tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21313321
Những bài báo
17.12.2015
Tư liệu
Phúc Nguyên, Phúc Tần, Tư Chính, Quế Đường: tên những nhà giàn DK1, cột mốc chủ quyền Việt Nam ở Nam Biển Đông

Nguyễn Phúc Nguyên


Sãi vương (chữ Hán: 阮福源; 1563 – 1635) là vị chúa Nguyễn thứ hai của chính quyền Đàng Trong trong lịch sử Việt Nam (ở ngôi từ 1614 đến 1635) sau chúa Tiên Nguyễn Hoàng. Trong thời gian ở ngôi chúa, ông đã xây dựng một vương triều độc lập ở Đàng Trong, từng bước ly khai khỏi chính quyền vua Lê - chúa Trịnh ở Đàng Ngoài. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên được dân chúng gọi là chúa Sãi, chúa Bụt hay Phật chúa.


Nguyễn Phúc Nguyên là con thứ sáu của chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1525-1613) và một bà vợ họ Nguyễn. Ông sinh ngày 28 tháng 7 năm Quý Hợi, tức ngày 16 tháng 8 năm 1563.


Nguyễn Phúc Nguyên là người đầu tiên trong dòng dõi chúa Nguyễn mang họ kép Nguyễn Phúc. Tương truyền lúc mang thai, mẹ ông chiêm bao thấy có vị thần đưa cho một tờ giấy trên có đề chữ "Phúc". Lúc kể lại chuyện, mọi người chúc mừng bà và đề nghị đứa bé ra đời được đặt tên là "Phúc"[2]. Nhưng bà nói rằng, nếu chỉ đặt tên Phúc cho đứa bé thì chỉ một mình nó hưởng, để cho nhiều người trong dòng họ được hưởng phúc, bà đề nghị lấy chữ này làm chữ lót. Và khi thế tử ra đời bà đặt tên là Nguyễn Phúc Nguyên[2].


Trong các con của Nguyễn Hoàng, người con đầu là Nguyễn Hà, con thứ là Nguyễn Hán, con thứ ba là Nguyễn Diễn và con thứ tư là Nguyễn Thành đều đã mất sớm; người con thứ năm là Nguyễn Hải ở lại Bắc Hà làm con tin, chỉ còn Nguyễn Phúc Nguyên là người đủ khả năng và điều kiện để kế nghiệp cha.


Năm 1585, khi mới 22 tuổi, Thế tử Nguyễn Phúc Nguyên dẫn một hạm đội 10 chiếc đến bến Cửa Việt, tiêu diệt hai chiếc tàu hải tặc Shirahama Kenki[3][4] (Bạch Tần Hiển Quý), người Nhật Bản. Chúa Tiên vui mừng khen rằng: Con ta thực là anh kiệt.[1]


Năm Nhâm Dần (1602), Nguyễn Phúc Nguyên được cử đến trấn thủ dinh Quảng Nam[1].


Điều hành Đàng Trong


Tháng 6 năm Quý Sửu (1613), chúa Tiên Nguyễn Hoàng mất, các quan vâng di chiếu tôn Phúc Nguyên làm Thống lãnh Thuỷ bộ Chư dinh kiêm Tổng Nội ngoại Bình chương Quân quốc Trọng sự Thái bảo Thụy Quận công.[1]. Bấy giờ ông đã 51 tuổi. Ông còn được vua Lê Kính Tông (1599 - 1619) sắc phong làm trấn thủ hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam gia hàm Thái bảo, tước Quận công[1][5].


Năm 1620, 2 người em là Nguyễn Phúc Hiệp và Nguyễn Phúc Trạch âm mưu nổi loạn thông đồng với họ Trịnh. 2 người này đem quân chiếm kho Ái Tử và đắp lũy Cồn Cát để làm phản. Chúa sai người đến dỗ song họ không chịu nghe. Sau Chúa cùng tiên phong Tôn Thất Tuyên đem đại binh đi đánh. 2 người em thua chạy bị bắt được. Chúa định tha nhưng các tướng đều khuyên ngăn, cuối cùng 2 người chỉ bị giam vào ngục.


Năm 1622, Chúa Sãi cho đặt dinh Ai Lao, do đất này có sông Hiếu là giáp ranh với đất Ai Lao và các bộ lạc Man Lục Hoàn, Vạn Tượng, Trấn Ninh, Quy Hợp. Mộ dân các nơi chia làm 6 thuyền quân để coi giữ.


Năm 1626, Chúa cho dời cung phủ về làng Phước Yên, xã Phúc Yên, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên.[1]


Được sự tiến cử của Khám lý Trần Đức Hòa, Chúa Phúc Nguyên đã thu dụng Đào Duy Từ (1572 - 1634). Nhờ có sự hiến kế của Đào Duy Từ, ông đã cho xây Lũy Thầy (lũy Trường Dục, lũy Nhật Lệ và lũy Trường Sa). Tạo thành một thế vững chắc cho xứ Đàng Trong, gây dựng chính quyền độc lập với Đàng Ngoài.


Do nhu cầu phát triển lực lượng chống Trịnh, Chúa mời cha con nhà Jean De La Croix (Bồ Đào Nha) từ Hội An ra Huế giúp nhà Chúa mở xưởng đúc vũ khí đạn dược. Jean De La Croix cần có nơi hành lễ hàng tuần và sau đó nhà thờ Cơ đốc giáo đầu tiên xuất hiện trên đất Huế.


Năm 1631, Chúa lập ra sở đúc súng đại bác, mở trường bắn, trường tập voi, tập ngựa, cứ hằng năm luyện tập để phòng bị chiến tranh.


Chúa Phúc Nguyên đã tiến hành cải tổ lại bộ máy hành chính. Lãnh thổ được chia theo Thừa Tuyên hay Xứ, phân thành Chính Dinh, Dinh ngoài. Dưới dinh là các phủ huyện. Được chia ra 7 dinh: Chính Dinh (Phú Xuân), Cựu Dinh (Ái Tử – Quảng Trị), Quảng Bình, Vũ Xá, Bố Chính, Quảng Nam và Trấn Biên.


Mỗi dinh có thể coi như một tỉnh hiện nay. Hành chính có chức quan lưu thủ đứng đầu, quân sự thì có chức quan tuần thủ chỉ huy.


1 năm sau khi lên ngôi Chúa (năm 1614), Nguyễn Phúc Nguyên quyết định bãi bỏ Đô ty, Thừa ty, Hiến ty, là thiết chế quân sự của hệ thống chính quyền nhà Lê.


Trong các năm 1614 và 1615, ông tổ chức lại việc cai trị, đặt ra tam ti tại Chính dinh và các chức lệnh sử để trông coi mọi việc, định qui chế các chức vụ ở phủ, huyện, phân chia ruộng đất ở thôn xã[1].


Tam ti là: Xá sai ti, Tướng thần lại ti, Lệnh sử ti.


    Xá sai ti: giữ việc từ tụng văn án. Có quan Đô tri, Ký lục làm đầu.


    Tướng thần lại ti: giữ việc thu tiền thu thuế, chi phát lương thực cho quan các đạo. Có quan cai bạ làm đầu.


    Lệnh sử ti: giữ việc tế tự, tết nhất và việc chi cấp lương cho quân ở Chính Dinh. Có quan Nha úy làm đầu.


    Mỗi ti lại có quan 'Cai hợp', 'Thủ hợp' và các lại ti để làm mọi việc.


Bên cạnh đó còn các ty Nội Lệnh sử kiêm coi các thứ thuế, Tả Lệnh sử và Hữu Lệnh sử chia nhau thu tiền sai dư ở hai xứ về nộp Nội phủ.


Tại các dinh ở ngoài, tuỳ theo từng nơi, có nơi Chúa chỉ đặt một Lệnh sử ti kiêm cả việc Xá sai ti và Tướng thần lại ti, nhưng cũng có nơi đặt hai ti là Xá sai ti và Tướng thần lại ti, có nơi thì đặt Xá sai ti và Lệnh sử ti để coi việc quân dân, đinh điền, sổ sách, từ tụng, thuế khóa... nghĩa là tùy nơi quan trọng hay là không, mà thêm bớt quan viên.


Đầu năm 1615, các quy chế mới về chức trách và quyền hạn của các phủ, huyện được ban hành. Theo quy chế này thì ở phủ huyện, Tri phủ, Tri huyện coi việc từ tụng; các thuộc hạ thì có: Đề lại, Thông lại chuyên việc tra khám. Huấn đạo, Lễ sinh chuyên việc tế tự ở chỗ sở tại. Còn việc thu thuế thì đặt quan khác để coi về việc ấy.


Về đàng quan võ thì đặt chức: chưởng đinh, chưởng cơ, cai cơ, cai đội để coi việc binh.


Quan lại ở Bắc Bổ được bổ vào xứ Thuận Quảng cho đến khi chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên không chịu nộp thuế cho nhà Lê.


Chiến tranh với quân Trịnh


Bản đồ thể hiện các địa danh.


Hoành Sơn- Sông Gianh- Cửa Nhật Lệ- Lũy Thầy


Năm 1600, Nguyễn Hoàng sau khi từ Bắc trở về Thuận Hóa đã quyết tâm đẩy mạnh xây dựng chính quyền độc lập. Tuy vẫn giữ quan hệ hoà hiếu với chính quyền Lê-Trịnh, hàng năm vẫn nộp thuế má, Nguyễn Hoàng đã tạo những cơ sở bước đầu tuy vẫn còn hết sức mong manh. Đây chính là điều ông trăn trở nhất và cũng là sự uỷ thác cao nhất cho người kế nhiệm Nguyễn Phúc Nguyên trước lúc qua đời.


"Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung. Anh em trước hết phải thân yêu nhau. Mày mà giữ được lời dặn đó thì ta không ân hận gì."[6]


"Đất Thuận Quảng phía Bắc có núi Hoành Sơn và sông Gianh hiểm trở, phía nam ở núi Hải Vân và núi Đá Bia vững bền. Núi sẵn vàng sắt, biển có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng. Nếu biết dạy dân luyện binh để chống chọi với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời. Ví bằng thế lực không địch được, thì cố giữ vững đất đai để chờ cơ hội, chứ đừng bỏ qua lời dặn của ta".[7]


Thực hiện di nguyện của cha, Nguyễn Phúc Nguyên đã từng bước xây dựng lực lượng nhằm ly khai hẳn với triều đình Lê-Trịnh. Cuộc chiến đầu tiên năm 1627 mở đầu cho 7 cuộc đại chiến kéo dài 45 năm giữa 2 chính quyền Trịnh- Nguyễn.


Cuộc chiến đầu tiên 1627


Năm 1620, Chúa Phúc Nguyên ngừng nộp thuế cho chính quyền Lê-Trịnh đàng ngoài[8] Năm 1624, nhân khi nhà Minh đang chống chọi với nhà Thanh, và nhà Mạc ở Cao Bằng bị diệt, Chúa Trịnh Tráng mới sai quan vào Thuận Hóa đòi tiền thuế từ ba năm về trước[9]. Chúa Sãi tiếp sứ nhưng không chịu nộp thuế. Chúa Trịnh lại sai sứ mang sắc vua Lê vào dụ Chúa Sãi cho con ra chầu, và đòi nộp 30 con voi cùng 30 chiếc thuyền để đưa đi cống nhà Minh. Chúa Sãi không chịu.


Chúa Trịnh thấy vậy, bèn quyết ý đánh họ Nguyễn. Tháng 3 năm 1627, sai Nguyễn Khải và Nguyễn Danh Thế đem 5000 quân đi làm tiên phong vào đóng ở xã Hà Trung (tục gọi là Cầu Doanh), còn Chúa Trịnh Tráng thống lãnh 20 vạn đại quân thủy bộ, hai đạo tiến vào hội binh ở cửa Nhật Lệ.


Chúa Sãi cử các tướng Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Phúc Vệ và Nguyễn Phúc Trung đón đánh.


Quân Trịnh chủ động tấn công nhưng không chọc thủng được tuyến phòng thủ của quân Nguyễn. Phía Nguyễn có lợi thế là đại bác kiểu Bồ Đào Nha nên làm quân Trịnh sợ chạy dạt. Hai tướng Trịnh là Nguyễn Khải và Lê Khuê đều thua chạy.


Trong lúc hai bên tiếp tục giằng co thì tướng Nguyễn Hữu Dật phao tin ở miền Bắc, Trịnh Gia và Trịnh Nhạc mưu phản. Chúa Trịnh Tráng nghi ngờ vội rút quân về bắc.


Năm 1630, Chúa Sãi đã làm theo kế của Đào Duy Từ trả lại sắc cho vua Lê - chúa Trịnh[10] và khuyên nên đánh lấy đất Nam Bố Chính [11] để lấy sông Gianh làm biên giới phòng thủ tự nhiên (09-1630).


Cuộc chiến thứ hai 1633


Khi quân Trịnh thu quân, Chúa Sãi theo kế của Đào Duy Từ gấp rút xây lũy Trường Dục (lũy Thầy) để phòng thủ.


Năm 1631, con trưởng của Sãi vương là Nguyễn Phúc Kỳ qua đời, con thứ hai là Nguyễn Phúc Lan được làm Thế tử, con thứ tư là Nguyễn Phúc Anh ra thay Kỳ trấn giữ Quảng Nam. Anh bất mãn vì không được lập làm thế tử, cho nên mưu thông đồng với chúa Trịnh, bèn viết thư hẹn làm nội ứng cho Trịnh Tráng.


Năm 1633, Thanh Đô Vương Trịnh Tráng rước vua Lê đem binh nam tiến lần thứ hai, đóng ở cửa Nhật Lệ như trước. Sãi vương cử Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến làm tướng ra đánh. Chúa Trịnh đang đợi suốt hơn 10 hôm không thấy hiệu làm nội ứng của Phúc Anh thì bị quân Nguyễn đánh úp, quân Trịnh hoảng loạn tan vỡ bỏ chạy. Thanh Đô Vương rút về bắc, để lại con rể là Nguyễn Khắc Liệt trấn thủ châu Bắc Bố Chính.


Hội An


Xem thêm: Phố cổ Hội An và Châu Ấn Thuyền


Hội An trong bức họa Giao Chỉ quốc mậu dịch độ hải đồ


Nhà Chúa Nguyễn Đàng Trong đã chú trọng phát triển ngoại thương, tận dụng ưu thế địa lý, yếu tố chính trị như nằm trên lối ra vào giao thương đường thủy Đông Á với phương Tây, Mạc Phủ Nhật Bản phải dùng Châu Ấn Thuyền để qua đây giao dịch mua bán hàng hoá (do nhà Minh cấm mua bán với Nhật Bản).


Chúa Nguyễn đã lập ở Hội An 1 hệ thống hành chính hoạt động rất hiệu quả (đặt tại Dinh trấn Thanh Chiêm) cách Hội An khoảng 10 km. Chính sách định cư lúc đó thoáng hơn cả. Người Nhật, người Hoa được định cư lâu dài, được lập phố riêng, gọi là phố Khách, phố Nhật. Thậm chí người Nhật, người Hoa được lập khu hành chính riêng, tự quản. Năm 1618, vị thị trưởng phố Nhật ở Hội An đầu tiên được Chúa Nguyễn công nhận là một chủ tàu kiêm nhà buôn tên là Furamoto Yashiro. Trong 19 địa điểm người Nhật đến buôn bán thì có 4 nơi họ được lập phố riêng.


Giáo sĩ Christoforo Borri đã cư trú tại Hội An năm 1618 miêu tả đô thị: Hải cảng đẹp nhất, nơi tất cả người ngoại quốc đều tới và cũng là nơi có hội chợ danh tiếng chính là hải cảng thuộc tỉnh Quảng Nam...


"Thành phố rộng rãi, có thể nhận ra hai khu vực, một khu vực do người Hoa ở, khu vực kia thì người Nhật Bản ở"


"Người Hoa và Nhật Bản là những thương nhân chủ yếu của chợ phiên, năm nào cũng mở và kéo dài trong bốn tháng. Người Nhật thường đem lại 4, 5 vạn nén bạc, người Trung Hoa thì đi một thứ thuyền buồm đem lại nhiều tơ lụa tốt và sản vật đặc biệt của họ".


"Do chợ này mà Quốc vương thu được số tiền thuế lớn, toàn quốc nhờ vậy cũng được nhiều lợi ích".


Đối ngoại


Lan Xang


Tháng 4, năm Tân Dậu (1621), bọn thổ mục Lục Hoàn (tức Lạc Hòn) thuộc Lan Xang thả quân qua sông Hiếu sang cướp bóc ở biên thùy, Sãi vương sai Tôn Thất Hòa đi đánh.


Hòa chia quân phục ở các đường trọng yếu, sai những lái buôn mua bán để nhử. Quả nhiên quân Man đến cướp nhưng bị phục binh bắt được hết đem về. Chúa muốn lấy ân tín vỗ về người đất xa, bèn sai cởi hết trói và thả về nên làm người Man cảm phục, từ đấy họ không quấy nhiễu nữa[1][12].


Chân Lạp


Về cuộc Nam tiến, Chúa Sãi dùng chính sách hoà bình với Chân Lạp (Campuchia). Năm 1620, ông chấp nhận lời hỏi cưới con gái ông của quốc vương Chân Lạp là Chey Chetta II, gả con gái là Ngọc Vạn cho Chey Chettha II[13]. Chey Chetta II đã xin chúa viện trợ vũ khí và quân đội để chống lại sự đe dọa của Xiêm La (Thái Lan). Trên thực tế thì Chúa Sãi đã chuẩn bị vũ khí và mộ binh giúp vua Chân Lạp, cung cấp cho ông này thuyền chiến và quân binh để cầm cự chống Xiêm[13].


Chúa Sãi hai lần giúp con rể Chey Chetta II đẩy lui quân Xiêm sang xâm lược. Giáo sĩ người Ý tên Christoforo Borri ở Quy Nhơn đã nhìn thấy viện binh từ Đàng Trong tiến sang Cao Miên, nên đã ghi lại trong cuốn Hồi ký của mình (xuất bản năm 1631) như sau: Chúa Nguyễn luôn luyện tập binh sĩ và gởi quân đội giúp vua Cao Miên, tức chàng rể chồng của con chúa. Chúa viện trợ cho vua Cao Miên thuyền bè, binh lính để chống lại vua Xiêm...[14]


Năm 1623, một sứ bộ Đàng Trong được cử tới Oudong, đem theo thư cùng nhiều tặng phẩm để tỏ tình thân hữu và bảo đảm sự ủng hộ của triều đình chúa Phúc Nguyên, và đã thương lượng thành công với vua Chey Chettha II, được chấp thuận nhượng vùng đất Mô Xoài[15], lập 2 thương điểm (đồn thu thuế) là Kas Krobei[16] và Prei Nokor[17] để tiến hành thu thuế.


Triều đình Đàng Trong còn phái tướng lĩnh đem quân đóng đồn binh ở Prei Nokor để bảo vệ lưu dân người Việt làm ăn, buôn bán, khai hoang và đồng thời giúp chính quyền Chân Lạp gìn giữ trật tự. Khi Chey Chetta II mất, vùng đất từ Prei Nokor trở ra Bắc đến biên giới Chiêm Thành (tức là Sài Gòn, Biên Hòa, Bà Rịa ngày nay) đã có nhiều người Việt đến ở và khai thác đất đai[18].


Chăm Pa


Năm 1629, lưu thủ Phú Yên là Văn Phong liên kết với người Chăm Pa nổi lên chống lại chúa Nguyễn[19].


Địch đã tập kết binh lực tại các căn cứ trên đất Kauthara (Bắc Khánh Hòa ngày nay) gần khu vực biên thùy tiếp giáp phủ Phú Yên của Đàng Trong, đại quân hai đường thủy bộ khẩn trương xuất kích.


Lũy Choại[20] nằm ở bờ Nam sông Đà Diễn[21] là một trong những tiền đồn kiên cố quân Nguyễn dựng lên từ thời Lương Văn Chánh mà cánh quân bộ của Chăm Pa phải dùng đại bác Bồ Đào Nha và voi chiến để vượt qua. Còn đoàn chiến thuyền sau khi tập kích yểm trợ bộ binh vượt sông ở cửa sông Đà Diễn, đã nhanh chóng tiến lên phía Bắc vào cửa biển Bà Đài. Tại đây, Văn Phong và lực lượng nội ứng của ông ta nhận được sự tiếp chiến của đại quân người Chăm, đã làm chủ phủ lỵ Hội An nằm kề trên bờ vịnh. Phủ Qui Nhân phía Bắc núi Cù Mông đặt trong tình trạng khẩn cấp, huy động binh thuyền ra cửa Thi Nại chặn đường tiến của hạm đội Chăm Pa và Văn Phong.


Tin Văn Phong làm phản về đến dinh Chúa. Do quân Trịnh có thể đánh bất cứ lúc nào, nguy cả mặt trên và dưới nên buộc Chúa Sãi phải tạm nhận sắc phong của sứ giả triều đình Lê – Trịnh và nhận lệnh chỉ ra Đông Đô đánh quân Mạc.


Chúa Sãi cử Phó tướng Nguyễn Hữu Vinh[22] đem quân dẹp yên, và đổi phủ Phú Yên thành dinh Trấn Biên[23].


Quân Trịnh đã không mở cuộc tấn công như mật tin tình báo, sau vài trận giao tranh thăm dò, nhận thấy binh lực đối phương có phần áp đảo, Văn Phong điều đình với các tướng lĩnh Chăm, để bảo toàn lực lượng đã cho quay về phòng thủ tại phía Nam dãy Đại Lĩnh. Văn Phong đã mang theo những thủ lĩnh, lãnh chúa địa phương mà ông hợp tác và đội quân do ông tập hợp được về với Chăm Pa cùng nhiều kho tàng, của cải.


Từ cuối thế kỷ 16, người Chăm phát triển ngoại thương rất mạnh, thường buôn bán với người Trung Hoa, Hà Lan, nhất là Bồ Đào Nha ở Ma Cao. Thương thuyền Bồ Đào Nha hay ghé buôn bán trao đổi với người Chiêm ở hải cảng Cam Ranh và Phan Rang. Sự liên hệ này khiến chúa Sãi lo ngại người Chăm sẽ liên kết với Bồ Đào Nha, để chống lại mình.


Năm 1631, chúa gả con gái là Ngọc Khoa (có sách gọi là Ngọc Hoa) cho vua Chăm Pa là Po Rome. Cuộc hôn phối này làm quan hệ Việt - Chăm diễn ra tốt đẹp[24][25]. Sự kiện này tạo sự ổn định cho Đàng Trong ở mặt phía Nam, giúp cho chúa Nguyễn có thể tập trung lực lượng để đối phó trước các cuộc tấn công của chúa Trịnh Đàng Ngoài.


Nhật Bản


Bức thư Thụy Quốc Công Nguyễn Phúc Nguyên gửi cho Tokugawa Ieyasu.


Trên thư đóng dấu ấn triện Trấn thủ tướng quân chi ấn (鎮守將軍之印), cùng dòng chữ: An Nam quốc thiên hạ thống binh đô nguyên soái Thụy Quốc công (安南國天下統兵都元帥瑞國公).


Thời Chúa Phúc Nguyên giao thương Việt - Nhật càng mở mang phát triển hơn. Chúa cho người Nhật mở thương điếm tại Hội An. Chúa đích thân viết thư mời các thương nhân nước ngoài vào làm ăn tại Hội An.


Năm 1634, Chúa Sãi gửi thư cho thương gia người Nhật là Toba, ông này được Chúa nhận làm con nuôi.


Năm 1619, Chúa Phúc Nguyên gả một con gái của mình cho Araki Sutaru[26] - một thương nhân người Nhật làm chủ cửa hàng lớn ở Hội An, và có tàu viễn dương[27]. Nhằm nhờ tàu của Araki đi mua kim loại, diêm tiêu từ Áo Môn, Quảng Đông và Trường Kỳ về. Nhờ vậy mà quân đội của chúa Nguyễn được trang bị rất đầy đủ và chống đỡ được các cuộc tấn công của quân Trịnh.[28].


2 ông con nuôi và con rể của Chúa Phúc Nguyên này đã cầm đầu 17 chiếc thuyền trong tổng số 84 chiếc thuyền buôn của Nhật đến Đàng Trong từ năm 1604-1635[29].


Chúa Nguyễn cũng có 1 loạt các bức thư trao đổi về ngoại giao và thương mại với chính quyền Mạc phủ Tokugawa (Nhật Bản) thời bấy giờ. Những văn bản An Nam Quốc Thư này hiện lưu trữ tại National Archives of Japan (国立公文書館).


Từ năm 1604 đến năm 1634 (Nguyễn Phúc Nguyên được giao là Trấn thủ dinh Quảng Nam năm 1602), Mạc phủ đã cấp 130 giấy phép đến 6 cảng thuộc khu vực tương đương với Việt Nam hiện nay. Riêng cảng Hội An có 86 thuyền được cấp giấy phép chiếm 25,98% số giấy phép cấp cho toàn bộ khu vực Đông Nam Á, gấp gần 5 lần tỷ số bình quân chung trong khu vực, chiếm 66,15% số giấy phép cấp cho toàn bộ khu vực Việt Nam, gấp 6 lần tỷ số bình quân chung cho Việt Nam[30].


Các sự kiện khác


    Năm 1624, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên gửi thư và tặng vật cho Toàn quyền Hà Lan ở Nam Dương (Inđônêxia) ngỏ lời mời thuyền buôn Hà Lan qua lại buôn bán với Đàng Trong.


    Cuối năm 1624, Linh mục Alexandre de Rhodes và 6 giáo sĩ dòng Tên đến Hội An. Năm 1634, Chúa Phúc Nguyên ra lệnh cấm truyền bá đạo Công giáo.


    Năm 1631-1636, các tàu biển thuộc Công ty Đông Ấn Hà Lan bị nạn tại quần đảo Hoàng Sa (thời đó gọi là Pracel) thuộc xứ Đàng Trong thời Chúa Phúc Nguyên có ghi chép như sau:


    "Ngày 20 tháng 7, các tàu này rời Vịnh Đà Nẵng, ngày 21 thì gặp bão ngoài khơi, nên lạc nhau. Chiếc tàu Vin-hu-zen tới Đài Loan ngày 2 tháng 8, chiếc Scha-zen tới ngày 10 cùng tháng. Riêng chiếc Grootebroek bị đắm gần đảo Paracel ở vĩ tuyến 17° Bắc. Thương gia Jean de Sormeau cùng 8 thủy thủy đoàn đã hy sinh. Trong số hàng hóa trị giá 153.690 florins, thì số hàng hóa chìm cùng tàu là 70.695 florins. Phần còn lại được thủy thủ cứu và cất dấu nơi an toàn tại đảo. Thuyền trưởng Huijich Jansen và 12 thủy thủ đi bằng thuyền nhỏ vào duyên hải xứ Đàng Trong...


    Thuyền trưởng Jansen làm báo trình về việc thuyền Grootebroek bị đắm tại Paracels và sự tịch thu 23.580 réaux bởi nhà chức trách xứ Đàng Trong.[31]


Qua đời


Sãi vương Nguyễn Phúc Nguyên qua đời năm 1635, hưởng thọ 73 tuổi. Lăng mộ táng tại Sơn Phận, huyện Quảng Điền; sau cải táng về vùng núi Hải Cát, Hương Trà, Thừa Thiên. Tên lăng là Trường Diễn.


Con trai ông là Nguyễn Phúc Lan lên kế nghiệp, tức Thượng vương.


Nhà Nguyễn sau này đã truy phong ông miếu hiệu là Hy Tông, thụy là Hiển Mô Quang Liệt Ôn Cung Minh Duệ Dực Thiện Tuy Du Hiếu Văn hoàng đế.[1]


Gia quyến


Sãi vương Nguyễn Phúc Nguyên có 11 công tử và 4 công nữ:[1]


Vợ


    Mạc Thị Giai


Công tử


    1. Nguyễn Phúc Kỳ


    2. Nguyễn Phúc Lan


    3. Nguyễn Phúc Anh


    4. Nguyễn Phúc Trung


    5. Nguyễn Phúc An


    6. Nguyễn Phúc Vĩnh


    7. Nguyễn Phúc Lộc


    8. Nguyễn Phúc Tứ


    9. Nguyễn Phúc Thiệu


    10. Nguyễn Phúc Vinh


    11. Nguyễn Phúc Đôn


Công nữ


    1. Nguyễn Phúc Ngọc Liên: Tục gọi bà là Quận Thanh. Năm 1629, bà hạ giá lấy Trấn Biên dinh Lưu thủ Phó tướng Thanh Lộc hầu Mạc Cảnh Vinh (Nguyễn Phước Vinh), con trai Khai quốc công thần Mạc Cảnh Huống, hậu duệ của Mạc Đăng Dung.[32]


    Ông và bà lập ra hệ tính Nguyễn Hữu gốc Mạc, con cháu nay đổi họ Nguyễn Trường nhập tịch ở Quảng Nam. Ông bà sinh 1 con trai là Đội trưởng Toàn Trung hầu Nguyễn Phước Tao.


    2. Nguyễn Phúc Ngọc Vạn (Tống Sơn quận chúa thụy Từ Hoan pháp hiệu Diệu Đức).


    3. Nguyễn Phúc Ngọc Khoa


    4. Nguyễn Phúc Ngọc Đỉnh (1608-1684): Năm 1623, bà hạ giá lấy Nghĩa quận công Nguyễn Cửu Kiều (1599-1656), con trai của Thượng tướng Nguyễn Quảng triều hậu Lê, bà sinh 5 con trai: 1.Vỵ Xuyên hầu Nguyễn Cửu Thiên, 2.Duyên Lộc hầu Nguyễn Cửu Duyên, 3.Trấn quận công Nguyễn Cửu Ứng, 4.Dực Đức hầu Nguyễn Cửu Kế, 5.Cẩm Long hầu Nguyễn Cửu Thân. Khi mất bà được ban thụy là Từ Thục. Ông và bà lập ra hệ tính Nguyễn Cửu.


    5. Nguyễn Phúc Ngọc Hoa: Con gái nuôi của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, sau được gả cho Araki Soutaro(荒木宗太郎) của Nhật Bản. Câu chuyện về hai người trở thành 1 truyền kì nổi tiếng ở Nagasaki.


Nhận định


Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên là nhân vật có vai trò then chốt trong cuộc nội chiến Trịnh- Nguyễn. Một cuộc nội chiến ác liệt, kéo dài và không phân thắng bại; nó tiêu huỷ sức người, sức của, triệt phá đồng ruộng xóm làng và dẫn đến chia cắt sự thống nhất của quốc gia Đại Việt. Nhưng chế độ Đàng Trong của chúa Nguyễn đã thực thi những chính sách cai trị cách tân, khác với Đàng Ngoài, lúc đó đang theo xu hướng hoài cổ Nho giáo thời Lê sơ, kìm hãm sự phát triển của xã hội. Về mặt khách quan cuộc nội chiến có lợi cho xu thế phát triển của lịch sử dân tộc.


Ông đã tạo nên 1 nền ngoại thương hàng hải mạnh, với thương cảng Hội An trở thành thương cảng chính không chỉ của Đàng Trong mà trên toàn khu vực tương đương với Việt Nam và Đông Nam Á hiện nay.


Ông là vị chúa đầu tiên xây dựng cơ nghiệp Đàng Trong của nhà Nguyễn với ý chí cương quyết, tạo nên một xứ Đàng Trong độc lập, tự chủ. Ông đã chỉnh đốn việc cai trị, củng cố quốc phòng, biết dùng người tài để chăm lo việc nước nên nhân dân được an cư lạc nghiệp. Ngoài ra, ông còn đẩy lui được các cuộc tấn công của chúa Trịnh ở Đàng Ngoài.[1]


___


    ^ a ă â b c d đ e ê g h i Gia tộc Nguyễn Phước 2006


    ^ a ă Thi Long 1998, tr. 22


    ^ “Viện nghiên cứu Hán Nôm”. Truy cập 30 tháng 10 năm 2015.


    ^ Đại Nam thực lục tiền biên. Nxb. Giáo dục. H. 2004, Quyển I, tr.32. Bản chữ Hán ký hiệu A.27/1-66 (VHN).


    ^ Đại Nam thực lục tiền biên quyển II.


    ^ Sách Đại Nam thực lục Tiền biên


    ^ Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, T.1, Bản dịch đã dẫn, tr.37.


    ^ Đại Nam thực lục tiền biên, tập 2, p32


    ^ Trịnh Tráng sai Công bộ thượng thư Nguyễn Duy Thì và nội giám Phạm Văn Tri đến đòi thuế đất


    ^ Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, T.1, bản dịch đã dẫn, tr. 45-46


    ^ Huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình ngày nay. Phần đất từ Bắc sông Nhật Lệ đến Nam sông Gianh.


    ^ Đại Nam thực lục tiền biên. Quyển II


    ^ a ă Bản mẫu:Christoforo Borri, Cochin - China, London, 1633, Da Capo press. Theatrem Orbis Ltd Amsterdam, New York, 1970, Chap.VII, p.H.4.


    ^ Christophoro Borri (1631), "Tường thuật về chuyến truyền giáo mới của các linh mục Dòng Tên tại vương quốc Đàng Trong" (Relatione della nouva missione delli PP della Compangia di Giese al Rengo della Cocincina), xuất bản tại Roma (Ý).


    Tác phẩm này được đăng trong BAVH năm 1931, số III-IV, Bonifacy dịch và chú thích. Christoforo Borri (1633), Cochin - China, London, Da Capo press. Theatrem Orbis Ltd Amsterdam, New York, 1970, Chap.VII, p. H.4


    Christophoro Borri (1998), Xứ Đàng Trong năm 1621, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, tr.84.


    ^ Vùng đất Mô Xoài bao gồm phần lớn đất đai của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ngày nay.


    ^ Nay là khu vực cột cờ Thủ Ngữ, quận 1, tp. HCM. Nằm bên bờ sông Bến Nghé


    ^ Nay là vùng Chợ Lớn. Nằm bên bờ rạch Bến Nghé (hay kênh Tàu Hủ, gọi là rạch Sài Gòn - khu Chợ Lớn từ năm 1859).


    ^ Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong, Nxb. Văn học, 2001, tr.309.


    ^ Có thuyết nói rằng Po Rome ngầm liên kết với Văn Phong, nhưng không ra mặt trực tiếp vì sợ đối phương vin vào cớ đó để xâm lược


    ^ Cổ danh là Vườn tre ông Phù Già, bọc xung quanh những giồng đất cao trồng khoai, mía. Khảo sát thực địa vào năm 1965 của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Tư cho biết phía Nam vườn tre có cánh đồng rộng gọi là Lũy Choại Xứ (lũy: bờ thành; choại: thoai thoải, không cao lắm do thời gian bào mòn).


    ^ Nay là sông Đà Rằng, tp. Tuy Hòa, Phú Yên


    ^ Con trưởng Mạc Cảnh Huống, lấy công chúa Ngọc Liên


    ^ Đại Nam nhất thống chí, tỉnh Bình Định, 5,tr7


    ^ Hội đồng trị sự Nguyễn Phúc tộc (1995), Nguyễn Phúc tộc thế phả, Nxb Thuận Hóa, Huế, tr.126.


    ^ Nhóm Nhân văn trẻ, Hỏi đáp Lịch sử Việt nam, tr. 188, tập 3, NXB Trẻ, 2007.


    ^ Có thể là con nuôi thuộc dòng bên ngoài của Chúa Phúc Nguyên.


    http://www.erct.com/2-ThoVan/3-Unna/CongnuNgocHoa.htm


    ^ Sách Ngoại phiên thông thư (quyển 13, tr.87-88)


    ^ Việt sử giai thoại của Đào Trinh Nhất, Hn, 1943


    ^ Theo sách của "Xứ Đàng Trong- Lịch sử kinh tế và xã hội thế kỷ 17 và 18" của Litana (NXB Trẻ dịch, 1999)


    ^ Theo nghiên cứu của GS. Iwao Seiichi. Được ghi trong "Người Nhật, phố Nhật và di tích Nhật Bản ở Hội An trong Đô thị cổ Hội An", Vũ Minh Giang, sđd, tr.206-207.


    ^ Tạp chí Trường Viễn Đông bác cổ của Pháp ở Đông Dương (Bulletin de l'École Française d'Extrême-Orient, tome XXXVI). Nội dung cuốn nhật ký Batavia của Công ty Đông Ấn Hà Lan


    ^ Đại Nam thực lục tiền biên,4,tr56


Thư mục


    Trần Trọng Kim (2005), Việt Nam sử lược, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.


    Phan Khoang (2001), Việt sử xứ Đàng Trong, Nhà xuất bản Văn Học.


    Thi Long (1998), Nhà nguyễn chín Chúa mười ba Vua, Nhà xuất bản Đà Nẵng.


    Gia tộc Nguyễn Phước (2006), “Đức Hy tông Hiếu Văn Hoàng đế húy Nguyễn Phúc Nguyên (1563 - 1635)”, Vương phả Nguyễn Phước Tộc (Gia tộc Nguyễn Phước).


Đọc thêm


    Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, tập 1, bản dịch Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2002


    Tôn Thất Bình (2006). Kể Chuyện Chín Chúa Mười Ba Vua Triều Nguyễn, Việt Nam: Nhà xuất bản Trẻ


    Bích Ngọc (3/2009). Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên - Kể chuyện lịch sử Việt Nam, Việt Nam: Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin


Nguyễn Phúc Tần


(chữ Hán: 阮福瀕, 18 tháng 7, năm 1620 - 30 tháng 4, năm 1687), là vị chúa Nguyễn thứ 4 trong của chính quyền Đàng Trong trong lịch sử Việt Nam. Ông ở ngôi từ năm 1648 đến năm 1687, tổng cộng được 39 năm.


Ông nhận tước hiệu Dương Quận công (陽郡公), và được người trong lãnh thổ gọi là chúa Hiền (主賢). Chúa Hiền là một vị chúa có tài, đức độ, vì thế trong thời gian ông này trị vì, nhiều vùng đất mới được mở mang, các kênh Trung Đan, Mai Xá được khơi đào, bờ cõi vô sự, thóc lùa được mùa, bớt lao dịch thuế má, nhân dân ngợi khen là thời thái bình.


Năm 1806, Nguyễn Thế Tổ Gia Long hoàng đế truy phong miếu hiệu cho ông là Thái Tông (太宗), thụy hiệu là Tuyên Uy Kiến Vũ Anh Minh Trang Thánh Đức Thần Công Hiếu Triết hoàng đế (宣威建武英明莊正聖德神功孝哲皇帝).


Nguyễn Phúc Tần sinh ngày 18 tháng 7, năm 1620; ông là con trai thứ 2 của Nguyễn Phúc Lan và Đoàn quý phi, người huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.


Lúc đầu, Nguyễn Phúc Tần được phong làm Thái phó Dũng Lễ Hầu, ông được đánh giá là một võ tướng có tài.


Tướng chống Trịnh


Xem thêm: Xung đột Công ty Đông Ấn Hà Lan với Đàng Trong và Trận cảng Eo 1643


Tháng 6, năm 1643, theo đề nghị của chúa Trịnh, ba tàu chiến của Công ty Đông Ấn Hà Lan là Wojdenes (De Wijdeness), Waterhond và Vos tiến vào cửa Thuận An đánh chúa Nguyễn.


Ngày 7 tháng 7, năm 1643, Thế tử Nguyễn Phúc Tần đốc suất 50 chiến thuyền đột kích bất ngờ vào đội thuyền của Công ty Đông Ấn Hà Lan. Tàu đô đốc Wijdenes, là chiếc nặng nhất và chậm nhất trong số 3 tàu đó, bị bốn thuyền chèo tay đuổi kịp, đánh gãy mất bánh lái, đánh đổ cột buồm và bám vào hai bên mạn tàu; viên thuyền trưởng Pieter Baek không hy vọng chạy thoát được nữa, cho châm lửa vào kho thuốc súng và tự đốt cháy tàu, Pieter Baek và nhiều thủy thủ đã bị chết. Hai chiếc tàu kia, theo lời của Jean Gobyn, phải rất chật vật mới tìm được một chỗ trú ở đảo Ngọc (Ile de Perles)[2][3][4].


Chúa Nguyễn Phúc Lan rất vui mừng và khen: Trước kia tiên quân ta từng đánh phá giặc biển, nay con ta cũng lại như thế, ta không lo gì nữa.


Tháng 2, năm 1648, chúa Trịnh Tráng sai Tiến Quận công Lê Văn Hiểu khởi binh Nam tiến lần thứ 4, dẫn bộ binh tiến lên đóng ở đất Nam Bố Chính, còn thủy quân đánh cửa Nhật Lệ. Nguyễn Phúc Tần được phong làm Tiết chế chủ quân và cùng vua cha ra Quảng Bình tiếp ứng, chia thủy quân phục sẵn ở sông Cẩm La, sai Nguyễn Hữu Tiến mang 100 con voi đánh úp quân Trịnh lúc nửa đêm, quân bộ tiếp sau vào đánh phá. Quân Trịnh thua lớn, bị thủy quân Nguyễn chặn đánh chạy đến tận sông Lam mới thôi.


Tháng 3, năm 1648, Thế tử Nguyễn Phúc Tần định cho quân vượt sông Gianh đánh ra Bắc Bố Chính thì nghe tin Chúa Thượng ngã bệnh chết trên thuyền trên đường về Thuận Hóa nên phải lui binh.


Điều hành Đàng Trong


Năm 1648, chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan đột ngột qua đời, Thế tử Nguyễn Phúc Tần mời chú là Nguyễn Phúc Trung lên gánh vác việc nước, xong ông này từ chối.


Nguyễn Phúc Tần lên ngôi ở tuổi 29, thường được gọi là chúa Hiền. Quần thần tôn ông làm Tiết chế Thuỷ bộ Chư dinh kiêm Tổng Nội ngoại Bình chương Quân quốc Trọng sự Thái bảo Dương Quận công (勇郡公).


Năm 1653, chúa Hiền sai đắp đồn Sa Chùy (ở cửa biển Nhật Lệ, bấy giờ gọi là lũy Mũi Dùi).


Tháng 3, năm 1653, Chúa Hiền cho mở một cuộc duyệt binh lớn ở xã An Cựu[5], xét khí giới cùn sắc để định thưởng phạt.


Lực lượng thủy binh Đàng Trong thời Chúa Nguyễn Phúc Tần có tới 22740 quân, bao gồm:


    Cơ Trung hầu 10 thuyền, 300 người.


    Nội bộ 60 đội thuyền, hơn 3.280 người.


    2 cơ Tả trung và Hữu trung, mỗi cơ 14 thuyền, đều hơn 700 người.


    Nội thủy 58 thuyền, 6.410 người.


    Cơ Tả trung kiên 12 thuyền, 600 người.


    Cơ Hữu trung kiên 10 thuyền, 500 người.


    2 cơ Tả trung bộ và Hữu trung bộ, mỗi cơ 10 thuyền, đều 450 người.


    Cơ Tiền trung bộ 12 đội, mỗi đội 5 thuyền, cộng 2700 người.


    4 cơ Tả dực, Hữu dực, Tiền dực, Hậu dực, mỗi cơ 5 thuyền, cộng hơn 1100 người.


    4 đội Tiền thủy, Hậu thủy, Tả thủy, Hữu thủy, mỗi đội 5 thuyền, đều hơn 500 người.


    8 cơ Tả nội bộ, Hữu nội bộ, Tiền nội bộ, Hậu nội bộ, Tả súng, Hữu súng, Tiền súng, Hậu súng, mỗi cơ 6 thuyền, cộng 2100 người.


    Dinh tả bộ 10 thuyền, cộng hơn 450 người.


    4 đội Tiền bính, Hậu bính, Tả bính, Hữu bính, mỗi đội 4 thuyền, đều hơn 200 người.


    Cơ Tả thủy 5 thuyền, hơn 200 người.


Năm 1674, Chúa Nguyễn mở khoa thi gọi là thi chính đồ và thi hoa văn. Thi chính đồ chia ra làm ba kỳ: Kỳ đệ nhất thi tứ lục, kỳ đệ nhị thi thơ phú, kỳ đệ tam thi văn sách. Thi hoa văn thì cũng phải ba ngày, mỗi ngày chỉ phải làm có một bài thơ mà thôi. Ai đậu thì được bổ vào làm việc ở Tam ti.


Quan tri phủ tri huyện làm sơ khảo, quan cai bạ, ký lục, vệ úy làm giám khảo. Những quyển đậu, thì chia ra làm ba hạng: Hạng thứ nhất gọi là giám sinh, được bổ ra làm tri phủ, tri huyện; hạng thứ nhì gọi là sinh đồ được bổ làm huấn đạo; hạng thứ ba cũng gọi là sinh đồ được bổ làm lễ sinh, hoặc làm nhiêu học.


Vụ Thị Thừa


Có người con gái là con hát, quê Nghệ An nhan sắc xinh đẹp tên là Thị Thừa được lấy vào cung phục vụ chúa. Chúa Hiền lúc đó nhân đọc sách Quốc ngữ, đọc tới chuyện Ngô vương là Ngô Phù Sai mất nước vì nàng Tây Thi liền tỉnh ngộ, lập tức sai Thị Thừa mang ngự bào cho chưởng dinh Nguyễn Phúc Kiều, giấu bức thư trong dải áo, ngầm sai Kiều dìm nước để giết Thị Thừa đi[6][7].


Chăm Pa


Năm 1651, Quốc vương Chiêm Thành Po Rome mất, Po Nraup lên làm Quốc vương kế vị. Theo sử Chăm, Po Nraup là em cùng mẹ khác cha của Po Rome.


Năm 1653, vua nước Chiêm Thành là Po Nraup sang quấy nhiễu ở đất Phú Yên, chúa Hiền liền sai quan cai cơ là Hùng Lộc lãnh 3000 quân sang đánh.


Quân đến Phú Yên, tiếp tục vượt đèo Hổ Dương núi Thạch Bi, nhân lúc đêm tối đánh thẳng vào thành, phóng lửa đánh gấp, cả phá được, Po Nraup trốn chạy.


Po Nraup sai con là Xác Bà Ân dâng thư xin hàng. Chúa Hiền thuận y cho, lấy sông Phan Rang làm ranh giới.


Vùng phía Đông sông đến địa đầu Phú Yên (vùng Kauthara) đặt làm 2 phủ Thái Khang[8] và Diên Ninh[9]. Đặt dinh Thái Khang[10] do Hùng Lộc trấn giữ.


Phần phía Tây sông (vùng Panduranga) vẫn thuộc về Chăm Pa, và bắt giữ lệ cống[11].


Sang năm 1654, trấn thủ dinh Bố Chính là Xuân Sơn vào tiếp quản dinh Thái Khang, nhằm kinh lý vùng đất mới chiếm được, tổ chức di dân bình ổn dinh Thái Khang, thu gom nguồn tài nguyên hương liệu nhằm khuếch trương cảng Hội An.


Chân Lạp


Bên cạnh Vương quốc Chiêm Thành, tình hình Vương quốc Chân Lạp bấy giờ cực kỳ rối ren, chú cháu anh em tranh quyền đoạt vị, tàn sát lẫn nhau, vị vua mới lên ngôi lại theo đạo Hồi gây ra xung đột giữa các tầng lớp dân.


Năm 1658, 2 con còn sống sót của Preah Outey là Ang Sur và Ang Tan dấy binh chống lại vua Chân Lạp Ramathipadi I (Nặc Ông Chân) nhưng thất bại. Hai người này tìm kiếm lời khuyên của Thái hậu Ngọc Vạn, Ang Sur và Ang Tan đã cầu cứu chúa Phúc Tần.


Chúa Hiền liền sai Phó tướng dinh Trấn Biên (Phú Yên) là Nguyễn Phước Yến dẫn 3000 quân đến thành Hưng Phước (bấy giờ là Mỗi Xuy, nay thuộc huyện Phúc An, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), phá được thành rồi tiến vào bắt Ramathipadi I bỏ vào lồng sắt đem về giam ở Quảng Bình. Năm 1659, Ramathipadi I đã được phóng thích vì chúa Hiền muốn ông ta gây ảnh hưởng lên người kế nhiệm, nhưng ông ta đã chết trên đường trở về Vương quốc.


Nhờ sự can thiệp của người Việt mà Ang Sur được làm Quốc vương, xưng là Barom Reachea V, đóng tại Long Úc (Oudong); Ang Nan (Nặc Nộn) làm Phó vương đóng tại thành Sài Gòn. Đổi lại các Quốc vương Chân Lạp phải thần phục Đàng Trong và thực hiện triều cống định kỳ. Vì sự phụ thuộc quá lớn vào chúa Nguyễn Đàng Trong, dẫn tới hệ quả người Việt tràn đến sinh sống và kiểm soát những vùng đất thuộc Chân Lạp.


Tháng 12, năm 1672, Quốc vương Barom Reachea V bị Bô Tâm[12] giết chết rồi cướp ngôi, Bô Tâm xưng là Chey Chettha III.


Ang Tan (Nặc Ông Tân), chú của Chey Chettha III, chạy sang cầu cứu chúa Nguyễn. Nhưng ngay sau đó tháng 5 năm 1673, Chey Chettha III cũng bị giết trên giường ngủ bởi người Mã Lai thuộc phe của Ramathipadi I.


Ang Chea (Nặc Ông Đài), con trai đầu của vua Barom Reachea V lên ngôi sau đó, xưng là Keo Fa II.


Năm 1674, Nặc Ông Đài đã đi cầu viện Ayutthaya (Thái Lan) để đánh Nặc ông Nộn, và chiếm được thành Sài Gòn. Ang Nan (Nặc Ông Nộn) bỏ chạy sang cầu cứu ở dinh Thái Khang (nay là Khánh Hòa). Đồng thời, Ông Đài cho đắp thành lũy ở địa đầu Mỗi Xuy; làm cầu phao và xích sắt, đắp thành Nam Vang; nhờ Xiêm cứu viện để chống lại chúa Nguyễn.


Chúa Hiền bèn sai Cai cơ đạo Nha Trang là Nguyễn Dương Lâm cùng với Nguyễn Đình Phái làm tham mưu đem binh chia ra hai đạo sang đánh Nặc ông Đài.


Tháng 3 năm 1674, quân tiên phong của Nguyễn Diên đến trước đánh úp lũy Mỗi Xuy[13], rồi chiếm được lũy, mấy ngày sau quân Cao Miên các nơi họp lại vây đánh rất dữ, nhưng Nguyễn Diên đóng giữ cửa Lũy mà không ra đánh.


Khi đại binh của Nguyễn Dương Lâm ập đến, Diên bèn cùng hợp sức ra đánh, quân Cao Miên tan vỡ, bị chết và thương rất nhiều. Sau đó, đại binh tiến đến Sài Gòn.


Tháng 4 năm 1674, phá được 3 lũy: Sài Côn (đất trấn Phiên An), Gò Vách và rồi tiến quân lên vây thành Nam Vang. Nặc Ông Đài phải bỏ thành chạy vào rừng, bị thuộc hạ giết chết. Nặc ông Thu ra hàng. Nặc ông Thu là chính dòng con trưởng cho nên lại lập làm chính quốc vương đóng ở Long Úc (thành Vũng Luông), để Nặc ông Nộn làm đệ nhị quốc vương như cũ, đóng ở thành Sài Gòn, bắt hằng năm phải triều cống[14].


Lại còn gia phong cho Nguyễn Dương Lâm làm Trấn thủ dinh Thái Khang (Khánh Hòa) lo việc phòng ngự ngoài biên. Chúa Nguyễn làm chủ tình thế cả vùng Đồng Nai.


Năm 1679, có quan nhà Minh là tổng binh trấn thủ đất Long Môn (Quảng Tây) Dương Ngạn Địch, phó tướng Hoàng Tiến, tổng binh châu Cao, châu Lôi, và châu Liêm (thuộc Quảng Đông) là Trần Thượng Xuyên, phó tướng Trần An Bình, không chịu làm tôi nhà Thanh, đem 3000 quân cùng 50 chiếc thuyền xin được vào Kinh bằng hai cửa Tư Dung và Đà Nẵng (nay là cửa Hàn thuộc Quảng Nam). Dâng sớ xin được làm dân mọn xứ Việt.


Chúa Hiền thấy họ cùng quẫn mà chạy sang, lại tỏ bày lòng trung thực, vả lại xứ Đông Phố (một tên khác của đất Gia Định xưa) của nước Cao Miên, đất đai màu mỡ có đến ngàn dặm, triều đình chưa rỗi để lo liệu, chi bằng tận dụng sức lực của họ, giao cho họ khai hoang đất đai để ở. Nghĩ vậy, triều đình tổ chức khao đãi ân cần, chuẩn y cho giữ nguyên chức hàm, phong cho quan tước rồi lệnh cho tới Nông Nại (Đồng Nai) khai hóa đất đai. Mặt khác, triều đình còn hạ chỉ dụ cho Quốc vương Cao Miên (Thủy Chân Lạp) biết việc ấy để không xảy ra chuyện ngoài ý muốn[14].


Bọn tướng Long Môn họ Dương đem binh thuyền tiến vào cửa Xoài Rạp (nay gọi là Lôi Lạp (Soi Rạp)) và cửa Đại cửa Tiểu (thuộc trấn Định Tường) dừng trú tại xứ Mỹ Tho (là trấn lỵ của Định Tường). Bọn tướng các xứ Cao, Lôi, Liêm họ Trần thì đem binh thuyền tiến vào cửa Cần Giờ rồi đồn trú tại xứ Bàn Lân thuộc Đồng Nai (là lỵ sở trấn Biên Hòa), đất Lộc Đã (tức là đất Đồng Nai thuộc Biên Hòa).


Họ lo mở mang đất đai, lập thành phố chợ, giao thông buôn bán. Tàu thuyền người Hoa, người phương Tây, người Nhật, người Chà Và (người gốc Java), tụ tập tấp nập, phong hóa Trung Quốc dần dần lan ra thấm đượm cả vùng Đông Phố[14].


    Năm 1686, có người Pháp tên là Verret được phép mở cửa hàng ở cù lao Côn Lôn.


    Năm 1684, chúa Hiền bắt giết những người đi giảng đạo ở Đà Nẵng.


Qua đời


Ngày 19 tháng 3, năm Đinh mão (30 tháng 4, 1687), chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần không được khỏe, cho triệu con thứ là Hoàng Ân Hầu Nguyễn Phúc Thái đến bảo rằng:


Ta bình sinh ra vào gian hiểm giữ nhà, giữ nước. Con nối ngôi phải sửa thêm nhân chính cho yên bờ cõi. Các quan văn võ đều do ta cất dùng để mưu mọi bề, đừng để bọn tiểu nhân len vào.


Sau đó, Nguyễn Phúc Tần triệu các quan đại thần tới và bảo rằng:


Ta với các khanh một chí hướng với nhau mà công việc mưa đồ chưa trọn. Nay con ta tuổi còn nhỏ, mong nhờ các khanh giúp đỡ cho công việc của tổ tông rõ ràng. Đừng quên lời ấy.


Nói rồi, ông qua đời, thọ 68 tuổi. Lăng mộ tại làng Hải Cát, Huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Lăng được đặt tên là Trường Hưng lăng (長興陵), thụy hiệu của ông là Công Cao Đức Hậu Dũng Triết vương (功高德厚勇哲王).


Vào đời Vũ vương Nguyễn Phúc Khoát, ông được tặng miếu hiệu là Nghị Tổ (毅祖), thụy hiệu cải thành Tuyên Uy Kiến Vũ Anh Minh Trang Chánh Thánh Đức Thần Công Hiếu Triết vương (宣威建武英明莊正聖德神功孝哲王).


Nguyễn Phúc Thái lên kế nghiệp, tức chúa Nghĩa (主義).


Gia quyến


Thân phụ: Thần Tông Hiếu Chiêu hoàng đế Nguyễn Phúc Lan, đương thời gọi là Chúa Thượng.


Thân mẫu: Hiếu Chiêu hoàng hậu Đoàn thị (孝昭皇后段氏; 1601 - 1661), người huyện Duy Xuyên, Quảng Nam.


Phu nhân: Từ Mẫn Hiếu Triết hoàng hậu Chu thị (慈敏孝哲皇后朱氏; 1625 - 1684)[1], theo sử sách đều không rõ quê quán bà ở đâu. Khi còn trẻ, bà vào hầu Thái Tông trong thời kỳ tiểm để, được phong làn Chánh phu nhân. Năm 1806, Nguyễn Thế Tổ Gia Long hoàng đế truy tôn Từ Mẫn Chiêu Thánh Cung Tĩnh Trang Thận Hiếu Triết Hoàng Hậu (慈敏昭聖恭靖莊慎孝哲皇后), được phối thờ với Thái Tông ở Thái Miếu, án thứ hai bên tả. Bà sinh được 2 trai và 1 gái: Nguyễn Phúc Diễn, Nguyễn Phúc Thuần và Nguyễn Phúc Ngọc Tào.


    Từ Tiên Hiếu Triết hoàng hậu Tống thị (慈僊孝哲皇后宋氏), con gái Thíếu phó Quận công Tốn Phúc Khang (宋福康), mẹ bà họ Phạm, quê ở huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Năm mất và tuổi của bà đều không được truyền lại. Năm 1806, Gia Long hoàng đế truy tôn Từ Tiên Huệ Thánh Trinh Thuận Tĩnh Nhân Hiếu Triết Hoàng Hậu (慈僊惠聖貞順靜仁孝哲皇后), đặt tên lăng là Quang Hưng lăng (光興陵). Bà được phối thờ với Thái Tông ở Thái Miếu, án thứ hai bên tả. Bà sinh ra Anh Tông hoàng đế Nguyễn Phúc Thái.


Công tử: Phúc Quận công Nguyễn Phúc Diễn (福郡公阮福演; 1639 - 1685), mẹ là Từ Mẫn Chu hoàng hậu.


    Nguyễn Phúc Thái [阮福溙], tức Anh Tông Hiếu Nghĩa hoàng đế (英宗孝義皇帝). Mẹ là Từ Tiên Tống hoàng hậu.


    Cương Quận công Nguyễn Phúc Trân (岡郡公阮福沴; 1650 - 1685), mẹ là Từ Tiên Tống hoàng hậu.


    Quốc Uy công Nguyễn Phúc Thuần (國威公阮福淳; 1652 - 1675), mẹ là Từ Mẫn Chu hoàng hậu.


    Công tử thứ 5, mất sớm không con.


    Nguyễn Phúc Nhiễu, mất sớm không con.


    Công nữ:


    Nguyễn Phúc Ngọc Tào (阮福玉曹).


    Khuyết danh.


    Khuyết danh.


_____


    ^ a ă â Gia tộc Nguyễn Phước 2006


    ^ Theo sách Những người châu Âu ở nước An Nam, Charles B. Maybon


    ^ Theo sách Đại Nam thực lục


    ^ “Hải chiến - Từ lịch sử đến hiện đại: Tàu to, súng lớn vẫn thua”. Thanh Niên Online. Truy cập 16 tháng 3 năm 2015.


    ^ Bây giờ là phường An Cựu, thành phố Huế.


    ^ Sách Đại Nam thực lục Tiền biên, quyển 4 nói Kiều bị dìm chết)


    ^ Sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn nói Thị Thừa bị đánh thuốc độc chết


    ^ Phủ Thái Khang có 2 huyện là Quảng Phúc, Tân An. Nay là Ninh Hòa, Khánh Hòa


    ^ Phủ Diên Ninh có 3 huyện là Phúc Điền, Vĩnh Xương, Hoa Châu. Nay là Diên Khánh, Khánh Hòa


    ^ Nay gồm tỉnh Khánh Hòa và một phần phía Bắc tỉnh Ninh Thuận


    ^ Vùng lãnh thổ còn lại lúc này của Chăm Pa chỉ còn từ sông Phan Rang (Ninh Thuận) đến Sông Dinh (Hàm Tân, Bình Thuận)


    ^ Bô Tâm là rể đồng thời vừa là cháu ruột của vua Barom Reachea V. Bô Tâm là con trai của Ang Non Padumaraja I


    ^ Sau nay gọi là lũy Phước Tứ, ở phía Đông trạm Biên Phước thuộc địa phận huyện Phước An, nằm ngang đường cái. Nay là Gò Đồn, làng Long Điền, An Ngãi, Long Điền, Bà Rịa–Vũng Tàu


    ^ a ă â Gia Định Thành Thông Chí. Quyển 3: Cương vực chí- Trịnh Hoài Đức.


 


Bãi Tư Chính (Vanguard Bank)


Vietnam / Duyen Hai Mien Trung / Phan Thiet /


 đá ngầm, quặng


Khánh Hòa, Việt Nam


- Bãi ngầm Tư Chính nằm ở trong giới hạn khoảng từ vĩ độ 07o29’03’’N - 07o33’20’’N và kinh độ 109o37’730’’E - 109o54’58’’E, cách bãi Quế Đường 55 hải lý về phía Tây Nam. Điểm nhô cao nhất của bãi Tư Chính sâu cách mặt nước khoảng 16m, vị trí cách Vũng Tàu khoảng 229 hải lý về phía Đông Nam. Bãi ngầm Tư Chính có vị trí rất quan trọng trong xây dựng, phát triển kinh tế biển và công tác quản lý chủ quyền vùng biển trên khu vực DKI; phạm vi bãi ngầm trong khoảng độ sâu 16m đến độ sâu 200m có độ dài khoảng 57km, chiều rộng nơi rộng nhất khoảng 13km, hướng phát triển chạy dài theo hướng Đông Bắc - Tây Nam. Tư Chính là bãi ngầm lớn, ở cạnh đường hàng hải quốc tế, nên có vị trí rất quan trọng đối với việc tổ chức lực lượng thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trên biển và quản lý, bảo vệ chủ quyền vùng biển của Tổ quốc.


Cụm nhà giàn Tư Chính được thành lập chính thức từ ngày 4 tháng 7 năm 1989, xây dựng trên bãi cạn Tư Chính (Vanguard Bank) trên vùng biển Trường Sa. Cụm hiện tại có 3 nhà giàn đang sử dụng.


+Nhà giàn DK1/1: Còn gọi là nhà giàn Tư Chính A hay Tư Chính 1, hoàn thành 27 tháng 6 năm 1989, là nhà giàn thứ 3 được xây dựng. Hiện không còn sử dụng.


+Nhà giàn DK1/5: Còn gọi là nhà giàn Tư Chính B hay Tư Chính 2, hoàn thành 2 tháng 11 năm 1989, là nhà giàn thứ 4 được xây dựng. Hiện không còn sử dụng.


+Nhà giàn DK1/11: Còn gọi là nhà giàn Tư Chính C hay Tư Chính 3, hoàn thành 5 tháng 5 năm 1994.


+Nhà giàn DK1/12: Còn gọi là nhà giàn Tư Chính D hay Tư Chính 4, hoàn thành 8 tháng 8 năm 1994.


Nhà giàn DK1/14: Còn gọi là nhà giàn Tư Chính E hay Tư Chính 5, hoàn thành 20 tháng 4 năm 1995.


Việt Nam kiểm soát năm 1989


Các thành phố lân cận: Thành phố Phan Thiết, Thị xã Vĩnh Châu, Thị xã Giá Rai


Toạ độ:   7°26'14"N   109°39'36"E


Nhận xét


    Bui Cong Chinh (khách)


    Các lô dầu khí từ 133 đến 136 vừa đc PV và Gazprome của Nga (đầu t4/2012) ký hợp đồng liên doanh khai thác bên ngay bên cạnh cách nhà giàn DK1 của bãi Tư chính mà VN đang canh giữ. Các lô trên trùng với vùng trước đây Trung Quốc định khoanh vùng và cho bên thứ 3 vào khai thác nhưng dưới sức ép VN, dự án bên kia đã bị hoãn và không thành hiện thực. Phía TQ không được khai thác, ko có mặt tại bất cứ 1 lô/ vùng nào ở khu vực này cả. Trong khi đó VN cũng đang có kế hoạch xây đường ống dẫn ra cac lô từ 155 đến 159 để khai thác tại khu này…


    LOI (khách)


    Cập nhật, tại khu này có 2 đối tác/ Dự án quan trọng của PVN là: Với GazProm của Nga tại lô 129-132; 2 là với Exxonmobil của Mỹ tại lô 156-159 (chính là phần Trung Quốc dự định mời thầu, đã phải bỏ)- đây chính là Tư Chính-Vũng Mây của VN


Bãi Quế Đường (Grainger Bank)


Vietnam / Duyen Hai Mien Trung / Phan Thiet /


 Hải đăng


Bãi Quế Đường (Grainger Bank)


Thuộc tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam


Cụm nhà giàn Quế Đường được thành lập chính thức từ ngày 4 tháng 11 năm 1991, xây dựng trên bãi cạn Quế Đường (Grainger Bank) trên vùng biển Trường Sa. Cụm hiện tại có 2 nhà giàn đang sử dụng.


+Nhà giàn DK1/8: Còn gọi là nhà giàn Quế Đường A, hoàn thành ngày 4 tháng 11 năm 1991. Đây là nhà giàn có ngọn hải đăng Quế Đường.


+Nhà giàn DK1/19: Còn gọi là nhà giàn Quế Đường A, hoàn thành ngày 10 tháng 4 năm 1997.


Những chỗ nông nhất là từ 9m đến 11m


Hải đăng Quế Đường được xây dựng năm 1994, ở tọa độ 07°48'49"00N 110°28'24"000E. Đây là hải đăng cấp 3, tác dụng: Chỉ vị trí bãi ngầm Quế Đường, Bà Rịa - Vũng tàu. Giúp cho tàu thuyền hoạt động định hướng và xác định vị trí tàu thuyền khi hoạt động ở vùng biển này.


Hải đăng được đặt trên nóc nhà giàn DK1/8 Quế Đường A, chiều cao tháp đèn và tâm sáng là 23,4 m, tầm hiệu lực ánh sáng là 10 hải lý ban ngày, 12 hải lý ban đêm. Loại đèn được sử dụng là HD 300, ánh sáng trắng, chớp nhóm 3, chu kỳ 10s. Số đăng ký ARLHS SPR 003, SPR-003, SPR 003 ngày 01/06/2006.


Các thành phố lân cận: Thành phố Phan Thiết, Thị xã Vĩnh Châu, Thị xã Giá Rai


Toạ độ:   7°49'5"N   110°29'39"E


Nhận xét: nguyen_huy_hieu


    Hải đăng Quế Đường Tác dụng: Chỉ vị trí bãi ngầm Quế Đường, Bà Rịa - Vũng tàu. Giúp cho tàu thuyền hoạt động định hướng và xác định vị trí tàu thuyền khi hoạt động ở vùng biển này. Tọa độ địa dư: 07o 48' 49" N -- 110o 28' 24" E Tầm hiệu lực (tọa độ địa lý) Ban ngày: 10 hải lý Ban đêm: 12 hải lý Chiều cao Tháp đèn: 23.4m Tâm sáng: 23.4m Đặc tính ánh sáng Màu sắc: Ánh sáng trắng Đăc tính chớp: Chớp nhóm 3, chu kỳ 10s Màu sắc thân đèn: Đỏ - Trắng Loại đèn Đèn chính: HD 300 Đèn phụ: Racon: Năm thiết lập: Trước 1994


 


    Quế Đường là tên hiệu của Lê Quý Đôn (1726-1784), một nhà bác-học về thời Lê, trước thuật nhiều tác phẩm về lịch sử, địa dư và văn hóa nước ta. Tác phẩm của ông có đề cập tới địa lý Hoàng Sa, Trường Sa.


Tư liệu.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Triệu Xuân & Nhóm Văn Chương Hồn Việt gửi tặng 1.187 cuốn sách Văn học trị giá gần 93, 8 triệu đồng cho Bộ đội hải quân - Minh Đức 16.12.2017
Gang thép Thái Nguyên: Những câu hỏi về đống sắt gỉ ngàn tỉ đồng - Tư liệu 15.12.2017
Lịch sử, quy chế và quá trình hoạt động hơn 10 năm của Nhóm Văn Chương Hồn Việt - Minh Đức 15.12.2017
Văn hóa Ẩm thực: Phở Việt, niềm tự hào của người sành ăn…/ Ngày của Phở - Trịnh Quang Dũng 13.12.2017
Văn hóa ẩm thực: Phở - món đồ ăn bằng bánh thái nhỏ nấu với thịt bò - Trịnh Quang Dũng 11.12.2017
Văn hóa Ẩm thực: Phở Việt - Kỳ 3: Phở "hành " phương Nam - Trịnh Quang Dũng 10.12.2017
Boris Pasternak Giải Nobel về văn học năm 1958 - Thân Trọng Sơn 09.12.2017
Bộ Tư lệnh Vùng 5 Hải quân - Tư liệu sưu tầm 02.12.2017
Pilates là gì? Lịch sử môn thể thao thời thượng Pilates - Triệu Thiên Hương 01.12.2017
Vĩnh biệt nhà văn Nguyễn Gia Nùng - Triệu Xuân 27.11.2017
xem thêm »