tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18447077
18.12.2015
Nhiều tác giả
Chúa Nguyễn Phúc Chu

Một Minh Quân Hộ Trì Phật Pháp


Ngoài công cuộc mở mang đất nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia, tiến hành cải cách nâng cao chất lượng giáo dục, chế độ ưu đãi đối với người di dân khai hoang lập nghiệp, thưởng phạt công minh, chiêu hiền đãi sỹ, Quốc chúa còn đặt biệt chú trong đến vấn đề an dân, phát triển tâm linh cho xã hội, trong đó lấy tư tưởng Phật giáo là trọng.


1. Cuộc đời và sự nghiệp của chúa Nguyễn Phúc Chu


Chúa Nguyễn Phúc Chu lên ngôi vào ngày 7-2-1675, được xưng tụng là Quốc Chúa. Là người rất mộ đạo Phật, Chúa có pháp hiệu là Thiên Túng Đạo Nhân hay Hưng Long Cư Sĩ. Từ khi chúa vào trấn đất Thuận Hóa thì miền Nam được mở mang về mọi phương diện, lãnh thổ, hành chính, nông nghiệp, văn hóa, tư tưởng, tôn giáo. Từ đó, hơn 200 năm, nhà Nguyễn tiếp nối truyền thống đó xây dựng đất nước trở thành một quốc gia hùng mạnh trong khu vực và đặt biệt đối với Phật giáo hết lòng hộ trì tín mộ.


Chúa là con trưởng của Anh Tông Hiếu Nghĩa Hoàng Đế Nguyễn Phúc Thái, thân mẫu là bà Anh Tông Hiếu Nghĩa Hoàng Hậu Tống Thị Lĩnh, người ở Qúy Huyện, tỉnh Thanh Hóa. Theo Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả ghi chép khá cẩn thận của Hội Đồng Trị Sự Nguyễn Phước Tộc cho biết, chúa Nguyễn Phúc Chu húy Tùng sinh ngày 18 tháng 5 năm Ất mão (11-6-1675). Thuở thiếu thời, chúa rất chăm học, giỏi thi phú, càng lớn lên càng có bản lĩnh của đấng quân vương, năm 17 tuổi, được tôn lên làm Tiết Chế Thủy Bộ Chư Dinh kiêm Tổng Nội Ngoại Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự Thái Bảo Tộ Quận Công.[1] Lên nối nghiệp tổ tiên, Chúa đã áp dụng nhiều chính sách chiêu hiền đãi sỹ, cầu lời hay, nạp lời can gián, bỏ xa hoa, ít chi phí, nhẹ thuế má giao dịch, bớt việc hình ngục, trăm họ không ai là không vui mừng.[2] Sau khi việc quốc miếu đã xong, đình thần tổ chức lễ mừng và tấn tôn chúa làm Thái phó Quốc Công và dâng tôn hiệu Quốc Chúa. Từ đó, các sắc lệnh đều ghi là Quốc Chúa. Trong thời gian trị vì, chúa cho mời nhà sư Thích Đại Sán từ Trung Hoa sang để chấn chỉnh Đạo Phật ở Đàng Trong, khi về nước nhà sư có viết bộ Hải Ngoại Kỷ Sự hết lời ca ngợi và xưng là Quốc Vương.


Tình hình chính trị ở Đàng Trong từ thời các chúa trước có khuynh hướng “bế quan tỏa cảng”, riêng chúa Nguyễn Phúc Chu là một người có tầm nhìn chiến lược sâu rộng, cho giao thương với rất nhiều thương thuyền Tây phương ra vào buôn bán, trao dổi hàng hóa thường xuyên, nhằm mục đích nâng cao ngân sách quốc gia cho công cuộc mở rộng bờ cõi.[3] Chúa lại biết lợi dụng người Tây Âu để huấn luyện binh pháp và kỹ thuật quân đội, tiếp cận với Jean de Arnedo để mở rộng về khoa học và kỹ thuật; tiến cử Hoàng Tiến, Dương Ngạn Địch, Mạc Cửu để khai khẩn đất hoang; sử dụng các tướng tài như Nguyễn Hữu Cảnh, Trần Đình Ân trong các cuộc mở mang bờ cõi. Ngoài ra dưới thời Chúa, quân đội cũng đã được tổ chức thành một lực lượng hùng mạnh nhờ thường xuyên thao luyện. Trong Hải Ngoại Kỷ Sự, việc Chúa mời sư Đại Sán xem thao diễn như là một thị uy quân lực.[4] Chúa còn cải cách cơ chế tổ chức bộ máy hành chính trung ương, định lại phẩm hàm quan tước. Ngoài ra, Chúa rất chú trọng đến việc đào tạo nhân tài và tổ chức thi cử. Sách Đại Nam Thực Lục kể lại vào năm Quý Mão (1723), tháng Tư thi Nhiêu học. Quan giám khảo lấy trúng cách 77 người, dư luận học trò bàn tán rất sôi nổi. Chúa ra lệnh mở kỳ thi khảo hạch lại và không một sĩ tử nào được chấm đổ cả. Đặc biệt Chúa đã đặt ra kỳ thi Văn chức và thi Tam Ty để thường xuyên kiểm tra khả năng của các quan lại đang tại chức.


Nhưng quan trọng hơn cả là Chúa đã  thực hiện được việc mở rộng bờ cõi bảo vệ tổ quốc và đặt nền móng vững chắc cho cả vùng đất nam Trung Bộ, Nam Bộ và các những quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.[5]


Năm Nhâm Thân (1692) có tin vua Chiêm là Bà Tranh gây rối làm loạn ở phủ Diên Ninh, chúa cho quân đi bắt, nhân thể đổi nước Chiêm Thành làm trấn Thuận thành, sau đổi thành phủ Bình Thuận.


Năm Đinh Sửu (1697), Chúa đặt phủ Bình Thuận, lấy đất Phan Rí làm huyện Yên Phúc và huyện Hoa Đa. Năm Mậu Dần (1698), Chúa sai Nguyễn Hữu Cảnh vào trấn Đông Phố lấy xứ Lộc Dã (Đồng Nai) làm huyện Phước Long, lập dinh Trấn Biên (Biên Hòa); lấy xứ Sài Côn làm huyện Tân Bình, lập dinh Phiên Trấn (tức Gia Định). Mỗi dinh đều đặt quan cai trị và quản lý. Lập làng ấp, định thuế khóa, tùy phong tục tập quán cho mở bày lễ hội, bỏ những lệ thói hủ tục, khuyến khích dân chúng quy y Phật giáo.


Năm Nhâm Ngọ (1702), công ty Ấn Độ của Anh do Allen Catchpole đem 200 quân và 8 chiếc thuyền chiếm đảo Côn Lôn của nước ta. Chúa ra lệnh cho Trấn Phủ dinh Trấn Biên là Trương Phúc Phan tùy liệu đối phó. Mùa đông năm Quý Mùi (1703), Phúc Phan tuyển mộ 15 người Chà Và (dân đảo Java gốc Mã Lai - Nam Dương), sai họ dùng kế trá hàng để len vào đất địch. Quân Anh không lo liệu đề phòng, vì thế nửa đêm nhóm  người Chà Và theo mưu của Trương Phúc Phan nổi lửa đốt trại, bắt những tên chỉ huy và một số thuộc hạ, số khác chạy thoát ra biển trốn, liền bị thủy binh ta truy đuổi tiêu diệt. Sau khi thắng trận, Phúc Phan ra Côn Đảo thu hết của cải mang về nộp cho phủ Chúa. Nguyễn Phúc Chu trọng thưởng những người Chà Và cùng các tướng sĩ tham gia trận đánh hết sức hậu.


Năm Mậu Tý (1708), bấy giờ có Mạc Cửu người Quảng Đông không phục nhà Thanh, bỏ chạy sang Chân Lạp. Mạc Cửu khai hoang lập được 7 xã ở Hà Tiên. Sau đó, ra Thuận Hóa (Huế) dâng thơ lên Quốc Chúa, xin đem đất đó quy thuận nước ta. Quốc chúa nhận lời và giao cho Mạc Cửu giữ chức Tổng Binh, trấn giữ Hà Tiên. Nước ta mở rộng bờ cõi đến Hà Tiên kể từ năm đó.


Năm Kỷ Sửu (1709) Chúa sai đúc Quốc bảo. Đó là chiếc ấn khắc chữ “Đại Việt Nguyễn Chúa Vĩnh Trấn Chi Bảo”. Chiếc ấn này đã được lưu truyền cho đến các vua nhà Nguyễn sau này.


Quốc Chúa mất vào tháng 4 năm Ất Tỵ (1725), ở ngôi 34 năm. Trong suốt thời gian trị vì, chúa Nguyễn Phúc Chu đã tận dụng hầu hết thời gian vào công cuộc mở mang đất nước cũng như thực hiện nhiều chính sách tiến bộ ổn định và phát triển xã hội ở Đàng Trong vào đầu thế kỷ 18. Trong đó phải nói đến kế sách ngoại giao buôn bán với nước ngoài nhằm nâng cao học hỏi và kim nghạch cho ngân khố Đàng Trong. Chúa còn ủng hộ Phật pháp, xây dựng và kiến tạo nhiều chùa chiền, pháp khí để lại cho mai hậu một di sản đồ sộ làm tiền đồ cho xứ Huế trở thành chiếc nôi của Phật giáo sau này.


2. Sự nghiệp hộ trì Phật giáo


Ngoài công cuộc mở mang đất nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia, tiến hành cải cách nâng cao chất lượng giáo dục, chế độ ưu đãi đối với người di dân khai hoang lập nghiệp, thưởng phạt công minh, chiêu hiền đãi sỹ, Quốc chúa còn đặt biệt chú trong đến vấn đề an dân, phát triển tâm linh cho xã hội, trong đó lấy tư tưởng Phật giáo là trọng. Mặc dù có vấn đề “Cư Nho Mộ Thích” vào thời kỳ này, nhưng ai cũng hiểu rõ Nho giáo ở Trung quốc thật sự chỉ áp dụng trong thi cử và chốn quan trường; kiến thức Nho học như một loại giấy thông hành cho quan trường và làm giàu, vì bất đắc dĩ không có một hình thức nào khác cho chế độ phong kiến lựa chọn. Trên thực tế Nho giáo đã suy đốn trong thời nhà Hán và cũng là nguyên nhân làm cho xã hội Trung Quốc đi vào phân liệt.[6] Ở Việt Nam tuy có ảnh hưởng Nho giáo nhưng kinh điển của Nho gia khô khan và buồn tẻ, người ta học cũng chỉ vì thi cử, tham vọng trong hoạn lộ, hoặc là tấm bằng để vinh gia phì tộc.


Nhìn thấy được thực tế tư tưởng và xã hội lúc bấy giờ, để an dân trong thời sơ khai mở cõi, Chúa nhận thấy vấn đề tâm linh đúng đắn nhất chỉ có Phật giáo mới đảm nhận trọng trách. Trong mỗi đoàn người đi về hướng Nam của tổ quốc khai hoang, trong đó gồm nhiều thành phần, binh tướng, dân quân, người di dân, một mặt nỗi nhớ xa quê ở vùng đất hứa, phong thổ tập quán thì khác chướng khí, thế lực thù địch lăm le, vì thế Chúa cử một tu sỹ Phật giáo đi theo để hộ trì. Quả thật đúng như vậy, đoàn người đi đến đâu việc trước tiên là mở chùa làng, đáp ứng đời sống tâm linh dân gian, cho xây chùa làng làm nơi sinh hoạt tập thể và cầu nguyện, từ đó lễ hội Phật giáo có cơ hội phát triển. Hiện nay nhiều chùa làng từ miền Trung trở vào Nam có nhiều dấu ấn của Chúa để lại trên tự ngạch, hoành phi sắc tứ, làm một minh chứng sống cho văn hóa Phật giáo Việt Nam ở thời kỳ này.


Những chuyến khảo sát thực địa ở những làng quê cho thấy hiện có nhiều chùa chiền có tự ngạch do chính tay chúa ngự bút đề đại tự hoặc lạc khoản với dòng “Đạo Nhân Thư” trên các hoành phi đối liễn hoặc trên đồ sứ kí kiểu. Đặc biệt ở Huế, chùa làng là một hệ thống chùa được đánh giá là có mặt sớm nhất so với cả quốc tự và hệ thống chùa quan đều thua kém về mặt lịch sử,[7] thì một số có được ân sủng này như chùa Hà Trung, chùa Kim Sơn… Mỗi lần đi thực địa hoằng pháp nhìn thấy những chùa làng tuy khiêm tốn bên lũy tre làng, giếng nước, gốc đa nhưng đi vào khi nhìn thấy tự ngạch, hoành phi, đối liễn có dấu ấn của Quốc Chúa thì không khỏi cảm phục. Chúng ta liền nghĩ đến những bậc chuyển luân hộ trì Phật pháp trong lịch sử Phật giáo, nếu nói rằng đại đế A Dục Vương ở Ấn Độ cho dựng bia đá và thạch trụ ở những thánh tích Phật giáo đánh dấu những sự kiện của cuộc đời đức Phật Thích Ca để đời sau đến chiêm bái; hoặc vua Lương Võ Đế ở Trung Quốc từng xây hàng ngàn ngôi chùa, ủng hộ và cúng dường cho hàng ngàn tu sỹ, đặc biệt là đã tự thân xuất gia và khuyến khích ăn chay; thì Chúa Nguyễn Phúc Chu cũng đóng góp công lao như vậy trong việc xây dựng chùa chiền, ủng hộ Tăng Ni, lập bia, đúc chuông, để lại những dấu ấn cho di sản văn hóa tâm linh và vật chất cho văn hóa Phật giáo Việt Nam với một công đức không hề thua kém.


Đặc biệt hơn và dễ thấy nhất là Chúa đã đích thân cho người gửi thư cung thỉnh các cao Tăng ở Trung Quốc sang Việt Nam truyền bá, trong đó Thích Đại Sán là một điển hình. Việc Chúa Nguyễn Phúc Chu ban hiệu cho sư Nguyên Thiều là Hạnh Đoan Thiền Sư cho thấy được Chúa đã thâm tín Phật giáo; về mặt chính trị đã khẳng định vai trò ngang hàng so với các quốc gia trong khu vực. Tiếp đó vào năm 1694, Chúa cho sứ sang Quảng Đông cung thỉnh sư Thạch Liêm sang Việt Nam truyền giáo, chấn chỉnh Phật giáo Đàng Trong. Dưới sự chủ trì của Sư Thạch Liêm, giới đàn Tam Đàn Cụ túc được sự ủng hộ của Chúa đã tổ chức một cách trọng thể với hơn một ngàn giới tử.[8] Chúa thành tâm quy y làm đệ tử với Sư Thạch Liêm với pháp danh Hưng Long, hiệu Thiên Túng Đạo Nhân. Qua pháp danh và hiệu mà Sư Thạch Liêm đặt cho Chúa thể hiện một bậc quốc vương hộ trì và rất mực tím mộ Phật giáo, đọc Hải Ngoại Kỷ Sự cho chúng ta thấy tình thầy trò không biên giới của hai nước quá đẹp, không những để lại ấn tượng trong tình đạo mà còn thể hiện một lối ngoại giao tinh tế bằng mối tâm giao, chỉ có trong Phật giáo mới có được, một cẩm bào một cà sa, một quân vương một pháp vương.


Nếu không theo chủ‎ ý của tác giả Hải Ngoại Kỷ Sự, chỉ chiếu theo những sự kiện, thì việc giới tử đến đăng kí thọ Tam Đàn Cụ Túc tại giới đàn ở chùa Thiền Lâm tại Thuận Quảng với con số trên một ngàn giới tử, chứng tỏ Phật giáo Đàng Trong lúc bấy giờ rất phát triển dưới sự ủng hộ của Chúa Nguyễn Phúc Chu và một số danh Tăng đương thời đang hành hóa ở đất Thuận Quảng, trong đó phải nói nhưng vị Thiền sư tên tuổi như Thiền Sư Liễu Quán và Hải Hương…, đồng thời ở các chùa lớn Huế đã có nhiều Lão tổ người Trung Quốc đang trú trì.


Một bằng chứng cụ thể là Chúa đã cho trùng tu chùa Linh Mụ, đúc một chiếc chuông lớn vào bậc nhất nhì Việt Nam thời bấy giờ vào mùa Phật Đản năm Canh Dần (1710), cao 2.50m, đường kính 1.40m, nặng 3.285 kg, với nhiều hoa văn tinh tế, kỹ thuật tinh luyện. Trong bài viết Tiếng Chuông Linh Mụ: 300 Mùa Phật Đản Đi vào Hồn Thiêng Sông Núi của Thích Đạt Bảo viết: “Chuông Linh Mụ được ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử hết sức đặc biệt, nhân mùa Phật Đản năm Canh Dần, Chúa Nguyễn Phúc Chu cùng tín đồ Phật tử, trong đó có cả các quan chức cao cấp của triều đình tổ chức lễ Chú Chung. Họ cùng nhay góp nhiều tiền của và đồ đồng cùng các thứ trang sức quí cho công việc đức chuông, biểu hiện một tinh thần đoàn kết tâm linh thiêng liêng. Phải nói rằng sự đồng tâm hiệp lực này đã nói lên tinh thần của mọi người lúc này là rất cần thiết và đi suốt cả một vận mệnh đất nước sau này. Chính vì vậy mà quả chuông mang trong mình một dấu ấn lịch sử sâu đậm, một giá trị tâm linh siêu trần thoát tục, một âm thanh huyền diệu với hồn thiêng song núi.”[9] Đúng như vậy, tiếng chuông Linh Mụ có một sứ mệnh tâm linh như thế nên tiếng chuông đã đi vào lòng người một cách thắm thiết trong lời ca dao: “Gió đưa cành trúc là đà, tiếng chuông Linh Mụ canh gà Thọ Xương.”


Chủ ý của việc Chúa cung thỉnh các cao Tăng Trung Quốc sang Việt Nam là để giao lưu học hỏi chứ không phải Phật giáo ở Việt Nam lúc bấy giờ không có kỷ cương như trong Hải Ngoại Kỷ Sự đã viết.[10] Nếu đã là không có kỷ cương làm sao “có đến 1400 tân giới đệ tử mặc áo cà sa cầm bình bát, cử hành lễ cổ Phật khất thực và tạ ân Quốc chúa đã thành tựu công đức.”[11] Dưới sự chứng minh của Sư Đại Sán, Chúa còn phát tâm mở nhiều đàn truyền giới như ngày 1 tháng 4 lễ truyền giới Sa-Di, Quốc chúa mở đàn chay dâng lễ và mời Sư Đại Sán đăng đàn thuyết pháp. Qua ngày Phật Đản (mồng 8 tháng 4) Chúa cho khai đàn ở Nội Viện, có quốc mẫu, côn chúa, hậu cung, quyến thuộc đồng thọ Bồ Tát Giới. Sau đại lễ Tam Đàn Cụ Túc ở chùa Thiền Lâm, Chúa cúng dường cơm chay và dâng trà cho các Tân Giới Tử, ban thêm 300 quan tiền, 100 thạch gạo sai lính gánh đến chùa, lại phát giới điệp có đóng ấn triện của Chúa cho các Giới Tử.[12] Với hàng loạt trai lễ và đàn tràng tụng niệm, Chúa thân chinh đứng lễ cầu nguyện, không ngại quỳ hàng giờ, mục đích không ngoài việc tỏ lòng kính ngưỡng Phật giáo và cầu cho quốc thái dân an, làm gương cho bá tánh quy y Phật giáo.


Xem bản đính kèm Sơ Đồ Hành Chính Đàng Trong ở trong sách 34 Năm Cầm Quyền Của Chúa Nguyễn Phúc Chu của Lê Đình Cai chúng ta có thể thấy được Hồng Lô Tự là một bộ phận chính yếu của triều chính. Một cơ quan tôn giáo cao cấp chuyên chăm lo việc xây dựng và ủng hộ việc tôn giáo, có quốc sư tham vấn việc ngoại giao và cố vấn kế sách quốc gia. Điều này chứng tỏ dưới sự hộ trì Phật pháp của Chúa Nguyễn Phúc Chu, Phật giáo thời kỳ này đã đóng góp nhiều Phật sự to lớn trong việc ổn định xã hội và văn hóa Việt Nam.


Việc tu bổ chùa chiền và hộ trì Phật giáo của Chúa thể hiện tấm lòng tín mộ Phật giáo sâu sắc, ủng hộ Tăng Ni tu học, khuyến khích dân chúng kể cả hoàng thân quốc thích thọ giới quy y Tam Bảo. Lúc sư Đại Sán trở về nước có nói chuyện xây dựng chùa Trường Thọ ở Quảng Đông chưa hoàn thiện, Chúa không ngại ngùng cúng dường “tùy ý xây cất, hao tốn bao nhiêu ta chẳng tiếc”.[13]


Ngoài ra Chúa Nguyễn Phúc Chu còn có tài thi phú, Chúa để lại nhiều bài minh khắc ở bia và chuông chùa như trên chuông Linh Mụ có khắc bài minh, và những bài thơ tả cảnh chùa hoặc cái đẹp của Thiền môn như bài thơ Thiên Mụ Hiểu Chung và Hà Trung Yên Vũ in trên đồ sứ kí kiểu.[14]


3. Thay lời kết


Trong 34 năm trị vì, Chúa Nguyễn Phúc Chu đã hết lòng hộ trì Phật pháp, xây dựng nhiều chùa chiền, ủng hộ Tăng Ni, một lòng quy y Tam Bảo, tạo nhiều cơ hội cho Phật giáo phát triển. Nhờ vậy mà Chúa đã ổn định được tình trạng loạn lạc của đất nước, cải cách học thuật tư tưởng. Đặt biệt là phát huy giáo lí nhà Phật để nâng cao đời sống xã hội và ổn định quần chúng. Định vị cho một nước Việt Nam chủ quyền và hùng mạnh sau này.


Chí hướng của Chúa được thể hiện trên một bài minh do chúa viết trên chiếc chuông đồng tại chùa Thiên Mụ đúc năm 1710: “Duy nguyện phong điều vũ thuận, quốc thái dân an, pháp giới chúng sinh đồng viên chủng trí.” Tất cả đó là một ước vọng của Chúa về một quốc gia độc lập, có quốc hiệu riêng, đã hiện hữu một cách cương quyết trong tâm trí của Chúa mà về sau hậu thế đã cố gắng hun đúc thành một quốc hiệu Việt Nam thân thương và nghiễm nhiên nhờ sự sự hộ trì và tín mộ của Chúa và những cao Tăng thạc đức đã không ngừng nổ lực tu học và phát triển làm cho miền Thuận Quảng trở thành một chiếc nôi của Phật giáo Việt Nam còn ảnh hưởng cho đến ngày nay.


__


[1]Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả, Hội Đồng Trị Sự Nguyến Phước Tộc, NXB Thuận Hóa, 1995.


[2]Xem bài tựa của Hải Ngoại Kỷ Sự, Thích Đại Sán, Viện Đại Học Huế, Ủy Ban Phiên Dịch Sử Liệu Việt Nam, 1963.


[3]Dẫn theo cước chú của Nguyễn Thị Huệ trong tham luận tại hội thảo ở Thanh Hóa ngày 18-19/10/2008, với nhan đề “Sự Thịnh Suy của Hoạt Động Ngoại Thương Đàng Trong Thế Kỷ XVII-XVIII”,  cho biết trong 13 năm (từ 1604 đến 1616) có 186 thuyền buôn Nhật được cấp châu ấn đến với các nước Châu Á. Trong đó 11 chiếc đến Đàn Trong và 42 chiếc đến Đàn Ngoài, đến Chăm-pa 5 chiếc, đến Campuchia 25 chiếc, đến Xiêm 37 chiếc, Philiipin 34 chiếc, đến Nam trugn Quốc 18 chiếc, các nước khác 18 chiếc.


[4]Hải Ngoại Kỷ Sự, sđd, tr. 92-95.


[5]Tham luận hội thảo khoa học Chúa Nguyễn và Vương Triều Nguyễn tại Thanh Hóa, Trần Đức Anh Sơn, “Quốc Chúa Nguyễn Phúc Chu và Những bài Thơ Trên Đồ Sứ Kí Kiểu”, tr. 646.


[6]Xem Arthur Waley, “The Fall of Loyang” (Thành Lạc Dương Thất Thủ), (History Today, No. 4, 1951), tr. 8.


[7]Xem Lê Quang Thái, Cảnh Tượng Chùa Làng Ngày Xưa Ở Hóa Châu, Bản Tin Phật Đản số 4, PL. 2554, Ban Trị Sự GHPG Thừa Thiên Huế, tr. 1.


[8]Hải Ngoại Kỷ Sự, sđd, tr. 72


[9]Thích Đạt Bảo, “Tiếng Chuông Linh Mụ: 300 Mùa Phật Đản Đi Vào Hông Thiêng Sông Núi”, Bản Tin Phật Đản số 2, PL. 2554, tr. 1.


[10]Hải Ngoại Kỷ Sự, sđd., tr. 43-49.


[11]Lê Đình Cai, 34 Năm Cầm Quyền Của Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), Đăng Trình, 1971, tr. 70.


[12]Hải Ngoại Kỷ Sự, sđd., tr. 73-87


[13]Hải Ngoại Kỷ Sự, sđd, tr. 201.


[14]Trần Đình Sơn, Tản Mạn Phú Xuân, NXB Trẻ, 2001, tr. 40.


HT. Thích Khế Chơn


vncphathoc.com


Quốc chúa- Bồ tát Nguyễn Phúc Chu: Người vận dụng tư tưởng Phật giáo vào việc trị quốc và mở mang bờ cõi


Câu chuyện trong tuần kỳ này xin giới thiệu cùng độc giả một bài viết về lịch sử, được gợi mở từ Hội thảo “Chúa - Bồ tát Nguyễn Phúc Chu (1675-1725) và sự nghiệp mở mang bờ cõi phát triển đất nước” diễn ra vào ngày 22-23/8/2011, tại Thư viện Khoa học Tổng hợp TP.HCM, do Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam và Viện Nghiên cứu Tôn giáo phối hợp tổ chức.


Trong quá trình phát triển, triều đại nào cũng có những bối cảnh riêng, vì thế đặt một nhân vật lịch sử vào những biến động khách quan của thời cuộc, là cơ hội để trả lại cho lịch sử những điều gần với sự thật nhất. Hội thảo “Chúa - Bồ tát Nguyễn Phúc Chu (1675-1725) và sự nghiệp mở mang bờ cõi phát triển đất nước” đã phần nào làm được điều đó, bằng việc cung cấp nhiều nguồn tư liệu khác nhau, và dẫu còn những giới hạn trong đánh giá, song cũng đủ để thống nhất một số luận điểm quan trọng trong sự nghiệp của chúa Nguyễn Phúc Chu qua các tham luận và phát biểu, công bố tư liệu của đại biểu.


Chùa Linh Mụ, nơi còn giữ nhiều dấu tích về Quốc chúa Bồ tát Nguyễn Phúc Chu


Cụ thể trong tiến trình mở cõi từ chúa Nguyễn Hoàng đến chúa Nguyễn Phúc Chu, các nhà nghiên cứu đã thống nhất được những điểm căn bản của quá trình này, đó là định hình được một cục diện chính trị, một đời sống văn hóa, tôn giáo dựa trên nền tảng tư tưởng đạo Phật, một xã hội no đủ, một chính sách linh hoạt, hài hòa và quan trọng nhất là một lãnh thổ được hình thành rõ nét, tương ứng với lãnh thổ Việt Nam hiện đại, bao gồm cả đất liền và các quần đảo trên biển Đông.


Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu thọ Bồ tát giới tại gia, được ban pháp danh Hưng Long, đạo hiệu Thiên Túng. Thầy của chúa là Hòa thượng Thạch Liêm (Thích Đại Sán) thuộc dòng Tào Động Trung Hoa. Thừa hưởng truyền thống tín Phật của gia đình, nhận được sự truyền thừa của Hòa thượng Thạch Liêm, chúa Nguyễn Phúc Chu đã ý thức rất rõ việc thọ giới để trở thành hành giả thực thụ trên con đường hành Bồ tát đạo, với mục tiêu lấy hết thảy chúng sinh làm đối tượng phục vụ.


Nói như nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu về chính sách của chúa Nguyễn Phúc Chu: “Việt Nam hóa các dân tộc khác, tín ngưỡng khác và không chỉ thương người mình mà còn thương người của dân tộc khác, đó là tinh thần của Phật giáo Việt Nam”. Vì thế chỉ trong 34 năm trị quốc, chúa Nguyễn Phúc Chu đã vận dụng triết lý sống của Phật giáo vào việc mở mang bờ cõi, bình định được cả một vùng đất rộng lớn trải dài từ Khánh Hòa đến Hà Tiên và vùng Tây Nguyên, đặc biệt là khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa (như đã được ghi trong Hải ngoại kỷ sự của Hòa thượng Thích Đại Sán).


Bản chất của chế độ phong kiến là “phong tước, kiến địa”, thông qua việc phân phong, cắt đặt chức vụ, cũng như chiếm lĩnh đất đai. Vì thế xuất hiện các dòng họ cát cứ, sau đó lớn mạnh và tổ chức thành các vương triều nhỏ, truyền ngôi theo huyết thống. Các vương triều nhỏ này trong quá trình tồn tại, họ phải củng cố và tổ chức quân đội, cũng như cắt đặt bộ máy hành chính để điều hành đất nước.


Tuy nhiên, trước sức ép đánh chiếm từ các quốc gia lớn, để tránh sự diệt vong, quá trình “quy tâm” đã diễn ra, nên các vương triều nhỏ buộc phải thần phục và cống nạp các quốc gia lớn. Sự thần phục này chỉ mang tính hình thức, và họ chỉ chờ đợi thời cơ nước khác suy yếu là tiến hành những cuộc chinh phục bằng quân sự.


Chính quá trình nội chiến (chiến tranh giữa các dòng họ), ngoại xâm (chiến tranh giữa các nước lớn nhỏ) mà một số vương triều trở nên hùng mạnh, nhưng cũng có không ít vương triều chịu cảnh diệt vong. Đây là một thuộc tính khách quan của chế độ phong kiến, vì thế không cần phải né tránh khi bàn về vấn đề này, bởi thực tế khi ấy, biên giới quốc gia không hề được xác định một cách cụ thể như ngày nay.


Chúa Nguyễn Phúc Chu bình định phương Nam trong một bối cảnh lịch sử hết sức đặc biệt. Khi ấy ở Đàng Ngoài, vua Lê chỉ là bù nhìn, còn thực quyền rơi vào tay chúa Trịnh. Ở Đàng Trong, chúa Nguyễn vẫn được nhìn dưới con mắt là những loạn thần, phi chính thống, không chỉ đối với hoàng thất nhà Lê mà còn đối với Trung Hoa. Bởi Trung Hoa lúc đó chỉ công nhận nhà Lê là đại diện duy nhất cho Đại Việt.


 Tuy nhiên, trong bối cảnh nhà Minh (người Hán) đánh mất quyền cai trị, để đất nước vào tay nhà Thanh (người Mãn Châu - một bộ tộc nhỏ của Trung Hoa), những bại thần của nhà Minh như Dương Ngạn Địch, Mạc Cửu đã phải trốn chạy vào Đàng Trong, tạo nên những thế cuộc mới, phần nào uy hiếp đến sự ổn định của các vương triều nhỏ tại đây. Sự xuất hiện của lực lượng này, dẫu chỉ là những bại thần của nhà Minh, nhưng vẫn có những thuyết phục nhất định trước triều đại nhà Thanh, một triều đại được lập nên bởi một bộ tộc nhỏ, người Hán.


Trước tình thế ấy, các chúa Nguyễn từ chúa Nguyễn Hoàng, chúa Nguyễn Phúc Tần… đến chúa Nguyễn Phúc Chu đã khéo léo thu phục những cánh quân đến từ Trung Hoa này để ổn định tình hình tại Đàng Trong. Việc các chúa tiếp nhận hai dòng thiền Tào Động và Lâm Tế trực tiếp từ Trung Hoa, với các vị thiền sư nổi tiếng như Nguyên Thiều, Thạch Liêm cũng đã chiếm được cảm tình của một bộ phận lưu dân là người Hoa.


Sở dĩ nói đây là một bối cảnh đặc biệt, vì các vương triều tại vùng đất này đã phải đối đầu trực tiếp với các lực lượng “không chính danh”, đang không còn lựa chọn nào khác hơn là phải Nam tiến. Cho nên khi các lực lượng “không chính danh” này xuất hiện đã vô tình biến những vùng đất ở phương Nam vào thế tranh chấp phi chính thống và phi truyền thống.


 Có nghĩa rằng, trước đây, lúc mạnh lúc yếu, Chiêm Thành luôn có những đối đầu truyền thống với Đại Việt và sự “phân xử” vẫn thuộc về Trung Hoa. Vì vậy, nếu bình định phương Nam trên danh nghĩa của một quốc gia thống nhất, một bộ máy cai trị Nho giáo, ảnh hưởng sâu đậm bởi Tống Nho như trước đó Lê Thánh Tông và một số người khác đã làm, thì chắc chắn không chỉ khó tiến đánh mà còn khó giữ, bởi Trung Hoa khi ấy không muốn Đại Việt lớn mạnh, nhất định sẽ can thiệp, tìm cớ chinh phạt, rất có thể xung đột chiến tranh, xung đột văn hóa, tôn giáo giữa Việt và Chiêm sẽ khó khăn và dai dẳng hơn rất nhiều.


Chúa Nguyễn Phúc Chu đã vận dụng tư tưởng Phật giáo vào việc trị nước và mở mang bờ cõi với một nhãn quan chính trị sắc bén. Việc lựa chọn Phật giáo trong môi trường đa văn hóa cần được đặt trong tình thế đối kháng Trung Hoa (vùng ảnh hưởng của Trung Hoa), bởi những vương triều này từ lâu đã ảnh hưởng sâu đậm bởi văn hóa và văn minh Ấn Độ.


 Quan niệm chúng sinh bình đẳng của Phật giáo đã phần nào xóa mờ tương quan cai trị - bị trị. Thế nên, điều quan trọng trong quá trình Nam tiến của các chúa Nguyễn không chỉ ở việc dụng binh mà còn ở nhận thức về việc có giữ được đất hay không, giữ bằng cách nào để có thể khoan sức dân và không gây nên những thù hận sắc tộc, tôn giáo về sau. Việc dụng binh đồng thời với việc tiếp nhận Phật giáo Trung Hoa khi ấy, không phải là quá trình ly khai với nền văn hóa truyền thống, mà chính tiếp xúc ấy lại là một cơ duyên lớn để nhà lãnh đạo như Nguyễn Phúc Chu có thể dễ dàng dung hòa lợi ích và chinh phục được những bại binh của nhà Minh bỏ nước vào Đàng Trong, phục vụ cho công cuộc bình định phương Nam.


Có thể nói, Hội thảo “Chúa - Bồ tát Nguyễn Phúc Chu (1675-1725) và sự nghiệp mở mang bờ cõi phát triển đất nước” lần này đã thống nhất khẳng định chúa Nguyễn Phúc Chu là người ghi dấu ấn đậm nét nhất trong tiến trình mở mang bờ cõi, phát triển đạo Phật tại Đàng Trong, bổ túc cho những cách nhìn chưa thật công bằng và khách quan liên quan đến sự nghiệp của các chúa Nguyễn.


Cho đến nay, mảnh đất từ phía Nam Hoành Sơn trở vào vẫn phù hợp với nhận thức cho một tiến trình thương mại vươn ra biển lớn và không thể không gợi nhắc đến những tính cách Ấn, thậm chí linh hồn Ấn như một sự đối kháng Trung Hoa mạnh mẽ. Lịch sử Việt Nam luôn đầy những biến động thăng trầm, song nói như nhà thơ Nguyễn Duy: “Bao triều vua phế đi rồi. Người yêu nước chẳng mất ngôi bao giờ”.


Thích Thanh Thắng


 


giacngo.vn

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Không vỉa hè, những con đường bắt người Sài Gòn đi bộ 'phải phạm luật giao thông' - Nhiều tác giả 24.03.2017
Tôn Vũ (Tôn Tử) & Binh pháp Tôn Tử - Tư liệu 23.03.2017
Tôn Tẫn, Bàng Quyên - Tư liệu 23.03.2017
Danh nhân Đông Tây kim cổ (3) - Lương Văn Hồng 23.03.2017
Kho báu trong lăng Thoại Ngọc Hầu: Chiếc mão trang trí bằng 5 lượng vàng ròng - Lương Chánh Tòng 22.03.2017
Kho báu trong lăng Thoại Ngọc Hầu: Chiếc kính mắt châu Âu - Lương Chánh Tòng 22.03.2017
Rao bán vỉa hè giá trăm triệu - Tư liệu 20.03.2017
Chợ Cũ Sài Gòn - Lê Văn Nghĩa 19.03.2017
Ảnh hưởng của Trung Quốc đối với chế độ Pol Pot - Tư liệu 19.03.2017
Người Trung Quốc viết về nạn diệt chủng của Khmer Đỏ - Nguyễn Hải Hoành 19.03.2017
xem thêm »