tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19732872
Tiểu thuyết
23.12.2015
Đặng Nhật Minh
Hồi ký điện ảnh

“Trở về”


Người Anh vốn bị coi là lạnh lùng nhưng chính họ lại là người đầu tiên trên thế giới bỏ tiền ra cho một đạo diễn Việt Nam làm phim. Nếu không có họ, tôi đã không có phim Trở về sau 6 năm gián đoạn. Tôi nghe một Việt kiều ở Anh về kể lại: năm 1989 Đài truyền hình Anh quốc giới thiệu phim Cô gái trên sông. Trước khi chiếu người giới thiệu có nói đôi lời về tôi rồi thông báo tôi vừa được bầu làm Tổng Thư ký Hội Điện ảnh Việt Nam và kết luận: Nhưng chúng tôi nghĩ rằng nước Việt Nam cần ông Minh đạo diễn hơn là ông Minh Tổng Thư ký. Có phải vì vậy chăng mà họ sốt ruột khi thấy tôi lâu không làm phim.


Đầu năm 1994, kênh 4 Đài truyền hình Anh cử người sang Việt Nam thông báo cho biết kênh 4 sẽ tài trợ cho tôi một số tiền để giúp tôi làm một bộ phim. Hãy chuẩn bị kịch bản với điều kiện: đấy là một kịch bản làm tôi ưa thích, về những vấn đề mà tôi quan tâm. Tôi lập tức chuyển ngay truyện ngắn Trở về thành kịch bản phim (Trong thời gian gián đoạn làm phim tôi có viết một số truyện ngắn, bất cứ truyện nào cũng đều có thể chuyển thành phim được cả. Tôi gọi đó là những bộ phim trên giấy). Kịch bản được gửi sang Anh và chỉ một tháng sau người ta đã chuyển tiền về cho tôi làm (số tiền này được chuyển về cho Hãng phim truyện Việt Nam quản lý).


Hình 10. Một cảnh trong phim Trở về


Sau khi phim làm xong, ông Rod Stoneman, đại diện kênh 4 Đài truyền hình Anh sang Việt Nam nghiệm thu và tỏ ra rất hài lòng. Bộ phim này ở Việt Nam ít người được xem vì nó ra đời vào lúc các rạp chiếu bóng đóng cửa chuyển sang chiếu phim video. Nhưng về sau nó được chiếu đi chiếu lại nhiều lần trên Đài truyền hình Trung ương và các Đài truyền hình Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh v trn truyền hình nhiều nước. Năm 1994 phim tham dự Liên hoan phim Châu Á - Thái Bình Dương ở Sydney (Úc) và nhận được Giải đặc biệt của Ban Giám khảo. Sau này ông Philip Noyce, đạo diễn Úc, thành viên trong Ban giám khảo cho biết ông là một trong 3 người của Ban giám khảo bỏ phiếu cho phim Trở về được giải cao nhất, nhưng bốn người còn lại không nhất trí. Cuối cùng giải Grand Prix (Giải thưởng lớn) thuộc về bộ phim Ẩm thực, đàn ông, đàn bà của đạo diễn Ang Lee người Đài Loan. Tôi đã xem phim này ở một Liên hoan phim quốc tế và thấy nó được Grand Prix là xứng đáng. Cũng chính vì cái duyên nợ đó mà năm 2001 khi sang Việt Nam làm phim Người Mỹ trầm lặng, đạo diễn Philip Noyce đã mời tôi hợp tác với tư cách là đạo diễn đội quay thứ hai trong khi quay tại Việt Nam.


Tôi cảm thấy hài lòng vì trong phim này tôi đã khái quát khá đầy đủ gương mặt của xã hội Việt Nam đương đại trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường với những “người hùng” của thời đại mới: đó là những ông giám đốc công ty vốn là các phó tiến sĩ, tiến sĩ con ơng chu cha suốt những năm dài ăn học ở Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu nay trở về nhảy sang làm kinh doanh, chẳng ai thiết theo đuổi con đường khoa học. Họ nhan nhản khắp nơi quanh tôi. Nhân vật chính của phim là Loan, một cô gái Hà Nội được phân công vào dạy học tại một thị trấn ở miền Nam cách Sài Gòn không xa. Hùng, anh ruột của một nữ giáo viên cùng trường, bạn thân với Loan định đi vượt biên nhưng không thành. Anh trốn về lánh tại thị trấn nơi Loan dạy học. Anh yêu Loan và không muốn trở về với người vợ cũ. Anh cho biết sở dĩ anh đi vượt biên cũng là để cắt đứt với người vợ mà anh không còn chút tình cảm. Trong lúc đó vợ Hùng tìm mọi cách đe dọa, thuê người cưỡng ép bắt anh phải vượt biên lần nữa cùng cả gia đình. Hùng đành ra đi nhưng vẫn mang theo những tình cảm đối với Loan mà đối với anh đó là những tình cảm duy nhất đã ràng buộc anh với mảnh đất này. Loan trở ra Hà Nội nghỉ hè. Cô tình cờ gặp Tuấn, người bạn học cũ thời phổ thông. Anh vừa tốt nghiệp phó tiến sĩ ở Liên Xô về. Anh xin vào Nam làm việc. Nhờ sự nhanh nhẹn thích ứng với cơ chế thị trường, anh thăng tiến rất nhanh, trở thành giám đốc một công ty thương mại. Loan chấp nhận lời đề nghị của Tuấn thành lập gia đình. Cô thôi dạy học, trở thành một bà vợ giám đốc. Tuấn chạy theo cuộc sống thực dụng. Tình cờ Tuấn gặp Hùng với tư cách là một đối tác đại diện cho một công ty nước ngoài để ký kết một hợp đồng bán hàng với công ty Tuấn. Tuấn đã yêu cầu Hùng nâng giá bán trong hợp đồng để kiếm lợi cho mình. Hùng tỏ ra khinh bỉ nhưng cũng chấp thuận vì điều đó không có hại gì cho công ty của anh cả. Hùng lại càng thất vọng hơn khi biết Tuấn là chồng của Loan, một người mà anh vẫn còn ngưỡng mộ yêu mến. Sau khi Hùng trở về Úc, Tuấn ra ngoại quốc khảo sát. Loan trở ra Hà Nội, trở về với ngôi nhà thân thuộc, trở về với các em học sinh hồn nhiên và trong sáng của mình. Cô đã trở về với chính mình sau những ngày sóng gió, chia tay hẳn với chồng, “người hùng” mới của xã hội hiện thời. Tâm trạng cô chính là tâm trạng trong hai câu ca dao xưa mà cô giảng cho các em học sinh trong giờ giảng văn:


           Trèo lên cây khế nửa ngày


           Ai làm chua xót lòng này khế ơi!


Tâm đắc nhất trong phim này đối với tôi là trường đoạn ở nghĩa trang liệt sĩ Long An và chiếc xe khách từ Long An về Thành phố Hồ Chí Minh. Những người có mặt trên chiếc xe là hình ảnh thu nhỏ của xã hội Việt Nam. Ở đó có già, có trẻ, có người Bắc kẻ Nam, có người sống và người chết (hài cốt người chiến sĩ trong chiếc túi xách), có kẻ bên này và kẻ từng ở bên kia (người phế binh ngụy đi bán vé số trên xe). Tôi đã cho người phế binh này hát bài Rừng lá thấp một bài hát rất quen thuộc ở Sài Gòn trước năm 1975 với những lời ca rất xúc động: Sao không hát cho những bà mẹ già mỏi mắt chờ con... Sao không hát cho những người vừa nằm xuống chiều qua... Đây là một bộ phim lần đầu tiên được quay suốt từ Nam chí Bắc, pha lẫn giọng nói của cả hai miền.


Đại biểu Quốc hội khóa IX


Năm 1993 với tư cách là Tổng Thư ký Hội Điện ảnh, tôi được Đoàn chủ tịch Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật đề cử làm đại biểu Quốc hội khoá IX (1993-1997). Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu tôi về ứng cử tại tỉnh Thanh Hóa. Tại đây Mặt trận Tổ quốc Tỉnh lại giới thiệu tôi về ứng cử tại đơn vị bầu cử gồm ba huyện Quảng Xương, Tĩnh Gia, Nông Cống, những huyện nghèo nhất trong tỉnh. Danh sách ứng cử có 5 người để bầu lấy 3 (ngoài tôi có một hiệu trưởng Trường cao đẳng, một bí thư Đảng uỷ của ngành giáo dục, một nữ giảng viên trường cao đẳng, một giáo viên cấp 3 phổ thông). Tôi đã trúng cử với một tỷ lệ bầu khá cao cùng với anh giáo viên cấp 3 và nữ giảng viên cao đẳng. Tôi nghĩ tôi được bà con nông dân bầu chắc chắn không phải vì tôi là đạo diễn phim (tôi toàn làm phim nhựa nên ở nông thôn bà con chẳng bao giờ được xem). Vả lại chuyện phim ảnh chẳng phải là chuyện đáng quan tâm đối với những người nông dân chân lấm tay bùn. Tôi được bầu có lẽ vì khi đọc lý lịch, bà con biết tôi là con của giáo sư bác sĩ Đặng Văn Ngữ, người đã đẩy lùi căn bệnh sốt rét hiểm nghèo cho họ và đã hy sinh tại chiến trường Trị Thiên trong khi đang nghiên cứu chống sốt rét cho bộ đội (mà đại đa số cũng là con em họ).


Buổi họp đầu tiên của Quốc hội khoá IX tại hội trường Ba Đình đã để lại cho tôi một kỷ niệm không bao giờ quên. Sau cuộc họp buổi sáng khi vừa lên xe rời khỏi hội trường, tôi nhìn thấy không biết bao nhiêu bà con nông dân từ những tỉnh xa đứng dọc bên đường tay cầm những tờ đơn trắng vẫy vẫy theo đoàn xe của các đại biểu quốc hội. Những chiếc xe hòm kính nối đuôi nhau lặng lẽ lướt qua không một xe nào dừng lại. Đến góc vườn hoa cạnh quảng trường Ba Đình tôi vỗ vai lái xe đề nghị dừng xe. Khi vừa thấy xe tôi đi chậm lại rồi dừng hẳn, lập tức cả đoàn người chạy ùa lại, tay giơ cao những lá đơn. Nhưng không chờ tôi kịp bước xuống xe, đoàn người đã bị công an cản lại. Lúc đó tôi hiểu ngay rằng nếu tôi tiến về phía họ dù chỉ vài bước thôi, lập tức sẽ xẩy ra những cuộc giằng co xô xát. Tôi bèn lên xe quay về hội trường Ba Đình. Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh chưa về, ông còn đang ở lại hội trường hội ý công việc. Tôi gặp ông đề nghị cử người ra nhận đơn khiếu nại của bà con. Những lá đơn đó đã được nhận để chuyển đến Văn phòng Quốc hội. Từ đó về sau mỗi lần Quốc hội họp tôi không nhìn thấy những bàn tay vẫy những lá đơn đứng hai bên đường cạnh hội trường Ba Đình nữa. Văn phòng Quốc hội đã bố trí một địa điểm để nhận đơn thư khiếu nại của cử tri tại một phố nhỏ cách xa hội trường. Cho đến bây giờ tôi vẫn không thể nào quên cảnh tượng những bàn tay vẫy vẫy những lá đơn cùng gương mặt của những người nông dân chạy về phía tôi, đặc biệt gương mặt của một bà cụ chạy trước đám đông. Suốt đời tôi không thể nào quên được gương mặt ấy. Tôi cũng không bao giờ có thể quên được ánh mắt của những người nông dân trong những lần tiếp xúc ở địa phương, nhìn thẳng vào chúng tôi, những người mà họ cho là đại diện cho họ ở một cơ quan quyền lực cao nhất. Những ánh mắt hừng hực lửa hy vọng như muốn nuốt chửng lấy chúng tôi. Bây giờ nhắm mắt lại tôi vẫn hình dung rõ mồn một những ánh mắt đó mà cảm thấy đau lòng. Thực ra năm năm ngồi ở cơ quan quyền lực cao nhất đó, tôi chẳng có quyền lực gì như bà con tưởng. Những vướng mắc khiếu kiện của bà con tôi chỉ biết phản ánh lại với những cơ quan cấp trên ở Tỉnh để xem xét, thế là xong nhiệm vụ, có muốn làm gì hơn cũng khó. Đôi khi phản ánh xong, người ta cho biết vụ việc này họ đã biết rồi và đã xem xét trả lời rồi.


 


Thời gian đầu tôi rất hăng hái phát biểu trong các kỳ họp của Quốc hội. Nếu không nhầm thì tôi là người đầu tiên phát biểu rằng tham nhũng là quốc nạn và đề nghị Quốc hội thành lập một Uỷ ban đặc biệt để chuyên trách việc chống tham nhũng. Nhưng ý kiến đó có vẻ như lạc long nên không được chấp thuận. Có thể nói suốt nhiệm kỳ đó cụm từ “tham nhũng là quốc nạn” được nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần trong các kỳ họp của Quốc hội, nhưng tình hình vẫn không gì lay chuyển, thậm chí còn trầm trọng hơn. Tôi nhớ một nữ đại biểu người dân tộc đã phát biểu như sau làm cả hội trường phải bật cười: Bà con cử tri đia phương tôi nói rằng: chống tham nhũng có nghĩa là khi tham nhũng hơi xiêu thì chống lại cho nó thẳng (!).


Dần dần tôi nhận ra rằng những người hay phát biểu trong các kỳ họp thường là những đại biểu không nắm chức vụ gì quan trọng trong bộ máy nhà nước và bộ máy Đảng. Đa số họ là những giáo viên, văn nghệ sĩ, các nhà khoa học, các cựu chiến binh... Tôi nhớ những ngày đầu nhiệm kỳ có một nữ đại biểu còn trẻ, giám đốc Sở ở một tỉnh phía Nam phát biểu rất hăng hái. Những phát biểu của chị rất sắc sảo, táo bạo làm tôi hết sức ngạc nhiên. Nhưng đến giữa nhiệm kỳ bỗng nhiên không thấy nữ đại biểu đó phát biểu gì nữa. Thì ra chị mới được đề bạt làm Thứ trưởng một Bộ trong Chính phủ.


Là một người làm trong lĩnh vực điện ảnh, lại là Ủy viên Ủy ban Văn hoá Giáo dục thanh thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội, tôi đã cố gắng để Quốc hội và Chính phủ quan tâm đến lĩnh vực văn hoá nói chung và điện ảnh nói riêng. Tôi đã đề nghị Chính phủ có chương trình Chấn hưng điện ảnh nhằm vực dậy nền điện ảnh có nguy cơ tan rã khi phải đối mặt với nền kinh tế thị trường. Với chương trình chấn hưng đó (gồm 195 tỷ trong 10 năm) lẽ ra điện ảnh Việt Nam đã có thể trang bị cho mình một cơ sở vật chất kỹ thuật khá đàng hoàng nếu biết tính toán một cách khôn ngoan và thiết thực. Nhiều máy móc mua về không đồng bộ, tản mạn mỗi nơi một chút (3 cơ sở trong ngành đều được cấp máy làm kỹ xảo khá đắt tiền nhưng không nơi nào sử dụng được. Cho đến nay phim Việt Nam cần làm kỹ xảo vẫn phải đưa sang nước ngoài thuê làm). Đôi khi tôi xót xa cho những đồng tiền của nhà nước bị chi tiêu một cách lãng phí, kém hiệu quả nhưng cảm thấy bất lực. Hội Điện ảnh cũng như những người nghệ sĩ không bao giờ được tham khảo hoặc hỏi ý kiến. Trước tình hình phim nhựa bị phim video lấn át, nhân Quốc hội thông qua Luật Thuế sửa đổi và bổ sung, tôi đã đề nghị miễn hẳn mọi thứ thuế cho việc sản xuất, phát hành cũng như xuất nhập phim nhựa 35mm, đối với phim video giảm thuế từ 8% xuống 4%. Đó là những gì tôi có thể làm cho ngành điện ảnh trong thời gian có mặt ở Quốc hội. Trong năm năm làm đại biểu Quốc hội, những cuộc tiếp xúc với bà con cử tri trước và sau mỗi kỳ họp thực sự là những chuyến đi thâm nhập thực tế rất bổ ích đối với tôi. Tôi đã hiểu thêm rất nhiều về đời sống của người nông dân, tâm tư nguyện vọng, những nỗi khổ, nỗi thiệt thòi của họ để thể hiện trong những bộ phim của mình sau này.


“Thương nhớ đồng quê”


Tiếp theo sau người Anh là người Nhật. Người Nhật vốn thận trọng trước khi có một quyết định gì. Họ theo dõi công việc làm của tôi và sau khi 3 phim: Bao giờ cho đến tháng Mười, Cô gái trên sông, Trở về được chiếu ở Nhật (có nghĩa là quá tam ba bận) họ mới quyết định bỏ tiền cho tôi làm phim. Để thiết thực kỷ niệm 100 năm ngày điện ảnh ra đời (1895 - 1995), Đài truyền hình NHK Nhật Bản có chủ trương mời 5 đạo diễn của 5 nước châu Á làm phim (Ấn Độ, Thái Lan, Mông Cổ, Iran và Việt Nam) để đến cuối năm 1995 sẽ chiếu tại Tokyo trong Liên hoan phim Châu Á lần thứ I của NHK. Tháng 1 năm 1995, Đài truyền hình NHK cử một đoàn sang Việt Nam thông báo quyết định mời tôi làm phim và tôi lại được nghe họ nói đúng câu mà người Anh đã từng nói: Ông hãy chuẩn bị một kịch bản mà ông thích, về những vấn đề mà ông thực sự quan tâm. Tôi nghe nói khi đến Việt Nam những người Nhật đã gặp lãnh đạo Cục điện ảnh để trình bày chủ trương trên. Cục trưởng Cục Điện ảnh hồi ấy là ông Bùi Đình Hạc rất hoan nghênh, nhưng yêu cầu để Cục cử đạo diễn (dĩ nhiên người được cử chắc chắn không phải là tôi). Nhưng những người Nhật đã không chấp nhận yêu cầu đó. Họ muốn mời đích danh người mà họ chọn. Họ xin gặp lãnh đạo Bộ để trình bày. Bộ trưởng Bộ Văn hoá - Thông tin hồi đó là ông Trần Hoàn đã đồng ý cho tôi được làm phim hợp tác với NHK.      


Trong đoàn sang Việt Nam lần ấy có ông bà Tadao Sato, nhà phê bình phim lớn của Nhật. Đã từ lâu ông bà coi tôi như người thân vì chính ông bà là người đã phát hiện ra nền điện ảnh Việt Nam khởi đầu bằng hai bộ phim: Bao giờ cho đến tháng 10 v Cơ gi trn sơng. Sau này bà Sato kể lại: Trước đây chúng tôi không hề biết gì về nền điện ảnh Việt Nam nên khi chồng tôi định sang Việt Nam tôi đã can ông ấy. Tơi nĩi đến đó chắc chỉ có những phim tuyên truyền. Nhưng chồng tôi vẫn cương quyết đi. Thế là chúng tôi đến Việt Nam vào đầu năm 1990. Nhưng khi xem đến phim Bao giờ cho đến tháng Mười vo ngy cuối cng trước khi sắp rời Hà nội thì tôi thấy ân hận vô cùng về lời nói trước đây của mình. Từ đó hai ông bà đã làm việc không mệt mỏi để đưa nền điện ảnh Việt Nam đến với cơng chng Nhật v thế giới. Khi đã thân quen, bà Sato ngỏ ý nhận tôi làm em nuôi. (Vậy là tôi có hai bà chị nuôi: chị Madeleine Riffaud người Pháp và chị Hisako Sato người Nhật).


Đây là lần đầu làm phim mà tôi được toàn quyền quyết định mọi vấn đề chi tiêu. Tôi nhớ lại lời của một đồng nghiệp Bulgarie nói với tôi trước đây: không bao giờ được nhân nhượng với chủ nhiệm phim. Bây giờ thì tôi chả phải nhân nhượng ai. Chủ nhiệm Tất Bình xác định với tôi ngay từ đầu: đây là phim của ông, người ta tài trợ cho ông. Ông quyết thế nào tôi chi như thế, miễn làm sao phim cho thật hay không thì bẽ mặt với thiên hạ. Cả đoàn làm phim chúng tôi đều nhận thức rằng việc làm phim này là một thách thức lớn đối với danh dự của điện ảnh Việt Nam, bởi vì cùng một lúc đầu tư cho chúng tôi làm phim, Đài NHK còn đầu tư cho 4 đạo diễn của 4 nước châu Á khác nữa (vì có sự trục trặc gì đó nên cuối cùng chỉ cịn 4 nước). Phải làm sao phim Việt Nam không thua kém phim các nước đó. Cái trách nhiệm nặng nề này chúng tôi tự nhận lấy cho mình, chẳng có ai giao phó, động viên. Tôi có cảm tưởng như mình là đội trưởng một đội bóng đá đi thi đấu trong khu vực.  


 


Hình 11. Một cảnh trong phim Thương nhớ đồng quê


Việc tìm kịch bản không phải mất thời giờ vì tôi đã có sẵn trong tay: kịch bản phim Thương nhớ đồng quê dựa theo truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Tôi viết kịch bản này cách đấy nửa năm, tức hứng mà viết. Không ai đặt tôi viết và viết xong tôi cũng chưa định gửi đi đâu cả. Thoạt tiên tôi thấy ở truyện ngắn này một không gian điện ảnh đầy gợi cảm. Các nhân vật chỉ được phác họa vài nét về tính cách, còn thoại thì hầu như không có. Tất cả chỉ là những lời kể ngắn gọn của nhân vật Nhâm, một thanh niên vừa mới lớn. Thoạt đầu tôi có ý định rủ Thiệp viết chung, nhưng Thiệp nói: Ông viết đi. Tôi cẩn thận mời Thiệp lại nhà trình bày ý định của mình về mối quan hệ giữa ba nhân vật: Quyên, Nhâm, Ngữ để tạo ra cái lõi kịch tính của bộ phim. Trong truyện ngắn không có mối quan hệ tay ba này, nhưng tôi thấy nó rất cần thiết cho bộ phim. Nhâm sống với chị Ngữ trong một nhà, nhưng cậu không biết rằng cậu là chỗ dựa tình cảm duy nhất đối với chị Ngữ trong những ngày sống cô độc xa chồng. Chỉ khi xuất hiện Quyên, cô gái Việt kiều di tản trở về và Nhâm bị hút hồn vào người phụ nữ đó thì những tình cảm thầm kín bên trong của người chị dâu mới trỗi dậy. Đến lúc này Nhâm mới hiểu được hết nỗi cô đơn của chị dâu mình, cậu cảm thấy xúc động trước những tình cảm của chị Ngữ dành cho cậu. Một thứ tình cảm hơn cả tình chị em đã xuất hiện giữa hai người. Khi tôi vẽ ra trên giấy sơ đồ tay ba của mối quan hệ đó thì Thiệp thốt lên: Ông thắng rồi. Bộ phim nhất định thành. Thiệp còn gợi ý cho tôi nên kết hợp thêm truyện ngắn Những bài học nông thôn. Tôi nhất trí. Một thời gian sau giám đốc Hãng phim Giải phóng Thanh Hùng ra gặp tôi thông báo: Hãng muốn mời tôi làm một phim về nông thôn miền Bắc. Tôi liền đưa kịch bản cho ông đem về đọc. Một tháng sau ông trở ra Hà Nội trả lại kịch bản, nói: Ban biên tập của Hãng đã đọc và thấy kịch bản thiếu yếu tố để làm thành một phim truyện. Tôi vui lòng nhận lại kịch bản. Quả thật khi nghe tôi chuyển Thương nhớ đồng quê thành kịch bản ai ai cũng ngạc nhiên kể cả cánh nhà văn. Ai cũng nói một câu giống nhau: Truyện ngắn ấy sao mà làm thành phim được? Nhưng dưới con mắt tôi đó là truyện ngắn giàu chất điện ảnh nhất của Nguyễn Huy Thiệp (có thể đó là chất điện ảnh mà tôi quan niệm chứ không như người khác quan niệm). May thay khi người Nhật sang thì tôi đã có sẵn cái để đưa ra. Một tháng sau đài NHK thông báo nhất trí với kịch bản Thương nhớ đồng quê, kèm theo một vài gợi ý nho nhỏ nhưng dành quyền quyết định hoàn toàn cho tôi. Không lâu sau ông Yoshimasa Omi Chủ nhiệm phim phía Nhật và ông Izumi kỹ thuật viên của Hãng in tráng Imagica sang Việt Nam làm việc với đoàn. Ông Omi làm việc với chủ nhiệm Tất Bình để bàn về tổng dự toán còn ông Izumi làm việc với quay phim Nguyễn Hữu Tuấn về những yêu cầu kỹ thuật rất cụ thể, đặc biệt là cách điền vào các phiếu kỹ thuật sau mỗi cảnh quay. Công việc còn lại của tôi là tìm diễn viên. Quan trọng nhất là tìm người cho vai chính của phim - vai Nhâm, một thanh niên nông thôn vừa mới lớn (17 tuổi) tâm hồn lại nhạy cảm, thích làm thơ. Tôi cùng trợ lý đạo diễn Nhuệ Giang đi khắp các trường nghệ thuật nhưng không tìm ra được gương mặt nào thích hợp. Cuối cùng tôi dừng lại ở Tạ Ngọc Bảo, một học sinh đang theo học lớp đào tạo của đoàn chèo Hà Nội. Bảo thực sự là một thanh niên nông thôn, quê ở Thường Tín. Mặc dù cô giáo chủ nhiệm cho biết học lực của Bảo yếu, nhưng tôi vẫn quyết định chọn Bảo, hy vọng trước ống kính điện ảnh, khác với trên sân khấu chèo, nếu tập tành kỹ lưỡng chắc Bảo sẽ đóng được và Bảo đã hoàn thành xuất sắc vai diễn đầu tiên của mình trong điện ảnh (về sau cậu được mời vào một số phim nữa nhưng không thành công bằng). Khó khăn nhất trong việc tìm diễn viên lại là vai chị Ngữ. Đến phút chót rồi tôi vẫn không ưng ý một ai. Nhuệ Giang đành yêu cầu tôi xuống Bắc Ninh trực tiếp gặp Thúy Hường, ca sĩ của đoàn quan họ Bắc Ninh. Tôi cùng Nhuệ Giang và quay phim Hữu Tuấn cầm máy ảnh xuống Bắc Ninh. Phút đầu tiên gặp Thuý Hường tôi thất vọng hoàn toàn. Cô đánh phấn son loè loẹt, mặc một bộ đồ màu xanh nõn chuối trông chẳng có dáng dấp gì một phụ nữ nông thôn. Nhưng đã cất công xuống đây rồi nên tôi cũng đề nghị Tuấn chụp vài pô ảnh. Tôi yêu cầu Thuý Hường tẩy hết son phấn, mặc chiếc áo nâu và quần đen do Giang đem theo sẵn. Khi cô thay quần áo xong, bước từ trong phòng ngủ ra tôi và Tuấn cảm thấy sững sờ, cô hoàn toàn khác hẳn. Tôi đưa Hường ra bờ giếng để chụp ảnh. Vừa nhìn vào viseur của máy ảnh Tuấn đ thốt lên: Chị Ngữ đây rồi. Đến khi về Hà Nội rửa ảnh ra thì tất cả mọi người đều công nhận không ai có thể vào vai chị Ngữ hơn Thuý Hường được. Bản thân cô sinh trưởng ở nông thôn, mọi công việc đồng áng quen thuộc từ nhỏ. Tuy chưa một lần lên phim nhưng vốn là một ca sĩ từng lên sân khấu, tôi tin cô sẽ không bỡ ngỡ khi bước sang điện ảnh. Và đúng như vậy, Thuý Hường đã chinh phục được người xem bằng diễn xuất chân thật và tinh tế của mình. Chị Ngữ của cô toát lên một vẻ đẹp mộc mạc và quyến rũ lạ thường. Vai nữ Việt kiều tôi mời Lê Vân. Cô lúc này không còn là Lê Vân của thời đóng Bao giờ cho đến tháng Mười nữa. Cô đã là một diễn viên có hạng, cô muốn sửa vai Quyên trở thành nhân vật trung tâm của phim, nhưng tôi không đồng ý, tuy vậy cô vẫn nhận lời đóng vai này.


Phim được khởi quay vào đúng giữa mùa hè oi ả năm 1995. Đoàn làm phim được làm việc với những phương tiện kỹ thuật tốt nhất có thể có ở Việt Nam, kể cả việc thuê các thiết bị đắt tiền của công ty P/S Canada (công ty dịch vụ kỹ thuật cho các đoàn làm phim nước ngoài đến quay ở Việt Nam). Điều kiện sinh hoạt và lương cho anh em trong đoàn phim được đảm bảo tối đa, nên dù công việc vất vả, đầy những sự cố bất ngờ, nhưng tiến độ của phim vẫn tiến triển đều đặn. Phải nói rằng một đội ngũ thiện chiến nhất của điện ảnh Việt Nam trong mọi lĩnh vực chuyên môn đã được huy động cho phim này. Chủ nhiệm Tất Bình là người có khả năng tổ chức tuyệt vời. Mỗi lần quay xong một đợt chừng 1.500 đến 2.000 thước phim chúng tôi lại gửi sang Nhật để in tráng, và chỉ một tuần sau chúng tôi đã nhận được mẻ nháp gửi về kèm theo một bức Fax dài với những nhận xét tỉ mỉ về chất lượng kỹ thuật của hình ảnh. Nhà quay phim Nguyễn Hữu Tuấn cùng anh em trong tổ quay truyền tay nhau đọc, vừa đọc vừa đoán những từ kỹ thuật viết bằng tiếng Anh. Cuối cùng rồi mọi người cũng hiểu hết nội dung để rút kinh nghiệm cho các đợt quay sau. Tôi đã học được rất nhiều điều qua những bức thư ấy mặc dầu chúng chỉ liên quan đến phần kỹ thuật quay phim.


Tôi không thể kể hết mọi thuận lợi cũng như khó khăn trong khi làm bộ phim này. Chỉ biết nói rằng nếu đời tôi đã từng gặp những may mắn thì đây là một trong những may mắn lớn nhất mà tôi có được. Cho dù sau này khi làm phim xong, bị các báo hùa nhau đánh đòn hội chợ, thì đến bây giờ và mãi mãi về sau tôi vẫn nghĩ rằng những ngày làm phim Thương nhớ đồng quê là những ngày hạnh phúc nhất trong đời làm phim của tôi. Sau khi dựng xong hình ảnh, lồng tiếng, thu nhạc, tiếng động xong, chủ nhiệm phim Yoshimasa Omi và ông Izumi chuyên viên kỹ thuật của Hãng Imagica lại sang Việt Nam (Hãng Imagica là một hãng in tráng lớn nhất ở Nhật đã từng in tráng cho những phim lớn của nước ngoài như phim Hoàng đế cuối cùng của đạo diễn Ý Bertolucci). Sau khi khảo sát khả năng kỹ thuật của ta, bạn đã quyết định đưa phim sang Nhật để hòa âm và ra bản đầu. Tôi cùng nhà quay phim Nguyễn Hữu Tuấn, dựng phim Trần Anh Hoa lên đường sang Nhật với đầy đủ các linh kiện: băng hình ảnh, băng lời, băng nhạc và các băng tiếng động. Chúng tôi đã được hoà âm trong các điều kiện tối ưu, nhưng làm đúng như tác phong của người Nhật: có nghĩa là làm liên tục, ăn ngay tại phòng hòa âm, chỉ trở về khách sạn khi đã khuya để nghỉ ngơi, sáng hôm sau lại làm tiếp từ sớm. Có một chi tiết trong khi hòa âm mà tôi muốn kể ra đây để thấy rõ sự tôn trọng nguyên tắc về luật bản quyền. Khi dương cuốn 2 có cảnh nhà chú Phụng đang ngồi xem tivi truyền những hình ảnh của cuộc thi hoa hậu, chủ nhiệm phim đề nghị chúng tôi dừng lại để kiểm tra xem điệu nhạc phương Tây phát ra trong cảnh đó xuất xứ từ đâu. Ông lập tức gọi một chuyên viên trong Hãng đến nghe và chỉ vài giây sau chuyên viên này cho biết đó là giai điệu trong một bản disco của một tác giả người Anh và bản này đã được Nhật mua bản quyền sử dụng rồi. (Nếu Nhật Bản chưa mua bản quyền bắt buộc chúng tôi phải thay bằng một đoạn nhạc khác). Chỉ hai ngày sau khi hòa âm xong chúng tôi đã được báo đến Hãng Imagica để xem bản đầu hoàn chỉnh. Công việc định sáng không phải làm đi làm lại nhiều lần như ở Việt Nam vì Hãng đã cử hai chuyên viên hàng đầu của Hãng theo dõi từ những thước nháp đầu tiên, họ đã thuộc làu từng cảnh quay và biết cần điều chỉnh như thế nào khi ra bản đầu. Nhà quay phim Nguyễn Hữu Tuấn làm việc với hai chuyên viên này không có trở ngại gì mặc dù ngôn ngữ bất đồng. Đoàn chúng tôi hồi hộp đến Hãng Imagica chờ xem bộ phim ra lò. Chúng tôi được đưa đến phòng chiếu có chừng một trăm ghế ngồi rộng rãi như xa lông. Một chuyên viên của Hãng cho biết đây là một trong hai phòng chiếu kiểm tra chất lượng duy nhất ở Nhật. Toàn bộ phòng chiếu được cách ly với cả toà nhà (mặc dầu nằm ở tầng hai) để không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ một rung động nhỏ nào từ bên ngoài. Cùng xem với chúng tôi có đông đủ các chuyên viên kỹ thuật trong bộ phận OTK của Hãng Imagica, đại diện NHK, đại sứ Việt Nam tại Nhật Nguyễn Tâm Chiến, tùy viên Văn hóa cùng một số khách mời Nhật Bản trong đó có bà Seino, trước kia làm phụ tá cho cha tôi ở phòng thí nghiệm Tokyo thời gian ông nghiên cứu tại đây. Tôi nín thở, hồi hộp như theo dõi đứa con mình ra đời. (Hai lần tôi đưa vợ đi đẻ nhưng chưa bao giờ được sống cái phút hồi hộp này. Cả hai con tôi đều sinh vào lúc nửa đêm, khi tôi đang ngủ ở nhà). Khi đèn bật sáng tôi nhìn thấy nỗi hân hoan trên gương mặt của tất cả mọi người. Đại sứ Nguyễn Tâm Chiến không giấu nỗi xúc động nói với tôi: Tôi là một nông dân, tôi từ nông thôn mà ra. Cái cậu Nhâm trong phim đúng như tôi hồi còn ở làng, mà cả cái làng trong phim nữa đúng hệt như làng tôi. Xin chúc mừng anh. Đấy là lời khen ngợi đầu tiên của người đại diện cao nhất của Nhà nước Việt Nam trên đất Nhật Bản (sau này giới ngoại giao là giới ủng hộ bộ phim này mạnh mẽ nhất). Ông Chủ tịch hội Nhật-Việt ở Tokyo, trước kia từng là Đại sứ Nhật tại Pháp đã bắt tay tôi nói bằng tiếng Pháp: Grand succès! (Thành công lớn). Tôi biết rằng bộ phim đã thành công, không còn điều gì phải nghi ngờ nữa (mặc dù tôi vẫn nhận ra một vài chỗ nên chỉnh lý, cắt gọn thì tốt hơn). Khi các khách mời đã ra về, ê kíp làm phim Việt Nam và ê kíp chuyên viên kỹ thuật Nhật cùng chủ nhiệm kéo nhau đi bộ ra nhà hàng để liên hoan, kết thúc một quá trình hợp tác tốt đẹp. Trên đường đi, một chuyên viên của Hãng Imagica tâm sự với tôi: Thú thật với anh, khi theo dõi từ các mẻ nháp đầu tiên cho đến các mẻ nháp cuối cùng, tôi vẫn không hình dung được bộ phim sẽ như thế nào. Nhưng hôm nay xem xong phim tôi muốn nói với anh rằng: một khi nghệ thuật làm từ trái tim thì nó không còn biên giới nữa. Không hiểu sao tôi cảm thấy gần gũi với những con người trên phim đến thế. Họ thân thuộc đến nỗi tôi cứ nghĩ như họ đang sống ở một làng quê nào đó ở Nhật Bản. Sau này khi nhận được những lời khen ngợi của các đồng nghiệp, các nhà phê bình phim tôi vẫn không bao giờ quên được lời tâm sự cảm động của anh chuyên viên kỹ thuật trong buổi chiều hôm đó trên đường phố Tokyo.


Chúng tôi trở về nước một tháng sau thì trở lại Nhật để tham dự đợt chiếu ra mắt các phim châu Á mà đài truyền hình NHK hợp tác tài trợ trong năm 1995. Cùng đi có đạo diễn Lê Hoàng với bộ phim Lưỡi dao mà phía NHK đề nghị tôi giới thiệu để cùng chiếu trong đợt này. Khi vừa tới sân bay, một cán bộ của đài NHK ra đón cho biết lãnh đạo của Đài đánh giá phim Việt Nam là phim hay nhất. Tôi nhớ lại những nỗi lo lắng của anh em đoàn làm phim và sự quyết tâm của mọi người để không bị thua chúng kém bạn. Trong một bức thư gởi Bộ trưởng Trần Hoàn, ông Tadao Sato thay mặt Đài NHK đã viết như sau:


Mấy ngày trước đây, bộ phim Thương nhớ đồng quê (ở Nhật phim được đặt tên là Nhâm) của Việt Nam đã được chiếu tại Trung tâm văn hóa Châu Á thuộc quỹ giao lưu văn hóa Nhật Bản tại Tokyo cùng với phim của các nước khác và nó lại được phát lên vệ tinh truyền hình của NHK để truyền đi khắp nước Nhật. Bộ phim là sự thể hiện của tài năng chân chính và sự giàu có nội tâm... Chúng tôi đã chứng kiến hàng loạt những nhận xét cảm động về bộ phim kể cả từ phía khán giả đại chúng. Bộ phim đã giành được uy tín rất cao trong lòng hàng loạt khán giả, kể cả chuyên gia điện ảnh và truyền hình lẫn các giới chức ngoại giao và những người khác. Chúng tôi đánh giá cao đất nước ngài, nơi đã làm ra một bộ phim như vậy và tự đáy lòng mình, chúng tôi xin cảm ơn ngài về sự cộng tác ấy. (Sao gửi các ông Lưu Trọng Hồng, Bùi Đình Hạc và Đặng Nhật Minh).


(còn tiếp)


 


Nguồn: Hồi ký điện ảnh của Đặng Nhật Minh. NXB Văn Nghệ TP Hồ Chí minh, 2005. Tái bản có bổ sung.

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 19.06.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
xem thêm »