tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18968692
Tiểu thuyết
23.12.2015
Bạch Diện Nguyễn Văn Cư
Hà Nội xưa và nay

Khi Pháp chiếm Hà Nội, gọi chùa này là chùa Khổ hình (pagode des supplices) vì thời Nguyễn, những người phạm tội nhẹ đều bị đem ra bãi đất trống bên cạnh chùa căng ra đánh đòn. Tháng 11 năm 1887, nha Kinh lược Bắc kỳ, do sự tố giác của lý trưởng và phó lý làng Xa La (thuộc Hà Đông), nên bắt được một nghĩa sĩ là Nguyễn Văn Xuân (thường gọi là Năm Xuân, lại có tên là Phạm Văn Tịch hay Đỗ Tịch hay là cụ cử Tam Sơn) đem xử tử tại khu đất trống bên cạnh chùa. Năm 1854, cụ cử Tam Sơn (người làng Tam Sơn, huyện Tiên Du, Bắc Ninh) cùng ông đồ Tao ở làng Phù Lưu (tên nôm là chợ Dầu, thuộc phủ Từ Sơn, Bắc Ninh) tham gia cuộc khởi nghĩa của ông Cao Bá Quát chống triều đình nhà Nguyễn và chống Pháp. Sau khi ông Cao Bá Quát bị hy sinh, các cụ lại cùng con ông Quát là Cao Bá Thuyên chỉ huy nghĩa quân chống Pháp. Năm 1887, cụ cử Tam Sơn vào làng Xa La (phía ngoài cầu Đơ, bên này sông Nhuệ tại thị xã Hà Đông) định vào thăm thú để tìm cách đánh úp Hà Nội. Lý trưởng và phó lý Xa La dò biết được đi báo với Kinh lược Bắc kỳ là Nguyễn Trọng Hợp. Tên này bố trí bắt được cụ đem trình với thực dân Pháp. Pháp sai đem xử tử cụ tại khu đất gần chùa Báo Ân và bêu đầu tại cửa rừng (1) ven hồ Hoàn Kiếm (nay là chỗ có cột đồng hồ và bể nước ngã tư Đinh Tiên Hoàng - Lê Thái Tổ - Hàng Đào - Hàng Gai). Nửa đêm, các nghĩa sĩ ở Hà Nội lấy trộm được đầu đem chôn.


Sau khi chùa Báo Ân bị phá, Pháp xây một tòa nhà hai tầng khá rộng làm nơi cung cấp lương thực và thực phẩm cho binh lính Pháp, nhân dân ta gọi là sở binh lương. Bên cạnh sở này, Pháp xây nhà bưu điện một tầng, trước mặt nhà bưu điện là cái sân rải đá cuội, có mấy cái ghế dài có tựa. Bên cạnh nhà bưu điện là vườn hoa, giữa vườn có pho tượng tên toàn quyền Paul Bert nên gọi là vườn hoa Paul Bert. Pho tượng này bị nhân dân Hà Nội phá đi sau ngày Nhật đảo chính Pháp mùng 9 tháng 3 năm 1945 và đổi tên là vườn hoa Chí Linh. Năm 1918, Pháp xây lại nhà Bưu điện thành hai tầng như chúng ta vẫn thấy trước đây. Chính tại nhà Bưu điện này đêm 19 tháng 12 năm 1946, quân và dân ta đã chiến đấu anh dũng ngăn chặn cuộc tiến công của quân đội Pháp lên mạn các phố ta. Nhà Bưu điện xây xong, Pháp thiên sở Binh lương đi nơi khác, nhà thì dùng làm kho chứa hàng của sở Bưu điện. Năm 1930, Pháp lại phá dỡ nhà kho này đi, định xây dựng lại, nhưng gặp hồi kinh tế khủng hoảng phải đình chỉ và san nền làm chỗ cho ôtô du lịch đỗ gọi là nhà để ô-tô (parc - aux autos). Năm 1938, Pháp chuẩn bị xây dựng lại nơi này nhưng mới xây được cái nền thì xảy ra cuộc chiến tranh Thế giới thứ hai, chính quốc Pháp bị phát xít Hitler chiếm đóng nên bên này chúng phải đình chỉ công việc. Chính phủ ta về tiếp quản Thủ đô, tạm xây bức tường dài ngăn cho gọn, đến sau tết Nhâm Tý (1972) mới khởi công xây nhà Bưu điện năm tầng và hoàn thành vào đầu năm 1977 (trước tết Đinh Tỵ). Bắt đầu từ tháng Hai 1977, nhà Bưu điện mới này mở rộng cửa cho nhân dân vào giao dịch.


ĐỀN TAM CỔ PHÁP TỪ BỊ PHÁ


Hồi xưa, vào khoảng ngã tư Tràng Tiền - Hàng Khay - Hàng Bài - Đinh Tiên Hoàng ngày nay, có một ngôi đền trong đặt ba khẩu súng đại bác kiểu cổ (súng thần công) của triều đình nhà Nguyễn. Ba khẩu súng này ta gọi là thần công và ngôi đền có tên là “Tam Cổ Pháp Từ” chuyên thờ cúng ba khẩu súng ấy. Hàng ngày có ông từ quét dọn đều và lau súng, sớm tối thắp hương cúng vái. Mỗi tháng vào ngày Rằm và mùng Một, ông từ lĩnh tiền kho mua rượu, thịt, thổi xôi, hương hoa trầu cau, vàng mã đặt cúng. Dân phố có trẻ con bị nóng sốt sài đẹn cũng đem trầu cau hương hoa, xôi thịt đến cúng lễ rồi mài mực nho bôi lên ba miệng súng, lấy tờ giấy ấp lên in lấy hình ba miệng súng đem về chữa bệnh cho con: một tờ lót dưới gối trẻ ốm, một tờ treo lên đình màn, một tờ đốt lấy tàn hòa vào nước cho trẻ ốm uống, tin là thần súng trừ ma quỷ, trẻ em sẽ khỏi bệnh. Việc làm này chỉ là sự mê tín dị đoan. Trẻ em nóng sốt ngúng ngẩy chỉ là biểu hiện của sự phát triển trong cơ thể, chẳng cần thuốc men gì, vài ba ngày tự khắc sẽ khỏi.


Pháp chiếm Hà Nội, phá ngôi đền này và mở đường, đặt tên phố. Từ nhà Công ty mỹ nghệ vàng bạc đầu phố Đinh Lễ đến phòng triển lãm hiện nay, xưa là khách sạn của Pháp. Họ đặt tên là “Khách sạn cuối đường” (Hôtel Terminus), vì khi mới mở đường tại đây, thì đến nơi này là hết đường đất, trước đó là một chi của hồ Hoàn Kiếm chảy suốt đến phố Hàng Chuối, bên kia bờ hồ là phường xóm của người làm nghề khảm xà cừ và làm khay gỗ dùng làm bàn trà. Khách sạn này sau bán cho Công ty Địa ốc Ngân hàng, họ xây thành ngôi nhà như ngày nay lấn cả sang phố Tràng Tiền. Trên gác dưới nhà, nhà trong nhà ngoài chia ra nhiều ngăn, nhiều gian, nhiều buồng cho thuê: người thì mở nhà trồng răng, người mở hiệu may, hiệu ảnh, hiệu bán sách báo, hiệu tạp hóa, cửa hàng giải khát, người thuê đặt bàn giấy giao dịch v.v… Vào trong nhà như đi vào một phố nhỏ. Mục đích của Địa ốc Ngân hàng là cho vay cầm nhà: người nào muốn vay tiền phải đưa văn tự nhà cho họ, họ phái người đến xem xét nhà, đánh giá rồi ước lượng cho vay, hàng tháng phải trả lãi, đến hạn không trả vốn được là họ kiện tịch thu nhà. Nhiều người vào hạng tiểu tư sản mất cơ nghiệp với Công ty này.


Năm 1907, thực dân Pháp khởi công xây Nhà hát Lớn. Trước đó năm, sáu tháng chúng mở chợ phiên đánh bạc, đánh số, đánh biliards và bày trò chơi đặt đường sắt vòng quanh trên những mô đất thấp cao, cho những cái xe con chạy trên đó, mỗi người lấy vé vài ba xu. Ngồi vào xe, họ mở điện cho chạy khi lên cao khi xuống thấp gọi là vượt núi Nga (Montagne Russe). Nhà hát xây xong năm 1911, bằng tiền của người Việt Nam nhưng người Việt Nam không mấy ai được vào xem, trừ một số tay sai của Pháp. Mỗi năm chỉ có độ vài mươi cuộc diễn kịch vào mùa đông, còn các mùa khác thì nghỉ. Mỗi lần diễn kịch, bọn Pháp cho đến năm, sáu xe cứu hỏa đỗ vây bọc chung quanh nhà hát.


 CHÙA BÀ ĐÁ BỊ THU HẸP, CHÙA BÁO THIÊN VÀ THÁP BÁO THIÊN BỊ PHÁ


Giới cố đạo Pháp cậy mình có công lớn trong việc chiếm lục tỉnh Nam kỳ và chiếm Hà Nội cùng toàn hạt Bắc kỳ nên hay can thiệp vào công việc hành chính của bọn quan cai trị Pháp và bọn quan lại Việt Nam tay sai Pháp. Những người Việt Nam phạm tội nặng (như đánh chết người) đến đút lót, kêu cầu và tình nguyện xin theo đạo, họ can thiệp cho được vô tội. Ngoài ra họ còn chiếm nhiều đất đai để xây nhà thờ và làm nhà cho thuê thu hoa lợi[1].


Tại thôn Tự Pháp (tức là khu phố nhà thờ, nhà Chung, Lý Quốc Sư ngày nay) có ngôi chùa tên chữ là chùa Linh Quang, nhân dân ta thường gọi là chùa Bà Đá. Nguyên từ đời Lê, dưới quyền Trịnh Giang- một tên chúa dâm bạo, nhiều nơi nổi lên chống nó, trong số đó có Nguyễn Hữu Cầu (Quận He) là biệt hiệu hơn cả. Ông đánh từ Kinh Bắc đến Bồ Đề (Gia Lâm), định vượt sông Nhị sang Hà Nội. Trịnh Giang sai dân phu xây cửa Ô Quan Chưởng như cái cổng thành (nay vẫn còn ở phố Hàng Chiếu), chung quanh đắp đất kéo dài như cái tường thành để chống nghĩa quân. Trịnh Giang còn sai đắp tường đất ở vùng Tự Tháp để ngăn lối tiến vào phủ chúa Trịnh nếu khi nghĩa quân vượt được các cửa ô xông vào. Dân phu đào đất nơi này, nhưng đắp đến đâu tường lở đến đấy. Họ cứ cố đào sâu xuống để lấy đất tốt, rồi họ đào được một pho tượng đá hình người đàn bà liền đặt vào chùa Linh Quang thờ cúng (hồi bấy giờ chùa còn mái gianh tường đất, sau này nhà sư đi quyên giáo các nơi lấy tiền xây tường gạch mái ngói khá rộng lớn). Do có pho tượng đá ấy, nên chùa Linh Quang có tên nôm là chùa Bà Đá. Đây là ngôi chùa lớn nhất của Hà Nội, có nhiều sư là học trò sư cụ của chùa. Mỗi năm vào lễ Phật đản, sư các nơi phải đem gạo, muối, tương, dầu lạc về chùa ngồi hạ trong ba tháng. Ngồi hạ tức là lối chỉnh huấn của nhà chùa: trong năm qua, các sư tiểu người nào có sai lầm khuyết điểm, hoặc làm việc gì phạm vào thanh quy (quy luật của nhà chùa) như ăn thịt, uống rượu, sát sinh, ghẹo gái, ăn cắp vặt đều phải tự thú và tự phê bình rồi xin sám hối và nghe lời dạy bảo của sư cụ.


Năm 1885, vào buổi tối ngày mùng 8 tháng Tư âm lịch (ngày lễ Phật đản), một bọn lính và cố đạo Pháp mò mẫm đi tuần tra chung quanh hồ Hoàn Kiếm (khi ấy nghĩa quân ta do các văn thân chỉ huy vẫn đi lùng sục để bắt binh lính Pháp). Bọn chúng thấy nguy chạy vào chùa Bà Đá xin sư cụ cứu mạng. Nhà chùa theo thuyết từ bi hỷ xả, sư cụ cho bọn chúng mượn bộ áo cà sa và mũ ni mặc vào, ngồi lẫn với đám sư hơn trăm người gõ mõ tụng kinh trước tam bảo. Khi nghĩa quân đuổi theo chúng không thấy đâu, ngờ là chúng lẻn vào chùa, họ vào chùa lùng sục khắp nơi. Khi ghé vào tam bảo thấy đông sư đang ngồi tụng kinh, mà hồi bấy giờ trong chùa thắp đèn dầu ve không được sáng, nghĩa quân không nhìn rõ khắp lượt và phải tỏ ý tôn kính không dám tiến vào, đều rút ra khỏi chùa. Nhờ thế bọn lính và cha cố Pháp được thoát nạn.


Sau khi Pháp chiếm Hà Nội làm nhượng địa, bọn cha cố Pháp đòi phá chùa Bà Đá để xây nhà thờ. Sư cụ liền kể lại việc năm xưa đã cứu sống một số cha cố, nên chúng không phá chùa nữa, nhưng chúng chiếm đất xung quanh xây nhà cho thuê, thu hẹp bớt chùa Bà Đá lại. Bọn cha cố nhắm địa thế hồi bấy giờ cho rằng thôn Tự Tháp này là trung tâm Hà Nội nên chúng tìm một địa điểm quanh đấy để xây nhà thờ. Chúng liền phá chùa Báo Thiên và tháp Báo Thiên, xây nhà thờ trên nền tháp này.


Tháp Báo Thiên là một trong “An Nam tứ khí” chính tên là “Đại thắng từ thiên báo tháp”, ta gọi nôm và nói rút lại. Tháp do Lý Thánh Tông xây năm 1056 để ghi công chiến thắng Chiêm Thành (nước Chiêm Thành xưa ở vào khoảng từ Quảng Nam - Đà Nẵng đến tỉnh Khánh Hòa ngày nay, hiện còn di tích tháp Chàm ở gần Phan Thiết. Chàm là tên nôm của Chiêm Thành). Tháp Báo Thiên xây trên Nguyệt hồ cao 13 trượng, chân tháp xây bằng đá tảng, từ giữa tháp lên đến ngọn đúc bằng đồng đặc. Ngôi chùa bên cạnh tháp cũng mang tên là chùa Báo Thiên.


Năm 1426, quân ta dưới quyền chỉ huy của Bình Định Vương Lê Lợi vây chặt Đông đô (tức Hà Nội ngày nay). Tướng giặc là Vương Thông rất nguy khốn, chúng sai quân lính phá ngọn tháp Báo Thiên lấy đồng đúc thêm khí giới để chống với quân ta, nhưng rồi sau chúng cũng phải đầu hàng.


Hồi cuối Lê - Trịnh có loạn kiêu binh trong thành Hà Nội. Bọn kiêu binh lại phá dỡ tầng dưới của tháp để tìm đồng đúc tiền. Nhân đây xin nói về loạn kiêu binh, một thứ nhân họa làm hại không ít dân Hà Nội hồi bấy giờ.


Nguyên từ thời Trịnh Kiểm (tổ họ Trịnh) nổi lên ở Thanh Hóa giúp vua Lê diệt họ Mạc, mộ những người ở Thanh Nghệ làm lính, về sau này con cháu Trịnh Kiểm dứt được nạn đem quân ra Thăng Long, toàn dùng quân lính Thanh Nghệ làm quân túc vệ để giữ kinh thành. Quân lính này rất được ưu đãi so với quân lính ở các trấn Sơn Tây, Kinh Bắc nên được gọi là ưu binh và lập thành quân tam phủ. Bọn ưu binh được triều đãi, nên rông rỡ. Năm Giáp Dần (1674) thời Trịnh Tạc làm chúa, bọn ưu binh đã giết ông Nguyễn Quốc Trinh làm quan tham tụng trong phủ chúa và kéo nhau đến phá nhà ông Phạm Công Trứ, một chức quan trong phủ chúa. Năm Tân Dậu (1781) thời Trịnh Doanh làm chúa, quân ưu binh lại phá nhà và lùng tìm để giết quan tham tụng Nguyễn Quý Cảnh. Mỗi lần ưu binh tự tiện phá nhà giết người như vậy, chúa Trịnh bắt mấy tên đầu sỏ làm tội, nhưng chúng vẫn không sợ. Đến năm Nhâm Dần (1782) khi chúa Trịnh Sâm mất, bọn ưu binh nổi loạn to, nhân dân gọi là loạn kiêu binh.


Nguyên Trịnh Sâm đã có vợ cả và có một con trai là Trịnh Khải (còn có tên là Tông) cùng một số con gái. Sau Trịnh Sâm lấy thêm người vợ lẽ là Đặng Thị Huệ, người làng Phù Đổng, tên nôm là làng Gióng. Thị Huệ có nhan sắc, khéo chiều chuộng nên được Trịnh Sâm yêu và nhạt tình với vợ cả. Trịnh Sâm phong Thị Huệ làm tuyên phi, tục gọi là bà Chúa Chè. Thị Huệ sinh một con trai tên là Cán, từ lúc mới sinh cho đến lúc sáu tuổi vẫn ốm yếu sài đẹn, bụng ỏng đít beo, bao nhiêu thuốc men, bao nhiêu danh sư (kể cả cụ Lãn Ông Lê Hữu Trác) đến chữa vẫn không béo khỏe được. Thế mà Thị Huệ đòi Trịnh Sâm lập Cán làm thế tử thay Trịnh Khải, để sau này Cán sẽ lên làm chúa mà truất Khải đi. Năm Canh Tý (1780) Trịnh Sâm ốm, Trịnh Khải bí mật chuẩn bị binh mã khí giới phòng khi bố chết nổi lên tranh ngôi chúa với em là Cán do bọn quyền thần giúp dập. Trịnh Sâm khỏi bệnh, biết được âm mưu của Khải liền bắt giam Khải ở Thạch Các và quyết định lập Cán lên làm chúa. Vụ này lịch sử gọi là “Vụ án năm Canh Tý” (1780).


Thị Huệ có người em trai tên Đặng Mậu Lân, nhân dân gọi là "cậu Ba kẻ Gióng". Hắn là một tên vô lại, ỷ vào thế chị được chúa Trịnh Sâm yêu nên làm nhiều việc ngang ngược, lộng quyền cậy thế. Mỗi khi ra ngoài phố nó dùng xe kiệu võng lọng như chúa Trịnh và đem vài chục tên thủ hạ cầm gậy gộc gươm giáo đi theo hầu. Khi đi đường, các quan to quan bé trong triều đình và trong phủ chúa thấy xe kiệu của nó phải tránh, nếu không tránh, nó sai thủ hạ xông vào đánh đập. Đi ngoài phố thấy người đàn bà con gái nào xinh đẹp nó liền sai thủ hạ bắt giữ lại rồi trải chiếu quây màn hãm hiếp ngay giữa đường giữa phố; người nào cưỡng lại nó liền xẻo vú. Bố mẹ hay chồng con nạn nhân đến van xin nó đánh đập, bẻ răng, rạch mồm, có khi chém chết.


Trịnh Sâm cũng biết những việc làm sai trái, vô lại của Đặng Mậu Lân, song nể sợ Thị Huệ nên làm ngơ. Chẳng những thế, Sâm còn gả cô con gái yêu là Trịnh Thị Thuyên cho Lân do theo lời yêu cầu của Thị Huệ. Thị Thuyên nhan sắc rất xinh đẹp, học giỏi, Trịnh Sâm rất yêu quý. Bao nhiêu khanh tướng vương hầu đến hỏi nàng cho con trai, Sâm còn kén chọn chưa nhận lời đám nào, thế mà lại ưng gả ngay cho Đặng Mậu Lân, một tên ngu xuẩn dốt nát, vô lại nhất thời bấy giờ. Xem thế đủ biết Trịnh Sâm bị Thị Huệ mê hoặc đến mức nào.


Theo Lịch triều tạp kỷ quyển IV, tập II bản dịch của Hoa Bằng thì Trịnh Sâm thấy Lân là đứa cường bạo nên hôm hồi môn (cho con gái về nhà chồng), Sâm sai nội thần là Sử Trung hầu đi theo giữ gìn không cho Lân làm lễ hợp cẩn, lấy cớ quận chúa Thuyên chưa khỏi chứng đậu mùa. Lân không xâm phạm được quận chúa, bảo Sử Trung hầu rằng: “Chúa tưởng con gái chúa đẹp như tiên sa đấy! Tao xem ra không bằng con đòi bưng chậu của nhà tao! Tao có thèm quyến luyến nhan sắc của nó đâu, chẳng qua vì đã tốn kém biết bao tiền bạc mới lấy được vợ, nếu không làm trò trống gì thì ít ra cũng phải đụng một cái, làm cho nát toét như bùn để khỏi lỗ vốn, rồi mới thả ra cho về đấy thôi. Mày muốn tốt thì giữ lấy thân, bước đi chỗ khác kẻo lại trách rằng tao không bảo trước!”. Sử Trung hầu nói: “Đó là mật lệnh của chúa thượng chứ không phải tự tôi dám làm việc giám sát ngăn cản”. Lân nói: “Mày thử về hỏi chúa mày giả thử chúa ở địa vị tao bây giờ thì có chịu nhịn được không?”. Sử Trung hầu nói: “Quan lớn không nên quá lời như vậy, không thể sánh chúa với người thường được”. Lân càng tức giận nói: “Mày lại chực giở chúa ra để dọa nạt tao à? Chúa cái thá gì?”. Nói xong nó vung gươm chém chết Sử Trung hầu rồi đóng chặt cửa dinh lại không cho ai ra vào. Quận chúa Trịnh Thị Thuyên sợ hãi, sai thị tì chui một lỗ chân tường sau nhà trốn ra báo với Trịnh Sâm. Sâm cả giận sai thị thần đem quân túc vệ đến bắt Lân, nhưng Lân cầm gươm quát mắng, không ai dám xông vào. Sau Trịnh Sâm sai Hoàng Đình Bảo, tức Hoàng Tố Lý, tức quận Huy đem thêm quân đến vây bắt mới trói được tên Lân đem về phủ chúa. Trịnh Sâm liền giao cho đình thần xét xử. Đình thần đều nói: “Chém chết sứ giả của chúa, tội đáng chặt cổ bêu đầu”. Đặng Thị Huệ lăn ra đất khóc xin chết thay cho em. Trịnh Sâm liền đổi án chém làm án đày đi châu xa[2]. Nhưng chẳng phải nơi xa xôi hẻo lánh nào mà là Ninh Hải (vùng Đồ Sơn, Đồ Hải). Đặng Mậu Lân đi đày đem theo cả bọn thủ hạ. Một hôm, nó ra vùng bờ biển thuộc địa phận Đồ Sơn, thấy người con gái xinh đẹp mót cá con ở bờ biển, liền sai thủ hạ bắt lấy rồi quây màn hãm hiếp ngay trên bãi cát ven biển. Về sau, cô này có chửa, bọn cường hào ác bá trong làng ngả vạ, lấy cớ con gái chửa hoang làm bại hoại phong hóa. Nhà rất nghèo, bố mẹ cô không lo được tiền nộp vạ, bọn cường hào liền quăng cô xuống biển. Về sau dân làng thương cô bị chết oan, lập miếu thờ trên một mỏm núi gọi là miếu Bà Đế. Còn tên Lân sau trốn về làng Gióng là quê nó, lăm le định trở lại kinh kỳ. Khi quân Tây Sơn do vua Quang Trung kéo ra Bắc diệt họ Trịnh, giúp vua Lê và dẹp loạn kiêu binh, dân làng Gióng liền bắt Đặng Mậu Lân trói lại kể tội rồi chém chết. Bấy giờ, trong làng có người đặt câu hát:


Cậu Ba Kẻ Gióng kia ơi!


Sao không ở lại mà chơi kinh kỳ.


Năm 1782, Trịnh Sâm ốm nặng, chỉ có Đặng Thị Huệ hầu hạ bên giường bệnh và Hoàng Tố Lý tức quận Huy ra vào thăm nom, còn các quan và cả mẹ Trịnh Sâm đều không được vào thăm. Do đó Hoàng Tố Lý và Thị Huệ thông gian với nhau. Trịnh Sâm làm di chúc lập Cán làm chúa và quận Huy làm phụ trách. Trịnh Sâm vừa chết thì nhân dân trong kinh kỳ đặt câu hát:


Trăm quan có mắt như mù


Để cho Huy quận vào rờ chánh cung.


Hoàng Tố Lý sai quân lính đi tuần tra khắp phố phường, thấy ai hát câu đó liền xẻo lưỡi, nhưng cũng không bịt được mồm dân.


Khi ấy Trịnh Khải (tức Tông) vẫn bị giam lỏng trong Thạch Các, mật mưu với lính tam phủ, tức đám ưu binh nổi lên lập mình làm chúa, trước hết phải đánh đổ quận Huy là phụ trách của Trịnh Cán. Thế là cuộc nổi loạn xảy ra trong phủ chúa, quận Huy bị lính tam phủ giết chết. Rồi bọn ưu binh đặt Trịnh Tông ngồi lên cái mâm gỗ, xúm vào khiêng cao trên vai rước đi khắp phố phường cùng hò reo: “Chúa của dân ta đây!”.


 Sau khi phò lập Trịnh Tông làm chúa rồi, bọn ưu binh cậy công, hàng ngày vào phủ chúa xem xét công việc các quan làm. Họ bắt bẻ, họ hạch sách, họ bắt các quan phải làm việc theo ý họ. Người thân thích, người quen thuộc họ phạm tội, các quan làm án, họ đòi hủy bỏ án đi. Viên quan nào nói phạm đến họ hay trái ý họ, họ kéo nhau đến đánh giết, phá nhà, cướp hết các đồ quý giá và tiền bạc. Nhân dân trong các phố phường nói hay làm việc gì trái ý họ, họ cũng đánh đập và phá nhà. Họ đào bới cả nền tháp Báo Thiên tìm lấy đồng để đúc tiền. Họ hống hách cả với chúa Trịnh Khải, dọa sẽ phá tan cả phủ chúa. Mẹ Trịnh Khải phải ngồi sụp xuống đất chắp tay lạy họ, họ mắng: “Không thèm nói với đàn bà”.


Hà Nội hồi bấy giờ ngày nào cũng náo động, các chợ búa đang họp, một ngày mấy lần vỡ chợ. Mọi người gọi biến cố này là loạn kiêu binh. Khi có tin quân Tây Sơn kéo ra Thăng Long để diệt họ Trịnh và dẹp loạn kiêu binh, những người về phe cánh họ Trịnh và bọn kiêu binh hoảng sợ. Chúa Trịnh Khải bỏ vương phủ chạy trốn mất. Bọn kiêu binh cởi bỏ quần áo lính, mặc quần áo rách, rồi giả vờ làm những thằng câm đi xin tiền để trốn về Thanh Nghệ. Nhân dân ở kinh kỳ lúc này rất vui mừng và họ tìm bọn kiêu binh để đánh giết. Bấy giờ có viên huyện Thọ Xương, béo phục phịch, bụng to như cái trống, nghe tin quân Tây Sơn kéo ra gần đến kinh kỳ hoảng sợ quá, cởi bỏ áo đi, vận chiếc quần, để mình trần trùng trục chạy ra đường. Dân hàng phố thấy thế bảo nhau: “Thằng kia là lính nhưng lính Kiệu[3] đấy, đánh chết nó đi”. Viên huyện phải nói ra: “Tôi là huyện thừa huyện Thọ Xương đấy!”. Nghe giọng nói người kinh kỳ, mọi người mới không đánh, nhưng họ phì cười: “Ông huyện to bụng!”. Về sau này, cho đến năm 1930, người Hà Nội vẫn nói đùa những người đàn bà chửa là “Bà huyện to bụng”.


Dân Hà Nội đương bị nhũng nhiễu vì loạn kiêu binh, được tin quân Tây Sơn của vua Quang Trung kéo ra, ai cũng vui mừng.


HỒ HOÀN KIẾM BỊ THU HẸP LẠI


Hồ Hoàn Kiếm ngày xưa rất rộng, lan cả đến phố Hàng Chuối và thông ra sông Hồng ở quãng đường Vân Đồn ngày nay (tức là gần Lò Lợn). Đời Trần và đầu đời Lê, hồ mang tên là hồ Thủy Quân để quân lính luyện tập thủy chiến. Cuối đời Lê, cái lạch thông ra sông Hồng bị lấp và quãng hồ chỗ Hàng Khay (xưa gọi là làng Cựu Lâu) cũng bị lấp, chia thành hai hồ, gọi là hồ Hữu Vọng và hồ Tả Vọng. Dần dần về sau hồ Hữu Vọng cũng bị lấp nốt, nhân dân làm nhà lên ở chia làm hai thôn: thôn Hữu Vọng và thôn Đức Bác. Về sau hai thôn này nhập làm một gọi chung một tên là thôn Vọng Đức, nay vẫn còn ngõ Vọng Đức ở phố Hàng Bài. Hồ Tả Vọng, đời Lê Thái Tổ mang tên là hồ Hoàn Kiếm. Theo truyền thuyết: ông Lê Lợi, sau mười năm kháng chiến đánh đuổi quân giặc Minh ra khỏi nước ta, dựng lên nhà Lê, đóng đô ở Thăng Long; một hôm ông đi chơi thuyền trên hồ Tả Vọng, có con rùa nổi lên cạnh thuyền. Ông cầm thanh gươm trỏ xuống nước, con rùa đớp lấy thanh gươm rồi lặn mất. Thanh gươm này ông có được từ khi còn là một dân nghèo sống dưới sự áp bức của quân giặc Minh. Ông có thanh gươm liền rủ các bè bạn như Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn tụ nghĩa tại Lam Sơn (Thanh Hóa) rồi chiêu binh mãi mã, tích thảo đồn lương khởi quân đánh giặc Minh. Sau khi đất nước được thanh bình, thanh gươm ấy lại bị rùa đớp lặn xuống hồ, nên mới đặt tên là hồ Hoàn Kiếm.


Bãi đất nổi lên giữa hồ ngày nay có đền Ngọc Sơn xưa là nơi các vua chúa thường ra câu cá, nên gọi là Điếu Đài. Về sau người Hoa kiều xây ngôi đền thờ Quan Công lên bãi đất này đặt tên là đền Ngọc Toàn Sơn. Theo truyện Tam quốc thì ông Quan Công hiển thánh ở Ngọc Toàn Sơn, nên đền thờ ông mới đặt tên ấy, sau gọi tắt đi là Ngọc Sơn. Nhân dân ta cũng đặt bàn thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn trong đền này. Đền Ngọc Sơn ngày xưa còn hẹp, cổng đền thấp bé và không có gác chuông, cầu vào đền bắc bằng những tấm ván gối đầu lên nhau, hai bên trồng cọc tre có dầm ngang đỡ những tấm ván cầu.


Năm 1865, cụ Phương Đình Nguyễn Văn Siêu làm quan tới án sát sứ, xin về hưu mở trường dạy học tại nhà ở phố Ngõ Gạch. Cụ đứng ra mở cuộc lạc quyên xây lại đền Ngọc Sơn, để thờ Văn Xương Đế Quân chủ về việc học. Cụ xây trấn Ba Đình, Đài Nghiên, Tháp Bút, bắc cầu Thê Húc; cổng vào đền xây thành gác chuông cao có cái biển đề ba chữ "Đắc Nguyệt lâu" do theo câu thơ cổ: “Cân Thủy lâu đài tiên đắc nguyệt; hướng dương hoa mộc tảo phùng xuân” (gần nước, lâu đài đón được ánh sáng giăng đầu tiên; hướng về phía mặt trời mọc cây và hoa sớm được gặp xuân). Đền ngoài trông ra trấn Ba Đình thờ Văn Xương Đế Quân là đền chính. Hồi Hà Nội còn các khoa thi hương, tại sân gạch chung quanh trấn Ba Đình, mỗi tháng vào ngày rằm và mùng Một, học trò đến tụ họp để làm văn nhật khắc và bình văn. Những năm có khoa thi hương, học trò các nơi về thi, một số người vào đền lễ bái, xin thẻ, nằm mộng và phụ bút tiên, là lối mê tín dị đoan của thời xưa.


Hồi tác chiến chống Pháp 19-12-1946, quân đội thực dân Pháp bắn đại bác vào đền Ngọc Sơn, phá tan trấn Ba Đình và cầu Thê Húc. Năm 1952, một bọn người đứng ra xây dựng lại, nhưng trấn Ba Đình và cầu Thê Húc không giống như nếp cũ nữa.


Chỗ Tháp Rùa, xưa chỉ là bãi đất nổi lên giữa hồ, rùa thường hay lên nằm phơi mai (do đó gọi là Bãi Rùa). Nguyễn Bá Kim thuê một anh thầy phong thủy người Trung Quốc tìm đất để táng mả bố hắn. Anh thầy này xem đất chung quanh hồ rồi nói Bãi Rùa này là nơi quý địa, táng mả vào đấy sẽ phát phú phát quý. Bá Kim liền đem mả bố đến táng. Hồi bấy giờ nhân dân Hà Nội rất căm ghét Bá Kim về thói nịnh nọt thực dân Pháp nên một đêm khuya có người bơi ra Bãi Rùa đào mả bố hắn ném xuống hồ. Sáng hôm sau Bá Kim được tin, vội sai người nhà đem gạch đến lấp ngay rồi nhờ một anh Pháp vẽ kiểu xây tháp lên để che giấu việc mất mả bố. Tháp này, mọi người gọi là Tháp Rùa. Thời Pháp thuộc, từ năm 1930 cho đến đầu năm 1945, trên ngọn tháp này luôn luôn có những lá cờ đỏ búa liềm xuất hiện. Thực dân Pháp sai người hạ xuống và rình mò, nhưng không sao bắt được người cắm cờ. Thực dân Pháp chiếm nước ta, thay đổi kiến trúc trong kinh kỳ cũ, đã khiến một nhà nho làm bài thơ cảm khái vịnh hồ Hoàn Kiếm như sau:


Bóng tháp lô nhô lớp sóng dồn,


Dịp cầu nho nhỏ ghếch sườn non


Hồ thiêng chưa vẩn tăm thần kiếm;


Đường rộng còn trơ dấu pháp môn


Kim cổ treo chung tranh thủy mạc


Tang thương chớp nhoáng bóng hoàng hôn!


Nghìn thu suy thịnh gương còn đó,


Coi thử vầng trăng khuyết lại tròn!


Nhiều người nói bài thơ này của cụ Nguyễn Khuyến, nhưng đọc lên chúng ta thấy không phải giọng thơ của cụ. Câu thứ ba ngụ ý chưa có người nổi lên chống lại thực dân Pháp, như Lê Lợi đã dùng thần kiếm chống giặc Minh. Câu thứ năm có ý nói: dưới chế độ phong kiến và thực dân, nhân dân ta sống cuộc đời đen tối (tranh thủy mạc vẽ có một màu đen). Câu thứ tám là câu kết, có thể coi là một sấm ngữ: nước ta bị thực dân Pháp chiếm (trăng khuyết) nhưng rồi đây ta sẽ lại giành được độc lập chủ quyền (trăng tròn).


HÀ NỘI BỊ ĐỐT PHÁ VÀ PHÁP MỞ PHỐ XÁ


Sau khi chiếm Hà Nội (1888), thực dân Pháp muốn mở mang phố xá và xây cất dinh thự, triệt hạ những làng xóm cũ của nhân dân. Sau khi đã san lấp những hồ ao, đầm vũng, chúng tiến hành đuổi dân chiếm lấy đất: nơi chúng phá dỡ, nơi chúng cho bọn lưu manh đi đốt nhà hôi của. Nhà của dân Hà Nội xưa đại đa số là nhà tranh vách đất, chỉ một đốm lửa nhỏ là cháy lan cả xóm. Những đám cháy lớn thường xảy ra vào dịp gần Tết, nên nhân dân ta gọi tháng Chạp là tháng củ mật. Năm 1891, một đám cháy lớn thiêu hủy gần 500 ngôi nhà của các phố Hàng Tre, Hàng Vôi, Hàng Thùng, Hàng Mắm, phố Bắc Ninh (nay là phố Nguyễn Hữu Huân), Lò Sũ, Hàng Bè. Bị cháy nhà, dân chỉ biết gánh nước hồ, ao té vào để dập lửa, người thì chạy đến đền Hỏa Thần ở phố Hàng Điếu nhờ ông từ thỉnh chuông đánh trống kêu khấn thần dập tắt lửa cho. Ngôi đền này hiện nay vẫn còn ở phố Hàng Điếu và phố này xưa mang tên là phố Nhà Hỏa do có đền Hỏa Thần, nhưng sau đó tên Nhà Hỏa đặt cho cái phố sau phố Hàng Điếu, như chúng ta thấy ngày nay. Sau những vụ cháy lớn luôn xảy ra, thực dân Pháp bắt nhân dân Hà Nội phải làm nhà gạch lợp ngói theo quy hoạch của chúng, ai không có tiền làm nhà gạch phải về nông thôn ở, chúng chiếm lấy nhà đất mở đường.


Những người có tiền làm nhà, chỉ làm những cái nhà thấp bé, một tầng, nếu có làm gác thì làm gác xép con, từ nóc đến sàn gác cao độ hơn hai thước. Sở dĩ phải làm nhà thấp là vì dân Hà Nội vẫn theo nếp sống từ đời Lý, Trần, Lê, Nguyễn: nhà không được phép làm cao hơn kiệu vua, kiệu thánh. Xưa vua hay đi hành hạt qua các phố phường và hay có những đám rước thánh du nhai, người dân phải tụt xuống đất; nhà làm gác cao hơn kiệu vua là có tội. Hiện nay nhiều phố cổ ở Hà Nội vẫn còn sót lại một số ngôi nhà cổ thấp lúp xúp, có nhà có gác không trổ mở cửa sổ ra đường hoặc chỉ có những cửa nhỏ hẹp.


Thực dân Pháp chiếm nhiều nhà đất, đền chùa để xây công thự và mở đường. Trước hết chúng phá ngôi đền thờ Quan Công (ở gần nhà bảo tàng trông ra đê) xưa ta gọi là đền Ông Chẩu[4] để xây Sở Thương chính thu thuế các hàng hóa của những lái buôn từ các mạn xuôi chở bằng thuyền lên Hà Nội bán; dần dần xây Sở Mỏ ở khoảng phố Hàng Vôi và Tông Đản ngày nay, ta gọi là nhà nữ vàng, rồi xây nhà chứa rượu, ta gọi là Sở Đê-bô (phiên âm chữ Dépot của Pháp). Đền thờ Vọng Hùng Vương ở phố Hàng Tre và những nhà chung quanh bị phá dỡ, thực dân Pháp xây tòa án, nên phố Hàng Tre có tên là phố Tòa, sau này tòa án thiên ra phố Lý Thường Kiệt, ngôi nhà phố Hàng Tre trở thành Sở Tổng Thanh tra công chính, nay là Sở Trị thủy sông Hồng. Tại phố Hàng Tre trên, Pháp đuổi chợ Hàng Bè xây nhà đoan thuốc lào để đánh thuế những lái buôn thuốc lào chở bằng thuyền lên bán tại Hà Nội. Nhà đoan này bây giờ sáp nhập vào nhà máy Đồng Tháp. Cạnh nhà Đoan thuốc lào là trụ sở của một hãng tàu thủy của Pháp gọi là hãng Sauvage (nay là trường Nguyễn Huệ). Trong hồi tác chiến chống Pháp, suốt hai phố Hàng Tre suốt đến nhà Sauvage, quân và dân ta chiến đấu rất anh dũng, quân đội Pháp bị giết hại rất nhiều.


Phố Trần Hưng Đạo ngày nay, xưa là bãi cỏ rộng mênh mông suốt từ nhà ga cho đến bờ sông. Dưới thời phong kiến, binh tượng thường đến đây cắt cỏ đem vào thành cho voi ngựa ăn. Khi thực dân Pháp kéo quân vào Hà Nội, chúng chiếm nơi này dựng tàu nhốt ngựa, lừa, la, sẵn cỏ đấy nuôi ngựa. Hồi bấy giờ ngựa, lừa, la đều là những chiến mã rất cần thiết cho quân xâm lược nên chúng đem vào Hà Nội không phải một vài trăm con mà là hàng nghìn con. Cỏ ở đây, sau không đủ cho gia súc ăn, chúng phải mua cỏ của nông dân. Hàng ngày những gánh cỏ đầy ắp đổ la liệt nơi này để bán nên mới có tên phố Hàng Cỏ. Về sau Pháp xây nhà ga xe lửa ở địa điểm ngày nay, ga cũng mang tên là ga Hàng Cỏ.


Năm 1890, Pháp xây căn nhà một tầng khá rộng lớn tại địa điểm Nhà hát Nhân Dân bây giờ, mở cuộc đấu xảo lần thứ hai (cuộc đấu xảo lần thứ nhất mở năm 1885 tại phố Hàng Khay). Các cuộc đấu xảo này có mục đích là giới thiệu các thứ nông, lâm, thổ sản của Việt Nam với các nước và phô trương lực lượng của Pháp. Chúng mời các nước Anh, Đức, Ý, Nhật, Hoa Kỳ, Thái Lan đến dự và thăm thú thuộc địa mới của chúng. Nhân dịp đấu xảo này, nghĩa quân của ta mưu đánh vào Hà Nội, mục tiêu đầu tiên là nhà đấu xảo để cho các nước thấy rằng nhân dân Việt Nam vẫn quật cường chứ không chịu làm nô lệ thực dân Pháp. Hồi bấy giờ thực dân vẫn lo nơm nớp vì khắp nơi nhân dân ta vẫn nổi lên đánh tỉa chúng. Trần Viết Soạn có cô vợ bán hàng nước ở trước cửa nhà đấu xảo, y cũng thường ra ngồi hàng nước. Do sự sơ hở của một vài người trong đám nghĩa quân, Soạn biết được âm mưu của họ, liền đi báo cho Pháp biết. Bọn Pháp liền tổ chức các cuộc canh phòng rất cẩn thận, nên cuộc tiến công của quân ta không thành. Trần Viết Soạn được Pháp thưởng cho cái bát phẩm văn giai, nên người ta gọi là bát Soạn.


Bát Soạn nhờ hôi được nhiều vàng bạc và tiền kẽm tiền đồng trong khi phá thành cũ Hà Nội, liền thôi không làm cai phu và làm thợ xẻ nữa. Hắn được cô Tư Hồng giới thiệu làm chân phụ tá cho Bạch Thái Bưởi trong vụ ký Bưởi thầu bán gỗ cho Pháp xây dựng. Xuất thân là anh thợ xẻ, Soạn thuộc tên các thứ gỗ và biết phân biệt các thứ gỗ tốt xấu. Sau đó Bưởi bày cho Soạn đóng xe song mã cho thuê chở khách trong thành phố. Hồi bấy giờ chưa có ô-tô nên xe song mã là phương tiện vận chuyển rất đắc dụng cho Pháp. Mỗi xe ngồi được từ sáu đến tám người có một hay hai người cầm cương ngựa gọi là xà ích, xe sơn đen bóng lộn rất đẹp, ghế ngồi bằng đệm bông. Soạn giao những xe đóng được và cả ngựa cho những anh cai thầu để chở khách. Khách đi xe song mã, độc mã hồi bấy giờ toàn là Pháp, các cha cố, bọn quan lại Việt, và một số nhà giàu Việt Nam. Soạn càng ngày càng giàu. Hắn xây nhiều nhà ở các phố lớn cho thuê, riêng hắn ở ngôi nhà số 8 phố Hàng Vôi, kiến trúc theo kiểu Âu hồi bấy giờ.


Nhà đấu xảo ở phố Hàng Cỏ, sau do viên toàn quyền Maurice Long ký nghị định cho xây thành một nhà bảo tàng gọi là Musée Maurice Long. Nhà này xây cao hai tầng, rộng lớn theo kiểu kiến trúc Khơ- me. Bốn mặt nhà có bốn thang xây bằng đá tảng cao 20 bậc trèo lên tầng trên. Tầng trên là chỗ trưng bày các mẫu lâm thổ sản và một số đồ cổ Việt Nam; có chỗ làm việc của nhân viên chuyên sưu tầm, vẽ mẫu, nặn mẫu bằng đất các thứ cây, quả, hoa, lá thổ sản Việt Nam, xét nghiệm và ghi chép các sản vật. Tầng dưới là một xưởng thủ công nghệ: dệt vải, dệt màn, khăn mặt, đan ghế mây, làm đăng ten, thêu, rua v.v… Toàn bộ tòa nhà này đặt dưới quyền giám đốc một người Pháp tên là Crévoste. Chung quanh tòa nhà lớn này, thực dân Pháp xây những gian nhà nhỏ một tầng rộng từ 20 đến 40 thước vuông, để cho các nhà công thương thuê bày hàng trong dịp mở hội chợ. Trước kia hội chợ mở mỗi năm một kỳ vào khoảng tháng Mười dương lịch cho đến giữa tháng Chạp; về sau ba năm mở một kỳ. Mỗi kỳ mở hội chợ, Pháp cổ động các nhà công thương Việt Nam và mời các nước đem hàng đến trưng bày và bán, lẽ cố nhiên hàng của Pháp chiếm số nhiều. Mỗi kỳ mở đến hai tháng vào dịp cuối năm; đến năm kinh tế khủng hoảng mới chấm dứt hẳn.


Nhà bảo tàng này nảy sinh một anh tư sản mại bản, đó là Hoàng Kim Quy (tên thực của hắn là Hoàng Kim Quỹ, vì giao dịch với Pháp nên mất dấu ngã). Hắn là con ông lão gác nhà bảo tàng, năm mười tám hay hai mươi tuổi hắn thôi học. Sức học mới vào trình độ lớp nhì thời bấy giờ, hắn đi xin việc làm nhiều nơi không được, hàng ngày hắn đến chơi nhà các bè bạn mong tìm công việc làm. Một hôm hắn đến nhà một anh bạn ở phố Cửa Đông, bên cạnh nhà một người Nhật làm nghề pha chế sơn. Hắn nhòm trộm qua kẽ vách, học lỏm được lối đánh sơn ta, pha màu làm các món đồ sơn mài. Hắn liền về nhà mua sơn làm. Hắn biết vẽ, liền mua những cái hộp con do các thợ thủ công ở Hà Đông sản xuất. Hắn pha chế sơn làm sơn mài và vẽ lên những cái hộp ấy. Hắn đưa khoe với Crévoste, giám đốc nhà bảo tàng. Bấy giờ sơn mài chưa ai làm và là món hàng các nước đương ưa chuộng. Crévoste khuyến khích hắn và giới thiệu với ngân hàng cho hắn vay vốn làm nhiều món hàng sơn mài đem sang Pháp dự đấu xảo Marsei. Hắn lại mua các thứ hàng bách hóa của Pháp gửi về bán tại Hà Nội. Thế là hắn trở thành nhà xuất nhập khẩu và giàu to. Sau này hắn vào ở Sài Gòn, rồi mở nhà máy làm dây kẽm gai bán cho quân đội Mỹ.


Năm 1940, quân đội phát xít Nhật kéo vào Đông Dương. Tại Hà Nội chúng chiếm nhiều nhà cho quân lính ở và chiếm luôn nhà bảo tàng đường Hàng Cỏ để đóng quân. Máy bay Mỹ đến ném bom quân Nhật phá tan nhà bảo tàng. Sau Cách mạng tháng Tám, tự vệ thành được thành lập, ra mắt nhân dân Hà Nội tại nhà bảo tàng này. Năm 1954, chính phủ ta về giải phóng Hà Nội, sửa chữa chỗ nền nhà bảo tàng xây thành Nhà hát Nhân Dân.


(còn tiếp)


Nguồn: Hà Nội xưa và nay. Tập Ký của Bạch Diện Nguyễn Văn Cư. NXB Hội Nhà văn, 10-2015.


www.trieuxuan.info


 








(1) Phố Lê Thái Tổ từ nhà Thủy Tạ đến hết phố xưa là khu rừng cây rậm rạp, sau Pháp mở một con đường đi xuyên qua đặt tên là phố Bòxăng.




[1] Về sau Pháp cho chấn hưng Phật giáo để giảm bớt thế lực của giới cha cố. Sở Cuồng Lê Dư được Pháp cho đứng ra xây chùa Quán Sứ vào năm 1930.


 




[2] Đoạn này viết theo Lịch triều tạp kỷ quyển IV tập II đã dẫn trên.


 




[3] Lính nhưng lính Kiệu là tên gọi riêng đám quân tam phủ.


 




[4] Kiêng húy Quan Công gọi là đền ông Châu Xương, một gia tướng của Quan Công; sau chỉ gọi tắt là đền ông Châu, lâu ngày gọi sai đi là ông Chẩu.


 



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 26.04.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 16.04.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 04.04.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 30.03.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
xem thêm »