tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20216983
Tiểu thuyết
14.12.2015
Đặng Nhật Minh
Hồi ký điện ảnh

Trở thành phiên dịch tiếng Nga


Sau 18 tháng học tập ở Liên Xô, tôi cùng các bạn trở về nước với cái vốn tiếng Nga đủ để làm một cán bộ phiên dịch. Năm đó tôi vừa tròn 19 tuổi.


Cục chuyên gia của Chính phủ hồi ấy quản lý các phiên dịch viên. Họ đón chúng tôi ở ga Hàng Cỏ đưa về nơi tập trung, rồi cho phép về thăm nhà trong hai tuần trước khi trở lại để nhận phân công công tác.


Đây là lần đầu tiên tôi đặt chân đến Hà Nội. Tôi lần theo địa chỉ trong thư để tìm về nhà. Hôm đó trời mưa to. Tôi cứ đi dọc theo những dẫy phố gần Viện Pasteur, nhìn vào những ngôi nhà biệt thự xinh xắn hai tầng, đinh ninh bố tôi đang ở trong đó. Nhưng không phải. Bố tôi ở trong một căn hộ hai phòng trên tầng ba của khu tập thể Trường Y ở phố Hàn Thuyên. Đó là ngày sum họp của tôi với gia đình sau 6 năm xa cách kể từ khi chia tay trên chiến khu Việt Bắc năm 1951 để sang Trung Quốc học. Ngày ra đi có mẹ tôi đứng nhìn theo ở cuối con đường đất bên nương sắn và ngày về thì không bao giờ tôi còn được gặp lại bà nữa. Kể từ giờ phút đó tôi được sống với cha tôi suốt 10 năm liền cho đến khi người qua đời, một quãng thời gian dài nhất mà tôi được sống gần cha tôi từ nhỏ đến lúc bấy giờ.


Hai tuần sau tôi trở lại Cục Chuyên gia để nhận công tác. Tôi cùng hai bạn nữa là Cao Thụy và Bùi Viên được phân về Bộ Văn hóa (một số bạn có lý lịch tốt được phân về các bộ quan trọng như ngoại giao, quốc phòng, văn phòng Chính phủ v.v..). Đó là sự tình cờ đầu tiên đã đưa tôi đến với lãnh vực Văn hóa. Anh Cao Thụy được giữ lại để dịch cho lãnh đạo Bộ. Anh Bùi Viên được phân về nhà hát dịch cho chuyên gia sân khấu Liên Xô. Đến lượt tôi Bộ Văn hóa thông tư cho các cơ quan trong Bộ biết cơ quan nào cần phiên dịch thì lên Bộ để xin. Đúng lúc đó cơ quan Phát hành phim và Chiếu bóng Trung ương đến xin tôi. Đó là sự tình cờ thứ hai đã đưa tôi đến với điện ảnh. Hồi ấy 99% phim chiếu trong nước là phim Liên Xô và phim các nước XHCN Đông Âu. Tôi phải dịch lời thoại của các phim đó từ tiếng Nga ra tiếng Việt để các cán bộ biên soạn thuyết minh soạn thành các bản thuyết minh đọc tại các rạp. Tôi nhớ hồi đó đội ngũ biên soạn thuyết minh này đông lắm. Có lần trong một Đại hội Nhà văn, họ kéo đến, xông lên diễn đàn đòi được công nhận là nhà văn, đòi được kết nạp vào Hội Nhà văn. Nhiều người trong số họ sau này lần lượt được tổ chức cử đi học biên kịch, lý luận phê bình phim ở Liên Xô, trở thành nòng cốt của đội ngũ sáng tác điện ảnh Việt Nam sau này. Mười chín tuổi, cái tuổi lẽ ra cần phải được tiếp tục học hành thì tôi buộc phải ngồi cạo giấy như vậy trong cơ quan Phát hành phim ở Ngã Tư Sở. Nhiều lần tôi gặp tổ chức cơ quan xin cho được đi học tiếp, nhưng đều bị từ chối với lý do cơ quan đang cần phiên dịch hơn nữa tôi chưa có thành tích cống hiến gì cho cơ quan. Hồi ấy nếu không được tổ chức giới thiệu thì đố ai thi được vào đại học, kể cả các học sinh vừa tốt nghiệp phổ thông. Tất cả đều theo sự phân công của tổ chức. Tổ chức là quyền lực tối cao định đoạt số phận của mỗi cá nhân trong xã hội. Trong cơ quan tôi, tổ chức lần lượt cử các cán bộ biên soạn thuyết minh, kế toán, tài vụ... sang Liên Xô học về biên kịch, đạo diễn, quay phim, chủ nhiệm phim căn cứ trên thành phần lý lịch và quá trình công tác của họ. Tôi hồi đó là người trẻ nhất trong cơ quan chưa có quá trình công tác gì, lại không phải là đảng viên, đoàn viên nên đương nhiên không bao giờ được tổ chức nhòm ngó tới. Cha tôi không nói ra nhưng tôi biết ông buồn lắm. Cái mộng mà ông ấp ủ từ lâu: có đứa con trai nối nghiệp nghề Y chắc chắn là không thành rồi. Tuy được sống gần cha tôi, nhưng ông không bao giờ hỏi han công việc làm của tôi, cũng không khuyên bảo dạy dỗ điều gì. Có lẽ ông muốn dạy dỗ tôi bằng cuộc sống miệt mài tận tuỵ với khoa học và nhân cách của chính mình. Có lần ông than thở với em gái tôi rằng ông buồn vì thấy tôi không có một nghề nghiệp để có thể có một niềm say mê thực sự như ông.


Thật vậy sau 5 năm làm phiên dịch, tôi bỗng nhiên nhận ra rằng mình vẫn chưa có nghề ngỗng gì trong tay cả. Tôi chán ngán khi thấy các bản dịch lời thoại trong phim mà tôi cố dịch thật chính xác, thì khi qua tay các cán bộ biên soạn thuyết minh bị cắt xén đi để thêm vào đó những đoạn dẫn giải nội dung, đôi khi họ còn lẩy Kiều nữa. Ví dụ như trên phim có cảnh tuyết tan thì lập tức có câu: Đông qua xuân lại... Ngày giờ thấm thoắt thoi đưa... Natasa nay đã là cô sinh viên năm thứ nhất v.v... Nhưng để bù lại cho sự chán ngán đó, tôi bắt đầu để ý đến môn nghệ thuật mới mẻ này, đặc biệt sau khi dịch lời thoại trong các phim Liên Xô giai đoạn chống sùng bái cá nhân. Những phim như Đàn sếu bay, Người thứ 41, Bài ca người lính, Chủ nghĩa phát xít thông thường, Người cùng thời đại... như một luồng gió mới đem lại nguồn sinh khí cho nền điện ảnh Xô viết kinh viện cũ. Chúng để lại cho tôi những ấn tượng rất sâu đậm.


Một sự tình cờ đã đến với tôi: Trường Điện ảnh Việt Nam sắp kết thúc khóa học đạo diễn, diễn viên đầu tiên dưới sự hướng dẫn của chuyên gia Liên Xô, đạo diễn Ajda Ibraghimov. Phiên dịch tại trường có hai anh Cao Thuỵ và Bùi Viên. Đến cuối năm học thứ ba anh Cao Thuỵ được trên cử sang Liên xô học biên kịch. Nhà trường bèn liên hệ với cơ quan Phát hành phim xin cho tôi được biệt phái đến làm việc thay vào chỗ anh Cao Thuỵ Tôi vui mừng vì có cơ hội để thoát khỏi nếp sinh hoạt ngày 8 tiếng gò lưng bên bàn giấy. Khi tôi tới trường thì các bài giảng trên lớp đã kết thúc. Tôi chỉ đi theo chuyên gia xuống làm việc với các đoàn làm phim tốt nghiệp. Đây là lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với một đạo diễn nước ngoài bằng xương bằng thịt. Ông người Azecbaigian, trước khi sang Việt Nam đã làm hai phim truyện: 26 chính ủy Ba-cu và Hai người cùng phố (đúng hơn là làm một phim rưỡi vì phim sau làm chung với một người nữa). Trước đây ông là học trò của đạo diễn điện ảnh nổi tiếng Liên xô Đốpgiencô. Trong lúc đi dịch cho ông, tôi thấy lúc nào ông cũng đem hai phim đó ra làm ví dụ… Ông có một số kiến thức thực tiễn thông qua kinh nghiệm làm phim ít ỏi của mình, ít quan tâm đến lý luận điện ảnh, kể cả những bài viết có tính học thuật đăng trên các tạp chí điện ảnh Xô viết. Phải nói rằng ông rất nhiệt tình giảng dạy truyền đạt kiến thức cho các học sinh của mình. Ông còn ấp ủ dự định chuyển thể tiểu thuyết Người Mỹ trầm lặng của nhà văn Anh Graham Geen mà ông rất thích. Một lần tôi đưa ông xem một bài viết dài của nhà biên kịch nổi tiếng Liên Xô Gabrilovich bàn về cách viết kịch bản phim truyện đăng trên tạp chí Nghệ thuật điện ảnh của Liên Xô. Ông thích thú đề nghị tôi dịch bài đó ra cho các học sinh đạo diễn nghiên cứu (về sau bản dịch này được sử dụng như một tài liệu giáo khoa chính thức cho các khóa biên kịch của trường). Trong năm học cuối cùng này, đạo diễn Ajdar Ibraghimov đã dành toàn bộ công sức để chỉ đạo bộ phim truyện di Một ngày đầu thu của đạo diễn Huy Vân - Hải Ninh mà ông cho là có triển vọng hơn hai phim ngắn tốt nghiệp khác là Chim vành khuyên (ĐD Nguyễn Văn Thông - Trần Vũ) và Hai người lính (ĐD Vũ Sơn). Nhưng thật trớ trêu thay, phim Một ngày đầu thu lại là phim kém nhất trong ba phim. Kết thúc giai đoạn chỉ đạo các phim tốt nghiệp, ông gợi ý nhà trường mở một lớp về công tác chủ nhiệm phim do vợ ông giảng dạy. Tôi lại phải dịch tiếp cho lớp học đó. Từ phiên dịch về nghệ thuật tôi trở thành phiên dịch về kinh tế với những bài dịch về chức năng vai trò người chủ nhiệm phim, lập tổng dự toán, lập kế hoạch toàn trình cho một bộ phim v.v... Sau khi chuyên gia về nước, tôi vận động nhà trường cho tôi ở lại không về cơ quan cũ nữa và thế là tôi đã thoát được cái nơi đã giam hãm tôi suốt 5 năm của tuổi trẻ (từ năm 19 tuổi đến năm 24 tuổi). Sau khi kết thúc lớp chủ nhiệm phim, tôi dịch tiếp cho lớp họa sĩ thiết kế dưới sự chỉ đạo của chuyên gia họa sĩ Liên Xô Zachinaev. Ông là chuyên gia Liên Xô cuối cùng giảng dạy ở Trường Điện ảnh, vì sau đó Liên Xô bắt đầu bị lên án xét lại nên Trường không mời chuyên gia sang nữa. Tôi được nhà trường giao tìm tài liệu dịch cho các khóa biên kịch và đạo diễn tiếp theo. Các tài liệu về montage, dàn cảnh, cách cấu trúc kịch bản... do tôi dịch, được các giảng viên của trường đọc trước rồi đem lên lớp truyền đạt lại cho học sinh. Qua việc sưu tầm và dịch các tài liệu đó, tôi dần dần tiếp cận với nghề điện ảnh một cách hết sức tự nhiên. Những sách báo lý luận về điện ảnh bằng tiếng Nga hồi đó có rất nhiều, không những chỉ của các tác giả Xô viết mà còn của các nhà lý luận điện ảnh phương Tây được dịch ra tiếng Nga. Qua các sách báo đó tôi được biết thêm về những nền điện ảnh tiên tiến khác của thế giới như điện ảnh Ý với trào lưu Tân hiện thực, điện ảnh Pháp với trào lưu Làn sóng mới. Chính là nhờ có cái vốn tiếng Nga mà tôi đã tự học được rất nhiều trong nghề điện ảnh, tìm hiểu sâu về môn nghệ thuật này. Từ đó tôi xác định cho mình: nếu số phận đã gắn chặt tôi với điện ảnh thì hãy tiến thân theo con đường này vậy – con đường điện ảnh. Tôi biết sẽ không ai cử tôi đi học nghề này do đó phải tự trang bị cho mình những kiến thức cần thiết. Đã có lần tôi viết thư cho ông hiệu trưởng trường Đại học Điện ảnh Liên Xô (VGIK) xin học hàm thụ đạo diễn, nhưng được trả lời rằng trường không có hệ hàm thụ. Trường VGIK sẵn sàng nhận tôi học chính thức nếu tôi được Bộ Giáo dục Việt Nam cử sang học (điều mà tôi biết là không bao giờ xảy ra). Dầu sao bức thư cũng làm động lòng ông hiệu trưởng, nên không lâu sau ông đã gửi cho tôi một số tài liệu, sách giáo khoa về môn đạo diễn được giảng dạy ở trường. Tôi đọc ngấu nghiến các tài liệu đó như một sinh viên sắp đến kỳ thi sát hạch. Tôi hiểu thế nào là ý nghĩa các cỡ cảnh, thế nào là mise en scène, thế nào là mise en cadre theo như quan niệm của Eisenstein, thế nào là bố cục tổ chức từng trường đoạn, thế nào là công tác diễn viên... đặc biệt về montage một công việc rất quan trọng đối với người làm đạo diễn.


Năm 1965 lại một sự tình cờ nữa đến với tôi. Năm đó trường Điện ảnh có hai khóa tốt nghiệp: khóa biên kịch và khóa quay phim (không có khóa đạo diễn). Các học sinh phải làm phim tốt nghiệp. Một nhóm gồm các học sinh biên kịch và quay phim mời tôi làm đạo diễn cho phim tốt nghiệp của họ. Đó là bộ phim tài liệu dài 5 cuốn: Theo chân người địa chất. Tôi bắt đầu thử sức mình, vận dụng những kiến thức đã học được qua sách vở, dồn hết tâm huyết cùng các bạn trẻ làm bộ phim này. Tôi đã cùng đoàn làm phim đi đến hầu khắp các đoàn địa chất đóng trên miền Bắc từ Bát Xát - Lào Cai cho đến đảo Vĩnh Thực - Móng Cái. Bộ phim hoàn thành, được ngành địa chất hoan nghênh, báo chí và giới điện ảnh khen ngợi. Tôi vui mừng coi đây như một chứng chỉ bước vào nghề. Tôi hồi hộp mời cha tôi xem. Xem xong, ông nói với tôi: Thôi được. Con đi theo con đường Điện ảnh cũng được. Nhưng chỉ nên làm phim tài liệu khoa học. Rõ ràng cha tôi chẳng có ấn tượng gì mấy đối với các phim truyện. Cha tôi biết rằng năm đó tôi đã 27 tuổi, cái tuổi nếu không được vào Đại học thì cũng không thể lông bông mãi với cái nghề phiên dịch. Tôi đâu có ngờ bộ phim Theo chân người địa chất là tác phẩm điện ảnh đầu tiên của tôi và cũng là sáng tác duy nhất của tôi được cha tôi chứng kiến.


Sau phim Theo chân người địa chất, tôi trở thành người được anh em học sinh Trường Điện ảnh tín nhiệm. Họ mời tôi làm đạo diễn một phim nữa có tên Hà Bắc quê hương với độ dài 7 cuốn. Tôi có dịp được đi khắp dải đất Kinh Bắc để rồi gắn bó với nơi này như mảnh đất đã nuôi dưỡng tâm hồn tôi.


Bước ngoặt bất ngờ (1)


Từ một phiên dịch vô danh chẳng bao giờ được lọt vào mắt xanh của tổ chức, bỗng nhiên một hôm tôi được cơ quan thông báo lên gặp Vụ Tổ chức cán bộ của Bộ Văn hóa. Tại đó một cán bộ tổ chức báo cho tôi biết, tôi được trên cử sang Liên Xô học đạo diễn điện ảnh, yêu cầu tôi về chuẩn bị gấp để một tuần sau lên đường ngay. Những người được cử đi học điện ảnh năm đó đã có đủ danh sách (đó là hai chị Đức Hoàn, Tuệ Minh học đạo diễn và anh Tô Thi học biên kịch), nhưng tôi thuộc diện đặc biệt, được bổ sung vào phút chót (hồi đó ai được đi học nước ngoài đều do tổ chức quyết định, không phải thi cử hay sát hạch gì cả). Đó là vào những ngày cuối tháng 8 năm 1967, những ngày không quân Mỹ leo thang ra miền Bắc ác liệt nhất. Đường sắt lên biên giới đã bị cắt đứt. Cầu Long Biên đã bị đánh sập. Tôi trở về nhà lòng tự nhủ: đi học để trở thành đạo diễn điện ảnh, điều mà tôi mơ ước bấy lâu, thì nay đã ở trong tầm tay của mình rồi đây. Nhưng tôi cũng hiểu ngay rằng tôi có được sự ưu ái đó là sau cái chết của cha tôi ở chiến trường Trị Thiên vào đầu năm 1967. Tôi được sự quan tâm của tổ chức là vì con liệt sĩ! Nhưng tôi còn lòng dạ nào để nhận cái may mắn ưu tiên ấy? Con trai tôi lúc đó hãy còn nhỏ. Lẽ nào tôi để vợ con ở lại một mình với những cuộc báo động liên miên trong thành phố, với những cuộc sơ tán lặn lội về nông thôn. Ai sẽ tiếp tế gạo dầu mắm muối cho vợ tôi? Cái chết của cha tôi như một nỗi đau còn đấy làm sao tôi quên được cho dù được sống ở một nơi “thiên đường của trái đất” và được học một nghề mà mình mơ ước?


Hai hôm sau tôi trở lại gặp ông cán bộ tổ chức Bộ Văn hóa cám ơn về sự quan tâm của trên và nói rằng tôi không thể đi Liên Xô trong lúc này được. Trường Điện ảnh lúc này trường sơ tán về Đan Phượng-Hà Tây, các lớp học tan tác, tôi không phải suốt ngày ngồi cắm đầu dịch như trước nữa. Những ngày rỗi việc tôi đạp xe đạp lên Xuân Phú - Bắc Giang thăm vợ tôi đang theo học trung cấp piano tại trường âm nhạc sơ tán trên đó. Trở về Hà nội tôi lại đạp xe đi thăm con trai sơ tán theo truờng Mầm non ở Phủ Lý.


Chừng một tháng sau tôi lại được gọi lên Bộ để gặp đồng chí Hà Huy Giáp - Thứ trưởng kiêm Bí thư Đảng đoàn Bộ Văn hóa. Người đại diện lãnh đạo Bộ cho tôi biết nếu tôi từ chối không đi Liên Xô học thì Bộ sẽ đáp ứng bất kỳ nguyện vọng nào của tôi. Tôi hiểu lúc này Bộ muốn làm một việc gì đó để tỏ rõ sự quan tâm của trên đối với tôi. Tôi cám ơn bác Giáp và chỉ xin đề đạt một nguyện vọng: cho tôi được thôi cái nghề phiên dịch sau mười năm làm nghề này, và vì đã gắn bó với điện ảnh trong nhiều năm nên tôi muốn làm một đạo diễn phim tài liệu. Tôi đã thử sức mình trong phim Theo chân người địa chất và nhận thấy có thể đảm đương được công việc này. Không chần chừ, bác Giáp cho biết ngày mai tôi đến nhận công tác tại Xưởng phim Tài liệu - Thời sự mà không cần bất cứ giấy tờ giới thiệu gì. Bác sẽ chỉ thị ngay cho lãnh đạo Xưởng nhận tôi. Sáng hôm sau tôi đến trình diện ông giám đốc Xưởng phim Thời sự - Tài liệu là ông Lê Huân. Phải chờ đợi rất lâu ông mới cho vào phòng để tiếp. Ông cho biết đã nhận được chỉ thị của Bộ, nhưng yêu cầu tôi một tuần sau hãy trở lại vì còn phải đem ra bàn trong Đảng ủy và Ban Giám đốc cơ quan. Một tuần sau tôi trở lại. Giám đốc Lê Huân tiếp tôi rồi cho biết:


- Sau khi trao đổi kỹ trong lãnh đạo Xưởng, chấp hành chỉ thị của Bộ, chúng tôi phân công anh từ nay sẽ là đạo diễn hậu kỳ của các phim thời sự.


Tôi hỏi kỹ thêm về cái chức danh lạ lẫm này. Ông giám đốc giải thích:


- Có nghĩa là khi các đội quay phim thời sự gửi phim về thì anh ngồi sắp xếp lại các hình ảnh cho có đầu, có đuôi, ghép nhạc và thuyết minh vào để thành các bộ phim thời sự.


Tôi nói tôi đã làm một bộ phim tài liệu dài 5 cuốn và nguyện vọng của tôi là trở thành một đạo diễn phim tài liệu. Cái công việc mà ông vừa nói kia là công việc của một người dựng phim. Ông giám đốc ôn tồn giảng giải:


- Thực ra vì chấp hành chủ trương của trên phải ưu tiên đối với anh mà chúng tôi đành nhận. Anh không có bằng cấp đạo diễn, không học ở một trường nào, lại chưa phải đảng viên. Người đạo diễn phải là một đảng viên thì mới đảm bảo được tính tư tưởng của một tác phẩm điện ảnh, đối với phim tài liệu lại càng quan trọng hơn, vì đó là tờ báo chính luận bằng hình ảnh của Đảng.


Tôi thất vọng trở về. Thất vọng vì nghĩ rằng với một nguyện vọng mà tôi cho là rất khiêm tốn, không yêu sách lớn lao gì, chắc chắn sẽ không bị từ chối. Đây là lần đầu tiên tôi vấp phải guồng máy tổ chức của một cơ quan trong đó vai trò người bí thư Đảng ủy là quyết định. Người phản đối việc nhận tôi về Xưởng mạnh mẽ nhất là bí thư Đảng ủy kiêm trưởng phòng Tổ chức có tên là Khuê. Tôi biết rằng nếu có về Xưởng làm việc, tôi sẽ còn phải chạm trán với bộ máy tổ chức lạnh lùng đó, nên đã không bao giờ quay trở lại nữa.


Trong những ngày bom đạn luôn rình rập trên đầu và cái chết luôn kề bên, tôi không còn nghĩ gì tới cái ước mơ làm đạo diễn của mình... tôi quên hẳn điện ảnh. Tôi lo thăm nom tiếp tế cho vợ con nơi sơ tán rồi trở về Hà Nội sống giữa những ngày chiến tranh ác liệt nhất. Khi bom B52 ném vào phố Khâm Thiên, tôi lập tức có mặt ngay sau đó. Từ sau khi cha tôi mất, tôi cảm thấy cái chết không có gì xa lạ cả. Sẽ có lúc nào đó nó cũng sẽ đến với tôi như đã đến với cha tôi.


Giữa phố phường vắng vẻ của Hà Nội sơ tán ngày ấy, tôi thường hay gặp bạn bè trong giới văn nghệ, khi thì tụ tập tại nhà tôi, khi thì ở nhà của Lâm (Lâm râu) hoặc ở nhà Vĩnh (Vĩnh cận). Đỗ Chu và Lưu Quang Vũ ngày ấy còn là lính của binh chũng Phòng không. Phạm Tiến Duật còn ở Tổng cục Hậu cần, chưa vào đường 559. Hễ tranh thủ xin nghỉ phép được ngày nào là tất cả họ đều lao về Hà Nội. Tôi nhớ có lần đông đảo bạn bè đang ngồi tại nhà tôi trên gác ba phố Hàn Thuyên thì có tiếng loa báo tin máy bay địch đang tiến gần về phía Hà Nội. Duật nói với mọi người: Lần báo động này có thể bom sẽ rơi trúng nơi chúng ta đang ngồi. Có thể có người sẽ không còn. Vậy đề nghị mỗi người hãy nói vài lời để Minh ghi vào máy thu thanh lưu lại cho những người thân sau này (hồi đó tôi có một chiếc máy ghi âm của Tiệp Khắc nhãn hiệu Tesla). Tôi nhớ hôm đó Vũ đã đọc bài thơ Phố Gia Lâm vừa mới làm xong với những câu mở đầu mà cho đến nay tôi còn nhớ như in: Đêm mùa hạ rời thủ đô ra trận / Chào sông Hồng tàu qua phố Gia Lâm / Nước lũ dâng bờ cát chuyển âm thầm / Ta ngoảnh lại nhìn ánh đèn bên ấy / Thôi vĩnh biệt bao buồn vui trẻ dại/ Cuộc đời từ nay nghiêm khắc với ta hơn / Cuộc đời vượt lên mọi nỗi đau thường /Vườn yên ổn ngày xưa thôi khép lại... Còn Duật thì đọc bài thơ về những viên bi trong ngực của cô thanh niên xung phong với những câu kết: Năm viên bi ấy có còn đâu / Nó đã sang ngực anh nhói đau rồi đấy...


Ba tháng sau tôi lại được gọi lên Bộ. Đồng chí Hà Huy Giáp nói rằng tôi phải có một nghề nghiệp hẳn hoi. Nếu tôi muốn đi học Y để nối nghiệp cha tôi thì trên sẽ giới thiệu thẳng vào trường Y, không cần thi cử gì cả (giá trước đây tôi được trên ưu ái thế này hẳn cha tôi sẽ mừng lắm!). Tôi hiểu rằng sự quan tâm của trên đối với tôi đã thành một chủ trương, mà đã là một chủ trương thì người ta phải thực hiện bằng được. Tôi trình bày với bác Giáp:


- Học Y bây giờ đối với tuổi cháu thì quá muộn rồi. Năm nay cháu đã 29 tuổi. Ngoài nghề phiên dịch ra cháu chỉ có thể làm được một việc trong điện ảnh, đó là làm đạo diễn. Nếu không được làm đạo diễn phim tài liệu, thì cháu đành phấn đấu để làm đạo diễn phim truyện vậy.


Giám đốc kiêm Bí thư Đảng ủy Xưởng phim Truyện bấy giờ là ông Trần Ngọc Lưu. Có lẽ ông đã được Bộ dặn dò kỹ lưỡng nên tiếp tôi với một thái độ ân cần. Tuy vậy ông cũng nói thật với tôi rằng nếu về Xưởng làm đạo diễn chính thì không được. Ông sẵn sàng nhận tôi về Phòng đạo diễn của Xưởng với tư cách là phó đạo diễn. Tôi nhận lời vì cương vị phó đạo diễn là một chức danh, có những nhiệm vụ cụ thể trong một đoàn phim (chứ không như cái chức danh mà người ta đã nghĩ ra cho tôi ở Xưởng phim Tài liệu). Vậy là sau 12 năm, tôi thoát được cái nghề phiên dịch. Vâng, tôi được dạy dỗ rằng làm nghề gì cũng vinh quang, nhưng tôi không thể theo đuổi cái vinh quang của nghề phiên dịch này mãi được. Dầu sao tôi cũng cám ơn Nhà nước đã trang bị cho tôi một ngoại ngữ - đó là tiếng Nga. Nhờ có nó mà tôi đã tiếp cận được với thế giới bên ngoài, nhờ có nó mà tôi đã đến với điện ảnh để từ đó gắn bó lâu dài với môn nghệ thuật này.


Phòng đạo diễn Xưởng phim truyện Việt Nam


Xưởng phim truyện hồi đó được phân thành các phòng, trong đó có Phòng đạo diễn. Đạo diễn phim truyện hồi đó chỉ có vài chục người, không đông hàng trăm như bây giờ và không phải bất cứ ai cũng có thể làm đạo diễn như bây giờ. Sinh hoạt tại phòng đạo diễn có ba lớp người: Những đạo diễn kỳ cựu có mặt từ ngày đầu thành lập Xưởng như các đạo diễn Phạm Văn Khoa, Phạm Kỳ Nam, Nguyễn Tiến Lợi... Các đạo diễn được đào tạo tại trường Điện ảnh khóa I dưới sự hướng dẫn của chuyên gia Liên Xô như: Trần Vũ, Hải Ninh, Bạch Diệp, Huy Thành, Nông Ích Đạt, Vũ Phạm Từ, Nguyễn Đức Hinh... và lớp đạo diễn học ở Liên Xô về, trong đó có những người học hết 5 năm như Nguyễn Khắc Lợi, Lê Đăng Thực và những người học dở dang thì bị gọi về vì Liên Xô bắt đầu thời kỳ xét lại như: Trần Đắc, Bùi Đình Hạc, Nguyễn Thụ, Nguyễn Đỗ Ngọc. Ồn ào hơn cả là cánh học ở Liên Xô về mà anh em vẫn gọi là cánh Vờ-Gích (tên viết tắt trường Đại học điện ảnh Liên Xô). Có một điều cần ghi nhận: hồi đó tất cả các anh đều say sưa với mộng sáng tác, chưa ai nghĩ đến chuyện tiến thân bằng con đường quan chức như sau này. Những buổi sinh hoạt ở Phòng đạo diễn thật sôi nổi. Các đạo diễn học ở Liên Xô về thường hay đem những tên tuổi “ốp, ép” ra để tranh luận học thuật. Tôi thường nghe họ nhắc đến các tên tuổi sau: Iukevich, Pưrep, Bônđarsuc, Mikhai Rôm, đặc biệt là tên nhà biên kịch Gabrilovich... cứ như tất cả đều là bạn thân của họ cả. Ngay khi về phòng đạo diễn tôi gặp ngay sự phản ứng của một số người cho rằng: không thể vì chính sách ưu tiên con liệt sĩ mà đưa một người không có học hành, không bằng cấp về làm đạo diễn được. Như thế là xúc phạm tới cái nghề đạo diễn cao quý.


Hồi ấy ai làm phim gì đều theo sự phân công của Đảng ủy Xưởng phim. Mỗi đoàn làm phim đều thành lập một chi bộ để lãnh đạo công việc làm phim. Những phim lớn, phục vụ những nhiệm vụ chính trị lớn thì giao cho các đạo diễn cỡ lớn. Những đạo diễn cỡ nhỏ được giao làm những phim cỡ nhỏ, cốt để có thêm đầu phim, hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch, tranh cờ thi đua của Bộ. Cánh phó đạo diễn đương nhiên phải theo sự phân công của Ban Giám đốc, nhưng còn phải được các đạo diễn chính chấp nhận. Tôi không hy vọng gì được các đạo diễn lớn, các đạo diễn Vờ-Gích chấp nhận nên kiên nhẫn chờ đợi. Phải gần hai năm sau tôi mới được phân đi theo đoàn phim Chị Nhung với đạo diễn Nguyễn Đức Hinh, một đạo diễn người miền Nam, vốn là một tiểu đoàn trưởng quân đội, tập kết ra Bắc, rồi chuyển sang học lớp đạo diễn trong nước. Tôi chẳng cần biết phim nói chuyện gì, miễn được nhận đi làm phim là sướng rồi (chỉ biết đây là một phim chuyển thể theo truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Quang Sáng). Khi cùng đạo diễn Nguyễn Đức Hinh bắt tay vào công việc tôi cũng không mấy quan tâm tới nội dung kịch bản, bởi đó là câu chuyện về một nữ biệt động Sài Gòn, hoạt động trong lòng địch, một môi trường mà tôi chẳng có chút thực tế gì. Anh Hinh là cán bộ quân đội, người miền Nam, anh biết hơn tôi. Tôi chỉ làm nhiệm vụ tổ chức các cảnh quần chúng, hò hét, chạy đi chạy lại, đúng trách nhiệm của một phó đạo diễn, chỉ đâu đánh đấy. Nhưng rồi tiến độ làm phim quá chậm vì đạo diễn Hinh lần đầu tiên làm phim chưa có kinh nghiệm dàn cảnh, lại thêm nhà quay phim Dương Đình Bá học ở Trung Quốc về, vốn tính cẩn thận nên quay rất chậm. Khi phim đã quay được một nửa, bí thư chi bộ của đoàn là họa sĩ Trần Kiềm đã đề nghị với Đảng ủy Xưởng phim cho tôi được làm đạo diễn thứ hai để có thể giúp đẩy nhanh tiến độ sản xuất. Đảng ủy và đạo diễn Nguyễn Đức Hinh chấp thuận. Tôi được nhảy từ phó đạo diễn lên đạo diễn thứ hai (một việc mà thông thường phải mất ít nhất vài năm trong nghề). Bộ phim hoàn thành được người xem hoan nghênh bởi gương mặt trẻ trung của nữ diễn viên chính Ái Vân lần đầu xuất hiện trên màn ảnh. Riêng đối với tôi, bộ phim chẳng để lại ấn tượng gì, nó hoàn toàn xa lạ với phong cách sáng tác của tôi sau này.


Thời kỳ này các đạo diễn Vờ-Gích bắt đầu lần lượt ra quân. Lê Đăng Thực với phim Độ dốc; Bùi Đình Hạc với Chùm hoa thiên lý, Đường về quê mẹ; Trần Đắc với phim Ga, Bài ca ra trận; Nguyễn Khắc Lợi với Lá cờ chuẩn, Bức tường không xây; Nguyễn Thụ với Bức tranh để lại; Nguyễn Đỗ Ngọc với Không phải tại tôi... Các đạo diễn được đào tạo trong nước thì ra sức chứng minh mình cũng không thua kém gì cánh học nước ngoài về. Hải Ninh làm Rừng o Thắm, Vĩ tuyến 17 ngày và đêm; Trần Vũ làm Chuyến xe bão táp, Vợ chồng anh Lực; Huy Thành làm Vùng trời, Phía Bắc thành pho; Bạch Diệp làm Ngày lễ thánh v.v... Các phim khi tổng kết hằng năm đều được lãnh đạo đánh giá để xếp hạng. Mỗi lần tổng kết như vậy cả Xưởng đều tụ tập đông đủ tại hội trường hồi hộp lắng nghe ý kiến của Thứ trưởng Hà Xuân Trừng. Phim nào được ông nhắc đến đầu tiên coi như phim đầu bảng, cứ thế mà biết thứ tự của các phim được trên đánh giá như thế nào. Ông bao giờ cũng đánh giá cao các phim của đạo diễn Hải Ninh và biên kịch Hoàng Tích Chỉ.. Cũng vì sự đánh giá đó mà tự nhiên trong đội ngũ đạo diễn biên kịch của Xưởng hình thành 3 nhóm: Nhóm Hải Ninh - Hoàng Tích Chỉ, nhóm Trần Đắc - Trần Kim Thành và nhóm Trần Vũ - Bành Bảo. Mỗi nhóm có những đệ tử đông đảo vây quanh. Riêng các đạo diễn lão thành như Phạm Văn Khoa, Phạm Kỳ Nam đứng ra một bên không tham gia phe nhóm nào. Còn tôi đương nhiên đứng ngoài cuộc. Tôi vào nhóm của những người ngồi chiếu cuối trong phòng đạo diễn cùng các anh Phan Vũ, Bắc Xuyên, Trúc Lâm. Phan Vũ vốn là một tác giả sân khấu có tên tuổi, về Xưởng làm biên kịch, nhưng rồi dính vào nhóm Nhân văn nên bị đẩy xuống làm phó đạo diễn. Trúc Lâm cũng vậy, từng là đạo diễn lồng tiếng một số phim Liên Xô rất hay, nhưng có thơ đăng trong Giai phẩm (tạp chí của nhóm Nhân văn) nên chỉ được giao làm đạo diễn các phim sân khấu cùng với Bắc Xuyên một dạo diễn ngoài đảng. Cả xưởng ai cũng ngại gần Phan Vũ vì sợ tổ chức để ý, trừ tôi và một vài người như Tự Huy, Trung Tín. Phan Vũ hay làm thơ và đọc thơ cho tôi nghe. Cứ mỗi lần họp Phòng đạo diễn xong anh lại rủ tôi về nhà, trên đường không quên ghé qua thăm diễn viên Trung Tín để xem tranh. Không biết ai xui khiến Tín đóng cửa suốt ngày vẽ tranh. Tín xin bột màu của Xưởng đem về vẽ lên giấy báo. Tín vẽ như điên, quên ăn quên ngủ. Từ ngày say mê với hội họa, không còn ai nhận ra diễn viên Trung Tín ngày nào, một đảng viên trẻ năng nổ, một bí thư đoàn Thanh niên của cơ quan. Tranh của Tín ngây ngô, hồn nhiên như con trẻ nhưng chất chứa một nỗi đau nào đó. Bức nào của anh cũng có những mặt người với hai hốc mắt sâu hoắm. Tín thường đem tranh ra khoe với tôi và Phan Vũ, và lần nào cũng nói: Phái vừa xem xong, thích lắm (Phái là họa sĩ Bùi Xuân Phái - ĐNM). Rồi Tín mơ màng mong có ngày đem tranh bày ở Paris. Tôi và Vũ cùng phụ họa tâng bốc Tín lên tận mây xanh (nghe đâu bây giờ tranh Tín được trưng bày ở Paris thật). Năm 1975, sau khi thống nhất Tín trở về Nam. Không lâu sau anh đánh một bức điện ra Hà Nội xin thôi việc và ra khỏi Đảng. Cả cơ quan sửng sốt cho rằng Tín vào Nam đã bị “ăn đạn bọc đường”. Riêng tôi thì không lấy gì làm ngạc nhiên vì tôi biết Tín đã lấy hội họa làm lý tưởng của đời mình. Con người ta không thể tôn thờ một lúc nhiều lý tưởng.


Phan Vũ viết văn, làm thơ rất hay. Trong mắt tôi kịch bản do Vũ viết hay hơn nhiều kịch bản được Xưởng thông qua hồi ấy, nhưng chúng không bao giờ được duyệt. Vợ anh là nữ diễn viên đầu tiên của điện ảnh Việt Nam - chị Phi Nga. Anh yêu vợ và yêu các phụ nữ đẹp. Những người phụ nữ ấy đã mang lại chất lãng mạn trong thơ anh. Bài thơ Em ơi Hà Nội phố viết xong, anh đọc cho tôi nghe lần đầu trên căn gác nhà anh ở phố Hàng Bún. Tôi còn thân với đạo diễn Bắc Xuyên vì nhà anh ở phố Trần Xuân Soạn cách nhà tôi ở Hàn Thuyên không xa... Bắc Xuyên từ trước đến giờ chỉ được phân làm đạo diễn các phim sân khấu. Lần đầu tiên anh được phân làm phim truyện dài là phim Đến hẹn lại lên theo kịch bản của nhà biên kịch Vương Đăng Hoàn. Nhưng sau khi phân công xong, Đảng ủy, Ban Giám đốc Xưởng thấy chưa yên tâm, bèn cử thêm đạo diễn Trần Vũ và biên kịch Bành Bảo đi theo để kèm cặp giúp đỡ. Nhưng phim chưa kịp bấm máy thì anh đã bị một chiếc xe tải cán chết khi vừa ra khỏi cổng Xưởng (có người cho rằng đây là một vụ tự sát nhưng không có gì làm bằng chứng). Riêng trường hợp đạo diễn Nông Ích Đạt uống thuốc ngủ thì rõ ràng là một vụ tự sát. Sau những sự việc bi thảm trên, tôi bắt đầu cảm nhận cái khốc liệt của chốn bon chen này. Nhưng dù sao, tôi đã dấn thân vào rồi...


Vào đúng lúc đang hoang mang ấy, Giám đốc Xưởng phim yêu cầu phòng dạo diễn cử hai người đi thực tế ở chiến dịch Đường 9 Nam Lào. Tôi liền xung phong đi cùng đạo diễn Huy Thành. Anh với tôi cùng đồng hương Huế nên hai anh em đi với nhau chăm sóc nhau rất cảm động. Chúng tôi được bố trí đi theo đường dây của Bộ Tư lệnh 559 để vào chiến trường. Vào đến Bộ Tư lệnh 559 tôi vui mừng gặp Phạm Tiến Duật, tác giả của bài thơ nổi tiếng “Tiểu đội xe không kính”, đang là cán bộ phòng Văn nghệ ở đây. Phòng văn nghệ đóng trong một hầm sâu, lương thực thực phẩm ê hề, ăn không hết còn đổ để nuôi lợn. Lúc ấy Duật vừa mới làm xong bài thơ Người ơi người ở... bèn đọc cho tôi nghe. Nghe xong tôi báo cho Duật biết bài thơ Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây của Duật mới được phổ thành bài h¸t rất hay. Trên đường vào đây tôi có được nghe ca sĩ Huyền Châu của đoàn văn công Hà Nội hát. Hai hôm sau đoàn văn công đến, được Tư lệnh Đồng Sĩ Nguyên tiếp trong hầm chỉ huy. Tôi và anh Huy Thành cũng có mặt trong buổi tiếp đó. Đêm đó ca sĩ Huyền Châu đã hát bài Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây lần đầu tại mặt trận 559. Sau khi cô hát xong, Phạm Tiến Duật đứng lên đọc tặng cô bài thơ Người ơi người ở... coi như mới sáng tác tức thì làm ca sĩ Huyền Châu hết sức xúc động. Bộ Tư lệnh 559 đóng trong một cái hang rộng khoét sâu trong lòng núi. Bom B52 có rơi trúng chẳng hề gì (trừ bom nguyên tử). Tôi đau xót nghĩ: giá cha tôi hồi đi chiến trường được ở trong cái hang như thế này…


Khi chúng tôi vào tới đường 9 thì chiến dịch vừa kết thúc. Đại tá Thọ đã bị bắt. Đồi Bản Đông chỉ còn trơ lại những hầm hào xây bằng bao cát của địch, súng ống đạn dược vương vãi khắp nơi. Nhiều lính ngụy bị thương ngồi bệt xuống bên đường với đôi mắt tuyệt vọng cầu cứu (tôi nhớ đến những hố mắt trong các bức tranh của Tín). Lần đầu tiên tôi nhìn thấy một phần nào gương mặt thật của chiến tranh. Sau đó tôi và anh Huy Thành được đưa xuống các binh trạm để tìm hiểu thực tế chiến đấu của các chiến sĩ trên tuyến đường mòn Hồ Chí Minh. Gọi là đường mòn nhưng đó là những con đường rộng cho xe vận tải chở vũ khí lương thực tiếp tế vào Nam. Những ngày ấy, địch bắt đầu dùng máy bay vận tải DC 130 trang bị súng máy 40 ly vãi đạn như vãi trấu dai dẳng suốt đêm không lúc nào ngưng nghỉ. Nhiều xe bị bắn thủng két nước, lái xe bị trúng thương vào đùi, có lúc mười xe chỉ đi lọt một xe, còn lại đều dính đạn nằm la liệt dọc đường. Đó là những ngày căng thẳng nhất trên tuyến đường 559. Vào đến Binh trạm 33, gần Trị Thiên tôi được gặp một số anh em thương binh trong Tết Mậu Thân vẫn còn nằm điều trị tại đây, được nghe bao nhiêu chuyện đau lòng về Tết Mậu Thân ở quê tôi. Nhiều thương binh đã kể lại rằng trong những ngày cố thủ ở cố đô Huế, máu ngập trong chiến hào, nhưng chưa có lệnh rút, đành phải cố thủ. Nhiều cụ già đã phải quỳ lạy, van xin các anh rút đi để còn có ngày quay trở lại.


(còn tiếp)


 


Nguồn: Hồi ký điện ảnh của Đặng Nhật Minh. NXB Văn Nghệ TP Hồ Chí minh, 2005. Tái bản có bổ sung.

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 11.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
xem thêm »