tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20794191
Tiểu thuyết
14.12.2015
Đặng Nhật Minh
Hồi ký điện ảnh

Sau chuyến đi đó, tôi có viết một số bút ký và truyện ngắn được đăng trên báo Văn nghệ. Tôi bắt đầu viết văn từ đấy.


Người thầy đầu tiên


Như trên tôi đã nói, tôi đến với điện ảnh bằng những sự tình cờ run rủi của số phận, không hề có sự chuẩn bị gì từ trước và cũng chẳng qua trường lớp nào. Gia đình tôi vốn là một gia đình toàn những người làm ngành y và dạy học. Trong tất cả những người thân ấy chỉ có một người am hiểu lĩnh vực văn học nghệ thuật nhất là cậu Nguyễn Hồng Phong – chồng của dì tôi là bà Nguyễn Thị Ngọc Trai.


Cậu tôi là nhà sử học, nhưng thật ra phải gọi ông là một nhà văn hóa mới đúng. Trong con người ông là một kho kiến thức uyên bác về nhiều lĩnh vực: triết học, mỹ học, văn học, thơ ca, hội họa và đương nhiên là sử học, lĩnh vực ông làm việc trong nhiều năm cho đến khi với cương vị là Viện trưởng vào giai đoạn cuối đời. Có một người thân như vậy trong gia đình thực sự là một may mắn lớn đối với tôi khi quyết định dấn thân vào con đường nghệ thuật.


Cha tôi là bác sĩ, suốt ngày miệt mài trong phòng thí nghiệm bên chiếc kính hiển vi, ông chẳng có thể giúp gì cho tôi trong quyết định hệ trọng này. Biết vậy nên ông đã gửi gắm tôi cho người em rể của mình: cậu Phong tôi. Năm 1967, trước khi lên đường vào chiến trường B, ông còn gặp cậu tôi và nhắc lại lời gửi gắm đó. Không ngờ đó là mối quan tâm cuối cùng của cha tôi đối với tôi, và cũng là lần trò chuyện cuối cùng của cha tôi với cậu tôi, một người mà ông hay gần gũi tâm sự nhất trong gia đình. Từ đó cậu tôi trở thành người thầy của tôi theo đúng nghĩa của nó.


Tôi nhớ lại những bài học đầu tiên cậu tôi dạy cho tôi, là những bài giảng về triết học. Ông đưa cho tôi đọc rất nhiều tài liệu có liên quan đến triết học, mỹ học của những trường phái triết học phương Tây, những thứ thời đó còn bị coi là cấm kỵ. Đọc xong đến đâu, ông giảng giải phân tích cho tôi cặn kẽ. Những buổi “lên lớp” như vậy thường diễn ra sau những bữa ăn (một dạo ngày hai buổi, tôi ăn cơm tại nhà ông, sau khi đã đưa vợ con đi sơ tán về nông thôn). Đó là những ngày báo động liên miên trong thành phố.


Những buổi “lên lớp” như vậy không có giáo trình, giáo án (hay nếu có thì có lẽ được ông sắp xếp sẵn trong đầu) và người theo học là tôi, chỉ nghe mà không ghi chép. Cậu tôi có một cách nói thật sâu sắc mà giản dị, sáng rõ, có sức lôi cuốn kỳ lạ. Ai đã được nghe ông thuyết trình dù chỉ một lần thôi đều bị mê hoặc như thôi miên. Những lúc thụ học với ông sau những bữa ăn như vậy tại ngôi nhà số 6 Lý Thường Kiệt, tôi có cảm tưởng như mình là một đệ tử đang tầm sư học đạo theo lối giáo dục truyền thống của người xưa. Cái lối dạy truyền khẩu và học nhập tâm ấy đã cho tôi biết bao kiến thức cần thiết. Chúng đi vào tâm thức của tôi lúc nào không hay. Sau khi đã trang bị xong cho tôi một số kiến thức cơ bản về triết học, mỹ học, ông bắt tôi đọc sách: tiểu thuyết, thơ văn, kể cả kho tàng ca dao, tục ngữ. Ông giảng giải cho tôi về những trào lưu văn học hiện đại của phương Tây, những trường phái hội họa trên thế giới (ông có viết một cuốn sách rất hay về Picasso). Đặc biệt ông hướng sự quan tâm của tôi vào kho tàng văn hoá dân tộc qua thơ văn của các tác giả cổ điển trong nước, qua ca dao, tục ngữ (đến bây giờ tôi vẫn cho rằng bài viết của ông về Hồ Xuân Hương có lẽ không ai có thể viết hay hơn). Không chỉ giới hạn trong những kiến thức trên, ông còn cho tôi được tiếp cận rất sớm với nền văn học sáng tác trong vùng tạm chiếm ở miền Nam qua các tạp chí Văn, Bách khoa, các tiểu thuyết của các nhà văn Sài Gòn, những ấn phẩm được cung cấp để cơ quan ông nghiên cứu và chỉ được lưu hành trong nội bộ. Do vậy sau khi hai miền thống nhất, vào Nam tiếp xúc với các văn nghệ sĩ trong ấy, tôi không bị bỡ ngỡ.


Trong con người thông thái về nhiều lĩnh vực xã hội nhân văn, với phương pháp tư duy chặt chẽ khoa học như ông, còn có một trái tim vô cùng nhạy bén trước cái đẹp. Có lần ông đọc cho tôi nghe 4 câu thơ của nhà thơ Phạm Thiên Thư mà ông rất thích:


Xưa em là chồi biếc


Nằm giữa lòng câu kinh


Anh là Thiền sư buồn


Ngồi đọc dưới ánh trăng.


Lần đầu tiên, cũng do ông mà tôi biết được hai câu ca dao da diết sau đây:


Trèo lên cây khế nửa ngày


Ai làm chua xót lòng này khế ơi...


(Hai câu ca dao này về sau tôi đã đưa vào trong một trường đoạn kết của phim Trở về).


Bằng văn học, thơ ca, bằng những hình tượng trong ca dao, bằng những phân tích về hội hoạ ông đã tập cho tôi cách tư duy bằng hình ảnh, một phẩm chất không thể thiếu của người làm điện ảnh. Đạo diễn Fellini, người Ý có nói một câu về nghề đạo diễn điện ảnh như sau: “Đạo diễn không phải là một nghề. Đó là một thế giới quan”. Càng ngày tôi càng thấm thía câu nói đó. Thật vậy người đạo diễn không phải là người có trong tay một mớ thủ pháp rồi hành nghề. Cái hành trang quan trọng nhất khi bước vào nghề này là cái thế giới quan, cái cảm quan thẩm mỹ của riêng anh. Không có cái đó, người đạo diễn chỉ là một người thợ (thợ khéo hay thợ vụng). Tôi có làm được chút gì trong điện ảnh cho tới nay cũng do được cậu tôi sớm định hướng từ đầu theo chiều hướng đó. Chính ông là người đã trang bị để tôi có được một cách nhìn sự vật của riêng mình để rồi từ đó làm công việc sáng tác. Tôi từng được chứng kiến nhiều cuộc đàm đạo tại nhà cậu tôi giữa ông và các bạn bè như giáo sư Vũ Khiêu, giáo sư Đình Quang, nhà nghiên cứu Vũ Hoàng Địch, nhà văn Nguyễn Tuân, nhà điêu khắc Diệp Minh Châu v.v... những người bạn tâm đắc của ông. Giá như có ai ghi lại tất cả những điều ông nói trong các cuộc trò chuyện đó, hệ thống chúng lại, có thể trở thành những cuốn sách rất hay, rất bổ ích. Tôi có cảm tưởng những gì ông nói ra còn hay hơn những gì ông đã viết (mặc dầu những công trình nghiên cứu do ông viết ra cũng đã giá trị lắm rồi). Đó là điều mà nghĩ lại tôi cảm thấy rất tiếc.


Tại miền Bắc ngày ấy, bà ngoại tôi có 6 người con rể: giáo sư Nguyễn Hồng Phong, kỹ sư canh nông Nguyễn Văn Thao (nguyên thứ trưởng Bộ Công nghiệp nhẹ), trung tướng Cao Văn Khánh, nhà nghiên cứu dịch thuật Lê Xuân Ninh, và cha tôi: bác sĩ Đặng Văn Ngữ. Trong gia đình còn có các bác sĩ Tôn Đức Lang, Nguyễn Thị Ngọc Toản, nhà xã hội học Nguyễn Phước Tương và nhà phê bình văn học Nguyễn Thị Ngọc Trai, đều là các dì, các cậu của tôi. Mỗi lần giỗ tết tất cả nhà sum họp trên gác ba ngôi nhà tập thể 16A Hàn Thuyên. Những lúc ấy, gương mặt bà tôi rạng rỡ trong một niềm vui pha lẫn tự hào. Bà tôi tự hào là phải bởi cũng hiếm có một mái nhà nào hội tụ đông đủ những con người như vậy. Tôi biết rằng đó là những giây phút hạnh phúc nhất của bà tôi, vợ của quan Thượng thư triều đình Huế, đã từ bỏ tất cả để theo các con, dâu, rể ra Việt Bắc tham gia kháng chiến.


Nhưng hạnh phúc bao giờ cũng ngắn ngủi. Những ngày vui sum họp trong gia đình tôi chẳng được bao lâu. Nhiều người thân của tôi đã lần lượt ra đi vào cõi vĩnh hằng. Khi còn sống, họ đều âm thầm dạy dỗ tôi bằng chính cuộc sống của mình, bằng nhân cách và phẩm giá của mình. Và người trực tiếp dẫn dắt tôi đi vào con đường nghệ thuật chính là giáo sư Nguyễn Hồng Phong - người cậu và cũng là người thầy của tôi.


Phim truyện đầu tay


Vậy là tôi đã qua được giai đoạn phó đạo diễn, rồi đạo diễn thứ hai và bây giờ nghiễm nhiên ngồi chờ đến lượt để được giao làm đạo diễn chính. Một hôm tôi được giám đốc gọi lên giao kịch bản Những ngôi sao biển chuyển thể theo vở kịch nói của Nguyễn Khắc Phục (Phục hồi đó còn làm thợ máy ở Công ty vận tải biển Hải Phòng, bắt đầu viết văn, có truyện ngắn đầu tay Hoa cúc biển đang trên tạp chí Văn nghệ quân đội, được mọi người chú ý). Kịch bản nói về các thủy thủ vận tải đường biển vận chuyển vũ khí từ Hải Phòng vào sông Gianh để tiếp tế vũ khí đạn dược cho chiến trường miền Nam. Tôi háo hức nhận ngay kịch bản không chút đắn đo vì biết rằng như vậy là mình chính thức được công nhận là đạo diễn chính rồi, không khác gì được cầm trên tay tấm bằng tốt nghiệp đạo diễn điện ảnh.


Trước khi bắt tay vào làm phim tôi cầm giấy giới thiệu của Xưởng phim về Cảng Hải Phòng thâm nhập thực tế vì tôi chẳng có cht kiến thức gì về vận tải đường biển cả. Tôi theo tàu vận tải mang tên Tự lực đi từ Hải Phòng vào sông Gianh chuyên chở gạo tiếp tế cho Khu IV, ra ra vào vào không biết bao nhiêu chuyến cho đến khi Mỹ thả thủy lôi phong tỏa không đi được mới thôi. Đến khi Mỹ ngừng ném bom ở miền Bắc tôi lại theo các tàu phá lôi đi giải tỏa đường biển từ Hải Phòng vào sông Gianh. Trở về Xưởng, tôi sửa chữa nâng cao kịch bản trên những thực tế thu nhặt được qua các chuyến đi đó. Nhưng thú thực, có loay hoay đến mấy câu chuyện cũng chỉ có vậy: tinh thần vượt gian khó hy sinh của các thủy thủ vì miền Nam ruột thịt. Có mâu thuẫn chăng là mâu thuẫn giữa người gan dạ và kẻ sợ chết. Bộ phim quay rất vất vả vì nhiều anh chị em trong đoàn không chịu được say sóng. Phim hoàn thành xong, không để lại tiếng vang gì. Nó cũng như bao bộ phim khác được làm vì mục đích phục vụ kịp thời những nhiệm vụ chính trị. Đến bây giờ, thú thực tôi cũng quên nó ngoại trừ những kỷ niệm về những chuyến đi thực tế đầy phiêu lưu kỳ thú trên biển. Có lần thủy lôi nổ sát ngay bên cạnh tàu... những ngày sống trên đảo Hòn Mê với các chiến sĩ biên phòng, đêm đêm nhìn ra khơi nơi hai chiếc tàu Hồng Kỳ của Trung Quốc bật đèn sáng trưng, thả xuống biển những bao gạo bọc ni lông để cho sóng biển cuốn trôi vào bờ. Tôi nhớ mãi một kỷ niệm thật đau lòng: Sau khi Mỹ tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc, tôi đi theo chiếc tàu đầu tiên từ Hải Phòng vào cảng sông Gianh. Bến cảng vắng tanh không một bóng người. Khi lên bờ mới biết chỉ một giờ trước khi ngừng bắn, một quả bom đã rơi trúng căn nhà của các cô thanh niên xung phong lúc các cô đang tập trung để nhận thư nhà. Hai mươi cô gái đã chết trong trận bom cuối cùng đó trên cảng sông Gianh.


Tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh


Đầu tháng 4.1975, cả nước hồi hộp theo dõi tin tức chiến sự từ miền Nam gửi ra. Xưởng Phim truyện được lệnh trên động viên tất cả đội ngũ làm phim tổ chức thành 4 đoàn làm phim tài liệu lên đường tham gia chiến dịch. Tôi được phân làm đạo diễn của một đoàn gồm hai anh Dương Đình Bá và Thẩm Võ Hoàng làm quay phim. Ba đoàn kia là đoàn Hải Ninh - Hoàng Tích Chỉ, đoàn Trần Vũ - Bành Bảo và đoàn Bùi Đình Hạc - Lưu Xuân Thư. Riêng đoàn Hải Ninh được quay phim màu còn tất cả đều quay đen trắng. Lúc này ta đã giải phóng tới Nha Trang rồi nên tuy gọi là đi B, nhận quân trang quân dụng như người đi B, nhưng chúng tôi có thể yên tâm lên đường trên 4 chiếc xe Bắc Kinh mới toanh chạy thẳng theo quốc lộ I. Trước khi đi chúng tôi được nghe đồng chí Cục trưởng Phan Trọng Quang truyền đạt chỉ thị dặn dò của đồng chí Tố Hữu. Tôi còn nhớ đinh ninh lời truyền đạt như sau: Các đồng chí có thể gặp các văn nghệ sĩ trong ấy. Họ có thể đi ô tô mà các đồng chí thì đi bộ. Nhưng các đồng chí đừng tự ái, hãy dang tay ra với họ trên tinh thần đoàn kết, hòa hợp dân tộc... Có nghĩa là lúc đó, đầu tháng 4.1975 ở trên còn dự kiến tới một khả năng ta có thể vào Sài Gòn trong bối cảnh của một Chính phủ liên hợp các bên. Tôi không quan tâm tới chuyện sẽ vào Sài Gòn trong bối cảnh nào. Tôi chỉ biết chắc chắn rằng trong chuyến đi này tôi sẽ được về Huế - quê hương mà tôi xa cách đã 25 năm.


Ngày đến Huế tôi cố lục trong ký ức để tìm đường về nhà mà không cần hỏi đường và tôi đã tìm về đúng ngôi nhà xưa. Bác tôi cùng bà con họ hàng ngạc nhiên, mừng rỡ vô cùng, không ngờ tôi lại được trở về sớm như vậy. Cách đây 25 năm khi chia tay ra đi, những người thân trong gia đình có ai ngờ ngày trở về chỉ có mình tôi. Không còn mẹ tôi, không còn cha tôi, không còn em gái tôi... Sau khi cha tôi mất, một thời gian sau bà nội tôi cũng qua đời. Chẳng còn ai để bà tôi phải chờ đợi nữa nên bà đã ra đi. Khi biết tôi bây giờ làm nghề đạo diễn phim thì cả nhà lặng đi không còn biết nói gì hơn vì thất vọng. Không một ai trong gia đình có thể nghĩ rằng tôi lại làm cái nghề mà họ cho là kỳ quặc này... Ai cũng đinh ninh rằng tôi phải là một nhà khoa học, hoặc một giáo sư bác sĩ như cha tôi. Mãi sau bác tôi mới thở dài nói một câu để an ủi cả nhà: Nhưng thôi, cháu nó có làm cái nghề này thì mới được vào đây sớm để thăm bà con.


Chúng tôi chỉ ở lại Huế có hai ngày rồi phải đi tiếp. Vào tới Nha Trang, các đoàn dừng lại để nhận phân công đi các mũi. Đoàn Hải Ninh - Hoàng Tích Chỉ và đoàn Bùi Đình Hạc - Lưu Xuân Thư nhận nhiệm vụ vào Tây Ninh gặp Trung ương cục miền Nam để rồi theo mũi chủ công của quân ta tiến vào Sài Gòn. Đoàn anh Trần Vũ lên Buôn Ma Thuột còn đoàn tôi vào khu V. Anh Trần Vũ sau khi nghe phân công xong than thở với tôi: Thế là hết mộng vào Sài Gòn. Riêng tôi được về Huế thế là thỏa mãn lắm rồi, bây giờ đi đâu cũng được, không thắc mắc gì cả. Hai đoàn Hải Ninh, Bùi Đình Hạc rẽ lên Trường Sơn để đi Tây Ninh. Đoàn Trần Vũ đi lên Buôn Ma Thuột còn đoàn chúng tôi lăn bánh xuôi theo quốc lộ I vào Phan Rang gặp Khu ủy khu V. Khi tới nơi trình giấy giới thiệu xong, các đồng chí trong khu ủy cho biết tình hình diễn biến rất nhanh. Lệnh của trên là phải giải phóng Sài Gòn trước 1/5. Họ khuyên chúng tôi đừng bỏ lỡ cơ hội này.


Buổi sáng ngày 28 tháng 4, khi vào sân bay Thành Sơn định quay một vài hình ảnh, tôi thấy một không khí thật rộn rịp khẩn trương. Sân bay đang chuẩn bị đón máy bay của phi công Nguyễn Thành Trung từ miền Bắc bay vào để ném bom dinh Độc lập. Tôi hội ý với anh em trong đoàn không dừng lâu ở Phan Rang nữa mà đi dần về phía Sài Gòn. Trưa ngày 30.4, khi nằm ở Phan Thiết bật đài lên, tôi nghe tin Tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh cho binh sĩ hạ súng để chờ gặp đại diện của Mặt trận giải phóng. Thời cơ đã đến. Chúng tôi lập tức lên xe thẳng tiến về Sài Gòn.


8 giờ tối ngày 30.4, xe chúng tôi đã lăn bánh trên xa lộ Biên Hòa. Tôi có cảm tưởng xe đi quá chậm. Càng gần tới Sài Gòn xe càng đi chậm hơn vì bị tắc nghẽn. Cuối cùng chúng tôi đã lọt được vào thành phố sáng rực ánh đèn. Một cảm giác choáng ngợp bàng hoàng đến nghẹt thở làm chúng tôi không ai nói với ai một câu nào. Mãi lu sau anh Lăng lái xe mới cất tiếng phá tan bầu không khí im lặng: - Nào ông Minh. Ông cứ đòi đi ngay. Bây giờ tới Sài Gòn rồi. Đi đâu đây?


Quả tình tôi cũng không biết đi đâu bây giờ trong cái thành phố xa lạ mênh mông này. Nhưng rồi trấn tĩnh lại, tôi mạnh dạn nói:


- Tôi có biết một nơi. Đó là dinh Độc lập. Tôi có xem trên ảnh. Bây giờ ta đến đó.


Sau một hồi hỏi đường, hết quẹo trái rồi lại quẹo phải, cuối cùng một cô gái phóng Honda đi trước tự nguyện dẫn đường cho chúng tôi đến dinh Độc lập. Anh Dương Đình Bá xuống trình giấy giới thiệu của Ban Thống nhất Trung ương nhưng không có ai tiếp vì lúc này chưa có ai chỉ huy ở đây cả. Các sư đoàn ai đến trước vào trước, ai đến sau vào sau, mỗi đơn vị chiếm lĩnh một góc sân trong dinh Độc lập. Riêng tòa nhà chính do trung đoàn xe tăng canh gác, đó là trung đoàn vào dinh Độc lập đầu tiên theo đường quốc lộ I. Họ cấm chúng tôi không được lên tầng hai nơi giam giữ nội các Dương Văn Minh, còn ngoài ra muốn vào đâu cũng được. Ngước nhìn lên nóc dinh Độc lập tôi thấy cả hai lá cờ Mặt trận: một to, một nhỏ bay trong gió. Lá cờ nhỏ là lá cờ của chiếc xe tăng đầu tiên tiến vào dinh Độc lập. Lá cờ to là lá cờ được giao cho cánh quân đánh từ Củ Chi lên mà người ta tưởng sẽ vào sớm nhất. Nào ngờ mũi xe tăng tiến theo quốc lộ I lại vào đầu tiên, không gặp trở ngại nào đáng kể. Không một chiếc cầu nào trên quốc lộ bị đánh sập.


Nhìn quanh sân tôi thấy rất nhiều ánh lửa bập bùng trong đêm. Các chiến sĩ đang thổi lửa nấu cơm. Một số đang tắm giặt ở vòi phun nước. Một vài anh lính trẻ cưỡi thử Honda chạy vòng vèo trong sân. Tôi yêu cầu làm việc ngay, nhưng các quay phim cho biết không đủ ánh sáng. Sau một hồi tìm kiếm, cuối cùng chúng tôi tìm được một bộ đèn pha cầm tay của một phóng viên quay phim nào đó để lại trong phòng họp báo của dinh Độc lập. Chiếc đèn pha cầm tay đó đã giúp chúng tôi quay những thước phim đầu tiên. Tôi đặt tên phim là: Tháng 5 - những gương mặt (vì những cảnh quay đó được thực hiện vào lúc 1 giờ sáng ngày mồng một tháng 5). Về sau tôi được biết sáng hôm 30 tháng 4, các phóng viên nước ngoài có mặt ở Sài Gòn được thông báo sẽ có cuộc họp báo quan trọng tại dinh Độc lập và họ đã tề tựu đông đủ ở đó. Nhưng cuộc họp báo đã không thành. Chiếc xe tăng đầu tiên của quân giải phóng đã húc đổ cổng dinh Độc lập. Một số phóng viên nhiếp ảnh và quay phim nước ngoài có mặt trong phòng họp đã vội chĩa ống kính hướng về phía có tiếng xe tăng và đã kịp ghi lại được giây phút lịch sử này. Hình ảnh chiếc xe tăng đầu tiên của Quân Giải phóng húc đổ cổng dinh Độc lập đã được một phóng viên Hãng Truyền hình Anh quay được (hình ảnh này đã được truyền đi khắp thế giới và về sau được đưa vào phim Việt Nam thiên lịch sử truyền hình của Đài truyền hình Anh). Không một phóng viên nhiếp ảnh quay phim nào của ta ghi được giây phút có một không hai đó, cho dù quay từ xa, từ phía sau lưng tới.


Tôi để ý tìm nhưng không thấy các đoàn khác của Xưởng phim Truyện Việt Nam. Không biết giờ này các anh đang ở đâu? Người đồng nghiệp duy nhất mà tôi được gặp trong đêm hôm ấy là anh Nguyễn Tự, đạo diễn kiêm quay phim của Đoàn 559, Tổng cục Hậu cần. Anh cho biết anh đi theo cánh quân từ Củ Chi lên.


Đêm ấy tôi nằm một mình trong Lễ đường ở tầng 1 của dinh Độc lập, lòng bàng hoàng như trong giấc mơ. Thậm chí tôi không hiểu nổi tại sao tôi lại đang có mặt ở đây, vào giờ khắc lịch sử này. Đêm ấy tôi không sao chợp mắt được. Tôi nghĩ đến cha tôi, sao người không còn sống để được hưởng cái giây phút có một không hai này. Tôi thương cha tôi, thương mẹ tôi, thương hàng vạn hàng triệu người đã ngã xuống suốt dọc chiều dài của đất nước trong hàng chục năm qua. Gần sáng tôi thấy hai anh Thép Mới và Trần Kiên ở báo Nhân dân lò dò bước vào Hội trường. Các anh hết sức ngạc nhiên khi thấy tôi ở đây.


Sáng hôm sau (1/5) Ban Quân quản chính thức tiếp quản dinh Độc Lập. Việc làm đầu tiên của Ban Quân quản là ra lệnh cho tất cả mọi người phải tập tức rời khỏi dinh. Trên nóc dinh lúc này chỉ còn lại một lá cờ duy nhất (lá cờ của chiếc xe tăng đã được cất đi). Khi ra khỏi cổng dinh tôi thấy đoàn các anh Hải Ninh và Bùi Đình Hạc đã có mặt ở trước vườn hoa. Đoàn anh Trần Vũ nghe tin Sài Gòn giải phóng cũng bỏ luôn Buôn Ma Thuột. Mỗi đoàn một việc, tất cả các máy quay phim đều xả hết tốc lực. Nhờ tài ngoại giao khéo léo (đúng hơn là nhờ tiếng Pháp rất chuẩn) của nhà quay phim Thẩm Võ Hoàng, từ dinh Độc Lập đoàn chúng tôi chuyển đến ở tại khách sạn Caravelle, nơi có người quản trị là một bà người Pháp. Đêm đó trên lầu 9 của khách sạn, chúng tôi đã gặp hầu hết các phóng viên ngoại quốc đang có mặt tại Sài Gòn. Trong những ngày căng thẳng vừa qua họ đều rút về đây, nơi được coi là an toàn hơn cả vì khách sạn này là của người Pháp. Sau giây phút ngạc nhiên trước sự có mặt bất ngờ của chúng tôi, một vài người lân la đến chuyện trò. Người đầu tiên làm quen với chúng tôi là phóng viên của Hãng thông tấn Pháp AFP. Ông cho biết tất cả các phóng viên có mặt tại đây đều có mặt tại dinh Độc lập sáng ngày 30 tháng 4. Một người nào đó rỉ tai tôi cho biết người phóng viên đã quay được cảnh chiếc xe tăng húc đổ dinh Độc lập cũng đang có mặt ở trong khách sạn này, đề nghị tôi thông báo cho quân quản biết để tịch thu những thước phim đó. Nhưng tôi đã không làm như vậy.


Hôm sau, chúng tôi được phép trở lại dinh Độc lập để quay lễ thả các thành viên trong nội các Dương Văn Minh bị tạm giữ từ ngày 30 tháng 4. Buổi lễ đơn giản, gọn nhẹ dưới sự chủ trì của Trung đoàn trưởng Trung đoàn xe tăng đầu tiên tiến vào dinh Độc lập. Tổng thống Dương Văn Minh nói vài lời ngắn gọn (lặp lại ý vua Bảo Đại đã từng nói trong lễ thoái vị ở Huế tháng 8 năm 1945: vinh dự được làm công dân một nước Việt Nam độc lập). Sau đó các vị trong nội các ra về trên những chiếc xe ôtô nhà đến đón, chờ sẵn ở thềm dinh. Tôi đứng nhìn đoàn xe con sang trọng nối đuôi nhau đi ra cửa, lòng bồi hồi tự hỏi: chẳng lẽ mọi việc lại kết thúc đơn giản vậy sao? Có ai hình dung được những gì sẽ đến sau này, sau cái giây phút thắng lợi ngây ngất đó?...


Từ hôm đó, sáng sáng chúng tôi vác máy quay ra đường, quay bất cứ những gì muốn quay. Nội dung chủ yếu của đoàn nào cũng chỉ xoay quanh hai chủ đề: Nỗi hân hoan của người dân Sài Gòn vừa được giải phóng và tàn dư của một xã hội sống dưới ách thực dân kiểu mới. Chúng tôi chạm trán nhau luôn trong khi quay. Đoàn nào cũng quay các cuộc tuần hành của sinh viên thanh niên trên đường phố để nói lên nỗi hân hoan và đoàn nào cũng săn lùng quay ăn mày để tố cáo chế độ thực dân. Mấy người ăn mày ở chợ Bến Thành trong những ngày ấy ngạc nhiên không hiểu sao lại được các nhà quay phim miền Bắc ưu ái như vậy. Các ổ xì ke, gái mãi dâm cũng được quan tâm không kém vì đấy là những biểu hiện xấu xa của chế độ cũ, không quay nhanh sợ sau này không có mà quay. Tuy sống trong vùng kiểm soát của chế độ thực dân kiểu mới, nhưng trong nhiều gia đình mà tôi được tiếp xúc vẫn giữ được những nề nếp truyền thống của một gia đình Việt Nam. Tôi ngạc nhiên nhìn thấy các em nhỏ khoanh tay lễ phép chào hỏi những người lớn tuổi, một điều mà ở miền Bắc từ lâu đã không còn thấy. Ngược lại bà con ở đây cũng không kém ngạc nhiên khi tiếp xúc với chúng tôi, những “Việt cộng” miền Bắc mà theo hình dung trước đó của họ hẳn dữ tợn gớm ghiếc lắm. Các đoàn phim lần lượt đều đến ở tại khách sạn Caravelle. Tối tối các phòng nhộn nhịp tiếng nhạc phát ra từ các máy băng cối Akai, Sony... của các nhà làm phim mua từ các chợ trời khuân về. Rồi quạt bàn, radio cassette bày la liệt... Bỗng có ai đó đưa tin khi qua cầu Hiền Lương tất cả các thứ này đều bị tịch thu hết, làm mọi người hết sức hoang mang. Rồi lại nghe đồn nếu có giấy chứng nhận của Ban Quân quản thành phố thì đem ra được. Thế là tất cả lại bổ nhào đi tìm mai mối để xin giấy chứng nhận của quân quản. Ngày trở về của mỗi đoàn cũng được giữ bí mật sợ ra cùng một lúc sẽ gặp khó khăn ở giới tuyến. Tôi gặp lại Phan Vũ đi theo đoàn biên kịch do Phó giám đốc Nguyễn Tiến Lợi dẫn đầu vào Sài Gòn. Tôi và Vũ lại có dịp lang thang với nhau như hồi ở Hà Nội. Có ai quen mời đến nhà, Vũ đều rủ tôi đi. Đi đâu Vũ cũng chỉ có một cái võ duy nhất để chinh phục cảm tình của mọi người là đọc thơ và cũng chỉ đọc một bài thơ duy nhất: Em ơi, Hà Nội phố. Bài thơ đó đã làm cảm động rất nhiều người mà chúng tôi đã gặp, xoá bỏ trong họ thành kiến về những người làm văn nghệ miền Bắc mà họ cho là khô khan, chỉ biết tuyên truyền hô khẩu hiệu. Trong những ngày ở Sài Gòn tôi được gặp khá nhiều anh chị em văn nghệ sĩ ở đây, đặc biệt là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, một người khi còn ở Hà Nội chúng tôi đều biết tiếng và hâm mộ. Nhưng người đầu tiên trong giới văn nghệ sĩ mà tôi gặp lại là nữ diễn viên điện ảnh Thẩm Thuý Hằng. Những ngày chiến sự vừa qua chị cùng chồng là ông Nguyễn Xuân Oánh chuyển đến ở tại khách sạn Caravelle. Không biết ai trong đoàn phim nói cho ông Oánh biết tôi là con trai của Bác sĩ Đặng Văn Ngữ, nên mấy hôm sau ông đem đến cho tôi xem những bức ảnh cũ chụp trong thời gian ông du học tại Nhật. Tôi hết sức ngạc nhiên thấy có rất nhiều ảnh ông chụp chung với cha tôi. Ông cho biết khi cha tôi làm nghiên cứu sinh ở Tokyo thì ông đang học đại học, và cùng sinh hoạt trong Hội Việt kiều do cha tôi làm chủ tịch.


Sài Gòn hồi đó chưa có nhiều thay đổi như bây giờ. Thành phố tuy nhộn nhịp nhưng vẫn có những đường phố thật yên tĩnh thơ mộng. Tôi lên Đà Lạt - một khung trời thật êm đềm lãng mạn khiến tôi phải ngỡ ngàng. Những buổi chiều mưa, nhìn các cô gái lững thững cầm những chiếc ô mầu đi trên những đường dốc thoai thoải, tôi có cảm tưởng chiến tranh không bao giờ có mặt ở đây. Tôi đã có những kỷ niệm về Sài Gòn và Đà Lạt mà không bao giờ tìm lại được nữa.


Sau 3 tháng, đoàn chúng tôi trở ra Hà Nội. Khi ra tới Huế, vừa tới đầu cầu Tràng Tiền tôi đã nghe tiếng loa phóng thanh ầm ĩ, và một tốp người rất đông đang đứng tập thể dục. Tôi biết rằng nếp sống mới đã đến với quê hương tôi (loa phóng thanh và tập thể dục chung là hai thứ không thể thiếu được dưới chế độ mới). Bộ phim tài liệu Tháng 5 - những gương mặt đã ra đời sau chuyến đi ấy. Hai năm sau tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ VI tổ chức vào năm 1977 tại Thành phố Hồ Chí Minh, phim Tháng 5 - những gương mặt nhận được Giải Bông Sen Bạc. Đó là giải thưởng đầu tiên của tôi trong điện ảnh.


(còn tiếp)


 


Nguồn: Hồi ký điện ảnh của Đặng Nhật Minh. NXB Văn Nghệ TP Hồ Chí minh, 2005. Tái bản có bổ sung.

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
xem thêm »