tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20550422
Tiểu thuyết
23.12.2015
Bạch Diện Nguyễn Văn Cư
Hà Nội xưa và nay

Hà Nội mở thành phố xá, nhà cửa xây có hàng lối theo quy hoạch của thực dân Pháp. Các phố Tây vây bọc chung quanh các phố ta; đèn điện chưa có, các phố đều thắp bằng đèn dầu hỏa: mỗi phố ta chỉ có hai hay ba cột đèn trồng bằng tre, cao độ một mét rưỡi, trên mỗi cột có cái đèn vuông, bốn mặt lồng kính, mỗi mặt to bằng quyển vở học trò, bên trong có bầu dầu. Mỗi buổi chiều, vào lúc chạng vạng tối, phu điếu chia nhau đi thắp đèn các phố. Vào khoảng 9 -10 giờ tối các phố đều đóng kín cổng, sáng sớm hôm sau lại mở. Các phố ta thì hai ba phố có cổng tiền cổng hậu, làm bằng tre gỗ, riêng phố Hàng Ngang, hai đầu phố đều xây cổng gạch cánh gỗ lim. Phố này nguyên là phố Hàng Lam do những người Hoa kiều gốc ở tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) tụ tập nhau ở đây và phố Hàng Buồm, làm nghề nhuộm vóc, nhiễu vải màu lam dùng riêng cho họ, sau vì họ xây cổng gạch chắn ngang các lối đi từ Hàng Đào sang Hàng Đường nên ta gọi là phố Ngang. Chỗ ngã tư Hàng Ngang, Hàng Bạc có cái điếm do phu điếm canh gác ngày đêm để giữ trật tự an ninh khu vực này. Tuy là điếm canh mà lại mang tên là điếm vè, vì mỗi khi trong các phố xảy ra chuyện gì có hại đến đạo đức phong hóa, hoặc có kẻ cậy quyền thế hiếp tróc người nghèo, lập tức có người làm bài vè bằng chữ nôm đem dán ở điếm cho nhân dân trong các phố phường cùng biết. Đây là loại báo tường có đầu tiên ở nước ta. Những người bị tác giả bài vè phê bình đều xấu hổ, tự sửa chữa, những người khác lấy đó mà răn mình.


Tên các phố ta do nhân dân ta đặt lấy theo nghề nghiệp của các phường, lò. Như phố Hàng Đường, nơi những người làm nghề trộn đường, kéo kẹo ở nên thành tên; phố Lò Sũ, nơi những người làm nghề đóng giường, áo quan, rương bằng gỗ tụ tập thành lò, nên có tên. Một tên phố cổ nhất từ đời Trần đến nay vẫn còn, đó là phố Cổng Đục. Ông vua cuối đời Lý là Huệ Tông nhường ngôi cho con gái khi ấy mới tám tuổi làm vua tức là Lý Chiêu Hoàng. Trần Thủ Độ làm thừa tướng, cho cháu là Trần Cảnh ra vào trong cung sau lấy được Chiêu Hoàng và Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng. Trần Cảnh làm vua dựng lên nhà Trần (sau được phong miếu hiệu là Thái Tông). Lý Huệ Tông sau khi nhường ngôi cho con gái liền vào tu trong chùa Chân Giáo ở trong thành. Trần Thủ Độ vẫn ngờ sợ người dòng họ nhà Lý, các quan cũ trong triều Lý và nhân dân còn tưởng nhớ nên tìm đủ mọi cách để tiêu diệt nhà Lý. Ông bức tử Lý Huệ Tông, nhưng lại giả nhân giả nghĩa ôm xác ông vua này mà khóc lóc thảm thiết. Lẽ ra, đối với một ông vua chết ngày xưa phải làm lễ ninh lăng, làm ma to, rước xách linh đình đi qua cổng chính của thành Thăng Long. Nhưng Thủ Độ sợ làm thế càng khiến nhân dân tưởng nhớ nhà Lý, ông liền sai đục tường thành ra đưa áo quan qua cái cổng đục ấy lên chùa Yên Hoa (nay là Yên Phụ) ở ngoại thành làm lễ hỏa táng. Chỗ tường thành bị đục ấy nhân dân gọi là Cổng Đục, thành tên lưu truyền mãi đến ngày nay.


Trước khi Pháp hạ thành lần thứ nhất, Hà Nội có một phố rất mới đối với dân ta thời bấy giờ, nên mọi người gọi là phố Mới. Phía trong cửa Ô Quan Chưởng là một xóm làng gọi là làng Sao Sa, vì ở giữa làng từ thời xưa, có một cục vân thạch to từ một ngôi sao nào rơi xuống, khoét đất sâu và rộng sau thành cái hồ, gọi là hồ Sao Sa. Nhân dân đến tụ tập chung quanh hồ và mở nhà chứa trọ. Những lái buôn chiếu từ các nơi chở thuyền đến sông Hồng sát cửa Ô Quan Chưởng thường đem hàng vào các nhà trọ, ăn ngủ ở đấy, hàng ngày gánh chiếu đi bán rong, tối lại về ăn ngủ, bao giờ bán hết chiếu xuôi thuyền về, nên làng ngày còn có tên nữa là Xóm Chiếu.


Năm 1870, tên lái buôn người Pháp là Đỗ Phủ Nghĩa (Jean Dupuy) sang ta buôn bán, làm nhiều việc ngang ngược với mục đích là khiêu khích: nó chở súng ống khí giới qua sông Hồng lên bán tại Vân Nam, lại còn mua gạo muối chở đi bán. Những mặt hàng này đã bị triều đình và quan lại Việt Nam cấm đoán, nhưng nó cứ làm ngang. Nó tự tiện lấp hồ Sao Sa rồi xây những ngôi nhà cao hai tầng mở cửa sổ trông ra đường, sửa sang đường sá, mở thành một phố rộng, quân ta can thiệp không cho làm vì phạm lệnh cấm của triều đình hồi bấy giờ, nhưng nó cứ làm. Do những việc khiêu khích ấy mà xảy cuộc chiến tranh năm 1873. Phố mới mở này ta gọi là phố Mới, hoặc phố Hàng Chiếu. Khi Hà Nội giải phóng, chính phủ ta chia phố này thành hai phố: từ cửa Ô Quan Chưởng ra mạn bờ sông gọi là phố Ô Quan Chưởng; từ trong cửa Ô Quan Chưởng vào đến phố Đồng Xuân gọi là phố Hàng Chiếu.


Trong thời Pháp thuộc có hai phố Pháp đặt tên rất ngớ ngẩn, nhiều người Hà Nội không hiểu, đó là phố TaKou và phố Tiên -Tsin.


Phố TaKou, nhân dân ta vẫn gọi là phố Hàng Cót, vì phố này có những người chuyên nghề đan cót và đan những phên bằng nứa cật để bán cho người ta làm trần nhà. Pháp đặt tên TaKou, phiên âm ra chữ Trung là "Đại Cổ". Đại Cổ là tên một pháo đài của triều đình Mãn Thanh (Trung Quốc) để bảo vệ Bắc Kinh. Nguyên dưới triều vua Quang Tự nhà Mãn Thanh, là Tây Thái hậu, mẹ Quang Tự tham dự triều chính, tin theo bọn Nghĩa Hòa đoàn là dư đảng của Bạch Liên giáo. Bọn họ thờ Hồng Quân lão tổ và Lê Sơn lão mẫu làm tổ sư, chuyên tập đánh bốc (boxer, một lối võ Anh mới du nhập vào Trung Quốc thời bấy giờ), họ tự khoe là họ có câu thần chú, đọc lên súng đại bác bắn không chết. Họ đề xướng thuyết "Phù Thanh diệt Dương". Mụ Tây Thái hậu vốn mê tín dị đoan, sai lấy tiền kho ra giúp cho bọn Nghĩa Hòa đoàn để họ ủng hộ ngai vàng của mình. Bọn này được món tiền trợ cấp làm những việc khinh động không có đường lối chính trị, như gặp người của các nước Âu Mỹ đi tay không qua đường phố liền xông đến giở lối võ "bốc" ra đấm đá, rồi phá nhà thờ, phá sứ quán các nước Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Ý, Nhật, Áo và Nga đế chế năm 1900. Tám nước này liền kéo quân đến bắn phá pháo đài Đại Cổ, kéo vào Thiên Tân, chiếm đóng Bắc Kinh. Bọn Nghĩa Hòa đoàn lẩn trốn mất, mụ Tây Thái hậu đem ảnh vua Quang Tự và bọn quan lại chạy ra Tây An lánh nạn. Quân tám nước kể trên chiếm đóng kinh thành Bắc Kinh vơ vét được nhiều đồ cổ quý giá. Pháp đem về nước một số lớn đồ quý và đem sang Việt Nam một bộ ngũ sự đúc bằng chì rất to, cao hơn hai mét để trong nhà bảo tàng Louis Finot (nay là nhà Bảo tàng lịch sử). Về sau triều đình Mãn Thanh phải ký hòa ước với tám nước, phải bồi thường chiến phí rất nhiều, phải triệt bỏ pháo đài Đại Cổ. Lịch sử cũ Trung Quốc gọi việc Nghĩa Hòa đoàn xuẩn động là vụ loạn quyền phỉ và gọi việc các nước vào chiếm đóng Bắc Kinh thời bấy giờ là “Bát quốc liên quân”. Quân đội Pháp bắn phát súng đầu tiên vào pháo đài Đại Cổ, nên bọn thực dân Pháp cho là cuộc thắng lợi của chúng mới lấy tên Đại Cổ đặt cho phố Hàng Cót và gọi theo tiếng Trung Quốc là TaKou.


Phố Hàng Gà như trên đã nói: Khi Pháp hạ thành Hà Nội lần thứ hai, lão lang Hoạt ở phố Hàng Thiếc buôn gà đem đến nơi này bán cho binh lính Pháp, sau này mới có tên là phố Hàng Gà, nhưng Pháp đặt tên là phố Tiên – tsin. Tiên - tsin là phố Thiên Tân, phiên âm chữ quốc ngữ Trung Quốc. Năm 1885, Pháp sai viên sứ thần ở Bắc Kinh là Patenotre ký tại Thiên Tân với tổng đốc Trực Lệ (Trung Quốc) là Lý Hồng Chương thay mặt triều đình Mãn Thanh, tờ hòa ước nói rằng Trung Quốc không được giúp Việt Nam, phải công nhận Việt Nam là thuộc địa của Pháp v.v… Hòa ước này gọi là Hòa ước Thiên Tân. Thực dân Pháp lấy làm vinh dự đặt tên phố Hàng Gà là phố Tiên - Tsin.


 


 THỰC DÂN PHÁP THẲNG TAY BÓC LỘT NHÂN DÂN TA


 Việc thay đổi tiền tệ


Nhân dân ta ngày xưa chi tiêu bằng bạc nén và bạc vụn, về sau đúc tiền đồng gọi là tiền trinh thay cho bạc vụn. Đến cuối đời Lê và đời Nguyễn, dân Hà Nội tiêu nhiều tiền kẽm hơn tiền trinh. Đơn vị tiền thường tính bằng quan. Một quan tiền gián (sử tiền) có sáu tiền, mỗi tiền là 60 đồng, cộng 360 đồng; một quan tiền quý (cổ tiền) có đủ mười tiền, cộng 600 đồng. Xưa nữ sĩ Hồ Xuân Hương viết thơ trách Chiêu Hổ:


Sao bảo rằng năm lại có ba?


Trách người quân tử nói sai ngoa!


Chiêu Hổ đáp lại:


Rằng gián thì năm, quý có ba,


Trách người thục nữ tính không ra!


Như vậy là năm quan tiền gián (1800 đồng) bằng ba quan tiền quý (cũng 1800 đồng). Năm 1872, Tự Đức sai Cục Thông bảo Hà Nội (tức là sở đúc tiền ở phố Tràng Tiền ngày nay) đúc thứ tiền đồng pha kẽm có khắc chữ “lục văn”, nghĩa là một đồng tiền ăn sáu đồng kẽm, nhưng sau xảy nhiều việc giao thiệp với Pháp nên loại tiền ấy không đúc nữa.


Việc tiêu bằng bạc nén, tiền đồng và tiền kẽm làm cho các người buôn bán thêm vất vả vì phải đổi tiền: người phải đổi bạc nén lấy tiền đồng tiền kẽm để mua hàng cho dễ; người phải đổi tiền kẽm lấy bạc nén để sau khi bán được hàng đem đi nơi xa cất hàng cho tiện. Phố Hàng Bạc ngoài những người làm nghề đúc đồ vàng bạc, lại có những người chuyên nghề đổi tiền. Nghề này hồi bấy giờ phát triển nhiều theo nhịp độ buôn bán; giá tiền cáp có khi cao khi hạ tùy theo sự cung, cầu của những người buôn bán.


Pháp chiếm được Hà Nội liền phát hành các thứ tiền mới tiêu cùng với tiền kẽm cũ của ta. Đơn vị tiền là đồng bạc hoa xòe to, có pha 10 phần trăm đồng, sau là đồng bạc bà lão nhỏ hơn một ít tăng số đồng lên rút số bạc đi. Đồng thời, Pháp phát hành thứ bạc một hào và hai hào (đồng hai hào ta gọi là đồng ván, phiên âm chữ vingt của Pháp, nghĩa là hai mươi xu; một hào ăn 10 xu); dưới đồng là xu đồng, sập bằng đồng đỏ, một mặt có bốn chữ “Bách phân chi nhất” tức là một trăm xu mới được một đồng bạc. Một xu đồng ăn 36 đồng kẽm; nhưng tiền kẽm ngày xưa giòn dễ bị gãy, Pháp không cho đúc thêm, sau sụt giá xuống một xu ăn 30 đồng. Từ năm 1917 trở đi sụt dần, ăn có 24 đồng rồi 20 đồng, 18 đồng, 12 đồng, 10 đồng, năm 1920 còn có 6 đồng. Thời gian này bắt đầu phát hành tiền chinh Khải Định: một xu ăn hai đồng trinh, một đồng trinh ăn ba đồng kẽm.


Trong một thời gian ngắn, tiền kẽm gần hết và không tiêu dùng nữa, thực dân Pháp phát hành tiền trinh Bảo Đại vào năm 1932. Đồng tiền này mỏng và bé như cái vảy ốc vặn, ba đồng Bảo Đại mới đổi được đồng trinh Khải Định. Hồi này, Hà Nội bước vào thời kỳ kinh tế khủng hoảng, đồng tiền rất khó kiếm, vì nạn thất nghiệp lây lan khắp nơi, nhân dân ta đặt câu hát :       


Ba con đổi lấy một cha


Làm cho thiên hạ xót xa vì tiền!


Những người trong làng cũng phàn nàn “Bảo Đại làm hại ăn mày”. Trước khi phát hành đồng tiền “vảy ốc” này người ăn mày còn xin được một đồng Khải Định, nay họ chỉ cho một đồng Bảo Đại chỉ bằng một phần sáu xu. Năm 1940, thực dân Pháp đầu hàng phát xít. Nhật kéo vào Đông Dương, chúng bắt Pháp phải in tiền giấy cho chúng tiêu. Nhà in tiền giấy gọi là Nhà tiền ở vào một góc của Nhà in Tiến bộ ngày nay (đầu đường Giảng Võ - Nguyễn Thái Học, đối diện bến ô-tô Kim Mã). Pháp phát hành nhiều giấy năm hào và một hào, đồng một hào có vẽ con voi và phát hành loại tiền một xu đúc bằng hợp kim chì, kẽm, một mặt có vẽ hình nhành lúa, nhân dân ta gọi là xu chì. Lúc bấy giờ lại có câu hát: 


Bao giờ lúa mọc trên chì,


Voi đi trên giấy, Tây thì về tây


Câu hát này truyền đi đồng thời nối câu:


Bao giờ cua cái đổi càng,


Da trắng mất nước, da vàng làm vua


Vế dưới câu này trỏ vào việc nước Pháp bị phát xít Đức chiếm đóng. Cả hai câu hát trên, người ta đoán là do những anh ôm chân Nhật đặt ra để tuyên truyền cho phát xít Nhật hồi bấy giờ.


Trong hồi Hà Nội bị tạm chiếm, Pháp dùng Nhà tiền để giam các cán bộ chiến sĩ của ta hoạt động trong nội thành mà chúng bắt được. Khi chính phủ ta về giải phóng Hà Nội đã cho sửa chữa nơi này thành Nhà in Tiến bộ với những máy móc tối tân.


   Từ cái cáng đến xe tay


Phương tiện vận chuyển đường bộ của ta ngày xưa là ngựa và cáng. Ngựa chỉ có một số người dùng, còn cáng thì được dùng nhiều hơn, nhưng cũng chỉ dùng cho người già, yếu cần đi đường xa. Cáng có nhiều thứ: thứ cáng dùng cho các quan to và gia đình họ là võng điều có mui sơn, đòn cáng chạm đầu rồng, đuôi rồng sơn son hoặc sơn đen thếp vàng; hai bên cáng có mành hoa che, người khiêng cáng cũng vận quần áo lịch sự; thứ cáng để chở khách chỉ là cái võng đay, mui bằng lá cót hay manh chiếu, đòn khiêng là đòn tre; người khiêng cáng là những nông dân nghèo, có sức khỏe nhưng không có việc làm, thường tụ tập ở vùng Ngõ Trạm, Hàng Cỏ, dãy xôi chè Hàng Bàng (nay là phố Nguyễn Khuyến) để chở khách đi xa và chỉ có đi xa hoặc người yếu mới đi cáng, còn người khỏe đi bộ lấy. Nhân đây xin nói về từ “đểu cáng” nhân dân ta ngày nay thường dùng mà không biết nguồn gốc của nó. Đểu là một tên riêng của phân, đối với bã giả của loài người, nhân dân ta xưa nói tránh cho khỏi tục nên nó có nhiều tên: phẩn, phân, đểu, cứt, v.v… Những người làm nghề mót phân thường hay nói bừa bãi, nói tục, văng tục và có những cử chỉ, hành động càn quấy, có khi họ đặt gánh phân bên vệ đường rồi ngồi giở gói cơm nắm ra ăn ngay bên cạnh gánh phân mà không biết hôi bẩn, vì thế người ta gọi là người mũi thủng (mũi mất khứu giác) và gọi là hạng người gánh đểu. Còn những người khiêng cáng chở khách cũng nói năng và cử chỉ bừa bãi: khi đang khiêng cáng, họ mót đái vạch quần ra vừa đi vừa đái trước mặt mọi người. Họ thường nói chuyện tiếu lâm với nhau để vui cười quên đường đi xa mệt mỏi. Nhân dân ta gọi những người nói năng, hành động thô bỉ là đồ đểu cáng; ngày nay thành một từ thông dụng để mắng những người kém lịch sự.


Khi phố xá Hà Nội mở mang rộng ra, nhưng vẫn còn là đường đất nện, chiếc xe tay xuất hiện thay cho cái cáng. Xe tay là sản phẩm của Nhật Bản, họ phỏng theo kiểu xe cổ của Trung Quốc mà sửa đổi lại. Xe cổ của Trung Quốc giống như xe xích lô của ta ngày nay, bánh bằng hai tấm gỗ tròn, sau xe có hai càng để người phu xe đẩy đi. Xe có mui cố định, hai bên cạnh và phía trước xe có mành hay vải lụa che, chung quanh mui có rèm bằng hạt châu rủ xuống, nên gọi là xe châu, dùng riêng cho phụ nữ, còn đàn ông thì cưỡi ngựa. Người Nhật Bản nhân kiểu xe ấy thay đổi: bánh làm to hơn, vành bánh bằng gỗ, bọc sắt, moay ơ bằng gỗ, chỗ xâu đầu trục đệm sắt, nan hoa bằng gỗ, hai bánh xe có trục sắt nối, thùng xe đặt lên trên trục; càng xe lắp phía trước để người phu xe kéo; mui xe làm gọng sắt có thể giương lên gấp xuống được. Kiểu xe thay đổi như vậy nhẹ hơn xe châu cổ của Trung Quốc nhiều và thông dụng tại Nhật Bản đã lâu năm rồi. Một tên thực dân Pháp là Bonnal làm thống sứ toàn quyền ở Hà Nội mua hai chiếc xe của Nhật đem về Hà Nội. Nó dùng một và biếu Nguyễn Hữu Độ, khâm sai Bắc kỳ, một. Sau đó ít lâu có hai tên lái buôn người Pháp là Hermenier và Planté phỏng theo xe ấy làm nhẹ thêm hơn nữa và đóng 120 chiếc giao cho một người Việt Nam thầu. Anh cai thầu này cho những người khiêng cáng thuê để kéo khách thay cho chiếc cáng. Bấy giờ đường còn bằng đất nện, có nhiều chỗ gồ ghề, phải một người kéo, một người đẩy. Khi chở tên thực dân Pháp nào béo quay bụng phệ, phải hai người đẩy mới đi được. Chiếc xe tay hồi mới có chuyên dùng cho bọn tây đầm, các me tây và bọn quan lại Việt Nam và những anh nhà giàu làm việc thầu đấu với Pháp. Còn dân Việt Nam thường cuốc bộ hoặc có đi cáng cũng chỉ là số ít. Khi đường sá trong thành phố được trải bằng đá, những chiếc xe tay bánh sắt xiết xuống đường làm đinh tai nhức óc người ngồi, nên xe lại được cải tiến bước nữa là thay bánh sắt bằng bánh cao su đặc, rồi sau bằng bánh cao su bơm. Bánh xe vành bằng sắt mỏng, nan hoa sắt nhỏ, moay ơ bằng sắt, chiếc xe rất nhẹ chỉ một người kéo cũng đủ. Xe cao su xuất hiện, xe sắt bị thải, chỉ còn dùng để kéo khách hàng người Việt Nam vì giá tiền đi xe rất rẻ, ví như từ cửa đền Ngọc Sơn xuống chợ Hôm chỉ một xu hay một xu rưỡi ngồi được hai người; đến hồi này chiếc cáng bị tiêu diệt hẳn. Những người làm nghề kéo xe bị mệnh danh là “kiếp ngựa người”. Họ phải gò lưng kéo khách để kiếm cơm mà còn bị áp bức bóc lột dưới mấy tầng người: thiếu tiền thuế xe, cai xe đánh sà vệt (vải trắng phủ đệm và tựa xe), mui xe, áo tơi, cánh gà bị bẩn rách phải đền, không có tiền đền cai xe đánh; kéo xe đi đường phạm luật lệ giao thông hay vượt chỗ đường cấm, đội xếp đánh; kéo khách đi xe gặp phải những anh hống hách, trái ý muốn của nó, nó đánh và quịt tiền xe; gặp trường hợp này người kéo xe phải nuốt nước mắt chịu nhịn, vì lôi thôi với chúng lỡ không đủ tiền thuế lại bị cai xe đánh. Ngày xưa Hà Nội có tên cai Mơ khét tiếng là tên cai xe ác ôn, nó đánh phu xe nhiều người về ốm đòn mà chết.


Pháp trục lợi bằng thuế quan và chứa thổ đổ hồ


Pháp mở mang phố xá rồi cho người các nước vào kiều cư buôn bán để chúng thu thuế quan. Trừ những người Hoa kiều vào Hà Nội buôn bán từ lâu, sau này thêm người các nước Mỹ, Anh, Ý, Đức, Nhật, Ấn Độ, Xiêm La (tên cũ của nước Thái Lan, Pháp gọi là Xiêm)… Mỹ đem vào dầu hỏa bán rộng khắp các nơi. Họ chế tạo thứ đèn con tiện dùng cho mọi người giàu cũng như nghèo, ta gọi là đèn Hoa Kỳ. Ngọn đèn ấy thời bấy giờ thắp sáng hơn đọi đèn dầu ve ta quen dùng từ lâu đời. Nhà giàu có thắp thứ đèn cọc (đèn to và cao) hoặc đèn có quang treo được coi là “sáng trưng như ban ngày”. Đi đôi với dầu hỏa là cây nến làm bằng paraphine vừa tiện vừa rẻ hơn thứ nến các nhà giàu làm bằng sáp ong. Người Đức nhận thấy trong dân nhiều người nghiện thuốc lào, liền thu vào bán thứ hộp sắt xinh xắn, nhuộm vàng như đồng, nắp hộp bên ngoài vẽ con gà hay cảnh Hồ Hoàn Kiếm có khóm sen, bên trong nắp có cái gương con. Người Ấn Độ đem nhiều vải vào bán vừa chúc bâu, phin, vải tây đỏ. Người Nhật đem vào nhiều đồ sứ, vóc, lụa, kẹo, họ lại mua sơn của ta xuất khẩu. Để tuyên truyền cho đế quốc Nhật, họ bảo các nhà bán sơn ở phố Hàng Tiện (một phần đầu phố Hàng Gai đến ngõ Tô Tịch) và ở phố Hàng Sơn (sau mang tên phố Chả Cá) nên làm những cái hòm gỗ vuông mỗi bề 40 phân, quét vôi trắng và vẽ mặt trời đỏ, dùng để kê sải sơn. Hồi bấy giờ Pháp không chú ý, đến năm 1940, Nhật gây hấn rồi kéo vào Đông Dương, Pháp bắt các nhà bán sơn phải bỏ thứ thùng kê sải sơn ấy đi hoặc vẽ hình đỏ thành vuông.


 Người Xiêm La đem thổ sản vào bán và đem theo nhiều gái đĩ ở rải rác mạn Hàng Cót, Hàng Điếu. Một số người Việt Nam đi chơi gái đĩ này mắc bệnh hoa liễu, gọi là bệnh tiêm la. Người Nhật đem gái đĩ vào nhiều hơn, toàn những cô trẻ đẹp nói thạo tiếng Pháp ở rải rác mạn Cửa Đông, để tiếp binh lính Pháp. Một anh võ quan Pháp quá mê một gái đĩ Nhật ở Cửa Đông rồi bị cô này đánh cắp một mớ tài liệu quan trọng trong đó có bản đồ quân sự Đông Dương, trốn về Nhật mất. Anh võ quan này phải tự tử. Thực dân Pháp rất căm tức việc này liền dùng lối bắt gái đĩ các nước phải đi khám bệnh (ta gọi là khám lục xì), những cô nào có bệnh hay không đều đuổi dần về nước. Sau này còn sót lại một mụ đầm người Ý mở hiệu cà phê ở phố Hàng Cót, nhà dưới là hiệu cà phê, trên gác là nơi chứa gái lậu, toàn những cô đầm lai. Nhà này còn dai dẳng đến năm 1935 thì đóng cửa.


Thực dân Pháp muốn trục lợi trong việc chứa gái đĩ và dùng gái đĩ Việt Nam thay cho gái đĩ Nhật liền cho người đứng thầu mở nhà chứa, mỗi năm người thầu phải nộp một khoản thuế cho Pháp. Những nhà chứa gái đĩ này được mở công khai: trước còn tụ tập ở ngõ Hàng Mành, sau lan ra phố Đào Duy Từ (ngày ấy ta quen gọi phố này là ngõ Sầm Công) rồi đến phố Cầu Gỗ[1]. Sau đến phố Nguyễn Hữu Huân (phố này trước mang tên là phố Maréchal Pétain sau đổi là phố Bắc Ninh, rồi lại đổi là phố Phan Thanh Giản, chính phủ ta về tiếp quản đổi tên là phố Nguyễn Hữu Huân) và nhiều nơi khác nữa. Nhân dân ta gọi những nhà chứa gái này là nhà thổ.


Từ đời Trần, đời Lê và cả đời Nguyễn, những người lãnh đạo nông dân nổi lên chống triều đình phong kiến. Khi bị bắt, bản thân họ và con trai họ bị xử tử, còn vợ và con gái họ bị sung làm quan kỹ, giao cho một mụ đầu quản lý, bắt họ phải tiếp khách kiếm tiền nộp thuế cho Nhà nước. Nhân dân ta coi những người đàn bà con gái này như hạng người hủi, không cho họ ở chung trong phường, trong làng, trong xóm, xua đuổi họ ra những xó ngõ vắng khuất. Họ phải làm nhà đắp bằng đất, lợp rạ để ở. Do đó có tên là nhà thổ. Hồi Pháp thuộc, những mụ chủ đứng thầu nhà chứa cho người đi quyến rũ những cô gái lỡ phận hờn duyên đem về làm con em tiếp khách.


Ngoài việc trục lợi về nhà thổ, thực dân Pháp cho một Hoa kiều mở sòng đố chữ để thu thuế. Phố Hàng Buồm xưa là cái tổ cờ bạc bịp bằng cách đố chữ. Anh chủ sòng viết ra 36 chữ như thiên, địa, nhật, nguyệt, vân, vũ… và tên những con vật như mã, ngưu, dương, kê, khuyển, thử v.v… mỗi chữ viết vào một mảnh giấy đỏ bằng bàn tay rồi gấp lại. Anh ta cho người làm công rao cho mọi người biết ai đánh chữ gì đặt tiền, họ nhận tiền và viết cho cái phiếu có ghi chữ người ấy đánh, hẹn hai hay ba bốn ngày sau sẽ mở chữ. Hôm mở chữ, người đến xem đông nghịt trước cửa nhà đố chữ. Anh chủ sòng sai người làm công bưng cái hộp đựng 36 chữ đã viết vào tờ giấy đỏ gấp kín, xóc lên rồi mở hộp ra, mời một người trong đám đánh đố vào cửa hàng nhón tay lấy một tờ, mở ra xem là chữ gì, rồi anh làm công cất cao tiếng nói cho mọi người biết và viết lại chữ ấy vào tờ giấy đỏ to, chữ to dán lên phía cao trước cửa cho mọi người nhìn thấy rõ. Người nào đánh đúng chữ ấy đem phiếu vào lĩnh thưởng (đặt một hào, lĩnh năm hào), người nào đánh không đúng là mất, số người thua cũng nhiều. Có khi chủ sòng bị thua, vì nhiều người đoán đúng một chữ, anh chủ sòng trốn đi mất, để người làm công ra trả lời là "ông chủ về Tàu từ hôm nọ, mấy ngày nữa sang sẽ trả!". Lối này người ta gọi là cháy sòng. Anh chủ sòng vẫn ở Hà Nội, nó lại mở sòng khác tại một ngôi nhà khác, cho một anh làm công đứng ra đóng vai ông chủ. Thế là được thì ăn mà thua thì quịt. Nhiều người máu mê cờ bạc, thua mất cả cơ nghiệp. Bọn Pháp biết là lối cờ bạc bịp nhưng lờ đi để thu thuế và gọi là "trò chơi 36 con vật" (Le jeu de trente six bêtes).


Ngoài sòng bạc công khai, hồi xưa ở Hà Nội còn nhiều sòng bạc lậu chuyên đánh xóc đĩa. Khải Định, tên là Bửu Đao, con Đồng Khánh, khi chưa làm vua, Pháp đem ra Hà Nội cho đi học chữ Pháp, nhưng hắn chẳng học hành gì cả, tối nào cũng vác hàng chục quan tiền đem đi đánh bạc. Hắn thường đánh to, thua cũng nhiều. Hết tiền hắn lại về Huế, lẻn vào trong thành nội đánh cắp những món đồ cổ bằng vàng đem ra Hà Nội thuê thợ bạc làm cho món đồ giống như thế nhưng bằng bạc, rồi hắn đem đến phố Hàng Bông thuê hiệu Mỹ ký[2] mạ vàng. Đồ thật thì hắn bán cho nhà buôn Pháp là Passigna có tên hiệu là La Perle, còn món đồ giả thì hắn để vào trong nội. Hồi bấy giờ Khải Định chẳng những máu mê cờ bạc mà còn hoang dâm vô độ, đến nỗi mắc bệnh liệt dương. Năm 1922, Khải Định được thực dân Pháp đem sang Paris chơi. Bọn mụ đầu (chủ nhà chứa gái đĩ) đem tập ảnh con em đến “chào hàng”, Khải Định từ chối, bọn mụ đầu phàn nàn: “Ông vua An-nam này lại nghiêm nghị quá mức!”. Một anh Pháp biết rõ căn bệnh của Khải Định nói cho bọn mụ đầu biết: “Lão ấy bị liệt dương đấy!”. Năm 1925, Khải Định chết, con là Vĩnh Thụy lên nối ngôi lấy niên hiệu Bảo Đại rồi lại sang Pháp học. Ông ngoại Vĩnh Thụy là Tôn Thất Hân được Pháp cử làm phụ chánh. Năm 1927, một tên thực dân Pháp là Le Fol được cử làm Khâm sứ Trung kỳ; hắn muốn “nếm mùi” bà hoàng thái hậu Việt Nam, đòi Tôn Thất Hân phải cho nó ngủ với vợ góa Khải Định. Tôn Thất Hân xin đưa cô em gái của vợ Khải Định cho nó “sử dụng”. Nhưng tên Le Fol là thằng dê già, nó không thích gái tân còn ngây thơ. Tôn Thất Hân phải bố trí cho vợ góa Khải Định giả vờ ốm vào nằm bệnh viện. Tên Le Fol lấy tư cách là đại diện của nước Pháp vào bệnh viện “vấn an” bà hoàng thái hậu Việt Nam . Chuyện vỡ lở đồn ra Bắc vào Nam rồi sang cả Pháp, tên dê già Le Fol phải triệu về.


 


*


Hồi Pháp thuộc, những đám cờ bạc lậu rất nhiều, thực dân Pháp dù biết nhưng không cấm ngay. Chúng chờ cho bọn chủ gá và con bạc ăn thua to, lúc ấy chúng mới đem cảnh sát mật thám đến vây bắt. Những người đánh bạc đều bị trói tay người nọ vào người kia thành một xâu dài, giải về Sở Cẩm phạt tiền. Tiền bạc trong chỗ đánh bạc, dụng cụ để đánh bạc rồi cả giường, chiếu, sập gụ, tủ chè, bàn, ghế, đèn, điếu bày quanh chỗ đánh bạc đều bị tịch thu đem bán đấu giá tại nhà tầm tầm ở phố Hàng Trống. Địa điểm nhà này là một phần hiệu ăn Phú Gia gồm cái cổng lớn cho xe ra vào và cửa hàng giải khát bên cạnh là hiệu ảnh Hương Ký. Nhà tầm tầm chuyên bán đấu giá các thứ đồ cũ: giường, chiếu, chăn, màn, bàn, ghế, bát đĩa, nồi niêu là những món đồ thực dân Pháp đi tịch thu của những người thiếu thuế, các sòng bạc, những người bị phạt vi cảnh không có tiền nộp phạt, những người buôn hàng lậu thuế, người thì bị tù, hàng hóa bị tịch thu. Sở dĩ gọi là nhà tầm tầm là vì mỗi tuần lễ chúng bán hàng vào ngày chủ nhật thì ngày thứ sáu và ngày thứ bảy chúng thuê một người đàn bà đeo trống cái to tướng trước ngực, đi khắp các phố đánh một hồi trống rồi rao hàng: ngày chủ nhật này sẽ bán nhiều thứ hàng rẻ và đẹp. Chiếc trống cái tiếng Pháp là “tam tam”, ta gọi luôn là tầm tầm. Các sở của Pháp ngày xưa đều đặt trống báo hiệu giờ làm và giờ tan sở, nên ta gọi là đi làm tầm. Ngày nay có danh từ “làm thông tầm” nghĩa là làm một mạch từ sáng đến chiều, không về nghỉ trưa.


*


     Nhân chuyện cờ bạc, xin nói về nguồn gốc từ “ba que”, “bài tây”. Từ đời Lê, bọn cờ bạc bịp bày trò đánh bạc cò con tại các nơi đông người. Chúng vót ba cái que rất nhẵn rất tròn lớn hơn chiếc tăm, dài hơn chiếc đũa, một cái que cắt ba mấp để đánh dấu. Chúng đặt ba cái que trong lòng bàn tay: cái que có cắt mấp ở giữa, hai que thường hai bên, chìa ra cho người đánh bạc trông thấy rồi chúng nắm lại, bảo người đánh bạc rút, nếu rút trúng cái que có cắt mấp là được (đặt một tiền ăn hai tiền hay ba tiền), rút không trúng thì mất tiền đặt. Những người đánh bạc như thế hay bị thua vì khi nắm tay lại chúng đã tráo chỗ của cái que cắt mấp đi nơi khác rồi. Hồi Pháp thuộc, thực dân Pháp nhập vào cỗ bài tú lơ khơ, ta gọi là bài tây, bọn cờ bạc bịp bỏ lối tráo ba que thành lối tráo bài tây. Chúng cũng dùng ba quân bài : một quân tướng và hai quân thường. Chúng cầm ba quân bài bằng hai ngón tay giữa và tay cái, quân tướng ở phía ngoài, hai quân kia ở phía trong, chúng chìa cho người đánh bạc thấy rõ con tướng rồi giao hẹn: khi chúng lia ba quân bài xuống đất, người đánh bạc chặn tay trúng vào con tướng thì được thưởng (đặt một xu ăn năm xu), nếu chặn sai thì mất tiền đặt. Lẽ cố nhiên khi chúng lia quân bài xuống đất bao giờ quân bài cũng úp sấp, người đánh thường bị thua, vì chúng thường lia hai quân bài thường đi trước, quân tướng đi sau. Người đánh bạc yên trí rằng có lia con tướng đi trước mới lia được hai con bài thường sau, nhưng thực ra bọn cờ bạc bịp này đã tập luyện cách lia quen tay rồi.


Bị mắc lừa về lối cờ bạc bịp này, người ta thường dùng từ “đồ ba que”, đồ “bài tây” để mắng những kẻ có thói lừa dối.


 


MỘT SỐ QUAN LẠI “VÔ LẠI” TRONG THỜI PHÁP THUỘC


     Khi thực dân Pháp chiếm Hà Nội và các tỉmh Bắc kỳ, triều đình Huế cúi cổ đầu hàng, nhiều ông quan có khí tiết bỏ quan về quê, không cộng tác với bọn cướp nước, như cụ Phương Đình Nguyễn Siêu đương làm án sát bỏ quan về mở trường dạy học ở phố Ngõ Gạch. Pháp thiếu người giúp việc, bắt triều đình Huế thi hành luật lệ nhà Nguyễn không cho những người đương làm quan được từ chức về hoặc xin về hưu. Ông Chu Mạnh Trinh, án sát Hưng Yên xuất thân là ông nghè muốn về nghỉ không được. Ngược lại có những tên quan cho là thời thế đổi thay muối mặt qụy lụy Pháp như Hoàng Cao Khải sau này được làm chức Kinh lược Bắc kỳ, quyền thế hống hách. Vì là tay sai đắc lực của Pháp nên được Pháp cho một khoảnh đất rộng từ gần gò Đống Đa đến gần Vĩnh Hồ làm thái ấp gọi là Thái Hà ấp. Pháp còn cấp cho khu đất làm sinh phần, chung quanh có hàng rào xi măng, có cái cổng trên treo cái biển “Ngự tứ sinh phần”, nơi ấy nay là Ngân hàng Đống Đa. Hắn đã càn quét những nhóm người yêu nước nổi lên chống Pháp, còn viết thư khuyên cụ Phan Đình Phùng hạ khí giới về cộng tác với Pháp, bị cụ cự tuyệt. Hắn là tên cò mồi quyến rũ bọn quan lại Bắc kỳ trung thành với Pháp. Con hắn là Hoàng Trọng Phu cũng nối nghiệp cha làm tay sai đắc lực cho Pháp. Trong cuộc đưa ma cụ Lương Văn Can năm 1927, nhân dân Hà Nội đã chửi thẳng vào mặt bố con hắn, chúng tôi sẽ nói đến sau đây.


Những tên quan khoa mục muối mặt qụy lụy Pháp, đục khoét dân nổi tiếng cả Hà Nội. Tên Nguyễn Năng Quốc làm đến chức tổng đốc Nam Định vừa sợ Pháp vừa sợ vợ và hống hách với dân. Vợ hắn có tính cả ghen, một lần hắn đi dự tiệc khao, đùa bỡn cô đào, một anh lính hầu kể lại cho vợ hắn biết, mụ vợ nổi ngay cơn tam bành, lừa lúc nó nằm gối đầu trên cái tráp sơn ngủ, mụ ta liền nhét râu lão vào tráp, khóa chặt lại, phạt cho một ngày. Khi được tha ra, bộ râu quặp vào cằm vì bị gấp nếp lâu, do đó tại Hà Nội mới có chuyện “râu quặp là sợ vợ” và chuyện “tráp khóa râu”.   


Như trên đã nói, khi Pháp chiếm Hà Nội lần thứ hai và đi đánh chiếm các tỉnh miền Bắc, những người làm quan có tiết tháo, biết liêm sỉ đều bỏ quan mà về. Pháp thiếu người giúp việc, chúng chiêu dụ các ông cử ông tú ở Hà Nội ra giúp việc, nhưng các ông cũng bất hợp tác nhưng sau thấy chúng thẳng thúc quá, các ông về quê lánh mặt. Bí quá, thực dân Pháp vơ bèo gặt tép, hễ thấy người nào biết chút ít chữ Nho, nhất là biết thêm cả quốc ngữ, là chúng bổ cho đi làm quan ngay. Một người tên là Mai Toàn Xuân làm việc nấu bếp cho một anh quan binh Pháp, biết chút ít chữ Nho, được chúng cho đi làm tri huyện rồi thăng dần lên tuần phủ. Một người khác là Vũ Quang Nhạc quê ở Vụ Bản (Nam Định) bán hết nhà cửa ruộng vườn để tranh chức lý trưởng với người cùng làng. Khi tranh cử bị thất bại, anh ta phẫn chí, bỏ làng ra Phát Diệm làm bồi cho một viên cố đạo Pháp, được viên cố đạo này giới thiệu với tên giám binh Pháp vì có biết chữ Nho, được bổ đi làm quan thăng dần lên chức tổng đốc Nam Định. Người đương thời tặng anh ta tám chữ “Lý trưởng bất túc, tổng đốc hữu dư” (Không đủ tư cách làm lý trưởng, thừa sức làm tổng đốc). Lý trưởng chỉ là một viên chức nhỏ trong làng, tổng đốc là chức quan to đứng đầu một tỉnh. Tại làng Láng (tên đời Lê là Toán viên tức Vườn tỏi vì chuyên trồng các thứ rau, hành, tỏi) có người tên là Phạm Văn Toán, một hôm gánh rau đi qua đường thấy vợ chồng anh Tây đương lúng túng không đi qua được chỗ lội, liền đặt gánh rau xuống, cõng mụ đầm lội qua. Anh Tây ấy không ngờ lại là viên công sứ, nó khen anh Phạm Văn Toán khí tiết tốt và hẹn hôm sau lên tòa sứ Hà Đông sẽ ban thưởng. Ngày hôm sau, Phạm Văn Toán khăn áo chỉnh tề lên tỉnh. Viên công sứ hỏi chuyện qua loa, thấy anh ta có biết chữ Nho, liền bổ cho đi làm tri huyện Thanh Oai rồi dần dần thăng đến chức tuần phủ Hưng Yên, người đương thời gọi là ông tuần Láng.


Ông Chu Mạnh Trinh xuất thân là ông nghè làm quan dưới triều đình Huế, ngoi ngóp mãi mới lên chức án sát Hưng Yên, dưới chức tuần phủ một bậc. Ông nổi tiếng hay nôm, rất bực vì bị lão tuần phủ Láng quấy nhiễu. Lão ta làm bài thơ vịnh chim bồ câu, đưa ông Chu Mạnh Trinh yêu cầu ông họa lại. Bài thơ của lão như sau:


Bốn cọc chơ vơ đứng giữa trời


 Anh thì bay ngược, chú bay xuôi


                   Sinh sôi nảy nở đàn con cháu


  Cặp chả dâng thầy đánh chén chơi[3].


Ông Chu Mạnh Trinh không họa, nhưng viết vào mảnh giấy dán chỗ ngồi chơi, ai đến chơi ông lại giới thiệu: “Thơ của lão tuần Láng đấy! Xuất thân là anh cõng đầm”.


Cũng chuyện cõng đầm, ông Nguyễn Diệu Kế (1858 – 1916) thường gọi là ông huyện Nè, người làng Nễ Độ (tên nôm là làng Nè) thuộc huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Ông mới ra tri huyện thì Pháp chiếm các tỉnh Bắc kỳ, bèn bỏ quan về không hợp tác với giặc. Ông nghe chuyện viên tri phủ Quảng Oai (thuộc Sơn Tây) cõng mụ đầm vợ viên công sứ Sơn Tây qua chỗ lội, liền làm bài thơ châm biếm:


Khen thay phủ Quảng khéo ranh ngầm


              Phò nịnh anh Tây cõng mụ đầm!


             Đôi vú áp vai đầu nghển nghển


          Hai tay ôm đít mặt hầm hầm


          May mà vững gối, nhờ ơn tổ


          Khéo chẳng sa chân chết bỏ bầm


         Ngoảnh bảo huyện Hòa nâng váy hộ


          Rỉ tai, nhăn mặt, nhắc nhau thầm


     Hai câu ba bốn, lột tả cái cảnh anh tri phủ Quảng Oai, người bé nhỏ cõng mụ đầm béo nặng, câu thứ bảy nói đến cái váy mụ đầm vừa dài vừa rộng sợ lòe xòe xuống đất bị lấm ướt, nên anh phủ phải bảo anh tri huyện Hạ Hòa nâng hộ.


Bọn vua quan ngày xưa thường tự vỗ ngực xưng hùng: quan là cha mẹ dân (Dân chi phụ mẫu) có nhiệm vụ chăn dân, thế mà chúng có những cử chỉ hành động như trên thật là làm nhục cho dân ta, khiến tụi thực dân nó khinh ta.


Sau này thực dân Pháp mở trường Sĩ Hoạn đào tạo một số người để giúp việc cho chúng. Những người được vào học trường này đều có biết chút ít chữ Nho và Quốc ngữ, chỉ cần học thêm chữ Pháp, dịch nổi những đơn từ chữ Nho ra chữ Pháp và dịch chữ Pháp ra chữ Nho, chữ Việt, cùng học thuộc các luật lệ của Pháp đặt ra. Hồi bấy giờ các giấy tờ công văn và cả giấy khai sinh đều in ba thứ chữ: chữ Pháp ở trên, chữ Việt dòng thứ hai, chữ Nho hay chữ nôm dòng thứ ba.


Vào khoảng năm 1915, Pháp bãi trường Sĩ Hoạn, lập ra trường Cao đẳng Pháp chính để đào tạo một số quan Tây học. Tuy Tây học, nhưng họ cũng phải tự tìm cách học thêm chữ Nho để đọc nổi các giấy tờ văn tự của nông dân. Dư luận Hà Nội cho rằng bọn quan Tây học này lại đục khoét và hại dân tệ hơn bọn quan lại cũ, vì chúng biết ăn tiền theo phương pháp khoa học. Chúng đặt ra lệ: ai lên quan trình báo việc gì phải có đơn viết tay, kèm theo lá đơn là một đồng bạc, nếu không có tiền, đơn bị trả lại không nhận. Những người bị mất trộm mất cướp đi trình báo, chúng kéo năm, sáu người về tận nhà mở cuộc điều tra, bắt khổ chủ phải làm cơm gà cá gỏi thết đãi. Của bị mất không lấy lại được, bị tốn thêm lần nữa, nên dân quê có câu:


Làm cho dân khổ thế này


Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan


Cần câu nhử và đào tạo nhiều người đi làm việc và cộng tác với chúng, thực dân Pháp mở nhiều trường học Pháp Việt: Trường học chúng mở đầu tiên ở phố Hàng Gai, sau thiên xuống phố Nguyễn Khuyến (xưa gọi là phố Sinh Từ), trường học ở phố Hàng Đào thiên lên phố Hàng Bún. Tại mạn này chúng mở thêm trường Hàng Than. Phố Hàng Vôi có một trường học, sau thiên ra phố Lý Thái Tổ ngày nay, tức là trường Nguyễn Du bây giờ (ngày xưa quen gọi là trường Hàng Vôi), rồi phố Hàng Kèn, phố Trần Nhật Duật. Mỗi trường có một viên giám đốc người Pháp, ngày xưa gọi là đốc học. Trừ trường Trần Nhật Duật xưa gọi là trường Ke[4], vì ở gần bến tàu thủy, nên phố này Pháp đặt tên là phố Quai clémenceau, chỉ có bốn lớp nhất luyện học trò đi thi lấy bằng tốt nghiệp, còn các trường khác có từ lớp đồng ấu, lớp dự bị, lớp ba, lớp nhì. Lớp đồng ấu chuyên dạy quốc ngữ, lớp dự bị bắt đầu học chữ Pháp, lớp ba, lớp nhì học chữ pháp đã khá. Trong giờ học, thầy và trò phải nói với nhau bằng tiếng Pháp. Những người học tới lớp ba lớp nhì, thuộc bốn phép tính và nói được tiếng Pháp đã lớn tuổi nhà nghèo muốn xin việc làm, thực dân Pháp bổ dụng cho đi làm các sở ngay, được gọi là thầy ký, công việc chỉ là ghi chép sổ sách, chữ Nho gọi là ký lục (cofitte). Những người nhà nghèo không đủ tiền theo học, Pháp cấp cho học bổng. Những người ra làm với Pháp đều được ưu đãi, cả ông bưu tá, làm việc phát thư hàng ngày cũng được cung cấp một bộ quần áo tây ka-ki, một đôi giày đen có cổ, một cái mũ lưỡi trai, được ngồi vắt vẻo trên chiếc xe tay do một người phu kéo đi khắp các phố. Đến nhà nào có thư, ông bưu tá vẫn ngồi bắt chân chữ ngũ trên xe, sai người kéo xe ném thư vào nhà và gọi chủ nhà ra nhận. Cả hai người đều lĩnh lương của sở Bưu điện Pháp. Ông bưu tá có số lương cao hơn người kéo xe chẳng qua ông ta chỉ hơn người kéo xe là đọc được chữ quốc ngữ và chữ Pháp ghi ngoài phong bì. Còn những người làm ký lục các sở của Pháp, mỗi ngày chỉ phải làm có sáu tiếng, chủ nhật, ngày lễ nghỉ, gặp ngày lễ sát với chủ nhật hoặc cách một ngày đều được nghỉ bắc cầu hai ba ngày. Ngoài ra thỉnh thoảng các ông còn được Pháp cung cấp cho bơ, sữa, pho mát, sâm banh, vang đỏ, vang trắng. Tuy được ưu đãi, nhưng số đông nhân dân ta vẫn phản đối Pháp, không muốn cộng tác với chúng. Nhà thơ Tú Xương đã thể hiện tinh thần ấy trong các bài thơ còn truyền tụng đến ngày nay:


Mợ bảo vần tây học khó gì


Cấp lương cho học để đi thi


      Thôi thôi lạy mợ xanh căng lạy[5]


                       Mả tổ nhà tôi thiếu bút chì


*


                    Nào có ra gì cái chữ Nho


Ông nghè ông cống cũng nằm co


Sao không đi học làm thầy phán


Sáng rượu sâm banh tối sữa bò!


(còn tiếp)


Nguồn: Hà Nội xưa và nay. Tập Ký của Bạch Diện Nguyễn Văn Cư. NXB Hội Nhà văn, 10-2015.


www.trieuxuan.info


 


 








[1] Nhà này ở địa điểm hiệu sách Thiếu nhi phố Đinh Tiên Hoàng, nhưng mặt nhà trông ra phố Cầu Gỗ, sau nhà là phố Đinh Tiên Hoàng chỉ có bức tường cao. Về sau nhà ấy đổi chủ thành hiệu may Âu phục mở cửa hàng ra phố Đinh Tiên Hoàng, phía Cầu Gỗ lấp lại. Qua mấy chủ, đến hiệu thuốc tây Trương Công Quyền. Chính phủ ta về tiếp quản sửa chữa lại mở hiệu sách thiếu nhi.


 




[2] Hiệu Mỹ Ký của một Hoa kiều, là người đầu tiên biết cách mạ vàng bạc. Sau này nhiều người làm các món đồ bạc thuê hiệu ấy mạ vàng gọi là đồ Mỹ Ký, tức là đồ vàng giả.


 




[3] Bài thơ này,theo trí nhớ của tôi (TTĐP), như sau:


  Bốn cọc chơ vơ đứng giữa trời


  Đứa thì bay bổng, đứa bay khơi


  Ngày sau ắt hẳn sinh con cháu


 Nướng chả băm viên đánh chén chơi.


 




[4] Quai (tiếng Pháp): con đê.




[5] Cinquante (tiếng Pháp): 50.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
xem thêm »