tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19306713
Tiểu thuyết
20.12.2015
Đặng Nhật Minh
Hồi ký điện ảnh

Lần đầu được đào tạo về điện ảnh


Sau chuyến đi làm phim trong chiến dịch Hồ Chí Minh tôi có thêm ít nhiều tín nhiệm của cơ quan. Năm 1976 tôi được cử đi thực tập đạo diễn tại Bulgarie trong 6 tháng (một phần là để dịch cho cả đoàn thực tập vì không có ai biết ngoại ngữ). Đây là lần đầu tiên tôi được Nhà nước đào tạo về điện ảnh. Thực tập thực ra là một cuộc đi xem người ta làm phim, một cuộc đi cỡi ngựa xem hoa. Chẳng có ai hướng dẫn, chẳng có ai chỉ bảo gì. Ra hiện trường đạo diễn tất bật với bao công việc, chẳng ai dám tới gần để hỏi điều này điều nọ. Tôi chỉ học được có hai điều trong chuyến đi thực tập đó. Một lần trong khi đạo diễn đang tập cho diễn viên, bên ngoài có tiếng ồn ào nói chuyện, ông đạo diễn đã hét lên: Có im đi không! Không biết là Chúa đang tạo thế à? Cả đoàn im phăng phắc, nín thở. Tôi học được bài học thứ nhất: Đạo diễn trên hiện trường là Chúa trời. Một lần khác một đạo diễn tâm sự với tôi: Chúng ta đều là đạo diễn ở nước XHCN, làm phim do Nhà nước bỏ tiền. Điều quan trọng là không được nhân nhượng với chủ nhiệm phim, người quản lý số tiền đó. Một lần nhân nhượng, hai lần nhân nhượng, đến lần thứ ba coi như hỏng phim. Anh hãy nhớ là không được một lúc nào nhân nhượng. Điện ảnh Bulgarie trong những năm đó nở rộ với những phim từng đoạt nhiều giải thưởng quốc tế như: Chiếc sừng dê, Tình thương... Khán giả Việt Nam lúc đó đang mê mẩn với bộ phim nhiều tập Trên từng cây số. Có thể nói đó là thời kỳ đẹp đẽ nhất của điện ảnh nước này. Đây là lần đầu tiên tôi đặt chân đến một nước Đông Âu. Bulgarie - đất nước của hoa hồng đã để lại cho tôi những ấn tượng thật êm đềm. Thủ đô Sofia xinh xắn và những chiếc tàu điện đi qua khu rừng giữa lòng thành phố là những kỷ niệm không bao giờ phai đối với tôi trong thời gian thực tập ngắn ngủi ở đó.


Trở về nước, tôi nghiễm nhiên trở thành một đạo diễn có học như ai (đạo diễn made in Bulgarie). Tôi được giám đốc gọi lên giao làm phim tiếp: phim Ngày mưa cuối năm chuyển thể theo vở kịch Những người bóc đá của Hồng Phi. Phim nói về cuộc đấu tranh của một kỹ sư trẻ giàu sáng kiến ở mỏ than với ông giám đốc bảo thủ. Cuối cùng được bí thư Đảng ủy mỏ ủng hộ, sáng kiến của kỹ sư nọ được chấp nhận mang lại năng suất cao cho mỏ than. Tôi cùng đoàn làm phim xuống mỏ than Hòn Gai để thực hiện bộ phim. Vừa mới đặt chân tới đất mỏ, bỗng xảy ra một sự cố bất trắc: Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Quảng Ninh yêu cầu được đọc kịch bản. Sau khi đọc xong, họ cấm không cho chúng tôi được quay phim này với lý do những việc nêu lên trong kịch bản là không có trong thực tế ở đất mỏ, không làm gì có chuyện sáng kiến cải tiến kỹ thuật ở mỏ lại bị cản trở. Đoàn phim muốn quay ở đâu thì quay, nhưng không được quay ở mỏ than Hòn Gai. Ban giám đốc Xưởng phim vội phái người xuống gặp lãnh đạo Tỉnh để tiếp thu ý kiến, rồi yêu cầu tôi căn cứ trên những ý kiến đó sửa chữa lại kịch bản cho phù hợp. Thực tình tôi biết có sửa chữa, thêm bớt cũng chẳng ảnh hưởng gì đến nội dung của kịch bản, vì nó vốn xuất phát từ một vở kịch được viết ra từ một trại sáng tác về đề tài công nhân mỏ, một kịch bản loại người tốt việc tốt. Phim làm xong cũng chẳng có tiếng vang gì, chỉ được lãnh đạo Xưởng phim khen là làm nhanh, giúp Xưởng hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch để nhận cờ thi đua luân lưu của Bộ.


Sau hai phim được làm đạo diễn chính, sự háo hức ban đầu trong tôi không còn như trước nữa. Việc phấn đấu để được công nhận là đạo diễn đối với tôi đã xong. Tôi bắt đầu nghĩ về ý nghĩa của cái nghề này. Nếu tôi tiếp tục xếp hàng rổ rá ở Xưởng thì cứ hai hoặc ba năm sẽ được Ban Giám đốc gọi lên giao cho một kịch bản đã được duyệt sẵn, đem về thành lập đoàn làm phim rồi đi quay và cuối cùng cũng thành một bộ phim. Hết phim chiến đấu đến phim về đề tài sản xuất công nghiệp, nông nghiệp... Đó là những sản phẩm từ những kịch bản được các nhà biên kịch của Xưởng viết ra sau những chuyến đi gọi là thâm nhập thực tế. Cầm giấy giới thiệu của Xưởng, họ đi về các địa phương. Đến đâu cũng được lãnh đạo các cấp đón tiếp niềm nở, ở nhà khách của tỉnh, cơm bưng nước rót, nghe báo cáo thành tích, gặp gỡ vài tấm gương điển hình, ghi ghi chép chép, rồi về ghép lại thành kịch bản.


Những kịch bản như vậy được thông qua rất dễ dàng. Chúng là sản phẩm của một nền văn nghệ được định hướng từ trên và được thực hiện bởi những nghệ sĩ công chức. Quả thật tôi chẳng thấy mặn mà gì với những thứ kịch bản như thế. Chúng khô khan, sơ lược, giáo điều... nhưng lại được cho là mang tính hiện thực xã hội chủ nghĩa sâu sắc. Một lần tôi thắc mắc hỏi ông phó giám đốc phụ trách nghệ thuật của Xưởng thế nào là kịch bản mang tính hiện thực XHCN thì được ông trả lời ngắn gọn: là cái kết phải vui. Cái tiêu chí của việc duyệt kịch bản hồi ấy và cho đến tận bây giờ vẫn thế: ca ngợi người tốt, việc tốt, xã hội tốt... có chuyện gì xấu thì chỉ là cá biệt và cuối cùng thì cái kết phải lạc quan. Tôi cảm thấy không thể dấn thân tiếp tục vào con đường nghệ thuật kiểu này được. Tôi dửng dưng nhìn người ta tung hô những sản phẩm kiểu như vậy... Tôi chán ngán cả những phim mà tôi đã làm về những đề tài, về những con người rất đỗi xa lạ đối với tôi. Nếu đấy quả thực là điện ảnh thì tôi đành từ giã nó vậy. Tôi đã đến với nó một cách tình cờ thì tôi cũng sẵn sàng ra đi không có nợ nần vương vấn gì. Tôi từ chối mọi phân công làm phim của giám đốc (xin được làm thì khó, chứ từ chối thì rất dễ vì luôn sẵn có người khác thế chân). Để lấp chỗ trống trong đầu, ban đêm tôi đi học tiếng Pháp, ban ngày ôn luyện. Ba năm liền hầu như tôi không lui tới Xưởng phim. Thời kỳ này một số đạo diễn thức thời đã sớm từ giã con đường sáng tác nghệ thuật để chuyển sang làm công tác quản lý: Đạo diễn Lê Đăng Thực về làm hiệu trưởng trường Điện ảnh. Đạo diễn Nguyễn Thụ lên giám đốc Xưởng phim truyện rồi Cục trưởng Cục điện ảnh. Đạo diễn Bùi Đình Hạc về làm giám đốc Xưởng Thời sự Tài liệu (sau này lên Cục trưởng thay ơng Nguyễn Thụ). Để có đủ chỗ, người ta đã nghĩ ra cách nâng các Xưởng lên thành Hãng. Trong Hãng có nhiều Xưởng. Và thế là một loạt giám đốc, phó giám đốc Hãng, Xưởng trưởng, Xưởng phó xuất hiện hình thành một đội ngũ quan chức điện ảnh rất đông đảo. Người đạo diễn Vờ-Gích hẩm hiu nhất là Nguyễn Đỗ Ngọc. Anh vốn là sinh viên đại học Tổng hợp Văn. Nhờ cĩ ơng cậu là Đỗ Đức Dục Thứ trưởng Bộ Văn hóa can thiệp nên chuyển sang học đạo diễn điện ảnh ở Liên Xô. Anh có năng khiếu viết văn, đã từng đăng truyện ngắn Tứ tử trình làng trên báo Văn nghệ có tiếng vang. Sau vài lần làm phim không thành (vì phải làm theo những kịch bản mà bản thân anh không thích), viết hết kịch bản này đến kịch bản khác không được duyệt, Nguyễn Đỗ Ngọc trở nên trầm uất một thời gian dài để rồi cuối cùng dẫn đến một kết cục thật bi thảm: cầm dao tự mình vạch bụng tự tử. Tôi vẫn còn nhớ mãi kỷ niệm khi anh rủ tôi về nhà ở gần vườn hoa Hàng Đậu, say sưa đọc cho tôi nghe kịch bản Bảy ngày mù trời, nói về những du kích Vĩnh Linh vật lộn với bão tố và máy bay địch để tiếp tế cho đảo Cồn Cỏ.


Không lâu sau, người ta gộp tất cả đạo diễn, quay phim, họa sĩ và cả chủ nhiệm phim chia ra làm ba Xưởng sản xuất phim. Tôi được xếp về Xưởng 3 của ê-kíp Trần Vũ - Bành Bảo mặc dù chẳng phải là người thuộc ê-kíp nào. Xưởng 2 là của ê-kíp Trần Đắc - Trần Kim Thành và Xưởng 1 là của ê-kíp Hải Ninh - Hoàng Tích Chỉ. Đây là thời kỳ tôi cảm thấy bế tắc và chán ngán nhất. May thay những buổi học tiếng Pháp miệt mài vào ban đêm đã giúp tôi giữ được sự thăng bằng trong đời sống. Những áng văn trong sáng trữ tình bằng tiếng Pháp mà các thầy giáo già (từng dạy ở trường Albert Sarraut cũ) đem ra giậy đã lấp hết các khoảng trống trong đầu tôi. Chúng giúp tôi cách ly hẳn với môi trường xung quanh.



Phim tài liệu “Nguyễn Trãi”


Đầu năm 1980 một hôm tôi được giám đốc Nguyễn Thụ gọi lên gặp. Ông cho biết vừa đi họp trên Cục Điện ảnh về. Trên yêu cầu phải có một phim tài liệu về Nguyễn Trãi nhân dịp 600 năm ngày sinh của ông, sau khi UNESCO vừa công nhận ông là một danh nhân văn hóa thế giới. Ông Thụ cho biết Hãng phim tài liệu không nhận làm vì không biết phải phải quay những gì. Thật vậy các tư liệu về Nguyễn Trãi hoàn toàn không có gì ngoài bức chân dung vẽ trên tranh lụa treo trong Viện Bảo tàng Lịch sử. Ông Thụ nói với tôi khi giao nhiệm vụ: Tớ nhận về cho Hãng mình để có thêm một đầu phim, hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch năm nay. Cậu lâu rồi không làm phim, nên nhận phim này. Làm dễ thôi mà. Cứ đem máy vào Bảo tàng Lịch sử mà quay rồi về ấn thuyết minh vào là xong.


Nguyễn Trãi là một nhân vật lịch sử mà tôi ngưỡng mộ từ lâu. Được làm phim về ông là một may mắn lớn, lại thêm nguồn tư liệu không có gì càng kích thích trí sáng tạo của tôi. Dùng ngôn ngữ bằng hình ảnh để diễn tả cái vô hình là điều làm tôi thấy hứng thú. Tôi nhận lời với giám đốc mà lòng thầm nghĩ: để rồi xem, bộ phim không đơn giản như ông nghĩ đâu. Tôi tìm đọc lại toàn bộ thơ văn và tiểu sử của Nguyễn Trãi, cùng đoàn làm phim lên đường đến tất cả những nơi có liên quan tới ông: từ núi Pù Rinh ở Hương Sơn phía tây Thanh Hoá (Khi Hương Sơn lương cạn mấy tuần... Lúc Khôi Huyện quân không một lữ). Đến thành phía tây ở Nghệ An, rồi Cẩm Thủy ở Thanh Hóa nơi Nguyễn Trãi dâng Bình ngô sách cho Lê Lợi v.v... Buổi về quay ở Nhị Khê có đông đủ bà con trong dòng họ Nguyễn Trãi đã gắn bó tôi với cái làng cổ kính này. Tôi trở thành người thân trong gia đình cụ Nguyễn Thục cháu 17 đời của Nguyễn Trãi. Từ đó đến nay hàng năm tôi thường trở lại thăm như con cháu trong nhà. Tôi đã đem hết tất cả tình cảm và trí sáng tạo bằng ngôn ngữ điện ảnh để làm bộ phim này. Cộng với lời bình thâm trầm và bác học của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, bộ phim đã thành công tốt đẹp. Buổi chiếu ra mắt ở hội trường Hãng có đông đủ các nhà sử học, các nhà văn hóa trong đó có bác sỹ Nguyễn Khắc Viện. Tất cả dều cho rằng trong phim này những người làm phim đã tìm ra được cái chìa khóa để giải quyết vấn đề đó là thể loại tùy bút điện ảnh với ngôn ngữ điện ảnh súc tích giàu hình ảnh. Nhà thơ Cù Huy Cận, đại diện của Việt Nam ở UNESCO là người theo dõi việc làm phim của chúng tôi từ những ngy đầu. Ông hết sức lo lắng. Mỗi một đợt nháp quay xong ông đều đòi xem, có lần còn mời cả Thủ tướng Phạm Văn Đồng xem để góp ý kiến.  Mãi sau này khi phim đã hoàn thành, một lần gặp tôi ông khen một câu mà đối với tôi là hơn tất cả mọi lời khen: Cậu đúng là con ông Ngữ.


Sau phim đó tôi càng yêu mến hơn thể loại phim tài liệu, mối tình đầu dang dở của tôi. Tôi định bụng từ nay chỉ làm phim tài liệu, nhưng ở Hãng phim Truyện không phải lúc nào cũng có phim tài liệu để làm. Giám đốc Nguyễn Thụ rất hài lòng với kết quả của công việc mà ông đã giao cho tôi. Một lần ông bắt tay tôi nói: Về phim tài liệu thì tôi chịu cậu rồi, còn chờ cậu làm phim truyện xem sao. Ông giám đốc này có một đức tính rất quý báu, luôn coi sự thành công của người khác như của chính mình và như ông từng nói nhiều lần:  ông sẵn sàng làm bệ phóng cho anh chị em nghệ sĩ. Sau này lên làm Cục trưởng Cục Điện ảnh, ông vẫn làm đúng như vậy.


Tôi lại trở về với những buổi tối học tiếng Pháp. Thời gian rỗi rãi tôi thường phóng xe về Bắc Ninh, lang thang với nhà văn Đỗ Chu về các làng quê vùng Kinh Bắc, có khi tức hứng đáp tàu hỏa lên Đồng Mỏ chơi với nhà văn - nhà giáo Nguyễn Trường Thanh. Khi nổ ra chiến sự biên giới, chờ khi quân Tàu rút về nước, tôi đi nhờ xe bộ đội vào thị xã Lạng Sơn khi thị xã còn nằm trong chế độ quân quản. Tôi đau lòng trước một thị xã êm đềm thơ mộng nay chỉ còn là một đống gạch vụn. Tôi nghĩ đến bao giáo điều quái gở như: chủ nghĩa lý lịch, chủ nghĩa thành phần, đấu tranh giai cấp v.v... được du nhập vào Việt Nam làm tan nát bao nhiêu cuộc đời, bao nhiêu số phận... Những ý nghĩ đó được tôi viết ra trong truyện ngắn Thị xã trong tầm tay. Vũ - nhân vật chính của truyện là một nhà báo của một tờ báo ở Trung ương. Anh được cử lên Lạng Sơn để viết bài tố cáo tội ác, sự phản bội của những người ở bên kia biên giới. Nhưng toàn bộ câu chuyện lại là sự thức tỉnh lương tâm của anh về sự hèn nhát phản bội của chính mình với một cô gái quê ở Lạng Sơn. Khi còn là sinh viên, họ yêu nhau. Nhưng rồi cô gái bị phát hiện có bố di cư vào Nam chứ không phải đã chết như cô khai trong lý lịch (thực ra bố cô đã theo một người đàn bà buôn chuyến, bỏ mẹ cô khi cô còn nhỏ, để vào Nam và bà mẹ không muốn cho cô biết chuyện đau lòng ấy nên đã nói dối với con mình rằng ông đã chết). Tổ chức nhà trường đã ghép cho cô cái tội khai man lý lịch. Còn Vũ, vì để bảo đảm an toàn cho mình đã lánh xa cô, nhất là lúc sắp ra trường chờ phân công công tác. Cuộc điều tra để tố cáo tội ác diễn ra trên thị xã Lạng Sơn đồng thời cũng là cuộc lục vấn lương tâm của người đi điều tra. Vũ cố tìm lại dấu vết của người yêu cũ. Nhưng khi tìm thấy thì anh không đủ can đảm để đến gần. Hạnh phúc chỉ trong tầm tay thôi, nhưng anh biết rằng anh đã đánh mất nó mãi mãi.


Trở về Hãng, tôi thấy một không khí rất nhộn nhịp. Ông Nguyễn Tiến Lợi, phó giám đốc Hãng, dẫn đầu một đoàn biên kịch đạo diễn lên Lạng Sơn thâm nhập thực tế để làm phim. Đoàn lên biên giới gặp Bộ chỉ huy Quân khu I, được đón tiếp niềm nở, được nghe kể lại về cuộc chiến đấu vừa qua trên biên giới. Lúc về Hà Nội biên kịch Hoàng Tích Chỉ lập tức cho ra đời kịch bản Đất mẹ và đạo diễn Hải Ninh sẽ làm đạo diễn. Cả Hãng được huy động phục vụ cho bộ phim hoành tráng chống Tầu.


Những cảm xúc về chuyến đi Lạng Sơn tôi đã trút vào truyện ngắn Thị xã trong tầm tay. Tôi gửi đến báo Văn nghệ, không ngờ lại đúng vào dịp báo tổ chức cuộc thi truyện ngắn. Kết quả truyện ngắn của tôi nhận được giải ba của cuộc thi. Tôi phấn khởi vô cùng và đã toan từ bỏ điện ảnh để viết văn. Đấy là công việc ít lệ thuộc vào ai ngoài chính mình và cây bút. Tôi nhớ một nhà văn nước ngoài từng nói: Nếu anh cảm thấy bất lực, không làm được gì hơn thì hãy cầm lấy bút. Quả thực tôi đang bất lực. Tôi không biết làm gì hơn để giải tỏa sự bế tắc của mình và tôi đã cầm lấy bút. Tôi viết tiếp vài truyện ngắn nữa và chúng đều được lần lượt đăng trên báo Văn nghệ của Hội nhà văn. Những truyện ngắn ấy năm 1993 được Nhà xuất bản Văn hóa tập hợp in thành một cuốn sách có tên là Nước mắt khô.



“Thị xã trong tầm tay”


Một hôm tôi đang ngồi uống nước chè trong quán nước ven đường ở ngã tư Hàn Thuyên - Hàng Chuối thì tình cờ gặp ông Vũ Hoàng Địch, nhà nghiên cứu triết học v văn học Hán nôm, bạn thân của ông cậu tôi, nhà sử học Nguyễn Hồng Phong. Tôi thường hay gặp ông Địch ở nhà cậu tôi. Ông Địch hỏi han công việc làm của tôi. Tôi tâm sự với ông Địch là tôi định từ bỏ điện ảnh. Tôi không thể làm phim theo những kịch bản phục vụ kịp thời do người ta viết sẵn như thế này được. Ông Địch cười bảo tôi: thì cậu viết lấy mà làm. Tôi hỏi lại: nhưng viết gì bây giờ? Ông Địch nói: viết cái gì cậu thích. Cái truyện ngắn Thị xã trong tầm tay của cậu tớ vừa đọc trên báo Văn Nghe. Cái đó làm phim được. Đấy là cinéma chứ còn gì nữa?


 Tôi giật mình nhận ra một lẽ rất giản đơn: đã không thích cái người ta viết thì hãy tự viết lấy xem sao. Viết không được hãy từ giã cái nghề này. Việc gì phải vội? Ông Vũ Hoàng Địch là em ruột nhà thơ lãng mạn Vũ Hoàng Chương, là người học rộng, hiểu nhiều, cả văn học phương Đông lẫn văn học phương Tây. Đến bây giờ tôi vẫn thầm cám ơn ông về lời khuyên trong quán nước hôm ấy. Đó là vào năm 1981, năm đánh dấu một bước ngoặt nữa trong cuộc đời sáng tác của tôi.


 


Trở về nhà tôi đem truyện ngắn Thị xã trong tầm tay ra đọc lại và nhận ra cái chất cinéma đúng như ông Địch nói. Dỹ nhiên đấy không phải là cái chất xi nê ma có tích có tuồng quen thuộc. Tôi lập tức chuyển nó thành kịch bản rồi nộp lên Hãng. Hội đồng kịch bản Hãng đọc xong chuyển lên Hội đồng kịch bản Cục. Tại đây có 2 ý kiến cực lực phản đối. Một: kịch bản thiếu kịch tính, thiếu yếu tố để làm thành một phim truyện. Hai: không được nói động đến công tác tổ chức (trong kịch bản có cảnh một cán bộ tổ chức chất vấn nhân vật chính của phim về mối quan hệ của anh ta với cô người yêu có lý lịch không rõ ràng). May thay Cục trưởng Cục Điện ảnh lúc đó là ông Nguyễn Duy Cẩn, trước kia là giám đốc phát hành phim Trung ương, nơi tôi từng làm phiên dịch, đã ủng hộ tôi, yêu cầu tôi gặp đạo diễn Hải Ninh (có chân trong Hội đồng duyệt kịch bản của Cục) để nghe ý kiến đóng góp rồi sửa lại kịch bản, gửi lên Cục lấy dấu không cần phải duyệt lần nữa. Chấp hnh ý kiến của Cục tôi gặp đạo diễn Hải Ninh, nghe ông góp ý, rồi không sửa chữa gì cả gửi lại nguyên xi kịch bản lên Cục. Không lâu sau kịch bản được đóng dấu duyệt để đưa vào sản xuất.


Tháng 8 năm 1982, tôi cùng đoàn làm phim lên Lạng Sơn để thực hiện bộ phim. Thị xã Lạng Sơn lúc đó vẫn còn ngổn ngang đổ nát, hệt như một trường quay khổng lồ không cần phải tốn công dàn dựng. Dân chúng chưa được phép trở về nên chúng tôi hoàn toàn làm chủ hiện trường. Tôi đã mời diễn viên Tất Bình vào vai chính trong phim - vai nhà báo Vũ. Đây là vai diễn đầu tiên của Tất Bình trong điện ảnh để rồi từ đó anh tung hoành trong lĩnh vực nghệ thuật này cho đến tận bây giờ với tư cách là Giám đốc Hng phim truyện 1. Tất Bình vốn là một diễn viên tốt nghiệp trường Sân khấu. Ra trường anh được phân xuống đoàn kịch nói Quảng Ninh, nhưng đã không chấp hành sự phân công đó, ở lại Hà Nội mở quán cà phê ở phố Triệu Việt Vương. Tôi gặp Tất Bình lần đầu tiên ở quán cà phê đó. Hồi đó trông anh rất thư sinh, người mảnh khảnh, đeo kính trắng, rất thích hợp với vai nhà báo người Hà Nội. Tôi mời Quế Hằng - một diễn viên trẻ của Nhà hát kịch Trung ương, chưa đóng phim bao giờ vào vai người yêu của Vũ. Đây cũng là lần đầu tiên tôi bất đắc dĩ phải xuất hiện trên màn ảnh. Vì tình hình biên giới còn chưa yên nên đến phút chót Bộ Ngoại giao không cho phép đưa một sinh viên Nhật Bản lên Lạng Sơn để đóng vai nhà báo Nhật. Không còn cách nào khác, anh chị em trong đoàn phim động viên tôi đảm nhận vai này vậy. Mặc dầu anh em hài lòng, nhưng tôi vẫn nghĩ rằng nếu có diễn viên chuyên nghiệp đóng vẫn hơn. Đây cũng là phim đầu tay của nhà quay phim trẻ Nguyễn Hữu Tuấn, người mà sau này tôi còn cộng tác trong hai phim khác nữa.


Trước khi cùng đoàn phim lên Lạng Sơn tình cờ tôi gặp nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường từ Huế ra để đi thực tế biên giới. Tôi liền rủ Tường đi cùng. Hơn một tháng trời Tường ăn ở sinh hoạt cùng chúng tôi như một thành viên của đoàn làm phim. Tôi đã nhờ Tường làm một bài thơ để phổ nhạc cho ca khúc trong bộ phim. Sau đó chúng tôi gửi bài thơ vào Thành phố Hồ Chí Minh nhờ Trịnh Công Sơn phổ nhạc. Vốn là bạn thân của Tường và cũng quen biết tôi từ ngày đầu giải phóng nên Sơn đã nhận lời. Ca khúc đó đã được đưa vào đoạn gần kết phim, khi Vũ trên đường đi tìm gặp người yêu cũ. Tôi còn nhớ mấy câu đầu của bài hát đó như sau: Mãi còn nơi biên giới / Mây trời và ải xưa / Một miền đất nắng mưa / Suốt đời tôi mang nặng...


Một khi có một nội dung, một vấn đề gần gũi và tâm đắc với mình (vì nó là con đẻ của chính mình) thì những hình thức thể hiện tự khắc tìm đến một cách rất tự nhiên. Chúng như có phép thần, hiện ra trong đầu tôi rõ mồn một. Đến tận bây giờ tôi vẫn nghĩ rằng phim Thị xã trong tầm tay là một phim giàu chất điện ảnh nhất trong các phim mà tôi đã làm. Tôi đã sử dụng một thứ ngôn ngữ điện ảnh, không phải để kể một cốt truyện mà để diễn tả mét tâm trạng thông qua những hồi ức của nhân vật chính.


Bộ phim ra đời đã làm mọi người hết sức bất ngờ. Kẻ bất ngờ vì coi đó không thể là một phim truyện theo cách nghĩ quen thuộc của họ. Người bất ngờ vì cho đó là một tiếng nói mới, một thứ ngôn ngữ mới chưa từng thấy trong các phim Việt Nam từ trước đến nay. Cuối cùng thì tôi là người bị bất ngờ hơn cả. Năm 1983, phim tham dự Liên hoan phim Việt Nam tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh và đã nhận được giải Bông Sen Vàng. Về sau tôi mới biết rằng những người chỉ đạo LHP muốn dành Bông Sen Vàng cho một bộ phim khác, nhưng trong Ban Giám khảo năm đó có các nhà thơ Chế Lan Viên, Hoàng Trung Thông, nhà văn Nguyễn Khải cùng các đạo diễn Mai Lộc, Phạm Kỳ Nam, Trần Vũ là những người đã ủng hộ bộ phim của tôi. Phim còn nhận được một số giải cá nhân như: Giải kịch bản và Giải quay phim.


Tôi được biết đã có nhiều cuộc tranh luận gay gắt xung quanh việc chấm giải lần ấy. Cũng tại Liên hoan phim đó đã xảy ra một xì-căng-đan: phim Bãi biển đời người sau buổi chiếu khai mạc bị khán giả phản ứng dữ dội đành phải rút phim ra khỏi danh sách dự thi. Tại Liên hoan phim này, phim tài liệu Nguyễn Trãi nhận được giải Bông Sen Bạc cho thể loại phim tài liệu. Đúng là một năm may mắn của tôi.


Nửa năm sau, tôi gặp lại nhà thơ Chế Lan Viên ở Hà Nội. Ông cho biết sau Liên hoan phim ông còn bị chất vấn về việc đã trao Bông Sen Vàng cho bộ phim Thị xã trong tầm tay. Nhưng rồi ông nói: Tôi chẳng có điều gì ân hận cả. Cậu xứng đáng được giải, hãy chứng minh điều ấy trong những phim sau. Cám ơn ông, một nhà thơ, một nhà văn hóa lớn đã tiếp sức cho tôi trong những bước đi đầu tiên trên con đường sáng tác điện ảnh. Còn nhà văn Nguyễn Khải sau Liên hoan phim đó trở thành người bạn vong niên của tôi. Mặc dầu ít gặp nhau nhưng tôi biết anh vẫn luôn theo dõi mọi bước đi của tôi trong điện ảnh.


Vậy là tôi đã xác định cho mình một hướng đi: Tôi chỉ làm những phim do tôi tự viết lấy kịch bản, nói về những vấn đề mà tôi quan tâm, mà tôi rung động. Tìm được cho mình một cách tồn tại trong điện ảnh, tôi không nghĩ đến chuyện từ giã nó nữa.


♦ 


“Bao giờ cho đến tháng Mười”


Tôi bắt tay viết kịch bản Bao giờ cho đến tháng Mười xuất phát từ nỗi đau của gia đình tôi, từ nỗi đau của hàng vạn, hàng triệu người có người thân ngã xuống trong chiến tranh. Đó là những điều đã có sẵn trong tôi, không cần phải tìm kiếm đâu xa cả. Chỉ cần tìm hình thức thể hiện nữa thôi. Một lần ngồi trú mưa trên đê, trong quán nước ven đường ở huyện Quế Võ, tỉnh Hà Bắc, tôi nhìn thấy dưới cánh đồng xa xa, một đoàn người lầm lũi đi trong mưa. Khi đoàn người đến gần tôi nhận ra đó là một đám tang. Theo sau chiếc kiệu có bốn người khiêng là một phụ nữ trẻ quấn khăn trắng, dắt một đứa con trai chừng 7 tuổi. Bà con trong quán cho biết chồng chị là bộ đội đi B, hy sinh đã lâu, nhưng bây giờ người ta mới báo tin cho gia đình biết và làm lễ rước hương hồn người chiến sĩ về yên nghỉ tại nghĩa trang của làng. Còn anh đang nằm ở đâu trên chiến trường miền Nam, đến bây giờ không ai biết. Người phụ nữ chít khăn tang đi dưới chiều mưa hôm ấy chính là chị Duyên sau này trong bộ phim Bao giờ cho đến tháng Mười.


Mở đầu phim là cảnh chị Duyên về làng sau khi vào Nam thăm chồng về. Nhưng chồng chị đã không còn nữa. Anh đã hy sinh trong một trận chiến đấu ở biên giới Tây Nam. Vì nỗi đau quá bất ngờ, vì đường xa mệt nhọc nên khi qua đò chị đã bị ngất đi, rơi xuống sông. May có Khang, một giáo viên trong làng đi cùng đò đã nhảy xuống sông vớt được chị. Khang cũng vớt lên được tờ giấy báo tử của chồng Duyên nên anh trở thành người đầu tiên biết cái tin này. Nhưng Duyên lại muốn giấu kín tin dữ đó, chị không muốn làm cho bố chồng đang già yếu phải đau buồn. Chị đã nhờ Khang viết những lá thư giả để làm yên lòng những người trong gia đình chồng, một tình tiết có thật trong đời sống mà tôi từng được nghe. Mối quan hệ thầm kín của hai người bắt đầu từ đó. Cảm động trước sự hy sinh chịu đựng và nỗi mất mát của Duyên, Khang đã đem lòng yêu mến cô, muốn được thay thế người đã mất, lo toan cho hạnh phúc cho cô và đứa con lên bảy tuổi. Anh viết thư bộc lộ những tình cảm đó với Duyên. Không may bức thư lọt vào tay bà chị dâu và câu chuyện vỡ lở khắp làng. Khang mang tiếng là người yêu phụ nữ có chồng là bộ đội đang chiến đấu ở xa. Anh bị điều đi dạy ở nơi khác. Còn Duyên vẫn âm thầm chịu đựng nỗi đau cho đến một ngày ông bố chồng sắp hấp hối bắt cô phải đánh điện xin cho chồng về. Thấy Duyên chần chừ, đứa con trai lên bảy đã tự ý lên bưu điện huyện để đánh điện cho bố. Giữa đường nó xin đi nhờ một xe commanca chở bộ đội. Những người lính trên xe biết rõ sự tình bèn đánh xe quay về làng. Khi họ về đến làng, đứng bên giường của bố chồng Duyên thì cũng vừa lúc cụ trút hơi thở cuối cùng sau khi tin rằng con trai mình đã về. Mọi người trong làng bây giờ mới biết rằng chồng Duyên đã hy sinh, họ không còn hiểu lầm Khang nữa, nhưng anh đã đi rồi. Bây giờ Duyên lại mong tin anh, mong anh trở lại... Ngày khai giảng, cô đưa con đến trường và hỏi thăm tin anh.


Kịch bản Bao giờ cho đến tháng Mười được Cục điện ảnh thông qua một cách nhanh chóng không gặp trắc trở gì, chỉ yêu cầu không được để thầy giáo Khang yêu cô Duyên (hồi ấy ông Nguyễn Thụ làm Cục trưởng). Nhưng đối với tôi, không có mối quan hệ đó thì còn gì là phim. Chấp hành ý kiến của Cục, tôi chỉ làm nhẹ mối quan hệ đó thôi chứ không bỏ hẳn. Hãng phim cử cho tôi một chủ nhiệm phim chưa làm chủ nhiệm chính một phim bao giờ và phân cho tôi một máy quay phim Côn-vát cũ của Liên Xô chất lượng rất kém, đến nỗi trong lúc quay phá hỏng không biết bao nhiêu thước phim, buộc tôi phải quay đi quay lại nhiều lần. Không chịu được nữa tôi bèn tự đi mượn một máy quay của Viện Sốt rét ký sinh trùng và côn trùng (nơi cha tôi trước kia làm Viện trưởng) để quay nốt nửa phim còn lại. Đây là chiếc máy quay Côn-vát do Liên xô viện trợ cho Viện để quay các phim giáo khoa về phòng chống sốt rét. May thay nó còn rất mới vì ít được dùng tới. Trong lúc đang quay giữa chừng, nhà quay phim Nguyễn Lân (vốn là giảng viên quay phim của trường Điện ảnh được Hãng mời sang quay cho phim này) bỗng nhiên thông báo sẽ đi Campuchia để giảng dạy trong 1 tháng (những ngày ấy được đi Campuchia là một dịp may, ít ai từ chối). Không thể dừng cả đoàn chờ đợi được, tôi quyết định sẽ làm việc với phó quay phim Phạm Tiến Đạt. Ông Lân biết vậy tuyên bố với giám đốc Hải Ninh rằng sau khi đi Campuchia về sẽ không quay lại đoàn phim nữa. Giám đốc Hải Ninh tức tốc vào đoàn phim yêu cầu ngừng quay, không chấp nhận phó quay phim Phạm Tiến Đạt làm quay chính. Nhưng khi vào tới nơi, thấy tôi vẫn bình tĩnh làm việc với Đạt, công việc vẫn tiến hành đều đặn, ông trở về và vài hôm sau cử nhà quay phim Nguyễn Đăng Bẩy xuống đoàn để phụ giúp. Vậy là trong phim này thực chất có 3 quay phim với 3 phong cách khác nhau khiến tôi phải vất vả rất nhiều để giữ sự thống nhất trong các cảnh quay. Tôi đã mời nữ diễn viên Lê Vân vào vai chính của phim, để rồi từ đó tên tuổi của cô gắn liền với hình ảnh chị Duyên, người vợ liệt sĩ, tiêu biểu cho hàng vạn, hàng triệu phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh. Trước đó Lê Vân đã xuất hiện trong một vài phim nhưng để lại ấn tượng nhất cho khán giả đến nay vẫn là vai Duyên trong phim Bao giờ cho đến tháng Mười. Người làm nhạc cho phim này là nhạc sỹ Phú Quang. Hồi ấy anh còn trẻ lắm vừa mới tốt nghiệp khoa sáng tác Trường âm nhạc và chưa từng làm nhạc phim bao giờ. Tôi biết anh là nhờ chị Phương Chi, bạn của vợ tôi, giáo viên piano ở trường giới thiệu. Anh đánh cho tôi nghe những giai điệu đầu tiên sáng tác cho phim trên chiếc piano trong căn hộ chật hẹp chỉ vừa đủ kê một chiếc đàn và một chiếc giường đôi ở trong ngõ Văn Chương Hà nội. Anh đã rung động thực sự khi làm nhạc cho phim này do đó âm nhạc của anh đã đi vào phim rất ngọt ngào, nâng sức truyền cảm của hình ảnh lên rất nhiều. Đén bây giờ tôi vẫn tiếc một điều: giá anh sử dụng thêm nhạc cụ dân tộc thì có lẽ chất dân gian sẽ còn đậm đà hơn.


Khi bộ phim hoàn thành, giám đốc Hải Ninh xem xong yêu cầu cắt bỏ trường đoạn chợ âm dương với lý do mê tín dị đoan. Đây là một trong những trường đoạn tâm đắc nhất của tôi trong phim này, nó đến với tôi không phải là tình cờ. Từ lâu tôi có đọc trong kho tàng truyện cổ Việt Nam có một truyện làm tôi hết sức chú ý. Đó là câu chuyên về đôi vợ chồng trẻ, không may người chồng bị chết một cách oan ức. Anh báo mộng dặn chị chờ đến phiên chợ Mạch Ma thì đến để anh gặp. Tại phiên chợ đó hai người đã gặp được nhau. Người chồng đã nói rõ sự oan ức của mình để chị vợ kêu lên cửa quan. Truyện còn ghi rõ chợ Mạch Ma ấy nằm ở Quảng Yên. Một lần trên đường đi Hạ Long, khi qua bến phà Rừng, xe dừng lại ở Quảng Yên và tôi bàng hoàng nhận ra mình đang ngồi uống nước trong chính cái chợ Mạch Ma đó. Sau này lên Hà Bắc nhà thơ Nguyễn Thanh Kim có cho tôi mượn đọc cuốn Địa dư chí Hà Bắc. Trong sách đó, ở mục Chợ Hà Bắc có ghi rõ những thôn nào, xã nào, ngày giờ nào, có những phiên chợ âm dương. Qua hai sự việc trên tôi nhận ra rằng trong tâm thức của người Việt Nam không có sự cách biệt giữa cõi Âm và cõi Dương, giữa người sống và người chết, đúng như cụ Nguyễn Du đã viết: Thác là thể phch, còn là tinh anh. Đó là một đặc điểm tâm lý rất Việt Nam. Nhưng giám đốc Hải Ninh không quan tâm tới điều đó. Ông chỉ sợ cấp trên phê bình là phim mang mầu sắc duy tâm huyền bí, tuyên truyền cho mê tín dị đoan.


(còn tiếp)


 


Nguồn: Hồi ký điện ảnh của Đặng Nhật Minh. NXB Văn Nghệ TP Hồ Chí minh, 2005. Tái bản có bổ sung.

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 04.04.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
xem thêm »