris-Saigon-Hanoi của Philippe Devillers vừa mới xuất bản. Nhưng tôi không muốn làm một phim tiểu sử về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ xuất hiện trong phim, có thể là nhiều lần, nhưng đây là một phim truyện, do đó nhân vật chính của phim phải là một nhân vật hư cấu. Nhân vật đó là Lâm, một thanh niên Hà Nội, sinh viên Luật, tự vệ thành, nói tiếng Pháp thông thạo. Anh được cử đến để làm liên lạc giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Cao ủy Pháp Sainteny trong những ngày cuối cùng khi mọi cố gắng ngoại giao hầu như bế tắc, chỉ còn hy vọng vào những cố gắng cá nhân. Đã từ lâu tôi muốn đưa lên phim hình ảnh người chiến sĩ của giai đoạn chống Pháp đầu đội mũ ca lô, mặc áo trấn thủ, súng colt đeo ngang hông, chân đi ghệt da, hiên ngang và lãng mạn. Đó là hình ảnh của các cậu tôi ở Huế trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, là hình ảnh của những chiến sĩ Hà Nội Người ra đi đầu không ngoảnh lại/ Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy. Để tăng thêm kịch tính và tâm trạng của nhân vật Lâm, tôi đã để cho anh có người vợ trẻ sắp sinh con đầu lòng. Lâm vừa phải làm liên lạc đưa thư của Hồ Chủ tịch đến cho Sainteny, lại vừa lo đưa vợ đi nhà thương khi trở dạ đẻ. Đúng trong thời điểm khi chiến tranh bùng nổ thì vợ Lâm đang nằm trên bàn mổ. Người bác sĩ Pháp nhân hậu đã cứu vợ con anh trong một ca đẻ khó. Trong khi đó trung đội bảo vệ Bắc bộ phủ chiến đấu cho đến người cuối cùng. Mặt trận Hà Nội vỡ. Lâm rút lui qua bên kia sông Hồng đi kháng chiến sau khi nhờ người bác sĩ Pháp trông nom hộ vợ và con mình.


Hình 13. Một cảnh trong phim Hà Nội - Mùa Đông 1946


Tôi bắt tay vào viết kịch bản cuối năm 1988. Đầu năm 1989 tôi mời thêm nhà thơ kiêm biên kịch Hoàng Nhuận Cầm viết chung, vì Cầm là con nhạc sĩ Hoàng Giác - một nghệ sĩ sống vào giai đoạn lịch sử đó, mang đầy chất hào hoa của đất Hà Thành. Đến cuối năm 1989 thì kịch bản hoàn thành. Lúc đó Cục Điện ảnh vừa duyệt xong kịch bản Hẹn gặp lại Sài Gòn để đưa vào sản xuất kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi biết có nộp kịch bản lên người ta cũng không duyệt, vì phim kỷ niệm đã có rồi. Nhưng tôi nghĩ những vấn đề mà tôi đề cập trong kịch bản này tung ra vào thời điểm nào cũng thích hợp cả, không việc gì phải vội. Tôi rất ghét loại phim “cúng cụ” kiểu thiên hạ vẫn làm. Do đó tôi không cần nộp kịch bản vào đúng dịp kỷ niệm nào hết. Cuối năm 1993, Cục Điện ảnh có phát động một cuộc thi viết kịch bản phim truyện, tôi bèn gửi kịch bản đến tham dự. Cuộc thi này kéo dài rất lâu. Thậm chí Cục Điện ảnh dường như quên rằng đã phát động nó. Khi sực nhớ ra, người ta mới vội vàng lập ra một ban chấm giải đứng đầu là Cục trưởng Bùi Đình Hạc. Kết quả kịch bản Hà Nội-Mùa đông 46 bị loại ngay từ vòng đầu. Giải nhất thuộc về kịch bản của một phi công đã giải ngũ có tên là Hôn nhân không giá thú. Tình cờ một lần gặp Bộ trưởng Trần Hoàn trong hành lang Quốc hội, tôi có hỏi ông: Kịch bản Hà Nội-Mùa đông 46 tôi viết đã lâu, nó không được giải trong cuộc thi, nhưng liệu Bộ có duyệt cho làm phim không? Ông Trần Hoàn nói: Để tôi đọc đã. Ông Bộ trưởng này là đồng hương Trị Thiên - Huế với tôi. Ông là người chứng kiến giây phút cuối cùng của cha tôi ở Trường Sơn (ông có viết một bài hồi ký cảm động về những ngày cùng cha tôi trên đường vào chiến khu Trị Thiên). Sau khi đọc xong kịch bản ông đã ký quyết định cho phim Hà Nội-Mùa đông 46 được đưa vào sản xuất. Đó là vào tháng 2 năm 1996, khi mùa đông đã sắp qua. Tôi vội vàng cùng đoàn làm phim tranh thủ những ngày cuối đông bấm máy gấp (không thể quay mùa đông 46 giữa những ngày hè 96 được). Nhưng rồi có khẩn trương đến mấy chúng tôi cũng không kéo mùa đông lại được. Nó đã đi qua và cả đoàn phim phải ngừng quay. Nhiều người chán nản bỏ cuộc. Một số người xấu bụng tung tin, thậm chí đăng trên báo nói rằng tôi ham làm phim cho nước ngoài, không chịu làm phim trong nước để phục vụ những nhiệm vụ chính trị, phục vụ những ngày lễ lớn. Nhưng bao giờ cũng vậy, vào những lúc gay go nhất lại có những người lặng lẽ đứng bên tôi, tiếp sức cho tôi. Đó là chủ nhiệm phim Vũ Văn Nha, là phó đạo diễn Phạm Nhuệ Giang, Họa sĩ thiết kết Phạm Quốc Trung... Không có họ có lẽ tôi không đủ sức hoàn thành được phim này. Như trên đã nói tôi không định làm phim “cúng cụ” nên tôi không cần phim phải ra đúng dịp nào hết. Trước khi thành lập đoàn làm phim tôi đã nói thẳng thắn với ông Kim Cương, giám đốc Hãng phim: Kịch bản mãi cuối tháng 11 năm 1995 mới duyệt và cuối tháng 1 năm 1996 tổng dự toán mới được thông qua. Tôi không thể nào quay kịp để phục vụ kỷ niệm 50 năm ngày Toàn quốc kháng chiến vào ngày 19 tháng 12 năm 1996 được. Nếu vì cần có phim để phục vụ ngày lễ lớn thì Hãng muốn giao cho ai làm thì giao. Tôi cám ơn giám đốc Kim Cương vì đã không lấy việc lập công chính trị làm đầu. Ông không nghĩ đến chuyện giao cho một đạo diễn nào khác ngoài tôi. Sau 6 tháng ngừng quay, tháng 10.1996 đoàn làm phim lại tập trung để tiếp tục công việc. Đến giai đoạn này phải quay những cảnh có hình ảnh Hồ Chủ tịch (giai đoạn trước chưa quay tới). Diễn viên mà tôi quyết định chọn đầu tiên là một cán bộ làm ở Đài truyền hình. Anh có vầng trán cao (không cần phải cải tạo), phong thái đĩnh đạc. Hóa trang thử thấy giống. Nhưng đến ngày bắt đầu quay thì đêm trước anh ra hiệu cắt tóc. Nhìn cái đầu cắt cao vống lên hai bên thái dương và sau gáy, tôi không còn nhận ra nhân vật của mình nữa. Hóa trang Phan Đình Sáu lôi ra một bộ tóc giả đã được chuẩn bị sẵn, trùm lên. Tôi thất vọng đến tột độ. Tôi quyết định dừng lại thay người khác. Tôi nghĩ đến Tiến Hợi. Trước đây tôi đã có thử nhưng không giống (Hợi chỉ giống Hồ Chủ tịch trên sân khấu với bộ tóc giả thôi). Có người cho biết Tiến Hợi đang theo đoàn kịch Hà Nội vào thành phố Hồ Chí Minh biểu diễn. Tôi yêu cầu chủ nhiệm cứ liên lạc thử. May sao vừa đúng lúc Tiến Hợi đã ra Hà nội. Tôi đưa Hợi về nhà lấy băng dính màu da người cắt cắt, dán dán, từ từ mở rộng trán của Hợi ra xem có giống không. Tôi vui mừng nhận ra rằng nếu cạo bớt tóc phía trước, vén trán của Hợi lên thì rất giống. Tôi gọi hóa trang đến yêu cầu gọt tóc đúng chỗ tôi đã dán băng dính. Hôm quay cảnh đầu tiên có Hợi trong vai Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi tôi hô tắt máy, bỗng có tiếng vỗ tay rào rào. Tôi quay lại, thấy tất cả anh em trong đoàn phim ai nấy đều hân hoan. Thì ra cả đoàn phim ai nấy đều hồi hộp theo dõi việc chọn người đóng vai Bác Hồ. Đó là những tràng vỗ tay đầu tiên dành cho bộ phim. Nó làm tôi thấy vững tâm. Đúng là số trời đã định: vai Hồ Chủ tịch phải do Tiến Hợi đảm nhiệm. Không thể có ai khác. Càng làm phim tôi càng nghiệm ra rằng ngoài sự nỗ lực của bản thân còn có sự trợ giúp huyền bí của Trời nữa. Trời cho thì được mà Trời đã không cho thì đành chịu, mà tôi thì được ông Trời phù hộ cho nhiều lắm trên bước đường sáng tác của mình. Tôi tin còn có nhiều người ở cõi âm phù hộ cho tôi nữa, chắc chắn đó là cha mẹ tôi, những người luôn theo dõi mỗi bước đi của tôi trên cõi dương này. Nhiều quyết định chính xác trong lúc làm phim đến với tôi hết sức tình cờ như có ai đó xui khiến chỉ bảo. Tôi chưa bao giờ làm những đại cảnh và cũng không bao giờ ôm mộng làm Bônđasúc của Việt Nam (Bônđasúc là một đạo diễn nổi tiếng Liên Xô, đạo diễn phim Chiến tranh và hòa bình). Bởi vậy sắp quay những cảnh đông người là tôi run lắm. Đêm quay cảnh đánh nhau ở Bắc bộ phủ, khi thấy lính tây, lính ta, xe tăng, xe bọc thép, súng ống, bao cát bày la liệt trước mắt, tôi đâm hoảng hồn. Tôi bèn cố trấn tĩnh, mời chủ nhiệm Nha và phó đạo diễn Nhuệ Giang lại để bàn bạc. Tôi ngồi xuống vỉa hè vẽ sơ đồ trên giấy chỗ bố trí xe tăng, xe bọc thép và vị trí đặt những quả nổ, giao cho chủ nhiệm Nha chỉ huy. Rồi quay sang Nhuệ Giang tôi nói: Còn bây giờ chú là bên địch, chỉ huy lính Tây; cháu là bên ta, chỉ huy bộ đội mình. Chú cháu mình đánh nhau. Quay cảnh gì trước, cảnh gì sau chú sẽ bàn với hai quay phim (cảnh này chúng tôi quay hai máy). Cứ thế mà làm. Chúng tôi quần nhau suốt một đêm, đánh vật với từng cảnh quay. Đại bác xe tăng làm vỡ 75 tấm cửa kính của toà nhà Bắc bộ phủ. Các quả nổ làm tanh bành cả sân trước và tầng dưới của tòa nhà. Đêm quay cảnh đánh nhau ở tầng hai bệnh viện K (nơi làm giả tầng hai Bắc bộ phủ) cũng vậy. Thật là một đêm hãi hùng. Các bác sĩ, y tá xông lên mắng chủ nhiệm Nha: Các anh là đồ dã man. Bệnh nhân vừa mới mổ xong nằm không yên với các anh. Các anh định giết người à? Chúng tôi cũng đành trơ mặt ra cố mà quay cho xong (để đến sáng, giám đốc bệnh viện chắc sẽ đuổi thẳng chúng tôi một cách không thương tiếc). Sau đêm đó tôi thề rằng sẽ không bao giờ làm phim hoành tráng nữa.


Buổi chiếu bản dựng hình phim Hà Nội-Mùa đông 46 tại phân xưởng kỹ thuật có giám đốc Kim Cương, anh em trong đoàn làm phim và tất cả anh chị em kỹ thuật viên của phân xưởng in tráng. Họ là các khán giả đầu tiên của bộ phim. Khi phim chiếu xong, đèn trong phòng chiếu vừa bật sáng bỗng có tiếng vỗ tay ran. Giám đốc Kim Cương xúc động bắt tay tôi nói: Cám ơn anh Minh! Tôi cũng cám ơn lại ông không chút khách sáo.


Tôi biết phim này dựng xong thế nào các cấp lãnh đạo cũng đòi xem để góp ý kiến. Vì vậy trước khi lồng tiếng hòa âm tôi đã yêu cầu Hãng mời cấp trên đến xem, ai muốn góp ý kiến gì thì góp trước đi. Có tất cả 5 buổi chiếu để góp ý kiến, mời từ Bộ, Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin cho đến Trưởng, phó Ban Tư tưởng Văn hoá TW, cuối cùng là đến ủy viên Bộ Chính trị Lê Xuân Tùng, Bí thư Thành ủy Hà Nội. Các vị đều hoan nghênh, tuy vậy tất cả đều nhất trí yêu cầu tôi phải cắt một câu thoại của Hồ Chủ tịch nói với ông chủ nhà trong đêm ở làng Vạn Phúc: Nếu cần có đảng phái thì sẽ là Đảng dân tộc Việt Nam. Đảng đó sẽ chỉ có một mục đích làm cho dân tộc ta hoàn toàn độc lập. Đảng viên của đảng đó sẽ là tất cả quốc dân Việt Nam, trừ những kẻ phản quốc và những kẻ tham ô ra ngoài. Đây chính là câu Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói vào tháng năm 1/1946 trong một cuộc trả lời phỏng vấn (có in trong Hồ Chí Minh Toàn tập). Nhưng các vị cho rằng đưa câu đó ra sợ bị địch lợi dụng (trong đời làm phim của mình không biết bao lần tôi được nghe mấy chữ “địch lợi dụng” như vậy rồi. Dường như trách nhiệm của những người duyệt phim là luôn đặt mình vào vị trí của kẻ địch để thử suy diễn). Tôi rất tiếc nhưng cũng đành chấp nhận. Tôi nghĩ nếu để câu nói trên chỉ làm đẹp thêm cho nhân vật mà thôi.


Trong khi phim vừa chỉ mới dựng xong hình ảnh, chưa có tiếng, có nhạc, thậm chí một số cảnh còn chưa đủ, thì ông David Overbey, người tuyển phim của Liên hoan phim Toronto sang Việt Nam. Nghe nói tôi đang hoàn tất một bộ phim mới, ông yêu cầu Cục Điện ảnh cho được xem. Mặc dầu phim chưa xong, nhưng tôi cũng đồng ý mời ông xem và dịch lời thoại cho ông qua tiếng Pháp. Xem xong ông lập tức ngỏ ý mời phim tham dự Liên hoan phim Toronto năm 1997. Ngày 8/9 tôi lên đường sang Toronto. Bản phim đã được Cục Điện ảnh gửi sang trước để làm phụ đề tiếng Anh. Phim Hà Nội - Mùa đông 46 đã ra mắt với thế giới chỉ hai tuần sau khi vừa mới có bản đầu.


Tôi đến Toronto lần này là lần thứ hai. Năm 1996 có một chương trình đặc biệt phim Việt Nam được tuyển chọn để chiếu tại Liên hoan phim này. Tất cả có 10 phim từ trong nước và một phim của đạo diễn Trần Anh Hùng làm ở nước ngoài (phim Mùi đu đủ xanh). Trong số mười phim làm ở trong nước có bốn phim do tôi làm đạo diễn, đó là Bao giờ cho đến tháng Mười, Cô gái trên sông, Trở vềThương nhớ đồng quê. Lần này tôi được mời sang có 5 hôm, để dự chiếu 2 buổi ra mắt phim Hà Nội-Mùa đông 46. Trước buổi chiếu tôi rất hồi hộp, bởi vì nói gì thì nói, đây vẫn là một phim chính trị, lại có hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh từ đầu đến cuối. Không biết khán giả Canada, các nhà phê bình phim, các nhà báo nước ngoài đón nhận như thế nào. Khi vừa sang tôi đã nghe tin vé của cả hai buổi chiếu đều đã bán hết cách đây một tuần. Quả thật, buổi chiếu người xem ngồi kín cả rạp. Ông David Overbey đích thân giới thiệu tôi với khán giả (thường thì có những người được chuyên phân công làm việc này). Sau buổi chiếu, phóng viên Hãng thông tấn Pháp AFP và bà nhà báo Joan Dupont của tờ International Herald Tribune đến phỏng vấn tôi. Sau khi rời Toronto, tôi về Budapest thăm con gái. Ông Đại sứ Việt Nam ở Hungari nhắn tôi đến chơi và cho tôi xem bài báo đăng trên tờ International Herald Tribune (số ra ngy 24/9/1997) với tựa đề: Ngoại giao con thoi cho phim ảnh Việt Nam (Shuttle Diplomacy for Vietnam Films). Tác giả bài viết là bà Dupont mà tôi vừa gặp ở Toronto. Dựa trên nội dung cuộc trao đổi với tôi bà đã viết một bài báo dài giới thiệu nền điện ảnh Việt nam, quá trình đến với điện ảnh của tôi, các phim tôi đã làm và gọi tôi là nhà ngoại giao của điện ảnh Việt Nam. Đọc xong bài báo tôi nói vui với ông Đại sứ: Vậy là tôi cũng làm ngoại giao như các anh.


Vừa về nước, tôi liền nhận được điện thoại của cô thư ký Đại sứ quán Ấn Độ cho biết ông Đại sứ muốn gặp tôi ngay. Đại sứ Malik thân mật tiếp tôi trong phòng làm việc của mình với tờ báo International Herald Tribune trên tay. Ông cho biết đã đọc bài báo trên tờ International Herald Tribune và rất quan tâm tới phát biểu của tôi về sự tương đồng trong tính cách của Hồ Chí Minh và Gandhi, về động cơ thôi thúc tôi làm phim Hà nội – Mùa đông 46. Ông ngỏ ý muốn xem phim. Hôm sau tôi mời Đại sứ cùng phu nhân và toàn thể nhân viên Đại sứ quán đến xem phim Hà nội – Mùa đông 46 tại Câu lạc bộ Hội điện ảnh. Một thời gian sau tôi được mời đến dự lễ khánh thành gian phòng Truyền thống mang tên Nerhu – Hồ Chí Minh trong Đại sứ quán Ấn Độ. Ông Đại sứ cho biết ý tưởng này nẩy sinh sau khi ông xem phim Hà nội – Mùa đông 46.


 


Trong thời gian tôi ở nước ngoài chị Cheng Sim Lim, giáo sư khoa Điện ảnh Trường Đại học California ở Los Angeles (UCLA) sang Hà Nội tuyển chọn môt chương trình phim để giới thiệu cho sinh viên của trường. Tôi từng được mời đến trường này vài lần để chiếu phim, gặp gỡ sinh viên. Lần này phim Hà Nội – Mùa đông 46 được chọn chiếu nên tôi lại có dịp trở lại. Trước buổi chiếu ông Bob Rosen Chủ nhiệm khoa Điện ảnh và Sân khấu của trường báo cho tôi biết rằng sẽ có những người Việt Nam biểu tình trước cửa rạp bởi họ nghe nói trong phim có hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tơi hết sức bình tĩnh vì nghĩ rằng nếu những người phản đối xem phim này chắc họ sẽ nghĩ khác, bởi đây không phải là một phim tuyên truyền chính trị mà là một phim nói lên một giai đoạn lịch sử có thật. Để đảm bảo an toàn, tôi được đưa vào rạp qua cửa riêng. Đến giờ chiếu những người phản đối cũng vào xem. Buổi chiếu đó trôi qua mau. Tiếp đến là phần giao lưu với khán giả. Tôi biết đây mới là phần cao trào. Vì được mời lên ngồi đối diện với khán giả nên tôi dễ dàng nhận ra những người phản đối. Họ rì rầm hội ý với nhau, nhường cho những người khác hỏi trước rồi mới bắt đầu “tấn công”. Một khán giả đứng tuổi đột ngột hỏi tôi: Xin hỏi ông đạo diễn. Ông năm nay bao nhiêu tuổi? Qủa tình tôi hơi bất ngờ trước câu hỏi đó bèn hỏi lại: Bác muốn hỏi tuổi tôi để làm gì? Vị khán giả đáp: Là vì tôi muốn biết khi xẩy ra những sự việc miêu tả trong phim này, ông bao nhiêu tuổi? Tôi là người Hà Nội, tôi đã sống qua giai đoạn đó... tôi thấy trong phim có những cái không đúng sự thật (tôi chờ đợi mũi tên sắp được bắn ra). Vị khán giả nói tiếp: Ví dụ trong một số cảnh tôi thấy có những phụ nữ Hà Nội để kiểu tóc không đúng như thời đó (tôi thở phào). Tôi ôn tồn đáp: Thưa bác... Những năm đó tôi còn nhỏ. Do đó tôi phải tìm hiểu qua sách báo, hồi ký, gặp gỡ những người từng sống trong cuộc, mời một số làm cố vấn cho đoàn làm phim. Mặc dầu vậy những sai sót là không tránh khỏi. Nếu bác có ở Hà Nội trong thời gian tôi làm phim này chắc chắn tôi sẽ mời bác làm cố vấn về hóa trang cho phim. Tất cả cử tọa cười vui vẻ và không khí của buổi giao lưu trở nên khác hẳn.


 


Sau cuộc giao lưu một nữ phóng viên trẻ gốc Việt của đài Tiếng nói Hoa kỳ xin phỏng vấn tôi. Tôi nhận lời nhưng yêu cầu được phỏng vấn cô trước. Cô đồng ý. Tôi hỏi cảm tưởng của cô sau khi xem phim này. Cô đáp: Cháu rất thích. Tôi hỏi tiếp: Vậy cô có nói điều đó trong khi tường thuật về buổi chiếu phim và cuộc phỏng vấn này không? Cô gái đáp: Cháu sẽ nói. Tôi không nghe được cuộc phỏng vấn đó trên đài VOA. Nhưng khi về nước, một nguời bạn đã nghe cuộc phỏng vấn cho biết cô phóng viên đã giữ đúng lời hứa của mình. Vậy là sau Toronto (Canada) đến Los Angeles (Mỹ), Fukuoka (Nhật) và rồi nhiều lần trên truyền hình bộ phim Hà nội – Mùa đông 46 đã đến với nhiều khán giả nước ngoài để kể về một giai đoạn ngắn ngủi trong lịch sử cận đại của Việt nam mà họ còn ít biết đến. Một giai đoạn mà người Việt nam thực lòng không muốn dùng vũ lực.


(còn tiếp)


 


Nguồn: Hồi ký điện ảnh của Đặng Nhật Minh. NXB Văn Nghệ TP Hồ Chí minh, 2005. Tái bản có bổ sung.

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 19.06.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
xem thêm »