tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21047617
Tiểu thuyết
14.12.2015
Bạch Diện Nguyễn Văn Cư
Hà Nội xưa và nay

THỰC DÂN PHÁP HẠ THÀNH HÀ NỘI HAI LẦN


Việc thực dân đánh chiếm Hà Nội hai lần: lần thứ nhất là năm Quý Dậu (1873) và lần thứ hai năm Nhâm Ngọ (1882), các sách vở xuất bản trước nay đều nói rất nhiều căn cứ vào các sử sách của ta, của Pháp và các bài ca, bài vè, bài "Chính khí ca" nên ở đây chúng tôi không nói lại nữa. Chúng tôi chỉ ghi chép những điều do các cố lão kể lại về dân tình Hà Nội hồi bấy giờ.


Khi Pháp hạ thành Hà Nội năm Quý Dậu, nhằm vào năm Hà Nội có khoa thi hương, học trò các nơi kéo về Hà Nội từ tháng Tám âm lịch để chờ thi vào khoảng đầu tháng Mười, nhưng vì việc thực dân Pháp khiêu khích, triều đình Huế hạ lệnh hoãn khóa thi tại Hà Nội. Trước sự khiêu khích của thực dân Pháp, người Hà Nội và nhất là đám học trò đều tỏ ra rất tức giận. Đại đa số người Việt Nam, nhất là những người ở nông thôn ra Hà Nội lần đầu tiên mới được trông thấy tên lính thực dân Pháp. Thấy chúng mặc quần sát với ống chân, họ cho là chân chúng chỉ có một gióng, ngã là khó dậy được. Họ bàn nhau lấy ổi xanh rắc xuống đường, bọn giặc trơn ngã, xông ra mà bắt sống. Người thì bàn lấy muối ớt, hạt tiêu, nắm trong tay khi đánh xáp lá cà xát vào mắt tụi lính thực dân là bắt sống rất dễ. Các bà thì lấy nhọ nồi bôi lên mặt, để đầu tóc rối bù, xắn váy lên chửi, vì các bà sợ để mặt mũi đầu tóc sạch sẽ, bị chúng hãm hiếp.


Tên thực dân Francis Garnier chiếm được thành Hà Nội sau khi cụ Nguyễn Tri Phương bị thương nặng, con cụ là Nguyễn Lâm bị hy sinh. Tên tướng giặc quyết giữ lấy thành và đặt quan cai trị. Triều đình Huế phái Trần Đình Túc ra điều đình để “xin” lại thành, nhưng khi đó hai ông Tôn Thất Thuyết và Hoàng Kế Viêm đóng ở Sơn Tây phái Lưu Vĩnh Phúc chỉ huy quân Cờ đen(1) đem quân về đánh chiếm lại thành. Ngày mùng 2 tháng 11 năm Quý Dậu (21-12-1873), quân Cờ đen kéo về tới cánh đồng làng Giảng Võ, tên Francis Garnier đương hội bàn với Trần Đình Túc, được tin báo liền bỏ cuộc họp, hùng hổ đem quân đi chặn đánh quân Cờ đen. Lưu Vĩnh Phúc cho quân mai phục các nơi hiểm yếu và cho một toán quân đi khiêu chiến. Francis Garnier rơi vào ổ phục kích, bị quân Cờ đen chém rụng đầu, quan và lính Pháp bị chết hại một số, những tên sống sót vội rút lui về Hà Nội. Quân Cờ đen không đuổi theo, kéo về đóng ở làng Thầy tức làng Sài Sơn. Bấy giờ vào cuối tháng Chạp âm lịch, giáp Tết Nguyên đán, dân làng đã gói bánh chưng chuẩn bị ăn Tết, thấy quân Cờ đen đóng đầy làng sợ có cuộc giao chiến, mọi nhà đều ném bánh chưng xuống ao, đem thóc gạo quần áo và các món đồ quý giá chạy vào rừng Bạch Thạch lánh nạn. Một tháng sau nghe tin quân Cờ đen đã rút cả về Sơn Tây, trong làng không xảy sự gì, mọi nhà lại kéo về làng. Họ vớt bánh chưng lên xem thấy bánh vẫn thơm ngon, liền sửa soạn nhà cửa bàn thờ cúng Tết và làm cỗ bàn ăn Tết, do đó người ta gọi Tết này là Tết cùng. Tục ăn Tết cùng của nhân dân làng Sài Sơn còn mãi đến Cách mạng tháng Tám mới bãi bỏ.


Sau khi tên Francis Garnier bị chết ở cánh đồng làng Giảng Võ chỗ đê La Thành, bọn thực dân Pháp xem chừng không thể chiếm giữ được thành, vì nhân dân Hà Nội căm tức và phản đối kịch liệt, nên chúng phải trao trả thành cho quan lại Việt Nam và rút xuống đóng ở Đồn Thủy. Tuy trao trả thành, bề ngoài chúng làm ra mặt không can thiệp đến nội bộ Việt Nam, nhưng chúng đã quyến rũ được một số tên lưu manh làm gián điệp, làm tay sai cho chúng. Chúng đã vẽ được bản đồ toàn thành Hà Nội, ghi chú rõ ràng, chờ thời cơ đánh chiếm hẳn. Cách mười năm, vào năm Nhâm Ngọ (1882) thời cơ ấy đã đến. Tên tướng thực dân Henri Rivière gây sự và đánh thành Hà Nội lần thứ hai vào giữa giờ Thìn ngày mùng 8 tháng 3 (hồi 8 giờ 30 ngày 25 - 4 - 1882). Cụ Hoàng Diệu với chức vị Hà - Ninh Tổng đốc thân hành chỉ huy cuộc kháng chiến tại cửa Bắc. Cuộc chiến đấu rất anh dũng, quân lính Pháp chết hại nhiều. Chiếc tàu chiến Fanbare đỗ ngoài sông Hồng bắn đại bác vào cửa Bắc, một phát đạn trúng tường thành, đến nay còn ghi lại dấu vết. Nhưng quan và lính ta không hề nao núng. Giữa lúc chiến đấu đang hăng bỗng kho súng ở mạn cửa Tây bốc cháy, rồi quân lính Pháp bắc thang trèo vào thành, trong thành nhốn nháo, thì ra có kẻ phản bội làm nội ứng cho giặc. Cụ Hoàng Diệu thấy đại cục đã hỏng, biết thành không thể chống giữ được nữa, vào võ miếu trong thành thắt cổ trên cành cây táo tự ải, chết theo thành giữ toàn danh tiết. Tên tướng Hanri Rivière kéo quân vào thành đóng trên điện Kính Thiên, biết rõ cụ Hoàng Diệu đã tuẫn tiết, liền sai quân lính Pháp phá hết các công trình phòng ngự trong thành và sai tên thông ngôn Phong đi tìm tuần phủ Hoàng Hữu Xứng và án sát Tôn Thất Bá về để nó trao trả thành, nhưng bọn này phải làm việc dưới quyền chỉ huy của nó, còn nó vẫn ngự trị trên điện Kính Thiên là nơi ta coi là cao quý nhất chỉ có ông vua mới được ở.


Dân Hà Nội được tin cụ Hoàng Diệu tuẫn tiết theo thành đều khóc râm ran cả lên. Mọi người xông bừa vào thành dưới sự chỉ huy của cụ cử Kim Cổ Ngô Văn Dạng để tìm thi hài cụ Hoàng Diệu. Mọi người xúm vào khâm liệm, nhập quan rồi khiêng quan tài ra Học Trình đường tức là dinh đốc học ở vào mạn ga phố Trần Quý Cáp ngày nay. Cuộc tế lễ và viếng tang được tổ chức luôn mấy ngày, người dự tang lễ rất đông. Quan tài được rước lên quàn tại miếu Trung Liệt trên gò Đống Đa. Mấy tháng sau, gia quyến cụ rước vào Quảng Nam an táng tại quê nhà.


Xác chết của binh lính Pháp do chúng đem chôn tại bãi đất trống trước đền Quán Thánh. Đến năm 1963, người Pháp ở đây xin với chính phủ ta bốc hết hài cốt đem về Pháp.


Tên tướng giặc Henri Rivière tịch thu hết các kho tàng trong thành. Theo tài liệu của ông Hoàng Xuân Hãn sưu tầm trong sách của Pháp, thì Tôn Thất Bá lén lút xin Henri Rivière và Kergaradec (khi ấy làm lãnh sự Pháp tại Hà Nội đặt tại nhà số 82 Hàng Gai bây giờ) cho hắn một vạn quan tiền đen (tức tiền kẽm do ta đúc) trong kho bạc trong thành[1]. Hắn trích ra 1.200 quan nhờ thông Phong, bạn thân của hắn, giao cho một người đàn bà đem vào Quy Nhơn đổi lấy bạc trắng vì bạc trong ấy rẻ. Khi thuyền đến cửa Thị Nại, các quan trong nha Thương bạc xét hỏi, vì số tiền nhiều quá, người đàn bà tự nhận là vợ thông Phong đem tiền về Nam kỳ. Các quan này tự hỏi các quan chức Pháp, bọn Pháp lại đánh điện hỏi Henri Rivière, tên này viết thư bảo phải cho người đàn bà được đem tiền đi qua. Các quan Việt Nam ở cửa Thị Nại không dám can thiệp nữa. Một việc này đủ tố cáo sự phản bội của Tôn Thất Bá khi Pháp hạ thành Hà Nội lần thứ hai.


Ngoài tên Bá còn nhiều tên khác nhân lúc nhốn nháo lẻn được vào thành để đánh cắp, vì hồi bấy giờ quân lính Pháp có phá một mảng tường thành về phía Cửa Đông để ra ngoài mua bán thức ăn ở cái chợ gần đó. Chợ này họp từ lâu đời tại một nơi vào khoảng phố Hàng Phèn và phố Thuốc Bắc, sau này lập thành phố. Pháp đặt tên phố Hàng Phèn là phố chợ cũ (Rue du vieux marché). Nguyễn Bá Kim hồi bấy giờ còn làm chánh tổng ở Hà Nội cũng lẻn được vào thành vơ vét trở nên giàu to. Một người tên là Lang Hoạt cũng vớ bẫm. Lang Hoạt ở phường Hàng Thiếc thi hương vào đến tam trường rồi xoay ra làm thuốc. Sau khi Pháp hạ thành Hà Nội lần thứ hai, lão vơ vét được của bỏ nghề làm thuốc đi buôn gà bán cho Pháp. Các lồng gà lão thuê người xếp lên những xe cút kít[2] chở đến cửa Đông, nơi lính Pháp đục tường thành để đi chợ, xếp đầy một góc chờ lính Pháp ra mua. Do đó sau này phố Cửa Đông có tên là phố Hàng Gà Cửa Đông. Về sau Lang Hoạt mở nhà xuất bản các sách truyện chữ Nôm, tự ý sửa chữa nhiều câu văn trong các truyện Nôm cổ, nhất là truyện Lục Vân Tiên.


Sau khi hạ thành Hà Nội, Henri Rivière đem quân đi chiếm các tỉnh. Tự Đức sai Trần Đình Túc và Nguyễn Hữu Độ ra Hà Nội điều đình xin lại thành. Henri Rivière bằng lòng trả lại thành, nhưng nó vẫn đóng trên đền Kính Thiên và đòi Hà Nội cùng toàn hạt Bắc kỳ phải đặt dưới quyền bảo hộ của Pháp. Trần Đình Túc phái người lên Sơn Tây bảo Hoàng Kế Viêm đem quân về đánh chiếm lại Hà Nội. Hoàng Kế Viêm lại xin Lưu Vĩnh Phúc đem quân Cờ đen tiến về Hà Nội. Henri Rivière đem quân lên mạn Cầu Giấy chặn đánh. Quân Cờ đen mai phục ở đầu làng Dịch Vọng, nó gọi là Vai Bò. Khi quân Pháp vượt cầu bắc qua sông Tô Lịch tiến lên, mắc vào ổ phục kích, quân Cờ đen xông ra đánh chém rất dữ. Họ dùng mã tấu múa tít lên chém rụng đầu Henri Rivière và một số lính Pháp. Những tên sống sót hoảng sợ rút về Hà Nội. Quân Cờ đen không đuổi theo, rút về Sơn Tây. Nơi tên Henri Rivière bị chém rụng đầu, thực dân Pháp xây cái mả giả bằng gạch cao một thước, hàng năm chúng cử hành lễ truy điệu đúng vào ngày 19 tháng 5, ngày tên Henri Rivière bị chém chết năm 1883. Chúng bắt cả các thân hào kỳ lão các làng chung quanh đó ra dự lễ và bắt đọc văn tế theo lối cúng tế của Việt Nam. Một cụ đồ trong làng Dịch Vọng bị kỳ hào ép làm văn tế và đọc văn tế, cụ tức giận, làm bài văn tế có những câu như sau:


"Cái tóc ông quăn, cái mũi ông lõ/ Đít ông cưỡi lừa, mồm ông huýt chó/ Ông đã thất cơ, ông bị chém cổ / Khốn nạn cho cái thân ông/ Đéo mẹ cha thằng chúng nó"[3]. Có anh cố đạo bảo cho tụi Pháp biết rằng người Việt Nam đọc văn tế chửi xỏ đấy, từ bấy giờ chúng không bắt kỳ hào ra làm lễ truy điệu nữa. Có người nói bài văn tế này do cụ Yên Đổ Nguyễn Khuyến làm là không đúng. Hai lần, hai tên tướng Pháp bị quân Cờ đen chém rụng đầu, những người Thanh buôn bán tại Hà Nội đều lo sợ quân Pháp “giận cá chém thớt” bắt bớ chém giết họ để báo thù. Họ hốt hoảng thúc người khuân vác đồ đạc ra sông để tản cư sang Gia Lâm: người thuê cáng, cáng đồ đạc và cáng người xuống vùng Sét để lánh nạn. Hồi bấy giờ, những người Thanh, đàn ông, đàn bà đều tết tóc đuôi sam để thõng ra sau lưng; đàn ông đội cái mũ vải không có vành giống như quả dưa bổ đôi chụp trên đỉnh đầu; đàn bà cũng mặc áo dài quét gót và đại đa số đều bó chân. Bàn chân của họ chỉ bé bằng nắm tay, đi không nổi. Trong thành phố Hà Nội bấy giờ rất hỗn độn, các nhà giàu Việt Nam cũng sợ có cuộc đánh nhau trong phố đều chạy tản cư về quê. Những người chở đò, khiêng cáng tăng giá chuyên chở. Bọn lưu manh đưa những tin đồn đại thất thiệt làm cho những người Thanh và người Việt giàu có hoảng sợ lo chạy loạn để chúng cướp bóc vơ vét. Các chợ luôn xảy ra những vụ cướp chợ. Thời Pháp hạ thành Hà Nội lần thứ hai, nhiều nhà yêu nước mộ nghĩa quân các nơi về Hà Nội đánh tỉa quân Pháp khi chúng đi lẻ ngoài phố. Cụ Nguyễn Tư Giản hồi bấy giờ đương giữ chức vụ đê chính ở làng cói Du Lâm, ngừng công việc để đi mộ nghĩa quân. Cụ sang cả làng Xuân Cầu hồi bấy giờ thuộc huyện Văn Giang tỉnh Bắc Ninh cùng tỉnh với làng cói Du Lâm. Cụ đến ở nhờ nhà ông chú tôi là ông Nguyễn Gia Cơ thường gọi là ông Quản Ba ở thôn Tam Kỳ. Mọi người vẫn gọi cụ là cụ Thượng Lại, vì cụ làm Thượng thư bộ Lại kiêm việc đê chính. Cụ được triều đình phái ra Bắc kỳ coi việc đê chính đề phòng trước nạn lụt. Làng cói Du Lâm, nơi hay xảy ra nạn lụt hàng năm, là quê hương của cụ. Công việc mộ nghĩa quân của cụ đang tiến hành thì có lệnh của triều đình bắt buộc các nơi phải đình chỉ việc đánh Pháp. Cụ là mệnh quan của triều đình nên phải đình chỉ việc mộ nghĩa quân và trở về Huế. Còn các nơi do các bậc văn thân yêu nước chỉ huy nghĩa quân vẫn ngấm ngầm chuẩn bị việc chống Pháp. Sở dĩ có lệnh đình chỉ chống Pháp là vì ông vua Tự Đức chết ngày 16 tháng 6 năm Quý Mùi (19-7-1883), nội bộ triều đình Huế lục đục, thực dân Pháp bắn đại bác và tiến quân vào cửa Thuận An, triều đình Huế xin giảng hòa. Ngày 23 tháng 7 năm ấy (24-8-1883), bọn quan lại trong Huế phải ký hòa ước nhận sự bảo hộ của Pháp tại Việt Nam. Hòa ước này gọi là hòa ước Harmand. Tại Hà Nội bọn võ quan và binh lính Pháp vẫn đóng trên đền Kính Thiên trong thành và để cho một số quan lại Việt Nam làm việc trong các nha thị trong thành do Hoàng Hữu Xứng (tuần phủ) và Tôn Thất Bá (án sát) điều khiển dưới quyền giám sát của Pháp. Về phía ngoài thành, Pháp xây dựng thêm nhà cửa ở khu Đồn Thủy căn cứ của chúng, sửa sang và làm một số đường sá đi vào các phố phường (vẫn chỉ là đường đất đắp và nện kỹ). Chúng xây dựng lan cả đến mạn Tràng Tiền, tức là phố Tràng Tiền ngày nay. Một nhà hôtel đầu tiên được xây dựng lên tại phố này lấy tên là Khách sạn Pháp quốc (Hôtel de France) nay là khách sạn Dân Chủ gần xế cửa Nhà in báo Nhân Dân. Nhiều anh Việt Nam đâm đầu ra đấu thầu gỗ, ngói gạch, vôi, cát cho Pháp xây dựng. Bọn Pháp chiếm ngôi nhà 82 phố Hàng Gai làm tòa lãnh sự Pháp. Trước cửa treo cái biển bằng gỗ kẻ chữ “Résident de France”. Chúng mở trường học Pháp - Việt đầu tiên tại phố Hàng Gai gần tòa đại sứ do mấy anh cố đạo Pháp nói tiếng Việt dạy học và chiêu dụ người đến học. Trong số học trò ấy có hai người là Hoàng Trọng Phu và Bạch Thái Bưởi, sau này được Pháp đưa sang Pháp học. Hoàng Trọng Phu là con giai thứ hai của Hoàng Cao Khải, còn Bạch Thái Bưởi là con ruột một anh chuyên nghề đấu thầu cung cấp các nguyên vật liệu cho Pháp xây dựng.


Hồi bấy giờ có nhiều tên lưu manh dựa vào thế lực Pháp khinh thường các luật lệ của Việt Nam và khinh miệt cả đồng bào. Có hai việc xảy ra, chúng dựa vào thế lực Pháp nhưng Pháp không can thiệp.


1. Khi Tự Đức chết, cả nước phải để trở, từ quan đến dân không ai được tổ chức các cuộc khao vọng, cưới xin, không ai được dùng màu sắc đỏ đi ra đường. Có một con mụ, nhân dân ta thường gọi là mụ Đội Cháp là vợ một tên đội xếp Tây. Một hôm mụ mặc bộ váy áo đầm màu đỏ cánh sen kẻ sọc trắng, đầu đội cái mũ vườn vành rộng như cái nón cắm rất nhiều hoa hồng đi chơi phố, có một con bé con ngoài 10 tuổi đi theo. Viên phòng thành thấy mụ này phạm lệnh cấm mặc đồ đỏ trong khi toàn dân phải để trở Tự Đức, liền bắt giữ lại và báo với huyện Thọ Xương. Con bé đi theo về báo tin cho tên đội sếp Tây, tên này đến can thiệp, nhưng vợ nó không được tha, nó liền về bóp định đem một bọn tay sai đến sở phòng thành bắt viên phòng thành. Mấy anh cha cố biết chuyện đến khuyên nó không nên làm dữ vội để chúng đến nói với viên công sứ Pháp bắt phòng thành phải tha mụ Đội Cháp. Khi mấy tên cha cố này đến nói chuyện, thì viên công sứ bảo rằng: “Mình chỉ là nước bảo hộ, công việc người An-nam với nhau, mặc họ, phải để cho họ có quyền hành, để họ còn làm việc cho mình”. Rồi viên công sứ ấy ra lệnh cho tên đội sếp Tây không được gây chuyện, sợ lại xảy ra việc quan trọng như mười năm trước, khi bên quan Việt Nam bắt hai tên người Thanh là Bành Lôi Kỳ và Quan Tá Đình buôn muối gạo bán cho Đồ Phổ Nghĩa. Đồ Phổ Nghĩa bắt viên hộ thành và viên huyện Thọ Xương người Việt, xảy ra chiến tranh khiến tên quan binh Pháp là Francis Garnier bị chém rụng đầu. Thế là mụ đội Cháp vẫn bị giam giữ tại đề lao.Viên quan huyện Thọ Xương cứ theo lệnh cấm thi hành, sai quân lính lột mũ áo mụ ra, đem ra giữa chợ Cầu Đông căng nọc đánh cho ba chục roi.


2. Năm Bính Tuất (1886) có khoa thi hương(1) tại Hà Nội, học trò các tỉnh về thi rất đông. Sau kỳ đệ nhất, một anh học trò người Nam Định đến mua giấy bút tại cửa hàng của con gái Bá Kim ở phố Hàng Giấy. Do việc cô ả nói năng chanh chua mắng mỏ anh học trò, sinh chuyện cãi nhau. Bá Kim chạy ra mắng anh học trò và gọi người nhà xông vào đánh xé áo anh học trò. Anh học trò tức giận về nói chuyện với các bè bạn trong nhà trọ. Mọi người đều công phẫn kéo nhau đến trước cửa nhà Bá Kim để rửa nhục cho bạn. Họ vừa đi vừa nói chuyện oang oang, anh thì day tay mím miệng, anh thì trợn mắt phồng mang, người đi đường và học trò các phố khác cũng kéo đi theo để xem. Họ đứng chật ních phố Hàng Giấy. Họ định phá nhà Bá Kim và lôi bố con anh ta ra đánh. Bá Kim hoảng sợ, sai đóng chặt cửa lại và sai một anh cháu gọi bằng bác trèo qua mái nhà đằng sau chạy xuống Đồn Thủy nói với viên thông ngôn bạn thân của Bá Kim, xin Pháp đem lính Tây đến dẹp, nhưng Pháp không can thiệp. Về phía Việt Nam, viên huyện Thọ Xương và viên phòng thành đem lính Việt Nam đến bắt học trò và mọi người phải giải tán, nhưng không ai chịu rút đi cả. Lính thấy học trò đông quá không dám động chạm đến họ. Viên huyện Thọ Xương phải mời cụ Đốc học Hà Nội đến can thiệp. Nghe tin cụ Đốc học đến, tất cả học trò và mọi người đều đứng cạnh cụ và sai gọi bố con Bá Kim ra. Bá Kim núp kín trong nhà đương run sợ, khi nghe tin cụ Đốc học đến, học trò và mọi người đều đứng yên rất trật tự, không làm ồn ào nữa nên bớt sợ mới dám thò ra và đem con gái theo ra. Hai bố con chắp tay vái lạy cụ Đốc học như tế sao. Cụ liền mắng cả hai bố con và anh học trò, bắt Bá Kim phải đền khăn áo cho anh học trò và phải sửa lễ xôi gà hôm sau ra lễ tạ tại Văn Miếu, vì Bá Kim đánh mắng học trò là làm nhục sĩ lâm. Mọi người thấy cụ Đốc học phân xử rất công bằng đều giải tán hết. Trưa hôm sau, cụ Đốc học, viên huyện Thọ Xương và viên phòng thành đem lính đến vào miếu chứng kiến việc lễ tạ của Bá Kim. Sau đó cụ Đốc học sai lính căng nọc cả anh học trò và cả Bá Kim ra giữa sân Văn Miếu đánh cho mỗi người ba chục roi đòn. Lính phòng thành vẫn kính nể học trò, họ đánh anh học trò rất nhẹ, nhưng họ rất ghét Bá Kim là anh trọc phú cậy của khinh người nên đánh rất đau.


Việc này nhân dân ta vẫn kể lại với nhau như trên, nhưng theo lời một số bô lão thì nguyên nhân xảy ra việc học trò định đến phá nhà Bá Kim là do trước kia Bá Kim hứa gả con gái út cho một anh học trò người Nam Định, không ngờ anh học trò này vào thi kỳ đầu bị bay kinh nghĩa, rồi lẩn về quê. Bá Kim thay đổi ý kiến, định đem con gái út gả cho một anh con nhà giàu. Năm 1886, anh học trò Nam Định lên Hà Nội thi hương, được vào kỳ đệ nhất. Anh ta rất cao hứng liền đến thăm Bá Kim, hy vọng “đại đăng khoa” rồi sẽ “tiểu đăng khoa”. Không ngờ vừa đến cửa thì cô con gái ngồi bán giấy bút đuổi ra không cho vào nhà. Anh học trò tức giận, đứng trước cửa nói oang oang lên về việc Bá Kim hứa gả con cho mình nay lật lọng. Bá Kim sợ xấu hổ với hàng phố sai người nhà ra đánh đuổi mới xảy ra việc bị đòn tại Văn Miếu. Nhà thơ Nguyễn Khắc Hiếu cũng biết chuyện này, nên làm bài thơ có câu:


Khéo thay đổi vợ với thay chồng,


Ba chục roi đòn đất thổ công


Nhà thơ Nguyễn Khắc Hiếu cũng gặp trường hợp tương tự: ông đã được một người hứa gả con gái cho, không ngờ khoa thi năm Nhâm Tý (1912) tại Nam Định ông bị hỏng thi, nhà gái liền từ hôn. Ông bị việc này lại nói tránh ra rằng nhà gái bắt ông phải lễ sống ông bà và bố mẹ vợ, ông không chịu, nên việc cưới không thành. Hồi còn thi hương tại Hà Nội, xảy ra nhiều đám như vậy. Một anh học trò được người Hà Nội hứa gả con gái, vì anh hỏng thi họ gả con gái cho một anh con địa chủ rất giàu. Anh học trò này căm giận bày hương án bàn độc ra giữa chợ Cầu Đông tế sống cô con gái ấy và đọc bài văn tế chữ Nôm rất hay. Cô gái ấy xấu hổ tự tử chết.


 


HÀ NỘI QUẰN QUẠI
     DƯỚI ÁCH THỰC DÂN PHÁP


Tháng Ba năm 1888, tên Toàn quyền Pháp Richaud đòi triều đình Huế phải nhường Hà Nội - Hải Phòng và Đà Nẵng cho Pháp để chúng lập thành nhượng địa Pháp. Đến tháng Tám năm ấy bọn khâm mạng của triều đình Huế phải ra Hà Nội làm lễ trao quyền cho Pháp. Năm này là năm Mậu Tý, Pháp cho triều đình Huế được mở khoa thi hương cuối cùng tại Hà Nội, còn từ các khoa thi sau trở đi phải mở tại Nam Định gọi là trường Nam - Hà hợp thí. Cũng từ các khoa thi sau này, Pháp bắt triều đình Huế phải ra thêm đầu bài thi luận quốc văn và bốn phép tính, cho học trò được tình nguyện, ai làm thêm được sẽ được tăng thêm điểm.


Tại Hà Nội, Pháp chiêu mộ người ra làm việc cho chúng. Trước hết chúng dùng các cô gái trẻ làm phục vụ cửa hàng giải khát và cơm Tây tại phố Tràng Tiền do một mụ đầm tên là Berd (ta thường gọi mụ Bảy) đứng quản lý. Ngoài ra chúng còn chiêu dụ các ông cử ông tú ra làm việc biên chép, gọi là ký lục (copiste) cho chúng. Nhưng các ông này giữ khí tiết, không chịu cộng tác với địch nhưng do chúng thúc ép nhiều quá, nhiều ông phải về quê ở để tránh sự phiền nhiễu. Không mời được những ông cử ông tú ra giúp việc, bọn thực dân Pháp vơ nhặt được người nào biết chữ nho và biết cả chữ quốc ngữ càng tốt là chúng bổ cho đi làm quan ngay. Dưới đây, chúng tôi sẽ nói đến những hạng người nhảy ra ôm chân thực dân Pháp.


Sông Tô Lịch và các hồ ao đầm vũng trong thành


Phố Hà Nội cũ bị lấp                                                                                                


Năm 1889, Pháp khởi công lấp sông Tô Lịch trong thành phố Hà Nội cũ. Theo bản đồ Hà Nội 1831 và 1873 thì sông Tô Lịch giao lưu với sông Nhị Hà ở khoảng chợ Gạo và khoảng đầu phố Hàng Buồm ngày nay nên phố Hàng Buồm thời Lê có tên là phường Giang Khẩu (năm 1729, kiêng tên húy chúa Trịnh Giang đổi tên là phường Hà Khẩu, nghĩa là cửa sông). Đoạn phố Đào Duy Từ sau chợ Gạo hồi Pháp thuộc có tên là phố “Sông đào cũ” (Rue de l' ancien canal) tức là sông Tô Lịch. Sông này giao lưu với sông Nhị tức sông Hồng, tại đây, chảy qua phố Ngõ Gạch và phố Nguyễn Siêu, Hàng Đường, Hàng Cá, Hàng Rươi, cong chéo Hàng Lược đường Phùng Hưng ngày nay, chảy lên phía bắc thông với hồ Tây và từ hồ Tây lên Bưởi qua Cót, Láng. Theo truyền thuyết, hồi nước ta bị nội thuộc phong kiến Trung Quốc, viên Tiết độ sứ người Đường là Cao Biền, một năm nước sông Nhị và sông Tô (hồi bấy giờ chưa có tên) lên to, cưỡi chiếc thuyền con đi xem thế nước. Bỗng Biền gặp một ông già thân thể cao lớn, đầu bạc phơ đương bơi lội giữa sông. Nước chảy xiết, ông già coi như không. Cao Biền lấy làm lạ hỏi, ông già tự xưng tên là Tô Lịch, nhà ở trong sông này. Nói xong, ông già đập tay xuống nước, sóng bốc lên cao một trượng rồi biến mất. Cao Biền biết là thần sông, liền đặt tên sông là sông Tô Lịch (Tô Lịch người nước Tấn bên Trung Quốc, đỗ Hiếu liêm)[4]. Dưới thời phong kiến, bến sông Tô Lịch mạn phố Hàng Đường là nơi buôn bán sầm uất nhất, vì tại đấy có cái chợ gọi là chợ Cầu Đông, trên bến dưới thuyền, người qua lại tấp nập, vì trước chợ có cái cầu bắc qua sông Tô, gần phía cầu có cái chùa dân gọi là chùa Cầu Đông. Chỗ đầu cầu xế cửa chùa có một pho tượng đá, ngồi trên bệ đá, ngả người, một chân gấp một chân chống, áo phanh cả ngực, hở cả cái bụng to, miệng cười toe toét, người gọi là tiếu Phật (Phật cười). Người gọi là Phật Di Lặc, người gọi là ông Phệnh Đường. Sông Tô Lịch trong phố bị lấp hết, Cầu Đông bị phá, pho tượng Di Lặc không rõ bị thất lạc đâu mất, nhưng nhân dân vẫn thường nặn ngôi tượng bằng đất nung, giống như thế to gần bằng ấm bình tích nước đem bán cho mọi người bày chơi. Đến năm 1930 không còn ai bán thứ tượng này nữa. Ngôi chùa Cầu Đông nay vẫn còn ở phố Hàng Đường. Truyện thần thoại Tú Yên về đời Lê có nói đến chùa Cầu Đông, nên chùa này thành một di tích lịch sử.


                                          *             


 Trong khi lấp sông Tô Lịch, thực dân Pháp lấp luôn cả các hồ ao, ngòi lạch, đầm, vũng trong Hà Nội. Một cái lạch thông từ hồ Hoàn Kiếm ra cái hồ con ở phường Thái Cựu (tức là phố Hàng Bạc), sau phố Hàng Đào ngày nay ở vào khoảng ngõ Trung Yên cũng bị lấp. Xưa nơi này có cái cầu gỗ bắc qua lạch, nên phố này mới có tên là phố Cầu Gỗ.


Tại phố Tạ Hiện ngày nay xưa là cái đầm nước, bên cạnh có cái gò đất cao, trên gò có cái miếu thờ Sầm Nghi Đống, một viên thái thú nhà Thanh bị quân của vua Quang Trung đánh bại phải thắt cổ chết tại gò Đống Đa ngày mùng năm tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789). Sau này con cháu y sang sinh cơ lập nghiệp tại Việt Nam lập miếu thờ y trên cái gò này, gọi là miếu Sầm Công. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương có bài thơ mỉa mai:


Liếc mắt trông ngang thấy biển treo:


Kìa đền thái thú đứng cheo leo!


Ví đây đổi phận làm trai được,


Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu!


Đầm này bị Pháp lấp, gò bị san bằng, ngôi miếu bị phá, đất bán cho Hoa kiều làm nhà và đặt tên là ngõ Sầm Công (xưa thuộc phường Đồng Lạc), nay là ngõ Tạ Hiện.


PHÁP PHÁ THÀNH CỔ HÀ NỘI


Năm 1894, Pháp phá thành cổ Hà Nội, giao cho một công ty đứng thầu. Người đứng đầu công ty này là cô Tư Hồng. Cô này chính tên là Trần Thị Lan, quê quán làng Thành Thị, huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam. Vì nhà nghèo, năm cô mười bảy tuổi, bố mẹ đem cô gán nợ cho tên chánh tổng bá hộ trong làng để làm nàng hầu (dưới vợ lẽ, vừa là vợ vừa là người ở). Cô có sắc đẹp được tên chánh tổng yêu quý, nhưng mụ vợ cả hay ghen bắt làm lụng khổ sở và đánh đập tàn nhẫn. Một hôm cô gánh đôi thùng tre ra giếng đầu đình lấy nước, thấy một thanh niên ngồi ủ rũ ở đầu đình, cô nhìn kỹ thì người ấy là Trần Viết Soạn ở cùng xóm với bố mẹ cô. Cô hỏi chuyện mới biết anh này bị đói đã hai ngày nay không có gì ăn. Soạn nhà rất nghèo, bố mẹ chết, tuy có sức khỏe nhưng ở trong làng không tìm được việc gì làm để có cái ăn, thường phải đi bẻ trộm ngô, đào trộm khoai hay câu gà của người ta để có cái ăn. Nhưng các chủ ruộng bị mất trộm luôn, canh phòng ráo riết, Soạn không xoay xở được phải nhịn đói mất hai ngày. Cô Lan thương tình người cùng xóm cũ, về nhà chánh tổng xúc trộm đấu gạo đem cho Soạn. Bất đồ có con bé chăn trâu trông thấy, nó mách với mụ vợ cả chánh tổng. Khi cô gánh nước về nhà, mụ chánh tổng túm lấy tóc, giật đòn gánh đánh túi bụi, vu cho là phải lòng giai, ăn cắp gạo của nó đem cho giai. Tên chánh tổng nghe nói thế cũng nổi cơn ghen tức, cầm tay thước ra đánh. Cô bị trận đòn đau thấy cực khổ quá không thể ở nhà nó được muốn trốn đi, nhưng không biết đi đâu. Cô chợt nhớ câu trẻ con vẫn hát:


Ví dù bác mẹ chẳng sinh


Thì em ra phố Vạn Ninh cho rồi


Vạn Ninh hay Ninh Hải là tên cũ của thành phố Hải Phòng. Năm 1877, mới có tên chính thức là Hải Phòng do cụ Phan Phú Thứ đặt trụ sở của Hải Phòng sứ (nghĩa là canh phòng bờ biển). Cô nhớ lại trong làng cô có nhiều người ra Hải Phòng làm ăn buôn bán, nên cô trốn ra đấy và được người làng tìm cho việc làm con ở cho một nhà Hoa kiều. Tại đây có một anh nhà buôn Hoa kiều tên là Chí Hồng thấy cô có nhan sắc liền lấy làm vợ. Cô khéo chiều chồng và biết cách làm ăn buôn bán, nên được chú Hồng trao quyền cho, trở thành bà chủ hiệu buôn, mọi người gọi là thím Hồng. Nhưng được vài năm chú Hồng buôn chuyến hàng lậu tưởng phất to, không may bị hải quan Pháp bắt được phạt món tiền lớn, tịch thu hết gia sản, chú Hồng bỏ trốn về Trung Quốc, thím Hồng sống bơ vơ với hai bàn tay trắng. Thím Hồng có một cô bạn gái lấy Tây, thường gọi là cô Lavích, khuyên thím Hồng nên lấy Tây và dạy cho một ít tiếng tây bồi. Một hôm cô Lavích theo chồng lên Hà Nội; đem theo cả thím Hồng đi, rồi giới thiệu cho một anh quan tư Pháp tên là Garlan. Thế là thím Hồng trở thành me Tây, mọi người gọi là cô tư Hồng. Anh quan tư này có thế lực hay ra vào tòa Công sứ Pháp, nên quen Bạch Thái Bưởi. Bạch Thái Bưởi và Hoàng Trọng Phu sau một thời gian học ở Pháp về nước, Hoàng Trọng Phu dạy học trường thông ngôn còn Bạch Thái Bưởi làm thư ký tại tòa công sứ Pháp nên mọi người gọi là Ký Bưởi. Tên quan tư Garlan và Ký Bưởi quen thân nhau, thường đi lại chơi bời thăm hỏi ăn uống với nhau luôn. Thế rồi cô Tư Hồng bắt nhân tình với Ký Bưởi. Khi biết tin Pháp sắp cho đấu thầu phá thành Hà Nội, Ký Bưởi rủ cô Tư Hồng lập công ty đứng thầu. Gọi là công ty nhưng chỉ có hai người là Bạch Thái Bưởi và cô Tư Hồng. Bạch Thái Bưởi là công chức không dám lộ tên ra, chỉ góp tiền án quỹ (cautionnement) khi được thầu; còn cô Tư Hồng đứng tên chính thức. Ký Bưởi luôn luôn ra vào trong thành, biết rõ các kiến trúc trong đó và nghiên cứu phương pháp phá dỡ, tính toán rất kỹ. Khi nghị định và tờ quảng cáo gọi bỏ thầu dán ở Quảng Văn Đình (chỗ vườn hoa Cửa Nam ngày nay), nhiều tay nhà buôn, nhà giàu ở Hà Nội lăm le đứng ra bỏ thầu. Họ đi lại làm quen với Ký Bưởi để nhờ Ký Bưởi làm tay trong giúp họ: hôm nay đám này mời Ký Bưởi ăn tiệc, mai đám khác mời Ký Bưởi ăn cỗ. Đối với ai Ký Bưởi cũng nói: “Tôi là người Nhà nước không được phép buôn bán thầu đấu gì, tôi chỉ giúp đỡ các ông, khi thầu được, các ông cho tôi món hoa hồng!”. Thế rồi đối với đám này Ký Bưởi xui người ta bỏ thầu rất cao; đối với người khác Ký Bưởi xui người ta bỏ thầu giá rất hạ. Những giá đấu thầu của mọi người Ký Bưởi biết rõ được hết. Hắn làm cho cô Tư Hồng một giá bỏ thầu chiết trung, nên thầu được một cách dễ dàng. Được thầu rồi, cô Tư Hồng lại cho một nhóm người khác thầu lại, cô ngồi không hưởng món lãi rất bẫm. Tuy cho thầu lại, cô Tư Hồng vẫn phải chịu trách nhiệm về công việc làm, nên cô cần tìm một người thân tín, là họ hàng hay người cùng làng để trông nom công việc phá thành và ốp phu phen làm việc. Giữa lúc ấy thì Trần Viết Soạn lò dò đến. Nguyên Trần Viết Soạn ở trong làng không sống được, phải theo người làng đi làm phụ thợ xẻ gỗ và học việc, lần mò ra đến Hà Nội. Soạn nghe tin cô Tư Hồng thầu việc phá thành Hà Nội, đến xin một chân phu. Khi được gặp cô mới nhận ra là cô Trần Thị Lan người cùng xóm cũ và là ân nhân đã cho đấu gạo cứu đời. Cô Tư Hồng thấy Soạn đến xin việc cũng mừng vì được người thân tín trông nom giúp, liền giới thiệu với bọn thầu lại và bắt họ phải cho Soạn làm cai phu với món lương hậu. Làm cai không phải mó tay làm việc gì, suốt ngày chỉ cầm cái roi mây đi ốp phu làm, người nào chậm chạp hay uể oải thì mắng chửi, đánh đập hoặc đuổi ra; người nào muốn xin việc làm phu phá thành phải đút lễ, Soạn mới nhận cho vào làm. Soạn là người tinh quái, đoán chừng trong các dinh thự thể nào cũng có của chôn giấu nên hàng ngày hắn vác cái mai, hoặc cái thuổng cái cuốc đi đào bới trong các nhà trong thành, không cho người nào lại gần, nói là đi thăm xem đất rắn hay xốp để chỉ bảo cho phu làm. Tuy trước đây khi Pháp hạ thành hai lần, nhiều kẻ lưu manh đã vào hôi của nhưng vẫn còn sót, nên Soạn mót lại cũng vớ được nhiều vàng thoi bạc nén và cả những chuỗi tiền đen. Hắn giấu giếm đem về nơi ở trọ chôn giấu một chỗ và vẫn làm ra bộ túng thiếu.


Thành Hà Nội bắt đầu bị phá vào tháng Chín năm 1894 đến cuối năm 1897 mới phá xong, còn để lại cái cột cờ chúng ta thấy ngày nay, bức tường Cửa Bắc có vết đạn đại bác do tàu chiến Pháp từ ngoài sông Hồng bắn vào ngày 25- 4- 1882 và bức tường về phía tây thành do nơi này quân lính Pháp bắc thang trèo lên được mặt thành ngày 25- 4-1882. Hai ngôi miếu: một miếu thờ vọng thần Bạch Mã trong đền Bạch Mã đã đi ra phố Hàng Buồm từ lâu, một là Võ miếu (miếu thờ Quan Công) và đền kính thiên thường gọi là Hoàng Cung. Cách mấy năm sau, Pháp phá nốt hai ngôi miếu và đền Kính Thiên, chỉ để lại cái nền có chín bậc đá và hai bên có hai con rồng đá. Cảm khái về thành Hà Nội bị phá, một nhà nho có làm bài thơ sau:


Than ôi! đệ nhất cảnh Thăng Long!


Vượng khí ngàn năm có nữa không?


Hai cửa còn trơ hai thành miếu;


Một thành sót lại một hoàng cung!


Nhường ngao ngán nhẽ công ông Bạch[5]


Cũng gớm ghê cho của chị Hồng![6]


Còn biết đâu là nền đế bá?


Than ôi! đệ nhất cảnh Thăng Long!


Sau vụ phá thành cũ Hà Nội, cô Tư Hồng trở thành một người có thế lực: toàn quyền, thống sứ khâm sứ, công sứ, đốc lý Pháp đều vị nể cô, do đó bọn quan lại Việt Nam thường ra vào thậm thụt quỵ lụy. Những anh tri châu, tri huyện, tri phủ phải bổ đi các nơi “ma thiêng nước độc” đem lễ đến đút lót nhờ cô vận động cho được ở miền xuôi; những anh bố chánh, án sát, tuần phủ, tổng đốc muốn được bổ đến các nơi béo bở để bóc lột dân, đem lễ đến nhờ cô xoay xở giúp cho. Cô chỉ mất cái mắt liếc, cái cười tình và một tí nước bọt với bọn quan to Pháp là việc gì cũng trôi chảy cả. Cô còn xin cho ông bố đẻ cái hàm Hồng Lò Tự Thiếu Khanh vào hàng quan tứ phẩm triều đình. Hôm cô mở tiệc khao cho bố, bọn quan Tây quan ta đến mừng và dự tiệc đầy nhà. Bọn quan ta đến có lễ mừng, món lễ mừng trang trọng nhất hồi bấy giờ là câu đối bằng vóc hay nhiễu đỏ. Có ông mừng câu đối nôm như sau:


Tứ phẩm sắc phong hàm cụ lớn;


Trăm năm danh giá của bà to.


Cụ Nguyễn Khuyến làm giúp một người đôi câu đối mừng:


Có tàn, có tán, có hương án thờ vua, danh giá lẫy lừng băm sáu tỉnh[7]


Nào cờ, nào biển, nào sắc phong cho cụ, chị em hồ dễ mấy lăm người.


 


 


                 CHÙA BÁO ÂN BỊ PHÁ


 


 


Trong khi lấp sông Tô Lịch, Pháp phá luôn chùa Báo Ân cũng vào năm 1889. Chùa Báo Ân còn có tên là chùa Liên Trì, vì chung quanh chùa có ao thả sen. Nhân dân Hà Nội còn gọi chùa này là chùa Ông Thượng do Kinh lược Bắc kỳ là Nguyễn Đăng Giai quyên tiền khắp nơi xây lên năm 1842, bốn năm mới xong. Chùa rộng 180 gian, 36 nóc, cổng chùa trông ra sông Hồng, sau chùa có cái tháp ngâm chân ven hồ Hoàn Kiếm, gọi là tháp Báo Ân hay tháp Hoa Phong. Tháp ấy nay hãy còn ở bên đường phía hồ Hoàn Kiếm.


Chùa Báo Ân xây trên nền cũ của Ngũ Long lâu, nghĩa là lầu năm con rồng. Lầu này do chúa Trịnh Giang xây năm 1744, rất cao có năm con rồng cẩn bằng mảnh bát hoa và đá cẩm thạch. Sau khi họ Trịnh bị quân Tây Sơn do vua Quang Trung chỉ huy tiêu diệt, thì ông vua cuối đời Lê là Chiêu Thống cùng mẹ trốn sang Trung Quốc, rước quân Thanh về đóng ở Hà Nội mong để chống với quân Tây Sơn. Khi ở dưới gươm giáo của quân Thanh, Chiêu Thống báo thù họ Trịnh, vì đã bao đời khống chế nhà Lê. Hắn cho quân lính đi đốt phá phủ cũ của chúa Trịnh và những lâu đài do chúa Trịnh xây dựng. Ngũ Long lâu cũng bị đốt phá trong hồi ấy còn trơ lại cái nền cũ. Đến triều Nguyễn, viên kinh lược Bắc kỳ là Nguyễn Đăng Giai quyên tiền khắp nơi xây chùa Báo Ân trên nền cũ của Ngũ Long lâu. Dân Hà Nội đều không ưa, có người làm bài thơ vẫn được truyền tụng đến ngày nay:


Phúc đức gì mày, bố đĩ Giai!


Làm cho tổn Bắc lại hao Đoài


Kìa gương Võ đế còn treo đó (1)


Ngã tử thành Đài Phật cứu ai?


Do câu kết bài thơ này, mọi người biết được thâm ý của Nguyễn Đăng Giai về việc xây chùa Liên Trì đặt tên là chùa Báo Ân. Nguyên từ đời Lê Trịnh tại làng Tương Mai (nay là chỗ ngã tư Trương Định - Bạch Mai - Quỳnh Lôi - đường tàu bay) có cái hầm trú ẩn nấp tránh sét đánh. Mỗi lần có mưa gió sấm sét Trịnh Giang đem cung phi xuống ẩn nấp dưới Thưởng Trì cung. Nguyên do là một lần Trịnh Giang suýt bị sét đánh chết nên hắn sợ, xây hầm trú ẩn này, trên đắp gò đất cao. Lê Chiêu Thống khi đốt phá phủ chúa Trịnh, phá luôn cả Thưởng Trì cung. Sau đó, một năm bị mất mùa, dịch tễ, trong làng lủng củng không yên, dân làng cho là Trịnh Giang thiêng làm ra tai nạn như vậy, bèn lập miếu thờ trên gò đất gọi là miếu Trung Hiền. Vì sinh thời Trịnh Giang là tên dâm bạo, nên họ đặt ra lối cúng lễ cho phụ nữ: khi đi chợ qua miếu, muốn được buôn may bán đắt vào miếu mà khấn lễ nhưng không cần phải trầu cau, hương hoa, cũng không cần chắp tay vái lạy, cứ đứng trước bàn thờ cầm gấu váy tốc lên hạ xuống vài ba lần, thế là đủ. Khi Nguyễn Đăng Giai làm Kinh lược Bắc kỳ, thấy việc thờ cúng như vậy là nhảm nhí tầm bậy, bắt dân làng phá miếu, san gò đi. Dân làng nói là thần rất thiêng, phá đi sợ động. Nghe thấy thế, Giai sai tạc bốn con chó bằng đá chôn bốn góc chỗ chân gò và cứ cho phá cả miếu cả gò đi. Trước Cách mạng tháng Tám, dân Hà Nội vẫn quen gọi nơi này là ngã tư Trung Hiền và “bốn chó đá”. Nguyễn Đăng Giai vốn mộ đạo Phật và mê tín dị đoan, yểm bốn chó đá rồi vẫn chưa yên tâm, sau đi quyên tiền khắp các nơi các tỉnh xây chùa Liên Trì gọi là chùa Báo Ân ngay trên nền cũ của Ngũ Long lâu (chính là cái lầu do Trịnh Giang xây hy vọng Phật che chở cho và cho vong hồn Trịnh Giang được vui hả).


(còn tiếp)


Nguồn: Hà Nội xưa và nay. Tập Ký của Bạch Diện Nguyễn Văn Cư. NXB Hội Nhà văn, 10-2015.


www.trieuxuan.info


 


 








(1) Quân Cờ đen là một chi nhánh của đội quân Thái Bình Thiên quốc bên Trung Quốc lưu vong sang Việt Nam, xin thuộc quyền giám sát của võ quan ta và giúp ta đánh pháp.




[1] Một vạn quan tiền đen bằng số tiền lương 25 năm của một viên quan nhất phẩm.




[2] Một loại xe chở hàng thời xưa có một bánh ằng gỗ to bằng vành xe đạp cỡ 600, mặt xe làm thành hình tam giác ghép bằng những thanh tre đóng thưa, mui xe nhọn, cuối xe có hai càng. Người đẩy xe quàng dây thừng qua vai mắc vào hai càng xe, tay cầm đẩy đi.




[3] Theo trí nhớ của tôi (TTĐP), bài văn tế này như sau:


  Nhớ ông xưa/


  Mắt ông xanh lè


 Mũi ông thò lõ


 Đít ông cưỡi lừa/


  Miệng ông huýt chó


 Ông qua đây để dẹp quân đen


 Cho yên con đỏ


 Ai ngờ nó giết chết ông


 Nó mang đầu ông đi


Nó để xác ông đó


 Chúng tôi vâng lệnh triều đình


 Cúng ông:


 Chuối một buồng


 Cau một rổ


 Ông ăn cho ngon


 Ông ngủ cho yên


 Khốn nạn thân ông


 Đéo mẹ cha nó!


 


   




(1) Đây là ân Khoa mừng Đồng Khánh, do Pháp lập lên ngôi vua, sau khi Hàm Nghi đi lập chiến khu chống Pháp.




[4] Còn có tư liệu chép: “Tên sông Tô Lịch tương truyền lấy từ tên một vị thần sống vào đời nhà Tấn đô hộ xứ Giao Chỉ. Đến đời nhà Đường, nơi đây là vị trí xây dựng thành Đại La” (TTĐP).




[5] Ông Bạch tức thần Bạch Mã. Theo truyền thuyết khi đắp thành Đại La làm nền cho thành Thăng Long về sau, có con ngựa trắng chạy vòng quanh, Cao Biền theo vết chân ngựa đắp thành và lập đền thờ Bạch Mã, cho là ngựa thần. Chữ Bạch còn hàm ý chỉ Bạch Thái Bưởi.




[6] Chị Hồng tức cô Tư Hồng, từ "của" có nghĩa tục.




[7] Xưa có câu: “Làm đĩ mà có tàn, có tán, có hương án thờ vua”. Thời bấy giờ toàn hạt Bắc kỳ có 36 tỉnh.


 




(1) Lương Võ Đế (Trung Quốc 502 - 549) mộ đạo Phật xây dựng nhiều chùa và thích ăn chay niệm Phật, sau bị bầy tôi là Hầu Cảnh (phong tước Hà Nam Vương) nổi lên lật đổ, đem quân vây Đài Thành. Trong thành tuyệt lương, Võ Đế lo sợ nhịn ăn mà chết. 



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »