tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19662524
Tiểu thuyết
14.12.2015
Đặng Nhật Minh
Hồi ký điện ảnh

 Kính tặng hương hồn Cha Mẹ tôi


Tôi gọi đây là “Hồi ký điện ảnh” bởi những gì được viết ra trên những trang giấy này chủ yếu nói về những việc làm của tôi trong điện ảnh. Nó không đi sâu vào việc kể lại tỉ mỉ tiểu sử, nhưng cũng không bỏ qua những giai đoạn, những sự kiện, những người thân đã có ảnh hưởng đến cuộc đời cũng như sáng tác của tôi trong điện ảnh.


Viết hồi ký là một việc mà từ lâu tôi rất ngại ngùng. Viết làm sao trung thực với chính mình mà lại không động chạm đến ai, quả là khó. Nhưng nếu không viết ra thì ngay đến những người thân ruột thịt trong gia đình cũng không sao hiểu được mình đã làm gì, tại sao làm như vậy, và những gì đã đến với mình trong cuộc đời đầy biến động này... Dầu sao, nếu gạt bỏ đi những cái chủ quan của người viết, mà chắc là không tránh khỏi, vẫn còn lại cái gì đó hữu ích đối với những ai muốn tìm hiểu đôi chút về một thời làm phim ở nước ta.   


        Tôi vô cùng cám ơn anh Nguyễn Đức Bình đã quyết định cho in cuốn Hồi ký này khi anh vừa nhậm chức Giám đốc Nhà xuất bản Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh vào cuối năm 2005. Tôi cũng muốn bầy tỏ ở đây lòng biết ơn đối với nhà văn Trần Thuỳ Mai. Sau khi Nhà xuất bản nơi chị công tác từ chối in cuốn sách này, chị đã lặng lẽ kiên trì giới thiệu hết nhà xuất bản này này đến nhà xuất bản khác suốt 2 năm trời để cuối cùng cuốn sách được ra mắt bạn đọc như bây giờ. Có thể nói cuốn Hồi ký này ra đời là nhờ lòng tốt của rất nhiều người. Sau khi cuốn Hồi Ký được phát hành tôi nhận được rất nhiều phản hồi của độc giả, già có trẻ có. Họ cho biết cuốn sách rất bổ ích đối với họ. Tôi không ngờ những chuyện riêng của  tôi cũng như của gia đình tôi lại được nhiều độc giả quan tâm đến như vậy. Nhiều người muốn tôi viết kỹ hơn do vậy trong lần tái bản này tôi cố gắng bổ sung thêm nhiều chi tiết, sự việc mà trong lần xuất bản trước chưa viết ra. Vả lại từ lần xuất bản trước đến nay đã 5 năm rồi… Bao nhiêu nước chảy qua cầu …                                                      


Hà Nội, 5/2010 


Tôi đến với điện ảnh bắt đầu bằng một sự tình cờ, rồi tiếp theo là một chuỗi những sự tình cờ. Các đạo diễn điện ảnh khi nói về bước đường và sự nghiệp của mình thường hay bắt đầu bằng một câu: Tôi yêu điện ảnh từ nhỏ... Riêng tôi thành thật mà nói, tôi không có một niềm say mê nào từ thuở bé đối với lĩnh vực nghệ thuật này. Bộ phim đầu tiên tôi được xem trong đời là bộ phim của Walt Disney: Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn. Đó là vào năm tôi lên bảy. Mãi đến năm lên mười tôi mới được xem một bộ phim khác ở rạp Tân Tân cạnh đầu cầu Tràng Tiền ở Huế. Đó là phim Zorro, một phim cao bồi Mỹ có nhân vật chính là một cao bồi, đội mũ rộng vành, phi ngựa, đeo mặt nạ đen chỉ để hở đôi mắt. Tôi không có nỗi đam mê nào với môn  nghệ thuật này ngoài sự hiếu kỳ của tuổi trẻ. Gia đình tôi ở Huế là một gia đình phong kiến theo đạo Khổng Mạnh, lấy sự thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ làm lẽ sống, lấy chữ Hiếu làm đầu, hoàn toàn xa lạ với môi trường nghệ thuật. Trong nhà chỉ toàn những người làm nghề y và nghề dạy học, thích ngâm thơ, yêu truyện Kiều, ca dao tục ngữ và những câu hò xứ Huế.


Cha mẹ tôi


Quê nội tôi ở An Cựu và quê ngoại ở làng Lại Thế. Tôi nghe bà tôi kể: đám cưới cha mẹ tôi là một đám cưới chạy tang. Mẹ tôi đã khóc rất nhiều trước khi về nhà chồng để rồi không lâu sau trở lại nhà mình để chịu tang cha. Phải chăng vì sự khởi đầu như vậy nên cuộc sống chung của hai người vui ít buồn nhiều. Chắc chắn cha mẹ tôi đã có những ngày rất hạnh phúc bên nhau sau khi cha tôi tốt nghiệp bác sĩ Y khoa ở Hà Nội vào năm 1936, và một năm sau đó thì hai người thành vợ thành chồng. Thoạt đầu cha tôi cùng một số bác sĩ cùng khoá mở phòng khám bệnh tư. Nhưng rồi không lâu sau cha tôi thôi hẳn để chú tâm vào công việc nghiên cứu và làm trợ giảng tại Trường Đại học Y khoa Hà Nội. Lương của trợ giảng lúc đó có 60 đồng, trong lúc làm bác sĩ tư thu nhập gấp mười lần hơn, do đó mẹ tôi phải làm bánh để bỏ mối, tăng thêm thu nhập cho gia đình (lúc này đã có thêm tôi cùng hai em gái nhỏ). Nhưng những ngày sum họp hạnh phúc ấy rất ngắn ngủi. Năm 1943 khi đang làm trợ giảng tại Trườ­ng Y thì cha tôi đ­ược chính phủ Pháp cử sang nghiên cứu tại trường Đại học Y khoa Tokyo trong khuôn khổ trao đổi nghiên cứu sinh giữa hai n­ước Pháp – Nhật. như một đại diện của nền y học Pháp tại Đông Dương.


Sau khi cha tôi lên đường sang Nhật du học, đi theo tiếng gọi của lý tưởng khoa  học, là bắt đầu những chuỗi ngày xa cách chia ly. Tôi thuộc Chinh phụ ngâm trước khi biết Truyện Kiều là do mẹ tôi hay đọc cho tôi nghe từ nhỏ. Những năm 40, việc một người phụ nữ trẻ, một nách ba con, con nhỏ nhất mới hơn một tuổi, vừa nuôi con vừa hầu hạ bố mẹ chồng, sống cô đơn ròng rã suốt bảy năm trời là một chuyện hy hữu. Sau này trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc vợ chồng xa cách nhau là chuyện thường tình. Có lẽ chưa ở đâu trên thế giới có nhiều phụ nữ chờ chồng như ở ta. Vợ chờ chồng 10 năm, 20 năm, 30 năm... Mẹ tôi chờ chồng 7 năm, nhưng 7 năm ấy đối với bà là một chuỗi ngày dài đằng đẵng. Còn đối với tôi 7 năm ấy là cả một miền ký ức vô tận của tuổi thơ...


Cha tôi chia tay với gia đình rồi vào Sài Gòn để đáp tầu thủy sang Nhật du học. Mẹ tôi cùng ba anh em chúng tôi rời Hà Nội về Huế sống trong ngôi nhà nội tôi tại An Cựu. Mẹ tôi vừa nuôi dạy con cái vừa làm bổn phận của con dâu hầu hạ bố mẹ chồng. Ông nội tôi là người cực kỳ nghiêm khắc và khó tính. Tôi chỉ còn giữ lại trong ký ức hình ảnh ông nội tôi như một ông đồ nho đầu búi tó củ hành. Quanh vùng người ta gọi ông là ông Khóa. Có nghĩa ông tôi suốt đời vẫn là một khóa sinh... chẳng đỗ đạt bằng cấp gì. Dầu sao được gọi như vậy cũng coi như đựơc xếp vào hạng người có học trong xã hội rồi. Nghe nói ông tôi đã nhiều lần đi thi nhưng không thành,nên phẫn chí quay ra làm giàu bằng con đường phi thương bất phú và rồi... ông tôi giàu thật, giàu nhất vùng An Cựu. Ông tôi quyết chí làm giàu cốt để có tiền nuôi con ăn học, sau này đỗ đạt thành người, rửa cái hận thi cử bất thành của mình. Gọi đó là lý tưởng của ông tôi cũng được. Mà khởi đầu có gì đâu! Chỉ là một sạp hàng trong chợ An Cựu của bà nội tôi. Cơ ngơi chỉ có thế: một cái sạp hàng bán vải. Bây giờ mỗi lần về thăm nhà đi qua chợ An Cựu tôi không khỏi cười thầm khi nghĩ, kể từ thời bà nội tôi cho đến nay dễ hơn một thế kỷ, gia đình tôi không lúc nào không có một sạp hàng trong chợ đó. Mẹ tôi một dạo cũng từng ngồi bán vải trong đó và bây giờ con gái của ông anh con bác tôi đang ngồi trong đó, cũng bán vải. Có cảm tưởng như gia đình tôi có duyên nợ nào đó từ kiếp trước với cái chợ này, để đến bây giờ cái biển đường phố mang tên cha tôi cứ  suốt ngày đau đáu nhìn sang phía cổng chợ. Trong cuộc đời đầy dâu bể, con người ta đôi khi cũng cần bấu víu vào những cái gì đó bất biến, không đổi thay. Mà những cái đó thì trong gia đình bên nội tôi có nhiều  lắm. Đó là nề nếp của một gia đình theo Khổng giáo lấy chữ hiếu làm đầu, tự bao đời nay được coi là nền tảng bất di bất dịch trong cái thế giới thu nhỏ này. Ông nội tôi mất đi, đến lượt bác tôi, bác tôi mất đi đến lượt anh cả con bác tôi... hết lớp người này đến lớp người khác bền bỉ duy trì nếp sống đó trong gia đình hệt như những vận động viên chạy tiếp sức truyền nhau một ngọn đuốc. Xin đơn cử một việc mà tôi được chứng kiến từ hồi còn nhỏ đó là lệ cúng trà vào mỗi buổi sáng và mỗi buổi chiều. Từ ngày ông nội rồi bà nội tôi mất, bác Kế tôi, ngày nào cũng như ngày nào đều đặn sang đạp xe lên thắp hương cúng trên mộ ông bà tôi rồi mới đến trường Quốc Học Khải Định làm việc (bác tôi là giám thị lâu năm nhất của trường này). Chiều tan việc ở trường xong bác tôi lại đạp xe lên mộ thắp hương trước khi về nhà. Ngày nắng cũng như ngày mưa, ông bền bỉ giữ trọn đạo Hiếu đối với cha mẹ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay. Rồi đến lượt anh cả con bác tôi, và rồi sẽ đến lượt con ông anh tôi... chắc chắn là như vậy, sẽ tiếp nối cái nề nếp đó. Những ngôi mộ trong nghĩa trang họ Đặng mỗi năm một nhiều thêm và việc hương khói vẫn thế, không hề sao nhãng.


Từ Vỹ Dạ rẽ phải về làng Lại Thế (nay là thôn Lại Thế xã Phú Thuợng) đi chiếc qua cầu xi măng ngắn là đến quê ngoại tôi. Ông ngoại tôi làm Thượng thư Bộ Hình dưới triều Khải Định. Ông xây chiếc cầu này nên cầu có tên là cầu ông Thượng. Ông ngoại tôi có bốn bà, nhưng tôi chỉ biết có bà Ba và bà Tư, hai bà trước qua đời khi tôi còn chưa đẻ. Mẹ tôi là con bà Ba. Mỗi lần được về bên ngoại đối với tôi thực sự là những ngày hội. Chúng làm xáo động cuộc sống bình lặng của tôi trong những ngày sống ở bên nội. Tôi được về với đồng quê, được ngửi mùi thơm của rơm rạ, được sống trong một không gian khác hẳn khung cảnh phố phường ở An Cựu. Các dì các cậu tôi nhiều lắm. Chỉ riêng con bà Ba và bà Tư cũng đã có tới mười ba người. Ai cũng chiều chuộng, yêu thương tôi. Có một điều tôi không cắt nghĩa nổi tại sao xuất thân trong một gia đình đại quan lại và phong kiến như vậy mà các dì, các cậu tôi đều tham gia vào các tổ chức bí mật của Việt Minh hoạt động trong nội thành. Cứ mỗi lần có dì hoặc cậu nào bị bắt là mẹ tôi lại đến cung An định xin bà Từ Cung, vợ vua Khải Định, can thiệp với Sở mật thám Pháp để họ tha cho. Hẳn là mẹ tôi đã bịa ra đủ thứ lý do để làm mủi lòng bà Hoàng Thái hậu vốn còn chút tình nghĩa với gia đình quan Thượng thư ngày nào.  Rồi các dì các cậu tôi được tha về để rồi lại tiếp tục hoạt động và lại bị bắt. Tôi không biết mẹ tôi đã xin cho các dì cậu tôi bằng cách như vậy được mấy lần. Tôi chỉ nhớ một hôm mẹ tôi mặc quần áo sạch sẽ cho tôi rồi dắt tôi đi theo vào lao Thừa Phủ. Qua rất nhiều tầng cửa có lính gác, cuối cùng mẹ tôi dắt tôi đi dọc theo một dãy xà lim dài... dừng lại bên một khung cửa vuông nhỏ. Một gương mặt hốc hác bầm tím hiện ra sau ô cửa. Tôi giật mình nhận ra cậu Long em mẹ tôi. Mẹ tôi đưa qua ô cửa những ổ bánh mỳ cùng thức ăn khô, hỏi han cậu tôi. Cậu tôi cố gượng cười để mẹ tôi yên lòng, rồi cúi xuống nhìn tôi. Hơn 50 năm qua, ánh mắt ấy, gương mặt sau ô cửa xà lim ngày ấy vẫn còn ám ảnh tôi, theo suốt cả cuộc đời tôi. Đối với tôi, đó là gương mặt của Lương tâm, của Phẩm giá và Nhân cách.


Hình 1: Bác sĩ Đặng Văn Ngữ (1910-1967)


Hình 2: Bác sĩ Đặng Văn Ngữ và vợ (Hà Nội, 1937, sau ngày cưới)


Hình 3: Vợ chồng bác sĩ Đặng Văn Ngữ và ba con


Tuổi thơ tôi cứ như vậy trôi đi giữa hai miền nội ngoại - An Cựu và Lại Thế. Hết 4 năm tiểu học ở Trường An Cựu, tôi vào Trường Khải Định, đã bắt đầu biết ngóng nhìn sang bên kia Trường Đồng Khánh mỗi khi tan trường. Chẳng có gì biến động lớn lao ngoại trừ cái đêm toàn quốc kháng chiến nổi lửa đốt khách sạn Morin sáng rực cả một góc trời. Đêm đó mẹ tôi cùng anh em chúng tôi đang về bên ngoại ăn giỗ. Nửa đêm chúng tôi bị đánh thức bởi tiếng súng, tiếng người rầm rập kéo lên thành phố. Lính Pháp đóng ở Huế rút về cố thủ tại khách sạn Morin. Quân ta bao vây, chất rơm rạ xung quanh khách sạn, rắc ớt bột lên rồi đốt để quân địch phải chết ngạt. Cuộc chiến đấu đẫm máu kéo dài với những đợt xung phong của quân ta vào khách sạn cho đến khi viện binh Pháp từ Đà nẵng kéo lên giải vây thì chấm dứt.  Rồi những ngày lênh đênh trên thuyền cùng bên ngoại tản cư ra tận phá Tam Giang, mà đối với tuổi thơ vô tư của tôi như một cuộc du ngoạn dài. Mặt trận Huế vỡ, gia đình ngoại tôi lại trở về Lại Thế, trở thành cơ sở bí mật của thành uỷ Thuận Hóa, còn mẹ con chúng tôi lại trở về bên nội ở An Cựu. Tôi lại tiếp tục đi học. Nhưng cuộc sống tưởng chừng bất biến ấy đã một lần xáo động, xáo động đến nỗi không một ai trong gia đình tôi dù có giàu tưởng tượng đến mấy cũng không thể ngờ tới.


 


Đó là vào một buổi tối cuối năm 1950... một người đàn ông đến tìm gặp mẹ tôi tại nhà với vẻ mặt đầy bí ẩn. Tôi nhận ra người đó là bác thợ cạo vẫn ngồi dưới gốc cây đa trước Miễu Đại Càng, nơi tôi thường hay ra cắt tóc. Người đàn ông đó gặp mẹ tôi chưa đầy năm phút rồi cáo lui. Ông đến rồi đi như một cái bóng. Về sau tôi mới biết rằng đêm đó người thợ cắt tóc, một cơ sở bí mật trong thành phố, đã chuyển đến tận tay cho mẹ tôi một bức thư của cha tôi viết từ  chiến khu Việt Bắc. Tôi không được chứng kiến giây phút đó nhưng có thể hình dung hết được sự ngạc nhiên mừng rỡ như thế nào của mẹ tôi khi bà nhận ra nét chữ quen thuộc của chồng mình sau hơn một năm bặt vô âm tín. Thì ra ông không còn ở Nhật nữa. Ông đã trở về vùng tự do theo Kháng chiến và bây giờ đang nóng lòng chờ gặp mẹ tôi cùng ba anh em chúng tôi. Điều bất ngờ nhất đối với họ hàng trong gia đình tôi là việc cha tôi, một người chỉ biết có kính hiển vi và phòng thí nghiệm, bỗng nhiên đi theo Việt minh, theo Kháng chiến. Còn mẹ tôi hẳn không băn khoăn lắm về điều đó. Bà chỉ nóng lòng chờ cơ sở bí mật đến bắt liên lạc để tổ chức vượt  thành, đi gặp chồng. Cơ sở bí mật được giao làm việc đó không phải ai khác chính là cậu Tơn Thất Long, người mà mẹ tôi và tôi đã từng đi thăm trong xà lim lao Thừa Phủ ngày nào. Vậy là vào một ngày đã định, mẹ tôi cùng 3 anh em chúng tôi xin phép ông bà cùng họ hàng bên nội, lên một chiếc xe kéo để về quê ngoại ăn kỵ. Thực ra không có kỵ giỗ nào cả. Ngay khuya hôm ấy, 3 du kích địa phương đến đón bốn mẹ con chúng tôi đi. Tôi và mẹ tôi đi bộ còn hai em gái tôi có người cõng trên lưng. Trong đêm tối chúng tôi lẳng lặng đi theo sau những người dẫn đường. Một lần chúng tôi phải dừng lại nằm chờ bên một con đường nhựa, cách không xa một lô cốt  địch. Chúng tôi giữ  im lặng tuyệt đối để rồi lát sau chạy vụt qua đường khi có người ra hiệu. Tảng sáng chúng tôi đã đến bên bờ một con sông rộng. Bên kia là chiến khu Dương Hòa, vùng tự do của ta. Nhưng từ đây đến Việt Bắc, chỗ cha tôi ở còn xa lắm. Phải 3 tháng sau mới có cuộc trùng phùng. Mẹ tôi được trang bị một giấy giới thiệu của Ủy ban Kháng chiến tỉnh Thừa Thiên với nội dung: Bà Tôn Nữ Thị Cung trên đường đi gặp chồng là Bác sĩ Đặng Văn Ngữ, đề nghị các cấp địa phương hết lòng giúp đỡ. Mẹ tôi giữ nó trong người như lá bùa hộ mệnh. Cứ từng chặng giao liên một, mẹ tôi lại chìa lá bùa đó ra. Địa phương lại cử dân quân dẫn đường và địu hai em gái tôi (một lên 8 và một lên 10) đi tiếp. Tôi sẽ không kể ra đây về những ngày trèo đèo lội suối qua Liên U Ba Rền để ra Khu IV, rồi từ Khu IV ra Việt Bắc của mấy mẹ con chúng tôi vì đó là chuyện quá quen thuộc đối với bất cứ người nào đã qua hai cuộc kháng chiến. Nhưng đối với mẹ tôi và ba anh em tôi ngày ấy là cả một chiến công. Sau hơn một tháng trời lặn lội từ Huế ra đến Hà Tĩnh thì được biết cha tôi đã lên đường ra Việt Bắc vì có lệnh trên yêu cầu phải đi gấp. Khỏi phải nói nỗi thất vọng của mẹ tôi như thế nào. Thế rồi chúng tôi lại lên đường đi tiếp từ Khu IV ra Việt Bắc. Tôi còn nhớ như in giây phút khi cha mẹ tôi gặp nhau bên bờ suối ở Chiêm Hóa - Tuyên Quang sau tám năm xa cách. Cha tôi từ trên đồi chạy xuống còn mẹ tôi thì quay lưng đi, lội dọc theo con suối nhỏ như muốn chạy trốn... Bà đã mong đợi bao lâu giây phút này nhưng khi nó đến thì bà lại không đủ can đảm để đón nhận nó. Bà đã quá mệt mỏi vì đợi chờ, vì lặn lội đường xa... vì  đủ mọi gian truân vất vả không thể nào kể xiết trong những ngày xa cách.


Tiếp theo là những ngày của sum họp, đoàn viên. Cha tôi mải mê với công việc chế tạo ra nước cất Penicilline để cứu chữa những vết thương cho bộ đội ngoài mặt trận, giảng dạy cho sinh viên của Trường Y khoa trong kháng chiến. Để được gần gũi cha tôi nhiều hơn, mẹ tôi cũng xin vào làm việc tại phòng bào chế Penicilline, trở thành một cán bộ y tế. Tôi và các em tôi lại tiếp tục công việc học hành bị bỏ dở. Đó là những ngày hạnh phúc nhất của gia đình tôi.


Cha tôi là người Huế, thành phần tiểu tư sản trí thức. Mẹ tôi là người Huế, thành phần quan lại phong kiến. Cả hai đều đi theo Kháng chiến. Khởi đầu do cha tôi trong những ngày du học ở Nhật tình cờ đọc được lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bèn từ bỏ tất cả công việc nghiên cứu khoa học để về nước tham gia vào sự nghiệp chung của dân tộc. Để tránh con mắt dòm ngó của mật thám Pháp, cha tôi đã đáp tàu thuỷ từ Nhật bản về Thái Lan, tìm bắt liên lạc với đại diện của Chính phủ ta ở Bangkok, mà chẳng có một tổ chức nào giới thiệu, móc nối. Ông làm việc đó như một lẽ tự nhiên, chỉ vì một động cơ duy nhất: Lòng yêu nước. Hồi đó ở Bangkok có một phòng Thông tin của ta được hoạt động công khai. Nó là cơ quan đại diện duy nhất của chính phủ Kháng chiến ở nước ngoài. Phụ trách phòng thông tin này là ông Nguyễn Đức Quỳ và ông Nguyễn Song Tùng. Cha tôi phảỉ nằm chờ ở Bangkok một tháng để  hai ông xin ý kiến của lãnh đạo ở bên nhà. Cuối cùng họ nhận được điện của chính phủ yêu cầu đưa gấp cha tôi về nước. Từ Bangkok cha tôi được đưa đến biên giới Thái để sang Lào. Hành trang của cha tôi rất gọn nhẹ: hai bộ quần áo kaki, một chiếc kính hiển vi nho nhỏ là món qùa cho tôi và quan trọng hơn cả là một ống nghiệm đựng một loại nấm có khả năng tiết ra chất kháng sinh Peniciline mà cha tôi đã chiết xuất được trong phòng thí nghiệm ở Nhật. Sang tới đất Lào cha tôi được ghép đi cùng đoàn của Hoàng thân Suphanuvông cũng đang trên đường sang Việt Nam. Hơn một tháng cùng đi bộ với nhau hai người trở thành đôi bạn thân (tôi còn giữ được bức ảnh chụp chung hai người với lời ghi tặng bằng tiếng Pháp của Hòang thân Suphanuvơng  tặng cha tôi).


Từ  biên giới Thái qua Lào, rồi đi bộ xuyên Lào về Khu IV, lại từ khu IV đi bộ tiếp lên Việt bắc… ròng rã hơn 3 tháng trời cha tôi chỉ có một mối quan tâm duy nhất làm sao giữ được nguyên vẹn chiếc ống nghiệm đựng nấm mà không bị hỏng. Vừa ra tới Việt Bắc cha tôi đã được đưa lên gặp Bác Hồ. Cha tôi trình bầy với người về kế hoạch sản xuất nước lọc Peniciline để cứu chữa các vết thương cho bộ đội ngoài mặt trận. Bác Hồ chỉ thị ngay cho các vị bộ truởng trong chính phủ tạo mọi điều kiện để cha tôi có thể tiến hành sớm công việc của mình. Có một kỷ niệm vui trong lần gặp gỡ đó: Khi Bác sỹ Trần Duy Hưng đưa cha tôi lên gặp  Bác, chưa kịp giới thiệu thì bác cười và nói ngay: “Chú không cần giới thiệu. Cứ nhìn cái cravatte là bác biết ngay đây là chú Ngữ”. Thật vậy trong suốt những năm kháng chiến cũng như sau này trong hòa bình cha tôi không lúc nào rời chiếc cravatte. Nó là một thói quen biểu hiện cho sự nghiêm túc trong nếp sống của cha tôi.


Không bao lâu sau một phòng thí nghiệm bằng tranh tre nứa lá, được dựng lên ngay giữa căn cứ địa Việt bắc thuộc huyện Chiêm hóa, tỉnh Tuyên Quang. Nước lọc Peniciline được sản xuất, lập tức được đưa ra mặt trận để đắp vào các vết thương của bộ đội và tỏ ra vô cùng hiệu nghiệm. Về sau nhu cầu ngày càng nhiều cha tôi huấn luyện cho các dược sỹ quân y sản xuất nước lọc Peniciline ngay tại mặt trận.


        Biết bao vinh quang và khổ ải trên con đường đi theo cách mạng của một người trí thức yêu nước. Đôi khi tôi tự hỏi không biết những người như cha mẹ tôi đã phải tự kiểm điểm những gì trong những cuộc chỉnh huấn trên Việt Bắc vào năm 1953? Không biết họ có phải ân hận về xuất thân thành phần giai cấp của mình và điều đó có nhọc nhằn lắm đối với cha mẹ tôi không? Tôi chỉ được nghe kể rằng mẹ tôi chỉnh huấn rất thành khẩn, được biểu dương trong lớp, còn cha tôi thì chỉ im lặng, ít nói. Không lâu sau khi tham dự lớp chỉnh huấn đợt một thì mẹ tôi đột ngột qua đời. Khi bà  hôn mê,  cha tôi đang tham dự lớp chỉnh huấn đợt hai. Tôi đã không có trong mặt trong giờ phút lâm chung của mẹ tôi. Lúc đó tôi đang học mãi tận Nam Ninh bên Trung Quốc. Sau này tôi nghe bà tôi kể lại rằng mẹ tôi hôn mê ba ngay ba đêm liền, chờ cha tôi về mới trút hơi thở cuối cùng. Là bác sĩ nhưng ông đành bó tay bất lực vì đã quá muộn. Cha tôi nằm bên xác mẹ tôi suốt một đêm, rồi sáng hôm sau chôn mẹ tôi ngay trên nền nhà trước khi rời Việt Bắc để về tiếp quản Thủ đô. Đó là tổn thất lớn nhất của gia đình chúng tôi trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất.


Những ngày sau hoà bình lập lại công cuộc tiêu diệt bệnh sốt rét trên miền Bắc là công việc chiếm nhiều sức lực và trí tuệ nhất của cha tôi. Đó là lẽ sống và cũng là niềm say mê lớn nhất của cha tôi khi không còn mẹ tôi ở bên cạnh nữa. Cha tôi lại lặn lội trở về những khu căn cứ địa cũ như Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Lào Cai... để thực hiện một chương trình chống sốt rét toàn diện và quy mô chưa từng có. Tôi nhớ có lần cha tôi bỏ ra một ngày chủ nhật ngồi viết một truyện thiếu nhi để giáo dục việc phònhg chống sốt rét rồi đọc cho tôi nghe. Đó là một truyện ngắn giản dị, có hai nhân vật ông cháu. Có lẽ đó là truyện ngắn duy nhất mà cha tôi viết trong đời. Cha tôi đã làm tất cả những gì có thể làm để đẩy lùi căn bệnh ngàn đời hủy hoại sức khỏe của người Việt Nam. Sau 10 năm thực hiện chương trình, bệnh sốt rét căn bản đã bị đẩy lùi trên miền Bắc nước ta. Đây là thời gian tôi được sống gần cha tôi lâu nhất (từ khi đi học ở Liên-Xô về năm 1957 cho đến khi cha tôi hy sinh năm 1967). Thời gian đầu cha tôi được phân ở một căn hộ trên gác ba khu tập thể của Trường Y tại 16A phố Hàn Thuyên. Đến năm 1963 để tiện chỉ đạo công tác chống sốt rét và  có phòng thí nghiệm luôn ở ngay bên cạnh, cha tôi chuyển vào ở trong khu tập thể của Viện Sốt rét ở Mễ Trì, trả lại căn hộ trên tầng ba của khu tập thể ở Hàn Thuyên cho Trường Y, chỉ giữ lại cho tôi một căn phòng nhỏ 10m2 ở sân sau để tôi tiện đi làm (sau khi cha tôi mất không lâu thì khu nhà tập thể của Viện Sốt rét nơi cha tôi ở trước kia cũng bị bom Mỹ đánh sập).


Trong những ngày chiến tranh leo thang ra miền Bắc, cha tôi vẫn tiếp tục đi về các địa phương chỉ đạo công tác tiêu diệt sốt rét. Nhưng ông nhanh chóng nhận ra rằng nếu không ngăn chặn căn bệnh này từ bên kia vĩ tuyến 17 thì không thể nào giữ được thành quả của công cuộc chống sốt rét ở miền Bắc. Những tin tức về con số thương vong to lớn do sốt rét gây ra cho bộ đội ta ở chiến trường càng làm cha tôi ngày đêm day dứt không yên. Cuối cùng ông đã đi đến một quyết định không gì lay chuyển được: vào chiến trường Trị Thiên để nghiên cứu tại chỗ một thứ vắc xin miễn dịch sốt rét rồi ứng dụng ngay tại chỗ cho bộ đội. Sau nhiều lần đề đạt nguyện vọng của mình lên trên, cuối cùng ông đã được toại nguyện. Tôi biết trong quyết định này của cha tôi còn có một sự thôi thúc khác nữa. Cha tôi luôn mang trong lòng một nỗi nhớ khôn nguôi về mảnh đất chôn nhau cắt rốn của mình - xứ Huế. Ông hy vọng trong chuyến đi này có thể trở về gặp lại bà nội tôi, lúc đó đã cao tuổi lắm rồi, dù chỉ một lần. Nhưng đến ngày đất nước thống nhất, có thể về Huế được thì ông đã không còn. Ông đã mất trước đó 8 năm trong một trận bom B52 ở phía Tây huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Mơ ước của ông là tìm mọi cách giảm tử vong vì sốt rét cho bộ đội. Ông chưa tìm ra được vắc xin miễn dịch sốt rét cho họ thì ông đã chia sẻ với họ cái chết. Đó là nỗi đau thứ hai trong đời tôi, ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ sáng tác của tôi sau này trong điện ảnh.


Người đầu tiên báo cho tôi và em gái tôi Đặng Nguyệt Ánh cái tin này là Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Bộ trưởng Bộ Y tế hồi đó. Tôi còn nhớ đinh ninh lời ông nói như sau: Các cháu phải can đảm để đón nhận cái tin đau đớn này: Ba các cháu đã hy sinh tại chiến trường Trị Thiên vào lúc 2 giờ ngày 1 tháng 4 năm 1967. Cái tin đó đối với tôi quá đột ngột. Nó như một cơn bão ập đến quá nhanh khiến tôi không còn đủ tỉnh táo để nhận thức được những gì đã xảy ra. 


Mới ba tháng trước đây thôi, cha tôi còn đến ăn bữa cơm tối với luật sư Nguyễn Quế, bố vợ tôi trước khi lên đường. Ăn xong ông bế cháu Đặng Nhật Tân, cháu nội đích tôn của mình xuống cầu thang, rồi trao nó lại cho vợ tôi trước khi bước lên chiếc xe commăngca chờ sẵn. Bố vợ tôi, cùng tôi và vợ tôi bế cháu Tân đứng nhìn theo cho đến khi hai chiếc đèn đỏ sau xe khuất hẳn về phía đường Bà Triệu. Thực tình lúc đó tôi không hề linh cảm rằng đây là cuộc chia tay cuối cùng. Cha tôi vẫn thường hay đi công tác xa và hình ảnh ông với chiếc xe commăngca lấm bụi đường đã quá quen thuộc đối với tôi.


Một tháng sau tôi nhận được lá thư của cha tôi từ nơi tập trung ở Hoà Bình gửi về trước khi vào chiến trường. Lá thư như sau:


Nhật Minh và Phương Nghi yêu quý của ba!                                         


Ba hôm nay lên đường. Hai con ở lại công tác tốt, học tập tiến bộ và nuôi dạy cháu Nhật Tân khoẻ ngoan.


Thời gian bồi dưỡng ở chỗ tập trung ba luôn luôn mạnh khoẻ. Mang ba lô, leo dốc được như mọi người. Ba đem theo thừa một số tiền, ba mua một cái đồng hồ đeo tay gửi về để tặng Nhật Minh. Các con chuyển lời chào và chúc Tết của ba đến ông cụ của Phương Nghi.


                                                                                   Ba


                                                                                  Đặng Văn Ngữ


Chú ý: Ngày đi của ba phải giữ rất bí mật trong thời gian 2 tháng. Sau Tết, hôm nào rỗi các con đến Viện, hỏi chìa khoá ở đ/c Hùng để vào phòng ba sắp xếp áo quần cho gọn. Có mấy chiếc tất chưa giặt, con giặt hộ. Trong phòng vẫn để đồ đạc như như lúc ba còn ở nhà (trải tấm trùm giường lên giường, để khăn bàn và bộ đồ trà như thường lệ).


Tôi từng nghe nói khi đang ở trong tâm bão người ta không hình dung ra hết được sức mạnh của cơn bão. Cái tang đau đớn này đối với gia đình tôi cũng vậy, nó như cơn bão ập đến quá bất ngờ... và khi nó đi qua rồi, mới cảm thấy hết sự khốc liệt của nó. Em gái thứ hai của tôi là Đặng Nguyệt Quý lúc đó đang học ở Liên Xô không chịu đựng được nỗi đau này, đã lâm bệnh rồi mất sau đó hai năm. Lúc đó nó mới 28 tuổi.


Hình 4: Tấm biển nhôm có khắc tên Bác sĩ Đặng Văn Ngữ được đồng đội chôn theo di hài của Bác sĩ tại Trường Sơn năm 1967


Cha tôi nằm trên Trường Sơn lặng lẽ suốt hai mươi năm cho đến khi tình cờ một người tiều phu phát hiện được mộ ông như mộ một người lính vô danh. Trong gói vải dù bọc một ít di hài của ông chỉ có một tấm biển nhôm khắc vẻn vẹn mấy chữ: Đặng Văn Ngữ. 1-4-1967. Người ta nghĩ rằng đó là hài cốt của một chiến sĩ nào đó chưa rõ tông tích nên đã quy tập về Nghĩa trang liệt sĩ xã Phong Mỹ, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Cha tôi còn nằm đó thêm 5 năm nữa cho đến khi anh em chúng tôi dò tìm ra được. Suốt 5 năm đó nguời chăm sóc hương khói cho cha tôi là các thầy cô giáo cùng các em học sinh Truờng Tiểu học xã Phong Mỹ. Ngôi trường nằm ngay cạnh nghĩa trang chỉ cách một con đường. Hàng năm cứ đến ngày thương binh liệt sỹ, ngày quốc khánh, ngày Tết thầy trò của trường sang quét dọn nghĩa trang, cắm những bó hoa và thắp hương trên những ngôi mộ. Cả trường và cả địa phương đều không biết đấy là mộ của ai. Cái đêm gia đình tôi ngồi ở nghĩa trang chờ sáng để đưa hài cốt của cha tôi về chôn cất trong nghiã trang Đặng tộc trên nuí Ngự Bình là một đêm thật khó quên. Các thầy cô giáo của trường đã thức suốt đêm cùng chúng tôi túc trực bên ngôi mộ mà cho đến bây giờ họ mới biết đó là mộ của một nhà khoa học nổi tiếng đã ngã xuống trên quê hương họ. Năm giờ sáng hôm sau các em học sinh toàn trường đã tề tựu đông đủ, đứng xếp hàng dọc hai bên đường từ cổng nghĩa trang cho đến đầu làng để tiễn biệt linh hồn cha tôi về với những người thân. Giây phút đó thật linh thiêng. Bất giác tôi nhớ tới một câu trong ca khúc của Trịnh Công Sơn: “Người chết nối linh thiêng vào đời….”.


Vậy là sau 46 năm xa cách, cha mẹ tôi cuối cùng đã về bên nhau.


Hình 5: Mộ phần Bác sĩ Đặng Văn Ngữ cùng vợ và con gái tại nghĩa trang gia đình ở Huế


Hình 6: Đường mang tên Bác sĩ Đặng Văn Ngữ tại Quận Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh


Vào đời


Như trên đã nói, tôi học tiểu học tại trường tiểu học An Cựu và năm đầu trung học tại trường Quốc Học (Khải Định) - Huế. Hồi học tiểu học tôi là một học sinh rất nhút nhát, không biết chơi bi, đá cầu, đánh khăng, đánh đáo v.v... Mỗi lần nghe tiếng trống ra chơi là tim tôi thót lại vì sợ bị các bạn bè trêu chọc. Đi học tôi rất ngại phải mặc quần áo đẹp vì sợ bị chúng bạn cho là con nhà giàu, lại càng bị trêu chọc hơn. Giờ ra chơi tôi chỉ biết đứng khép nép một chỗ, mong cho chóng được vào lớp. Học lực của tôi rất xoàng chỉ khi lên trung học mới khá dần. Khi ra Việt Bắc vì ở An toàn khu Chiêm Hoá không có trường trung học, nên tôi phải xuống cây số 7 ở Tuyên Quang cách Chiêm Hoá 70 cây số ở trọ để học tiếp chương trình phổ thông tại trường trung học kháng chiến Tân Trào. Cha mẹ tôi gửi tôi ở nhờ nhà một người bà con của bác Nguyễn Văn Huyên, Bộ trưởng Bộ giáo dục trong Chính phủ kháng chiến. Cùng ở trọ tại đây có chị Hồ Thể Lan con giáo sư Hồ Dắc Di và chị Nữ Hạnh con bác Huyên.  Một năm sau tôi lại phải rời Tuyên Quang để sang Trung Quốc học tiếp tại trường Thiếu sinh quân Việt Nam theo chủ trương của trên dành cho con em cán bộ trong kháng chiến.


Tôi chia tay bố mẹ và hai em gái, đi theo một cán bộ của Văn phòng Chính phủ đến đón. Tôi không ngờ rằng đó là lần cuối cùng tôi được nhìn thấy mẹ tôi. Bà đứng trên nương, ở cuối con đường đất nhìn theo hút bóng tôi cho đến khi khuất hẳn. Mới 12 tuổi, tôi đã phải xa gia đình, xa những người thân, giã từ những cánh rừng, những nương sắn, con suối Quẵng trong vắt với những chiếc mảng ngóc đầu, bếp lửa hồng trong những đêm Việt Bắc giá lạnh... Tất cả đối với tôi đó là những kỷ niệm tuổi thơ không bao giờ phai.


Đoàn con em cán bộ gồm có 50 người, đi cùng ông Lưu (tôi không nhớ họ của ông) sang Trung Quốc nhận chức Biện sự sứ của Việt Nam tại Nam Ninh (một chức như đại diện ngọai giao khi hai nước chưa có quan hệ chính thức). Ông Lưu đi ngựa, còn chúng tôi thì đi bộ lên biên giới. Qua tới Thủy khẩu, chúng tôi được các đồng chí Trung Quốc đón lên Nam Ninh bằng xe ô tô vận tải. Sau đó chúng tôi được chuyển về Trường Thiếu sinh quân Việt Nam đóng tại làng Tâm Hư cách thành phố Nam Ninh chừng 10 cây số để rồi không lâu sau chuyển lên Quế Lâm với cái tên trường bằng tiếng Trung Quốc nghe thật ấn tượng: Quế Lâm dục tài học hiệu.


Trường Thiếu sinh quân Việt Nam được thành lập từ năm 1949 ở Thái Nguyên. Sau khi có chủ trương không dùng thiếu nhi để làm liên lạc trong quân đội nữa các em được tập trung về đây để học văn hóa, nhưng cách tổ chức của trường thì vẫn giữ nguyên như trong quân đội. Toàn trường là một tiểu đoàn, do tiểu đoàn trưởng Trần Trường làm hiệu trưởng. Các lớp là các đại đội. Mỗi đại đội có các trung đội, tiểu đội. Tôi trở thành một anh lính thiếu sinh quân mặc dầu chưa tham gia chiến đấu bao giờ. Sáng ra, toàn trường cũng tập họp điểm danh, tập đi đều, dập gót, quay phải, quay trái. Tối đến điểm danh, nghe đại đội trưởng (tức thầy chủ nhiệm lớp) nhận xét phê bình, đúng theo quân kỷ. Hồi đó ở Trung Quốc đang có phong trào Thổ cải. Hàng ngày người ta đem địa chủ ra bắn ở cánh đồng ngay sau lưng trường trước con mắt kinh hãi của lũ trẻ chúng tôi. Chúng tôi được tổ chức đi tham quan triển lãm tội ác của địa chủ Trung Quốc. Ai cũng căm giận địa chủ, mặc dầu chưa hề biết mặt mũi địa chủ như thế nào. Ai cũng mong nước ta sớm làm Thổ cải như Trung Quốc để giải phóng cho nông dân. Rồi nhà trường tổ chức cho học sinh xem phim Bạch Mao nữ để viết thu hoạch cá nhân. Chúng tôi trút căm thù lên đầu tên địa chủ Hoàng Thế Nhân, cứ như hắn là người có thật chứ không phải nhân vật trong phim nữa. Tiếp đến là phong trào Tam phản Ngũ phản. Các cán bộ Trung Quốc làm việc trong trường họp hành đấu tố thâu đêm suốt sáng. Những người không thành khẩn bị nhốt trong phòng, đứng giữa một vòng tròn bằng phấn trắng. Có hôm buổi sáng ra giếng rửa mặt, chúng tôi thấy xác người ở dưới giếng. Một cán bộ Trung Quốc đã nhảy xuống giếng tự tử vì không chịu nổi căng thẳng đấu tố. Tôi học tiếng Trung Quốc rất khá, được coi là học trò cưng của cô giáo trẻ người Bắc Kinh. Các học sinh lớn trong trường lần lượt trở về nước tham gia chiến đấu (có người trở thành anh hùng trong chiến dịch Điện Biên Phủ). Đầu năm 1953, khi tôi học cấp III thì trường chuyển về khu học xá Nam Ninh. Tại đây có trường sư phạm rất lớn đào tạo đội ngũ giáo viên nòng cốt cho ngành giáo dục sau này.


Giữa năm 1954 khi tôi đang học năm cuối cùng của trung học thì cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc. Hòa bình được lập lại, Chính phủ về tiếp quản Thủ đô. Trường tôi nhận được lệnh trên cử 100 học sinh sang Liên Xô học tiếng Nga cấp tốc để trở về làm phiên dịch. Hồi đó chúng tôi được giáo dục rằng làm bất cứ nghề gì trong xã hội cũng đều vinh quang miễn là làm tốt nhiệm vụ mà xã hội giao và biết phục tùng sự phân công của tổ chức. Mọi ý thích lựa chọn nghề nghiệp là biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, đầu óc địa vị.


Tất cả lớp tôi đều được chọn vào danh sách đi Liên Xô, trừ 7 người ở lại để vào học tiếp tại các trường Đại học ở Trung Quốc. Đây là những học sinh có năng khiếu về các môn tự nhiên. Tôi nằm trong danh sách 7 người này (lên cấp ba tôi bỗng nhiên trở thành một học sinh khá về các môn tự nhiên). Một trăm học sinh sắp đi Liên Xô được nghỉ học để học tập chính trị, được may sắm com-lê, cà-vạt, giầy da, vali. Còn 7 đứa chúng tôi ngao ngán nhìn các bạn sắp được đến nơi “Thiên đường của trái đất”. Tôi nhớ năm 1951, Đoàn đại biểu Thanh niên Việt Nam sau khi tham dự Đại hội Liên hoan thanh niên sinh viên thế giới ở Berlin trở về có ghé vào trường chúng tôi kể chuyện. Tôi nhớ họ kể về Thủ đô Mạc Tư Khoa như sau: Đường phố sạch sẽ bóng lộn đến nỗi quệt tay xuống đất, tay vẫn sạch; ruồi nhặng không hề có, đến nỗi các nhà bác học Liên Xô muốn nghiên cứu một con ruồi phải nhờ đưa từ châu Phi sang. Thật đúng là thiên đường! Vậy mà 7 đứa chúng tôi lại phải ở lại. Nhưng bỗng một hôm, sát ngày đoàn lên đường, tôi được Ban giám hiệu nhà trường gọi lên cho biết tôi được bổ sung vào danh sách đi Liên Xô thay cho một bạn vừa phát hiện có bố ở bên nhà là địa chủ. Bạn đó tên là Phạm Gia Doanh, bạn thân với tôi, vốn là một học sinh thông minh, đẹp giai, được các thầy cô rất mến. Sau này thỉnh thoảng gặp Doanh, khi ôn lại chuyện cũ tôi vẫn thường nói vui: lẽ ra tôi phải ngồi ở chỗ của cậu bây giờ (Doanh sau này làm Giám đốc vận tải đường sông rồi Giám đốc công ty xây dựng Cảng). Mà thật vậy. Nếu hồi đó bên nhà không kịp báo sang cho trường biết bố Doanh là địa chủ thì Doanh đã đi Liên Xô rồi (chỉ còn 3 ngày nữa là đi). Còn tôi thì chắc chắn sẽ là một kỹ sư hàng hải tốt nghiệp đại học Thiên Tân như Doanh bây giờ. (Về sau bố Doanh được minh oan nên Doanh lại được học tiếp Đại học ở Trung Quốc). Cùng đi với đoàn 100 học sinh học tiếng Nga còn có 50 em nhỏ con các cán bộ cao cấp sang Liên Xô học phổ thông để rồi vào tiếp đại học (trong số này nhiều người học đến phó tiến sĩ, tiến sĩ, sống ở Nga đến hàng chục năm) và 30 anh chị em sinh viên khoa học cơ bản trong kháng chiến (nhiều người trong số này trở thành những nhà khoa học có tên tuổi). Tất cả đáp một chuyến tàu riêng tới Bắc Kinh, dừng lại ở đó vài ngày để chờ đại diện đoàn thanh niên Cômxômôn Liên Xô sang đón. Lúc này tôi mới được đưa đi may sắm quần áo giày dép. Từ Bắc Kinh chúng tôi lại lên tàu đi tiếp sang Liên Xô. Đến ga nào đoàn thanh niên Cômxômôn địa phương cũng trống dong cờ mở ra đón. Cứ như vậy một tháng sau chúng tôi đến Mạc Tư Khoa.


Những ngày học tiếng Nga ở Mạc Tư Khoa đối với tôi thật đáng nhớ. Các thầy cô giáo người Nga không biết một chữ tiếng Việt, còn chúng tôi thì không biết nửa chữ tiếng Nga. Từ điển Nga-Việt hồi đó chưa có. Buổi lên lớp đầu tiên, các bà giáo chỉ vào từng đồ vật, chỉ vào tranh rồi phát âm từng tiếng Nga, cả lớp đọc theo như vẹt. Ghi chép vào vở thế nào thì tùy, miễn hôm sau lên lớp trả lời cho đúng. Chúng tôi bèn tìm mọi cách để nhớ. Ví dụ quả táo tiếng Nga gọi là iabơlơcơ thì cứ nhớ là da Bảo Lộc khô (vì trong lớp có bạn tên là Bảo Lộc). Cái tách là tadư thì cứ nhớ là Tài Dư (trong lớp có bạn tên là Tài Dư) v.v... Riêng từ con voi tiếng Nga phát âm là Xờ-lôn thì cả lớp ai cũng thuộc.


Chừng 3 tháng sau, một hôm bà giáo viết lên bảng 32 chữ cái của tiếng Nga bắt chúng tôi chép vào vở, rồi ghép vần, tập đọc. Không lâu sau chúng tôi được học văn phạm và rồi cứ như vậy, tiếng Nga đi vào đầu chúng tôi lúc nào không biết. Trong thời gian học ở Liên Xô có một kỷ niệm mà tôi không bao giờ quên. Đó là vào dịp Quốc khánh 2 tháng 9 năm 1955, chúng tôi được đưa đến Cung Hữu nghị ở Matxcơva để dự mít tinh và sau đó xem bộ phim tài liệu Việt Nam của đạo diễn Roman Karmen vừa mới làm xong. Đây là lần đầu tiên có một phim tài liệu nói một cách đầy đủ về cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp, mà lại là một phim màu. Tôi sung sướng bất ngờ khi nhìn thấy trên màn ảnh hình ảnh cha tôi, mẹ tôi, dì tôi đang làm việc trong phòng thí nghiệm trên chiến khu Việt Bắc. Cha tôi đi đi lại lại trong phòng thí nghiệm trao đổi với các y tá, xét nghiệm viên. Tôi lại càng ngạc nhiên hơn khi sau buổi chiếu phim, một cán bộ Đại sứ quán tìm tôi cho biết cha tôi hiện đang có mặt ở Mátxcơva. Cha tôi sang đây trong đoàn đại biểu chính thức đầu tiên của Chính phủ ta sang Liên Xô để đặt vấn đề xin viện trợ xây dựng lại đất nước sau khi chiến tranh vừa kết thúc. Mỗi lĩnh vực có một người, cha tôi đại diện cho ngành Y tế. Thật cảm động, sau khi mẹ tôi mất, đây là lần đầu tôi được gặp lại cha tôi kể từ ngày tôi chia tay với gia đình trên Việt Bắc năm 1950.


Sau gần hai năm học tập, chúng tôi đã hoàn thành xong việc học tiếng Nga, sẵn sàng trở về nước phục vụ, với một chứng chỉ do nhà trường cấp (sau này về nước tôi phải thi để lấy bằng Đại học Sư phạm ngoại ngữ trong nước như một thí sinh tự do). Dầu sao trong hai năm đó tôi đã kịp yêu nước Nga, thiên nhiên Nga, con người và văn học Nga. Tôi biết ơn các thầy cô giáo Nga đã dạy cho tôi một thứ ngôn ngữ - ngôn ngữ của Puskin, của Tolstoi, của Sekhov. Nó giúp tôi rất nhiều trong bước đường tự học sau này để trở thành một đạo diễn điện ảnh. Thực tình tôi không có quãng đời học sinh, sinh viên trẻ trung, sôi nổi, như lớp trẻ bây giờ. Sự học của tôi luôn luôn bị gián đoạn, dở dang...


(còn tiếp)


 


Nguồn: Hồi ký điện ảnh của Đặng Nhật Minh. NXB Văn Nghệ TP Hồ Chí minh, 2005. Tái bản có bổ sung.

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 19.06.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
xem thêm »