tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20182564
Tiểu thuyết
23.12.2015
Đặng Nhật Minh
Hồi ký điện ảnh

Trước áp lực của ông tôi đành nhân nhượng cắt ngắn bớt trường đoạn này, điều làm tôi đau xót vô cùng. Ông gim đốc này thường có một lập luận thoạt nghe rất có lý: bộ phim làm ra không phải của cá nhân một ai. Nó là tài sản chung, là cơm áo gạo tiền của cả Hãng. Nếu phim có gì trục trặc, trên không cho ra thì hàng trăm cán bộ công nhân viên Hãng chết chứ không chỉ mình đạo diễn. Bởi vậy người giám đốc mới là người có trách nhiệm chính đối với bộ phim. Tôi không thể chấp nhận cái lập luận kiểu đó và cương quyết không chịu cắt bỏ thêm một cảnh nào nữa trong trường đoạn chợ âm dương.


 


Không còn cách nào dồn ép tôi được, giám đốc Hải Ninh bèn mời các cấp trên xuống xem trước cho an toàn. Có lẽ chưa có phim nào của Việt Nam lại phải duyệt đi duyệt lại nhiều tầng nhiều nấc như bộ phim này. Cứ mỗi nấc duyệt lại nảy sinh thêm những rắc rối mới. Mặc dù Thứ trưởng Bộ Văn hóa Đình Quang ủng hộ, nhưng Thứ trưởng Vũ Khắc Liên lại băn khoăn không biết lúc này đã nên nói đến chuyện đau thương mất mát trong chiến tranh chưa? Ông cho biết ở Liên Xô 15 năm sau chiến tranh người ta mới làm phim Khi đàn sếu bay. Ở ta chiến tranh vừa mới chấm dứt không lâu, ở biên giới Tây Nam vẫn còn chiến sự, cần động viên thanh niên ra trận bảo vệ Tổ quốc. Nên xin ý kiến thêm các anh ở trên. Cứ như vậy lần lượt các Thứ trưởng đến Bộ trưởng trong Bộ, rồi tới ủy viên Bộ Chính trị Tố Hữu, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng Nguyễn Đức Tâm và rồi cuối cùng là tới Tổng Bí thư Đảng Trường Chinh duyệt. Tổng cộng tất cả là 13 lần duyệt. Tôi cảm tưởng như mình là kẻ tội phạm bị các phiên tòa lôi ra xét xử liên tục. Tưởng đã thoát được trong phiên này lại bị lôi ra xử lại trong phiên khác. Trước khi được gọi đem phim tới chiếu tại nhà Tổng Bí thư Trường Chinh, tôi nói với các đồng sự: có lẽ đây là phiên xử cuối cùng. Đồng chí Trường Chinh ăn cơm tối xong cùng cả nhà ra phòng khách để xem phim. Một chiếc máy quay lưu động đã được đặt sẵn giữa phòng. Đèn tắt. Phim bắt đầu chiếu trong tiếng máy chạy rè rè. Tôi ngồi một góc phòng bên cạnh nữ diễn viên Lê Vân hồi hộp quan sát thái độ của đồng chí Tổng Bí thư. Tôi thấy đồng chí im lặng xem, theo dõi diễn biến trên phim không biểu lộ thái độ gì. Khi đèn bật sáng, đồng chí chậm rãi tiến về phía nữ diễn viên Lê Vân bắt tay và chỉ nói mỗi một câu: Thương lắm. Rồi đi vào. Đồng chí thư ký của Tổng Bí thư bảo chúng tôi ra về, ông sẽ truyền đạt ý kiến của Tổng Bí thư xuống cho lãnh đạo Hãng sau. Cả đoàn ra về phấp phỏng, không biết hai chữ “thương lắm” có phải là lời phán quyết cuối cùng chưa? Chúng tôi kéo nhau đi ăn phở. Tôi nói đùa với Lê Vân: Biết đâu ông nói thương là thương cháu chứ không phải thương cô Duyên thì sao? Những nhà chính trị nói ít nhưng ta phải hiểu nhiều. Tôi nhớ lần đem phim này vào chiếu cho ông Tố Hữu duyệt. Xem xong ông chỉ nói một câu: Gãi đúng chỗ ngứa thế này thì thiên hạ thích đây. Mãi về sau tôi mới hiểu chỗ ngứa mà ông nói nghĩa là gì. Đó là nỗi đau, là sự mất mát trong chiến tranh trong mỗi gia đình người Việt Nam. Tôi đã chạm vào nỗi niềm đó, và chỗ đó theo ông là chỗ ngứa. Tôi bỗng nhớ đến những câu thơ mà ông đã từng viết thuở còn trong bóng tối trong bài Tiếng hát sông Hương: Ngày mai thôi kiếp lầm than... Sẽ đưa em đến một vườn đầy hoa v.v... Ý nghĩ về bộ phim Cô gái trên sông của tôi bắt đầu hình thành từ đấy.


 


Sau lần đem phim vào chiếu cho Tổng Bí thư xem tôi không thấy giám đốc Hải Ninh yêu cầu chiếu cho ai xem nữa. Vụ xử đã kết thúc. Bộ phim Bao giờ cho đến tháng Mười đã được tha bổng. Lập tức nó được khán giả trong cả nước đón nhận hết sức nồng nhiệt. Không những thế nó còn nhận được mối thiện cảm rất lớn của khán giả nước ngoài. Có lẽ đây là một phim truyện đầu tiên của Việt Nam đến được với công chúng ngoài biên giới sau năm 1975. Tôi được Đại sứ quán Pháp cấp học bổng sang tu nghiệp tại Pháp trong một năm. Một tháng sau khi tôi tới Paris, Bộ ngoại giao Pháp đã long trọng tổ chức chiếu ra mắt bộ phim này tại rạp chiếu bóng Cosmos trên đại lộ Rue de Reinnes ở trung tâm thành phố. Điều này làm Đại sứ quán ta tại Paris rất ngạc nhiên vì từ trước tới nay chưa thấy họ làm như vậy bao giờ. Giấy mời tới xem phim được in rất trang trọng. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp Roland Dumas và Bộ trưởng Bộ Văn hóa Pháp Jack Lang cùng đứng tên trên giấy mời. Khách mời là ngoại giao đoàn ở Paris, giới văn nghệ sĩ, điện ảnh Pháp, đại diện kiều bo ta. Có thể nói buổi chiếu đã thành công mỹ mãn. Nhà văn kiêm nữ ký giả Pháp Madeleine Riffaud sau khi xem xong nước mắt giàn giụa ôm hôn tôi hồi lâu. Rồi chị ngỏ ý muốn nhận tôi làm em nuôi. Sau buổi chiếu đó tôi có thêm biết bao bạn bè người Pháp và người Việt sống ở Paris.


 


Khỏi phải nói sự háo hức của tôi khi lần đầu tiên được đến Paris. Những ngày nghỉ cuối tuần chị Madeleine dẫn tôi đi thăm những danh lam thắng cảnh, giới thiệu với tôi những nơi từng ghi dấu ấn của những danh nhân văn hóa Pháp và thế giới. Một lần chị đưa tôi đến một chiếc cầu bắc qua sông Seine, chỉ cho tôi nơi chị đã bắn một tên sĩ quan SS Đức trong những ngày Paris bị chiếm đóng. Hồi đó chị mới 18 tuổi, được tổ chức giao nhiệm vụ phải hạ sát tên sĩ quan này. Người ta cho biết hắn có thói quen cứ đến 5 giờ chiều thì bỏ hết mọi công việc để ra đây ngắm hoàng hôn trên sông Seine. Đó là thời điểm thích hợp nhất để hạ sát hắn. Và chị đã làm như vậy vào một buổi chiều như vậy trên chiếc cầu này. Chị trở thành người con gái tiêu biểu của Paris kháng chiến kể từ sau chiến công ấy. Nhưng chị nói với tôi: Cho đến bây giờ chị vẫn còn chút ân hận, giá chị bắn hắn vào một lúc khác, không phải là cái lúc hắn đang ngắm hoàng hôn. Vào cái phút đó, hắn là một con người biết thưởng thức cái đẹp. Chị còn đưa tôi đến một căn nhà hầm ẩm thấp nơi chị đã từng ngồi viết cuốn Trong rừng rậm Việt cộng kể về chuyến đi vào khu giải phóng của Mặt trận Giải phóng miền Nam năm 1972. Những kỷ niệm đầu tiên của tôi với Paris đều gắn liền với người phụ nữ thơng minh v xinh đẹp này (Picasso đã từng vẽ chân dung chị). Chị còn tâm sự với tôi về một cuộc tình với một người đàn ông Việt Nam mà chị cho là không rõ chị đã yêu con người ấy hay là yêu Việt Nam qua con người cụ thể ấy, chị cũng không biết nữa.


 


Trước khi bước vào thực tập về điện ảnh, tôi được xuống thành phố Vichy ở miền Nam nước Pháp để ôn luyện tiếng Pháp. Thành phố cổ kính này có những không gian không hiểu sao gợi cho tôi rất nhiều về Huế và Hà Nội. Có lẽ do kiến trúc của nó chăng, một kiểu kiến trúc mà ở Việt nam thường được gọi là kiển trúc thuộc địa. Tôi được sống một quãng đời sinh viên rất ngắn ngủi (chỉ có hai tháng) giữa những sinh viên đủ mọi quốc tịch trên thế giới đến đây ôn luyện tiếng Pháp trước khi vào các trường đại học.


 


     Một hơm Đại sứ quán ta ở Paris nhắn tôi đến gấp có việc cần trao đổi. Đại sứ Hà Văn Lâu cho biết Liên hoan phim quốc tế ở Hawaii (Mỹ) điện sang mời tôi có mặt ở Honolulu gấp. Họ đã lo liệu xong vé máy bay cho tôi đi thẳng từ Paris sang Honolulu. Đại sứ Hà Văn Lâu điện về xin ý kiến bên nhà và được Bộ Văn hóa trả lời: chỉ cho đạo diễn Đặng Nhật Minh đi Pháp chứ không đi Mỹ. Năm đó phim Bao giờ cho đến tháng Mười được bà Ladinki, một bác sĩ Mỹ hoạt động trong Hội khoa học Mỹ - Việt xin phép Bộ Văn hoá đem sang Hawaii dự thi và phim đã được tặng giải đặc biệt của Ban Giám khảo. Trước ngày trao giải bà tìm tôi khắp nơi. Sau này gặp lại ở Hà Nội, bà cho biết ở Liên hoan phim năm đó người ta rất mong chờ sự có mặt của tôi.


 


Khởi từ Liên hoan phim đó, bộ phim Bao giờ cho đến tháng Mười bắt đầu một cuộc hành trình rất dài qua màn ảnh của rất nhiều quốc gia trên thế giới, mang lại không ít thiện cảm cho đất nước Việt Nam, nền điện ảnh Việt Nam. Sau này tôi được nghe kể lại buổi chiếu đầu tiên của bộ phim tại Honolulu (Hawaii) vào tháng 11.1985 như sau: Các thuyền nhân Việt Nam ở Honolulu nghe có một bộ phim của Cộng sản Hà Nội được chiếu kéo đến vây xung quanh rạp với những biểu ngữ phản đối. Trước giờ chiếu 15 phút, cảnh sát nhận được một cú điện thoại báo tin trong rạp bị cài mìn. Lập tức khán giả được mời ra khỏi rạp. Sau một giờ rà soát, cảnh sát xác định tin kia là thất thiệt mới cho khán giả vào lại. Nhiều thuyền nhân cũng vào xem cốt để gây rối trong khi chiếu. Nhưng buổi chiếu đã kết thúc tốt đẹp trong tiếng vỗ tay và những giọt nước mắt đọng trên mi của nhiều người, trong đó có cả những thuyền nhân Việt Nam. Họ xúc động xem từ đầu đến cuối quên cả dự định từ trước của mình. Đó là những ngày căng thẳng nhất trong quan hệ Mỹ-Việt.


 


Trong những ngày thực tập ở Pháp tôi đã học được rất nhiều điều bổ ích cho nghề nghiệp ở nền điện ảnh Pháp mà tôi từng hâm mộ từ lâu với các tên tuổi như: Alain Resnais, Truffaut, Godard... Tôi còn phát hiện ra những tên tuổi mới như Pialat, Téchiné, Romer... Tôi còn được xem những phim của Roman Polanski, Milos Forman, Andrei Konchalovski... mà tôi cảm thấy rất gần gũi trong phong cách làm phim. Đặc biệt ở Paris tôi còn khám phá cho mình một nền điện ảnh vĩ đại nữa mà tôi chưa hề biết đến bao giờ: nền điện ảnh Nhật Bản của Ozu, Kurosawa, Mizogushi...


 ♦


“Cô gái trên sông”


Trở về Việt Nam tôi bắt đầu viết kịch bản Cô gái trên sông mà tôi đã có ý định từ trước như một món nợ tinh thần của tôi đối với xứ Huế, quê hương tôi. Cô gái trong kịch bản chính là cô gái trong bài thơ của nhà thơ Tố Hữu: Tiếng hát sông Hương. Cô gái đó tượng trưng cho nhân dân khổ đau hy vọng vào một ngày mai tươi sáng, hết lòng che chở cho cách mạng. Phim bắt đầu bằng cảnh trong bệnh viện Huế. Liên, phỏng vấn của một tạp chí địa phương, đến thăm Nguyệt, cô gái vừa được đưa vào bệnh viện cách đây mấy hôm vì định lao vào xe ô tô để tự tử. Thì ra hai người đã quen nhau khi Nguyệt còn đang trong trại cải tạo nhân phẩm và Liên là nhà báo đến để viết một phóng sự. Nguyệt đã kể lại cho Liên câu chuyện riêng của mình liên quan đến một người đàn ông, người mà trước đây khi Huế còn chưa giải phóng cô đã có lần cứu giúp, rồi đem lòng yêu người đó vì những lý tưởng cao đẹp mà anh theo đuổi. Ngày ấy Nguyệt là một cô gái sống bằng nghề bán thân nuôi miệng trên sông Hương, còn người đàn ông kia là một chiến sĩ hoạt động nội thành. Trong một đêm bị địch săn đuổi người chiến sỹ đ nhẩy xuống sơng Hương rồi trèo lên một chiếc thuyền đang đậu neo trên sông. Thuyền đó là thuyền của Nguyệt đang chờ khách. Thuơng người gặp cảnh hoạn nạn, Nguyệt đã che dấu anh khỏi sự truy lùng của cảnh sát. Không những thế sáng hôm sau cô còn chèo đò đị ngược sông đưa anh trở về cắn cứ. Trong thời gian ngắn ngủi ẩn nấp trên thuyền người chiến sỹ cách mạng đã kịp gieo vào lòng cô gái giang hồ niềm hy vọng về một cuộc sống đầy hoa khi đất nước được giải phóng như trong bài thơ Tiếng hát sông Hương của nhà thơ Tố Hữu mà anh đã đọc cho cô nghe. Anh hứa sẽ quay lại tìm Nguyệt. Nhưng rồi anh đã không bao giờ quay trở lại. Sau ngày Huế giải phóng, Nguyệt đã cất công đi tìm anh để rồi khi tìm ra thì bị anh từ chối. Người chiến sĩ kia không nhận là đã quen cô vì anh bây giờ đã là một cán bộ cao cấp trong thành phố. Sau khi hỏi chuyện Nguyệt xong Liên viết một bài báo tố cáo, lên án sự bội bạc của người cán bộ hoạt động nội thành trước đây. Mặc dù có lệnh của trên không nên đăng bài báo đó, nhưng nhờ sự cương quyết của cả tòa soạn, cuối cùng nó vẫn được đăng. Đến lúc đó Liên mới biết rằng người cản trở không cho đăng bài báo của cô chính là chồng mình và anh chính là người cán bộ cách mạng bội bạc mà cô đang lên án.


 


 


Hình 9. Một cảnh trong phim Cô gái trên sông


Đây là thời kỳ đất nước bắt đầu đổi mới. Kịch bản đươc thông qua dễ dàng, thuận lợi. Tôi đã mời nữ diễn viên Minh Châu vào vai Nguyệt, không chút do dự, mặc dù trước đó Minh Châu chỉ mới xuất hiện trong một vài phim không để lại ấn tượng gì đặc biệt. Tôi tin ở sự lựa chọn của mình và quả thực Minh Châu đã hoàn thành xuất sắc vai diễn này. Trong thời gian đang làm phim ở Huế, tôi đọc báo biết tin ở Hà Nội, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh có cuộc gặp gỡ anh chị em văn nghệ sĩ kêu gọi không uốn cong ngòi bút, cởi trói và hãy tự cứu lấy mình trước khi Trời cứu. Tôi yên tâm tiếp tục làm phim, lòng mừng khấp khởi nghĩ rằng từ đây người nghệ sĩ sẽ được thoải mi hơn trong sáng tác. Người quay phim này là Phạm Việt Thanh, một quay phim trẻ, khỏe mạnh và đây là phim truyện đầu tay của anh. Phim đã quay được gần một nửa mà tôi vẫn chưa quyết định nên mời ai làm nhạc. Tôi bỗng nghĩ đến nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, một người rất nặng lòng với Huế, bèn gọi điện vào Thành phố Hồ Chí Minh. Chỉ cần nói tôi đang ở Huế, đang làm một phim về Huế, và có ý định mời Sơn làm nhạc cho phim, lập tức anh nhận lời ngay không chút do dự, mặc dầu chưa biết nội dung phim. Sau này khi phim đã dựng xong hình ảnh đem vào thành phố Hồ Chí Minh để lồng tiếng tôi mới chiếu cho Sơn xem. Người lồng tiếng Huế cho vai Nguyệt trong phim chính là ca sĩ Thanh Lan. Cha cô là người Bắc, mẹ là người Huế, sinh sống ở miền Nam, cô nói được giọng cả ba miền không hề pha trộn. Thanh Lan rất nhiệt tình lồng tiếng cho phim, mặc dầu trước đó cô chưa hề lồng tiếng cho bất cứ phim nào trừ những phim có vai diễn của mình. Sau khi hoàn thành xong phần lồng tiếng thì Sơn cũng vừa soạn xong phần âm nhạc. Hôm thu nhạc cho phim, Sơn bị sốt cao nhưng vẫn cố đến phòng thu để theo dõi, sửa chữa những chỗ cần sửa, làm việc với dàn nhạc do nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu chỉ huy. Âm nhạc mềm mại và sâu lắng của Sơn đã hỗ trợ cho phim rất nhiều.


 


Trong thời gian lồng tiếng tại số 6 Đồn Đất thành phố Hồ Chí Minh có một sự việc làm tôi nhớ mãi. Một buổi chiều ông Đinh Triết, Giám đốc Phát hành phim Trung ương vừa bay từ Hà nội vào, đang ở bên khách sạn Caravelle, lững thững ghé sang chơi. Thấy tôi đang loay hoay làm việc với anh chị em diễn viên lồng tiếng trong phòng thu ông mỉm cười rồi nói: Thôi làm phim này là phim cuối cùng. Sắp tới không ai làm phim nhựa nữa. Tôi ngạc nhiên hỏi: Tại sao vậy? Ông đáp: Cậu không biết gì à? Bây giờ người ta mới sáng chế ra loại phim video, không cần in tráng lôi thôi. Chiếu lên màn ảnh to trông rõ mồn một. Tơi đâm hoang mang. Quả tình tôi chưa nghe nói đến kỹ thuật tân kỳ này bao giờ. Tôi cũng không biết rằng những ngày ấy các cán bộ chủ chốt của ngành điện ảnh kéo nhau vào thành phố HCM để họp bàn một việc hệ trọng: chuyển hướng điện ảnh Việt Nam sang làm phim video và chiếu phim video, một chủ trương gây biết bao hệ lụy cho ngành về sau.


 


Trong không khí của những ngày đầu Đổi mới, phim Cô gái trên sông được Cục Điện ảnh thông qua rất nhanh chóng, không gặp khó khăn trở ngại gì. Bộ phim lập tức được giới điện ảnh và công chúng đón nhận hết sức nồng nhiệt. Nhưng phim ra mắt khán giả chưa được bao lâu thì nghe tin một đồng chí lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng đã lên án nó gay gắt hai lần. Một lần tại diễn đàn của Hội nghị Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và một lần tại kỳ họp của Quốc hội khóa 7. Nội dung phê phán xoay quanh việc trong phim người cán bộ cách mạng thì bội bạc, còn anh lính quân đội Sài gòn, người yêu của cô gái trên sông thì lại thủy chung. Bộ phim bị coi là đã bôi nhọ hình ảnh người chiến sĩ cách mạng (tuy vậy cũng không có một văn bản chính thức nào ra lệnh cấm chiếu phim này). Ban tổ chức Liên hoan phim Việt Nam diễn ra năm 87 tại Đà Nẵng đã lâm vào cái thế hết sức khó xử. Một bên là sự đón nhận nồng nhiệt chưa từng có của công chúng Đà Nẵng và một bên là ý kiến phê phán của một đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng. Hơn thế nữa kết quả cho điểm bằng phiếu kín của các thành viên trong Ban Giám khảo cho thấy bộ phim Cô gái trên sông đạt số điểm cao nhất. Nghe tin bộ phim bị cấp trên phê phán, một số người xấu bụng tung tin bộ phim đã bị cấm chiếu làm Ban tổ chức lại càng hoang mang, có lúc đã định gạt hẳn phim ra khỏi danh sách giải thưởng. Cuối cùng người ta đã tìm ra được một giải pháp dung hòa: chỉ cho phim Cô gái trên sông giải Bông Sen Bạc (trong khi lẽ ra nó đủ điểm để được Bơng sen Vàng). Về sau tôi được nghe một số người trong Ban tổ chức kể lại: việc phim Cô gái trên sông chỉ được giải Bạc đã gây nên một làn sóng bất bình trong khán giả Đà Nẵng. Những ngày đó, sự tung tin, vận động, xúi giục trước khi bước vào Liên hoan phim của một số người trong giới điện ảnh làm tôi cảm thấy hết sức chán ngán nên đã quyết định không tham dự Liên hoan phim Đà Nẵng. Cả đoàn làm phim cũng theo tôi cùng ở lại Hà Nội. Tôi cùng chủ nhiệm Vũ Văn Nha, nhà quay phim Phạm Việt Thanh và nữ diễn viên Minh Châu nhận lời mời của Công ty chiếu bóng Hà Bắc lên Bắc Giang tiếp xúc với bà con trên ấy. Trong lúc đó ở Đà Nẵng khán giả chờ đợi chúng tôi từng ngày. Có người tung tin rằng chúng tôi vào tới Huế, thấy phim bị cấm bèn lộn ra (sau này nhiều người khi về qua Huế thấy khắp thành phố căng đầy áp phích của phim mới biết mình bị lừa). Sự nhiệt tình của khán giả Đà Nẵng năm ấy đã làm các nhà điện ảnh nước ngoài được mời tham dự phải ngạc nhiên. Ông Đinh Triết, giám đốc Phát hành phim Trung ương cho biết số người xem Cô gái trên sông đông đến nỗi tiền bán vé thu được từ bộ phim này đủ để trang trải toàn bộ mọi chi phí của Liên hoan phim, thậm chí còn thừa. Ông đề nghị trích tiền doanh thu của phim ra để thưởng cho đoàn làm phim, nhưng không ai dám quyết. Sau Liên hoan phim, Đoàn thanh niên Đà Nẵng đã mời nữ diễn viên Minh Châu vào gặp gỡ với khán giả trẻ thành phố. Minh Châu trở thành người nữ diễn viên được hâm mộ nhất lúc bấy giờ qua vai Nguyệt trong Cô gái trên sông. Dù sao bộ phim cũng đã nhận được giải Bông sen Bạc và Giải nữ diễn viên xuất sắc, Giải quay phim xuất sắc, trái với dự định của những kẻ rắp tâm muốn hãm hại nó.


 


Sau đợt chiếu đó, khán giả trong nước không bao giờ được xem lại phim Cô gái trên sông nữa, mặc dầu không có một văn bản chính thức nào cấm chiếu (hoặc có thể có mà tôi không được biết). Trớ trêu thay, bộ phim Cô gái trên sông lại được dư luận nước ngoài đón nhận như một biểu hiện đường lối Đổi mới của Việt Nam. CHDC Đức là nước đầu tiên mua để chiếu bộ phim này tại Tuần phim của các nước XHCN tổ chức tại thành phố Kotbus với bản phim đã được lồng tiếng Đức (hồi đó phe XHCN chưa tan rã). Sau này Nhật Bản, Mỹ, Canada, Ấn Độ... và nhiều nước khác tiếp tục mời chiếu. Ở đâu nó cũng được đón nhận với nhiều thiện cảm. Năm 1992 khi tôi sang New York để dự Tuần phim Việt Nam do Công ty Asean Cinevision đứng ra tổ chức, đại sứ Lê Văn Bàng đã nói với tôi: Anh cứ đem phim Cô gái trên sông ra để chứng minh cho đường lối Đổi mới của ta trong lĩnh vực văn nghệ (ông ở xa nên không biết bộ phim bị trong nước phê phán). Trong buổi chiếu phim này tại New York ông đại sứ và phu nhân cũng có mặt và tỏ ra rất hài lòng. Đến năm 1996, có nghĩa là 10 năm sau Đổi mới, Liên hoan phim Toronto giới thiệu một chương trình phim Việt Nam trong đó có phim Cô gái trên sông. Thật oan cho bộ phim khi được nước ngoài đón nhận như một dấu hiệu đáng mừng của công cuộc Đổi mới ở nước ta! Quả thật số phận của bộ phim cũng long đong như số phận cô gái được miêu tả trong phim, nhưng cái kết của nó lại rất có hậu. Tháng 4 năm 2000, để kỷ niêm 25 năm ngày Giải phóng miền Nam, kênh truyền hình ARTE của châu Âu đã chiếu lại phim Cô gái trên sông. Đây là bộ phim truyện Việt Nam duy nhất được chiếu trong dịp này. Hình ảnh và màu sắc của phim còn rất tốt vì đó chính là bản phim đã được Cộng hòa dân chủ Đức nhập trước đây và đã được bảo quản chu đáo. Sau 13 năm, phim Cô gái trên sông đã sống lại lần thứ hai một cách thật bất ngờ và ngoạn mục.


Bước ngoặt bất ngờ (2)


Tháng 3.1989, Đại hội Điện ảnh nhiệm kỳ III khai mạc tại Hà Nội. Đây là một sinh hoạt 5 năm một lần của những người làm điện ảnh để bầu ra Ban chấp hành, Ban Thư ký và Tổng Thư ký cho tổ chức xã hội nghề nghiệp của mình. Người ta nhận chỉ thị gì của trên về việc tiến hành Đại hội, về dự kiến nhân sự, tôi không hề hay biết. Tôi đến dự Đại hội như bất kỳ hội viên nào cốt để gặp mặt các đồng nghiệp trong Nam ngoài Bắc tụ hội về đây. Tôi được anh em trong chi hội Hãng phim truyện Việt Nam đề cử vào Ban chấp hành trung ương Hội. Danh sách đề cử có đến hàng trăm, ai cũng có quyền đề cử, ai cũng có quyền ứng cử. Mỗi lần đại hội như vậy thì việc bầu bán là nội dung sôi nổi hơn cả. Đó là bãi chiến trường của những cuộc tranh giành quyền lực, của những cuộc vận động cửa trước cửa sau, của những âm mưu cấu kết. Tôi như người lính vô danh giữa bãi chiến trường đó, người lính không của phe tham chiến nào. Tôi trúng vào Ban chấp hành Hội gồm 11 người. Tiếp theo đến lượt bầu Tổng Thư ký. Đại hội Điện ảnh năm đó đã mở đầu cho một tiền lệ về cách bầu cử của Hội điện ảnh sau này. Đó là Tổng Thư ký phải do toàn thể Đại hội bầu. Thường thì Ban chấp hành bầu ra Tổng Thư ký. Chưa bao giờ có việc cả đại hội bỏ phiếu kín để bầu. Lý do mà các hội viên Hội Điện ảnh cương quyết đòi bầu trực tiếp Tổng Thư ký là vì họ biết rất rõ phương thức chỉ đạo trong những cuộc bầu bán như thế này. Nếu Tổng Thư ký do Ban chấp hành bầu thì trong phòng kín chỉ gồm các ủy viên chấp hành, người ta chỉ thị gợi ý rất dễ dàng và một khi đã được trên gợi ý, chỉ thị thì đố ai dám bầu khác cho dù là bầu phiếu kín. Những người làm điện ảnh không chấp nhận lối dân chủ nửa vời đó. Họ muốn có một thứ dân chủ thực sự. Cuộc bầu Tổng Thư ký bắt đầu trong sự hồi hộp chờ đợi của mọi người. Bầu vòng một kết quả không có ai đủ số phiếu quá bán. Đại hội dừng lại chờ sáng hôm sau bầu tiếp. Tối hôm đó các phe nhóm mở hết tốc lực để làm công tác vận động. Riêng tôi chẳng vận động cho ai kể cả cho bản thân mình. Vòng bầu thứ hai tôi trúng cử với số phiếu quá bán duy nhất. Một bất ngờ lớn đối với trên và đối với bản thân tôi. Tôi không ngờ cái đa số thầm lặng trong giới điện ảnh lại tin cậy ở tôi, muốn trao sứ mạng làm người đại diện cho họ vào tay tôi, một người chưa hề làm công tác quản lý, chưa bao giờ làm một chức vụ gì dù nhỏ nhất trong guồng máy quan chức của nhà nước. Tôi cảm động khi nghĩ về họ. Thì ra trong cuộc sống hàng ngày, con người ta đôi khi phải im lặng, nhưng khi cần họ sẵn sàng bày tỏ thái độ một cách thẳng thắn. Sau màn mở đầu dân chủ trong bầu bán của Hội Điện ảnh, các Đại hội của các Hội Sân khấu, Mỹ thuật, Âm nhạc, Múa cũng theo gương bầu Tổng Thư ký trực tiếp tại đại hội.


Hội Điện ảnh Việt Nam 51 Trần Hưng Đạo-Hà Nội


Cuối tháng 3.1989 tôi rời Hãng Phim truyện Việt Nam về công tác tại Hội Điện ảnh Việt Nam. Người ta thường nói làm quản lý khó lắm, không phải ai cũng làm được. Nhiều người tỏ ra lo lắng cho tôi. Nhưng sau một thời gian ngắn làm việc tôi nhận ra rằng: cái khó nhất đối với tôi là làm phim cho hay, là làm công việc sáng tác cho tốt. Còn việc quản lý tôi nghĩ ai cũng làm được, miễn có một cái đầu khoa học và một tấm lòng ngay thẳng, không ham hố tham lam. Sở dĩ bấy lâu nay người ta qúa đề cao công tác quản lý chỉ vì có một số người chuyên làm nghề quản lý, làm quan chức, ngoài ra không có khả năng làm bất cứ việc gì khác nên đã thần bí hóa cái công việc này. Vốn là một người làm sáng tác, nếm đủ mùi vị đắng cay của người làm sáng tác trong guồng máy điện ảnh bấy lâu nay, khi về Hội, tôi chỉ tâm niệm một điều: hãy vì quyền lợi của những người làm phim, những người thực sự làm nên nền điện ảnh nước nhà bằng những thước phim có chất lượng của mình và họ phải được tôn trọng. Tôi biết trước mắt mình sẽ là những cuộc đụng đầu với guồng máy quản lý của ngành. Nhưng tôi thấy bình thản vì tôi không có tham vọng gì. Tôi sẵn sàng trở về chỗ cũ của mình: một đạo diễn bình thường, không có chức vụ, chưa một lần được ngồi họp giao ban trong phòng giám đốc. Chức Tổng Thư ký chỉ là tạm thời trong một nhiệm kỳ 5 năm mà thôi.


 


Mâu thuẫn đầu tiên giữa tôi và những người quản lý ngành điện ảnh là việc nhìn nhận vị trí của điện ảnh trong thời điểm khi kỹ thuật video bùng nổ khắp nơi. Quan điểm của tôi trước sau vẫn như một: Điện ảnh là phim nhựa, khi nói đến nền điện ảnh của một quốc gia, người ta chỉ nói đến phim nhựa. Quan điểm đó hoàn toàn trái ngược với quan điểm của những người quản lý ngành điện ảnh lúc bấy giờ. Không những thế nó còn làm phật lòng nhiều anh chị em hội viên công tác trong lĩnh vực truyền hình. Họ không muốn có sự phân biệt giữa việc làm phim nhựa hay làm phim video vì tất cả đều là hội viên Hội Điện ảnh cả. Năm 1990 tại Hội nghị Điện ảnh toàn quốc tổ chức tại Nha Trang, những người lãnh đạo ngành điện ảnh đã chính thức tuyên bố: làm phim video, chiếu phim video là chiến lược của điện ảnh Việt Nam. Ngay sau đó là một chiến dịch rầm rộ nhập phim video, đầu máy phóng video, máy quay phim video. Các rạp chiếu bóng trên toàn quốc nhanh chóng dẹp bỏ máy chiếu phim nhựa, trang bị máy chiếu phim video với màn ảnh từ 100 đến 300 inch. (Phải nói rằng trong việc thực thi chiến lược này khối người đã giàu to vì được độc quyền nhập phim video và các đầu máy video). Hệ thống rạp chiếu bóng tại các thành phố lớn bỗng chốc tan rã hàng loạt để rồi không lâu sau trở thành những sàn nhẩy, nhà hàng, karaoke v.v... 16 rạp ở Hà Nội chỉ còn lại một rạp Tháng Tám. Nhiều rạp bị phá thành bình địa để lấy đất hùn vốn liên doanh với nước ngoài (chưa tìm được đối tác thì cho thuê làm bãi bán bia như các rạp Kim Đồng, Đại Nam). Tình hình tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng không hơn gì nhưng số rạp được giữ lại nhiều hơn (3 rạp thay vì gần một trăm rạp có trước năm 75). Phải công nhận rằng bằng việc nhập phim video quá dễ dàng, quá gọn nhẹ, qua đủ mọi con đường chính thức lẫn không chính thức, màng lưới Phát hành phim đã sống một thời kỳ hoàng kim nhất trong lịch sử tồn tại của mình (hơn cả thời kỳ bao cấp trước đây khi được độc quyền chiếu các phim của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu cũ). Cuộc kinh doanh này không phải một vốn bốn lời mà có thể nói một vốn một trăm lời. Nhưng để bù lại nền sản xuất và tiêu thụ phim nhựa chưa bao giờ lại lao đao như vậy. Có năm cả nước chỉ sản xuất 3-4 phim nhựa (như những năm 1996 - 1997).


 


  Sau mười năm từ khi có chủ trương coi làm phim video chiếu phim video là chiến lược của điện ảnh Việt Nam, người ta bắt đầu nhận ra một sự thật hiển nhiên: điện ảnh vẫn là phim nhựa (chiếu phim nhựa, làm phim nhựa). Khi khán giả đã bắt đầu trở lại với phim nhựa thì các rạp nay không còn nữa, nhất là tại các địa phương. Băng hình video VHS đã được thay thế bằng đĩa VCD và DVD, một phương tiện mà màng lưới phát hành phim của nhà nước không thể nào khống chế được trước làn sóng tràn lan và giá thành quá rẻ của các đĩa phim nhập lậu từ Trung Quốc. Doanh thu của Phát hành phim ở nhiều địa phương sa sút trầm trọng. Một chiến lược sai lầm dẫn đến những hậu quả tai hại, mà mười năm sau chưa chắc đã khắc phục được.


 


Ban chấp hành Hội có 11 người, mỗi người là một tính cách, một động cơ, một mục đích riêng. Những ngày đầu quan điểm của tôi được mọi người đồng tình, tất cả đều nhất trí trong mọi chủ trương hành động của Hội. Nhưng dần dần đụng đầu với bộ máy quyền lực nắm trong tay quyền duyệt kịch bản, duyệt phim, phân phát kinh phí của Nhà nước, nhiều ủy viên bắt đầu tính toán thiệt hơn, vì bản thân họ tuy là những ủy viên BCH Hội nhưng vẫn là người ăn lương nằm dưới sự quản lý của guồng máy quyền lực đó. Trụ lại được trong khóa III với một lập trường kiên định quanh tôi chỉ còn có Phó Tổng Thư ký Thanh An, các ủy viên Ban chấp hành như đạo diễn Lê Mạnh Thích, đạo diễn Trần Văn Thủy. Dù làm Tổng Thư ký Hội nhưng không lúc nào tôi quên rằng mình trước sau vẫn là một đạo diễn. Cái gì có thể có mà tôi để lại sau mình là những bộ phim. Cái chân Tổng Thư ký quả là lý tưởng đối với những ai biết rằng mình không còn đủ sức để làm công việc sáng tác, nhưng vẫn muốn có mặt trong sinh hoạt điện ảnh nước nhà, đối với những ai đương chức nhưng sắp về hưu. Ngày trước khi còn phe XHCN thì đây còn là chỗ ngồi lý tưởng để thiết kế những chuyến xuất ngoại ít nhất mỗi năm một lần tham dự cuộc họp của những người đứng đầu các Hội Điện ảnh các nước XHCN, không kể các Liên hoan phim trong phe với những xuất mời không chỉ đích danh, muốn ai đi thì đi. Những lợi thế đó, tôi không hề có ý định khai thác, vả lại khi tôi về Hội thì phe XHCN cũng không còn, các Hội điện ảnh các nước anh em cũng không còn (trên thế giới chỉ còn duy nhất một Hội giống Hội của ta là Hội điện ảnh Trung Quốc, nhưng quan hệ cũng khác xưa rồi). Tuy vậy tôi xuất ngoại rất nhiều, nhiều nhất trong số các đạo diễn, nhưng đều được mời với tư cách là đạo diễn của những bộ phim do mồ hôi công sức của mình làm ra chứ không phải với tư cách là Tổng Thư ký Hội. Những năm làm việc ở Hội, bị tách rời khỏi guồng máy sản xuất của các Hãng là một thiệt thòi lớn đối với tôi (sáu năm liền tôi không có điều kiện làm phim kể từ sau bộ phim Cô gái trên sông làm vào năm 1986 và bộ phim video 2 tập Chỉ một người còn sống làm vào năm 1989).


 


Trong những năm đầu, công việc của Hội đã choán hết thời gian của tôi. Khi vừa về Hội tôi đặc biệt quan tâm tới tờ Tạp chí - cơ quan ngôn luận của Hội mà tôi kiêm nhiệm Tổng Biên tập. Công việc làm báo đối với tôi từ lâu là một việc không xa lạ. Tôi vẫn thường viết báo, tiếp xúc với các tòa soạn. Sau một thời gian chấn chỉnh lại nề nếp làm việc trong tạp chí, có định hướng rõ ràng, tờ Nghệ thuật điện ảnh trở thành một tờ báo được tín nhiệm không những trong giới điện ảnh mà còn ở cả bên ngoài. Các hội viên háo hức chờ đợi từng số báo ra. Ở đó họ tìm thấy tiếng nói của chính mình về những vấn đề của ngành, những bài phê bình, lý luận sâu sắc, những bài dịch từ các báo điện ảnh nước ngoài mang lại nhiều kiến thức bổ ích cho nghề nghiệp. Tôi hồi hộp chờ mỗi số tạp chí từ nhà in đem về như chờ một bộ phim ra bản đầu vậy. Về sau có quy định của Chính phủ, Thủ trưởng cơ quan chủ quản không được kiêm nhiệm Tổng biên tập của tờ tạp chí cơ quan mình, tôi đành từ giã tạp chí. Có thể nói đó là một cuộc từ giã đáng buồn đối với tôi và nhiều anh em trong tạp chí.


 


Văn phòng Hội có 12 người, mỗi người một công việc. Tôi xác lập một nguyên tắc làm việc dựa trên sự tự giác của mỗi người. Tôi trực tiếp giao việc cho từng người và từng người chịu trách nhiệm về công việc của mình trước Ban Thư ký. Cơ quan rất ít khi họp, không có những cuộc phê bình kiểm điểm. Nếu cần phê bình nhắc nhở ai, tôi trực tiếp nói thẳng với người đó, đôi khi tôi nổi nóng nhưng anh em dần dần biết tính tôi chỉ vì công việc chung nên không giận. Tôi rất quan tâm đến hoạt động của Câu lạc bộ Hội vì đó là nơi sinh hoạt xem phim thường xuyên của các hội viên. Vốn quen với tác phong làm việc tỉ mỉ của một người đạo diễn trong khi ra hiện trường, nên tôi rất tỉ mỉ trong khi giao việc và kiểm tra việc thực hiện công việc. Văn phòng tuy ít người nhưng ai nấy đều tự giác làm việc với một ý thức gần như là vì danh dự của chính mình. Tôi đề ra một thông lệ trong cơ quan: kỷ niệm sinh nhật của từng người, giao cho đồng chí chánh văn phòng theo dõi và tổ chức. Ai đến cơ quan Hội cũng đều thấy một tác phong làm việc năng động có hiệu quả, không vụ lợi... Trong quan hệ đối ngoại, cái mà Hội mong muốn là được trao đổi, học hỏi để nâng cao nghiệp vụ cho các hội viên, giao lưu văn hóa... ngoài ra không có một động cơ gì khác. Do vậy Hội đã thiết lập được những quan hệ hợp tác rộng rãi với Hội Điện ảnh của nhiều nước trên thế giới. Hội điện ảnh là Hội đầu tiên đ chủ động nối lại quan hệ với Hội điên ảnh Trung quốc. Từ đó cứ hai năm một lần hội bạn mời đoàn điện ảnh Việt Nam sang tham dự Liên hoan phim quốc gia của mình với thnh phần đoàn do phía Việt Nam quyết định. Nhờ đó Hội đ tạo điều kiện cho nhiều anh chị em hội vin cĩ dịp xuất ngoại. Bằng uy tín của mình tôi đã giới thiệu nhiều phim của các đồng nghiệp tham dự các Liên hoan phim quốc tế. Nhiều phim đã nhận được giải thưởng. Tôi coi đó là nghĩa vụ của mình. Trong những năm công tác ở Hội, tôi đã làm tất cả những gì có thể làm vì lợi ích của các các hội viên, không chút đắn đo suy tính.


(còn tiếp)


 


Nguồn: Hồi ký điện ảnh của Đặng Nhật Minh. NXB Văn Nghệ TP Hồ Chí minh, 2005. Tái bản có bổ sung.

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 11.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
xem thêm »