tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21047629
Tiểu thuyết
14.12.2015
Bạch Diện Nguyễn Văn Cư
Hà Nội xưa và nay

Tết Trung nguyên


Tết Trung nguyên là Tết rằm tháng Bảy âm lịch, ta thường gọi là Tết “Xá tội vong nhân”. Gọi thế là nhầm, chính là “Phong nhân xá tội”. Dưới chế độ phong kiến, ta cho tháng Bảy là ngày đầu mùa thu, triều đình phong kiến đem xét xử những người bị giam trong ngục, gọi là thu thẩm: người tội nhẹ tha cho về, tội vừa thì đem đày, tội rất nặng thì đem chém. Nhân dân cho rằng dưới âm phủ, các vua Diêm Vương cũng mở kỳ thu thẩm: tha cho những vong hồn người có tội, phong thưởng cho vong hồn những người có nhân đức.Vì tin tưởng như vậy nên đến ngày rằm tháng Bảy, mọi nhà đều làm cỗ cúng ông vải; các chùa đều làm chay phả độ chúng sinh, tức là vong hồn những người chết không có con cháu cung cấp. Trong ngày Tết này nhà nào cũng đốt vàng mã.


Tết Trung thu


Tết Trung thu ở ta có từ lâu đời, do chịu ảnh hưởng của phong kiến phương Bắc từ thời bị nội thuộc. Nhưng nhân dân ta coi ngày Tết Trung thu là ngày trông trăng. Về mùa thu khí trời trong sáng trăng tỏ đẹp, nên từ ngày có trăng tỏ vào khoảng mùng Tám tháng Tám trở đi, mọi người thức khuya xem trăng, tụ họp nhau ngoài sân, ngoài vườn, bờ ao, hay quãng đồng rộng. Người có tuổi thì trò chuyện, nam nữ thanh niên tổ chức các cuộc hát đối đáp, gõ vào cái trống đồng làm nhịp gọi là hát trống quân; trẻ em tổ chức các cuộc vui chơi rồng rắn, thả đỉa ba ba, rước đèn múa sư tử. Nhân dịp thức khuya chơi đêm, người ta bày các thứ hoa quả như bưởi, na, hồng, mía, bánh đa, ngô rang, hạt dẻ… để ăn chơi và thức cho đến lúc trăng sắp lặn. Đến đời Lê Trung Hưng, chúa Trịnh Giang bày các trò vui chơi đêm trăng ở mạn Hồ Tây, từ chùa Trấn Quốc đến trước cửa đền Trấn Võ. Quanh bờ hồ mạn này đều thắp đèn lồng, cách một quãng lại có một quán bán các thứ hoa quả bánh trái, gương lược, nhiễu, lụa. Chủ quán là thái giám hóa trang đàn bà ngồi bán hàng. Chúa Trịnh cùng các quan tùy tùng ngồi trên mấy chiếc thuyền, mỗi thuyền chở theo một số cung nữ bơi quanh hồ Tây, qua mỗi quán thuyền ghé sát bờ cho cung nữ lên mua hàng, rồi hát đối đáp và đùa cợt với các chủ quán để mua vui. Nhân dân ở Kinh kỳ bắt chước lối chơi của nhà chúa cũng bày bàn cỗ trông trăng ra trước cửa, trẻ em rước đèn, múa sư tử trước các bàn cỗ, mỗi nhà lại thưởng cho các em vài thứ bánh trái. Bàn cỗ Trung thu mỗi năm phát triển thêm, các đồ chơi của trẻ em cũng tăng dần, do các ông thợ mã khéo tay làm ra các kiểu đèn mới lạ. Trước chỉ có đèn con thỏ, đèn ông giăng, đèn thả; nhưng sau đèn thả bị cấm dùng vì hay gây nạn cháy nhà. Đèn thả do Đào Duy Từ phát minh, khi thắp lên lửa hút gió đưa cái đèn bốc cao lên đến ngọn tre, nhưng có khi nó rơi xuống nóc nhà gây ra hỏa hoạn, vì nhà của dân ở Kinh kỳ toàn nhà lợp rạ, lợp tranh cũ. Đèn thả bị cấm, thợ mã làm ra đèn chạy quân và đèn xẻ rãnh - những thứ đèn này thắp bằng dầu ve. Đèn con thỏ và đèn ông giăng thắp bằng nến hạt bưởi: hạt bưởi bóc nõn xâu vào cái tăm dài phơi nắng cho khô nỏ, cắm vào đèn đốt như nến sáp. Đó là thứ nến mà học trò nghèo ngày xưa hay làm để thắp học đêm. Hàng năm đến cuối tháng Bảy, thợ mã các nơi đến phố Hàng Gai mua giấy bản nhuộm các màu xanh đỏ làm đầu sư tử, các thứ đèn, làm đình chùa, voi, ngựa, cờ, lọng, biển, tán, ông tiến sĩ, bán cho các nhà để tô điểm bàn cỗ trung thu và cho trẻ em chơi. Nhân mua giấy ở phố Hàng Gai, những người thợ mã thuê tạm một nửa cửa hàng những nhà bán giấy và thuê tạm cả cửa hàng những nhà không buôn bán gì, ngồi làm hàng và bày hàng bán trong một tháng vào dịp Tết Trung thu. Do đó phố Hàng Gai ngày xưa còn là chợ Tết Trung thu. Chợ này còn mãi đến năm 1945, sau khi xảy ra cuộc tái chiến chống thực dân Pháp trong thành phố. Thời Nho học đương thịnh, món đồ chơi nhiều người thích mua nhất là ông tiến sĩ giấy để bày vào bàn cỗ, có ý khuyến khích trẻ em chăm học để sau này đỗ tiến sĩ, thường gọi là ông Nghè. Cụ Nguyễn Khuyến, cụ Dương Khuê có những bài thơ vịnh ông Nghè bằng giấy có tính châm biếm hài hước, vẫn được truyền tụng. Năm 1917, cụ Nguyễn Chi ở phố Hàng Tre (nhân dân thường gọi là cụ Kép Xuân Cầu, vì cụ đỗ hai khóa tú tài về triều Thành Thái và cụ là người làng Xuân Cầu) cũng có bài thơ vịnh ông Nghè giấy ta quen gọi là ông Nghè tháng Tám:


Hàng Gai nghe nói tổ ông Nghè[1]


Cờ biểu giăng giăng gióng trước hè


Ấy thật văn chương in nét đất[2]


Ai ngờ đai mãng có lòng que[3]


Ngựa đâu buộc cửa khôn rong ruổi[4]


Rượu bán qua dinh chẳng động hề[5]


Tiền thực đem mua ông tốt mã,


Lộn sòng đánh lộn trẻ nhà quê[6]


Ngoài những đồ chơi tháng Tám cho trẻ em làm bằng giấy, hồi Pháp thuộc còn có những đồ chơi bằng sắt tây, sơn xanh đỏ bán rất nhiều tại hai dãy phố Hàng Thiếc. Phố Hàng Thiếc xưa là đất thuộc phường Đông Môn, do những người thợ chuyên nghề đúc đồ dùng bằng chì làng Định Công đến tụ tập, mở các lò đúc những đỉnh, nến, lư hương, cơi đựng trầu, hộp đựng thuốc và khay đặt chén bằng chì, xưa ta gọi chì là thiếc, vì hai loại này gần giống nhau. Hồi Pháp thuộc bọn thực dân Pháp nhập vào bán các lá sắt tây, chế tạo thành các món đồ dùng như thùng, chậu, hộp sắt, đến tháng Tám người ta làm món đồ chơi bán cho trẻ em.


Trong dịp Tết tháng Tám, các đám rước sư tử của trẻ em được tổ chức rất nhộn nhịp. Xưa kia, các nhà bày bàn cỗ thưởng cho các em bánh trái hoa quả, đến thời Pháp thuộc, các nhà buôn Hoa kiều và Việt Nam treo giải thưởng bằng tiền, thế là người lớn đi rước sư tử lấy giải tranh phần trẻ em. Dần dần về sau, các đám rước sư tử người lớn, vì sự cạnh tranh trong việc rước sư tử lấy giải thành ra đánh nhau.


Vào khoảng năm 1910, tại Hà Nội có những bọn tay chơi, ta thường gọi là du côn chuyên nghề đi đánh chém thuê. Bọn du côn này họp nhau thành phe cánh: cánh Ba Lập Lơ, cánh Ba Sinh, cánh Hàng Hương, cánh lính nhà thuốc (tức là binh lính làm trong xưởng công binh của Pháp). Vào dịp Tết Trung thu bắt đầu từ tối mùng Mười âm lịch, các bọn du côn này tổ chức những đám rước sư tử khá đồ sộ, dẫn đầu có 5 lá cờ ngũ hành, đến các thứ đèn đủ các kiểu có tới 15 cây đèn, mười bó đuốc, một cái đầu rồng mình bằng vóc đỏ viền vàng dài hơn mười khúc, rồi đến hai đầu sư tử, một bọn múa võ mặc quần áo như phường tuồng; cuối cùng là chiếc xe bò kết hoa lá treo chục chiếc đèn xếp, trong xe một bọn người ngồi đánh trống, đánh chũm chọe và thanh la. Theo sau, lại một xe bò nữa chở dao, gậy, xẻng cuốc, đoản côn, vỏ chai, toàn là khí giới để đánh nhau. Bọn họ đến múa trước cửa các nhà buôn to ở các phố Hàng Đường, Hàng Ngang, Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm, Phúc Kiến (nay là phố Lãn Ông) và Hàng Gai, Hàng Bông. Sau cuộc múa sư tử, họ múa rồng, rồi múa võ Thiếu Lâm, cuối cùng người đội đầu sư tử vừa múa vừa leo lên cây tre tới tầng gác hai giật giải. Những giải thưởng này từ một chục đến năm chục. Mỗi đêm rước từ mùng Mười đến Rằm tháng Tám họ được tới mấy trăm bạc. Do sự cạnh tranh rước sư tử và lấy giải, bọn du côn thường gây sự rồi thách nhau đến một nơi nào đó đánh nhau chí mạng. Có đêm bọn này giàn thành trận thế ở cột đồng hồ (quãng đường rộng ở đường Trần Nhật Duật ngày nay) đánh nhau toàn bằng gây gộc, xà beng, gây nên cuộc đổ máu dữ dội.


Một lần cánh Ba Sinh và cánh lính nhà thuốc đưa đơn ra tòa Đốc lý của Pháp xin phép đánh nhau tại bãi Đồng Nhân (trên bờ sông Hồng). Pháp chấp nhận và hứa sẽ cho lính khố xanh và đội xếp đến giữ trật tự. Cả hai phe sai “sứ giả” đưa “chiếu thư” cho nhau, hẹn ngày giờ “giao chiến”. Họ đem đinh ba, mã tấu, dao găm, xẻng, cuốc, chiêng, trống và cả những cỗ quan tài ra “chiến trường”. Mỗi bên “kéo quân” ra có tới ba bốn chục, rồi giàn thành trận thế. Pháp đem ra hơn trăm lính khố xanh và đội xếp vừa tây vừa ta vây bọc chung quanh “chiến trường”. Khi hai phe anh chị sắp nổi trống “giao phong”, tên giám binh Pháp hô một tiếng, lính khố xanh bắn một loạt súng chỉ thiên, rồi lính khố xanh và đội xếp xông vào hàng trận bắt trói gọn cả tướng cả quân hai cánh, tịch thu hết khí giới và quan tài. Chúng giải cả bọn về sở cẩm phạt mỗi anh một món tiền, đồ đạc tịch thu đem bán đấu giá.


Năm 1915, Hà Nội còn bị nạn “lính chào mào” quấy rối. Đó là những thanh niên trai tráng ở nông thôn do thực dân Pháp mộ để đem sang Pháp làm bia đỡ đạn cho chúng trong hồi đại chiến 1914 -1918. Mỗi người được mặc bộ quần áo lính và đội mũ ca lô ta gọi là mũ chào mào. Trong số này có lẫn cả một số du côn Hà Nội; họ được thả ra Hà Nội đi chơi phố. Do thói ngỗ nghịch và ngông nghênh của bọn du côn, mà lính chào mào bắt chước nhau. Họ chòng ghẹo đàn bà con gái một cách thô bỉ giữa đường phố, ai can thiệp là chúng kéo phe cánh đánh nhau.


 


         NHỮNG HOẠT ĐỘNG VỀ VĂN HỌC,


  NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI HÀ NỘI XƯA


Các trường học chữ Nho


Trong mục việc học chúng tôi đã có dịp nói đến, nay xin phép được bổ sung thêm. Thời Nho học cực thịnh, Hà Nội có rất nhiều trường học chữ Nho. Những trường này chia làm mấy hạng: trường tiểu học chuyên dạy trẻ em mới bắt đầu đi học vỡ lòng; trường trung học thường gọi là trung tập, chuyên giảng dạy các sách Tứ thư, ngũ Kinh, Dịch, Lê, Xuân Thu, Kinh thi, Kinh thư cho những học trò đã lớn tuổi, trường đại học thường gọi là đại tập, một tháng đôi kỳ học trò đến lấy đầu bài rồi nộp bài đã làm kỳ trước để thầy chấm, nhận những bài đã được chấm rồi và họp nhau nghe bình văn. Những trường đại tập thường kiêm cả trung tập mở tại Hà Nội cũng khá nhiều, xin đơn cử một số trường nổi tiếng: trường cụ án Phương Đình Nguyễn Văn Siêu ở phố Ngõ Gạch (nay một nửa phố này được đặt tên là phố Nguyễn Văn Siêu, nơi còn di chỉ trường học của cụ). Trường cụ Nghè Hoa đường Phạm Quý Thích ở phường Báo Thiên; trường cụ Nghè Hồ Đình Vũ Tông Phan ở thôn Tư Tháp thuộc phường Báo Thiên, ven hồ Hoàn Kiếm (nay là phố Bảo Khánh); trường cụ nghè Mọc Lê Đình Diễn ở gần cửa ông Nghĩa Dũng (nay là phố Hàng Đậu); trường cụ cử Vũ Thạch Nguyễn Huy Đức ở làng Vũ Thạch nay là phố Trường Thi, nhà số 7; trường cụ cử Kim Cổ Ngô Văn Dạng ở phường Kim Cổ nay là nhà số 12 phố Hàng Bông (tên cũ là phố Hàng Hài). Hai trường sau này rất đông học trò, mỗi trường tới nghìn học trò vừa đại tập và trung tập. Riêng trường của cụ cử Kim Cổ chỉ là một ngôi nhà tranh hẹp ở giữa phường Kim Cổ, sau học trò góp tiền nhau mua thêm đất chung quanh mở thành ngôi trường rộng. Cụ mất năm 1885, riêng số học trò có mặt tại Hà Nội đi đưa có tới sáu trăm người, mặc áo thụng trắng, khăn trắng đi đưa đám từ phố Hàng Hài về cánh đồng làng Mọc Quan Nhân. Sau khi thực dân Pháp chiếm Hà Nội (1888), chúng cho lưu manh ngấm ngầm đi đốt nhà dân, mục đích để chiếm lấy đất và lấy cớ nhà lá, nhà tranh hay gây nạn cháy nên bắt buộc mọi nhà phải xây nhà gạch lợp ngói và theo sự quy định của chúng. Cụ cử bà phải bán khu đất chung quanh trường học để lấy tiền xây nhà gạch, chỉ giữ lại ngôi nhà chính tức là nhà số 12. Những người mua được đất sau xây nhà gạch là nhà số 10 và số 14. Cụ cử bà mất năm 1918, học trò cũ bấy giờ đầu râu tóc bạc, sáu bảy mươi tuổi họp nhau tế đề chủ cho cụ rất đông.


Những trường trung tập và đại tập không phải các cụ Cử, cụ Nghè lập ra mà do những học trò đã học hết bậc tiểu học (vỡ lòng) nhờ người giới thiệu tìm đến các cụ cho nhập môn để tập văn của các cụ. Nhân đó nhà ở của các cụ trở thành trường học. Các cụ huấn luyện học trò không lấy thù lao, hàng năm học trò rủ nhau đóng góp biếu thầy vào các dịp Tết, hoặc khi nhà thầy có giỗ hoặc có khao vọng, cưới gả. Ngoài ra học trò còn góp nhau biếu thầy the lụa, lượt là, vải vóc, nhiễu để thầy và cô may mặc. Còn các trường tiểu học do những nhà có con nhỏ mời một anh học trò lớp trung tập hoặc đại tập dạy giúp. Những người ngày là học trò nghèo muốn có nơi dạy học để có lương ăn học chờ khoa thi. Thời Lê những người đỗ tú tài gọi là sinh đồ, còn cần phải học thêm để đỗ Hương cống (sau này là cử nhân) mới được đi thi hội và thi đình. Do danh từ sinh đồ mà người ta gọi những người dạy trẻ học vỡ lòng là thầy đồ. Hồi xưa từ năm, sáu giờ sáng, khắp các phố phường thôn xóm ở Hà Nội, nơi nào cũng vang lên những tiếng học trò đọc sách, ngâm thơ, bình văn, vì mọi người cho rằng khi học phải gào to lên mới chóng thuộc bài và buổi sáng sớm vừa ngủ dậy, đầu óc thư thái không bận việc gì nên học chóng hiểu chóng thuộc, làm thơ, làm phú, làm văn có nhiều ý hay.


Nhà hát cô đào


Nghề xướng ca ở ta có từ lâu đời rồi. Trong các ngoại sử của ta vẫn còn lưu truyền chuyện “Ả đào giết giặc”. Về thời Hồ Quý Ly, triều đình nhà Minh lấy cớ Hồ Quý Ly cướp ngôi vua nhà Trần bèn đem quân sang với danh nghĩa là hỏi tội nhưng thực chất là xâm chiếm nước ta. Quân lính của chúng chia nhau đóng nhiều nơi trong nước. Bấy giờ tại làng Đào Đặng thuộc huyện Tiên Lữ, tỉnh Hải Hưng (nay thuộc Hưng Yên), dân làng sống rất khổ về nỗi quân giặc quấy nhiễu. Nơi này phải cái nhiều muỗi quá, giặc đêm ngủ phải chui vào bao tải rồi nhờ người thắt lại hộ. Làng này có tục lệ là con gái đến thì phải đi học hát xướng. Trong làng có một cô đào hát, nhan sắc xinh đẹp lại hát hay, bọn giặc Minh thường nhờ cô buộc hộ miệng bao tải sau khi chúng chui vào nằm. Nhân dịp này, cô chờ chúng ngủ say liền gọi người làng ra khiêng bao tải ném xuống sông. Cứ thế mỗi đêm thủ tiêu được một số tên giặc khiến những tên còn sống sót phải kéo đi nơi khác.


Căn cứ vào chuyện này, ta có thể nói nghề xướng ca ở nước ta có từ lâu đời rồi. Ở nước ta ngày xưa nhiều làng có tục: con gái lên mười hai, mười ba tuổi phải đi học hát múa để hàng năm phục vụ trong các cuộc kỳ thần bái xá. Tại Hà Nội, làng Vân Hồ nay là khu Vân Hồ, xưa cũng có tục ấy. Khi con gái mười hai tuổi bố mẹ bắt phải nhuộm răng đen rồi đem cơi trầu, hai cành cau đến bà quản ca xin cho học múa hát đủ các điệu các lối. Khi học thành nghề rồi, các cô về nhà vẫn làm các công việc cấy gặt, chăn tằm, ươm tơ, dệt vải hoặc các việc thủ công khác làm kế sinh nhai. Khi nơi nào có cuộc kỳ thần bái xá, một vài người trong làng phải trịnh trọng đem cơi trầu, hai cành cau đến nói với bà quản ca xin cắt cho con em đi hát thờ. Bà quản ca nhận lời rồi cắt ba, bốn cô đào và anh kép đi phục vụ đám tế. Sau khi giã đám, người làng lại phải trịnh trọng đem xôi thịt, hoa quả và mấy quan tiền đem đến biếu bà quản ca, nói là lộc thánh. Bà quản ca nhận rồi gọi các cô đào và kép đi hát thờ hôm ấy đến phân chia cho tất cả, nhưng bọn con em không dám lấy hết, phải biếu lại bà một phần.


Dưới triều Lê, mỗi năm vua Lê chúa Trịnh đi lễ giao, các đào phải đến hát hầu thờ tất, sau cuộc tế họ được ban thưởng rất hậu, nhưng cũng phải do bà quản ca nhận và chia cho họ. Tuy được nhiều bổng lộc, nhưng các cô không lấy nghề đi hát dù chỉ là hát thờ, làm kế sinh nhai, vì các cô vẫn quan niệm câu “Xướng ca vô loài” (1), nhiều khi được cắt cử đi hát các cô còn đùn đẩy cho nhau. Về sau ngành hát cô đào càng ngày càng phát triển, những quan to có thế lực ở Hà Nội, khi có các cuộc khao vọng sai mời cô đào đến hát giúp vui. Những năm có khoa thi hương, khi mở tiệc yến lộc minh để mừng các ông tân khoa, viên Tổng đốc Hà Nội cũng cho mời cô đào đến giúp vui. Nhân đó, những năm có khoa thi hương, nhiều người mở hàng cơm chứa trọ học trò, các cô đào cũng thuê nhà ở mạn Hàng Lờ, Hàng Giấy mở nhà hát, với mục đích mong kiếm được tấm chồng trong đám ông cử tân khoa, chớ không nhằm ở việc kiếm tiền. Thời Pháp thuộc, đời sống của nhân dân khó khăn, ngành hát cô đào thành một nghề sinh nhai của số đông phụ nữ vô nghệ. Cho đến năm 1915, tại phố Hàng Giấy hãy còn mấy nhà hát cô đào. Nhà thơ Nguyễn Khắc Hiếu còn ghi lại bài thơ yết hậu:


Đa tài với đa tình,


ít tiền son phấn khinh!   


Đi qua phố Hàng Giấy, Mần thinh!


Về sau nhà hát cô đào lan xuống vùng Thái Hà ấp (nay là đường Tây Sơn), lan ra Khâm Thiên, Ngã Tư Sở, một ngả lan xuống 24 gian tức là dãy nhà cuối phố Huế, bên số chẵn trông thẳng ra phố Thái Phiên (dãy nhà này có 24 gian cửa xây cuốn, nên thành một tên riêng thời bấy giờ), sau lan cả xuống Vạn Thái, vào khoảng nhà chiếu bóng Bạch Mai. Nghề hát cô đào từ thời Pháp thuộc trở đi thành một nghề “đánh đĩ”, cô đào biết hát không có mấy, chỉ toàn “đào rượu” kiêm tiếp khách ngủ đêm, không khác đám gái nhà thổ. Từ năm 1932 trở đi, nhiều nhà cô đào ở Khâm Thiên biến thành tiệm nhảy. Thế là một nghệ thuật cao quý của ta ngày xưa tiêu ma hết.


HÁT XẨM, HÁT CHÈO VÀ HÁT TUỒNG


 Hát xẩm


 Từ lâu tại Hà Nội cổ thường có một bọn người gồm vợ chồng con cái, tức là cả một gia đình, hàng ngày dắt nhau đi hát rong các chợ, các phố phường, trong số đó có một vài người mù, nên ta thường gọi là bọn hát xẩm. Ban ngày họ hát tại các chợ. Họ trải manh chiếu xuống đất trước một hàng cơm ở chợ rồi người gảy đàn bầu, người kéo nhị, người gõ phách, người đánh trống, người đánh đồng la và hát. Trước hết họ hát một bài đặc biệt, thường gọi là bài "xẩm chợ", sau đó hát một vài bài vè, nếu có nhiều người thưởng tiền họ thay nhau hát kể truyện: truyện Tống Trân Cúc Hoa, Phương Hoa Cúc Hoa, Kim Vân Kiều, v.v… Tối, họ dắt díu nhau đi hát các phố phường. Họ ngồi hát ở đâu, đều ngồi chung quanh mép chiếu, giữa chiếu đặt cái rổ, về sau cái chậu thau đồng, hễ nghe có nhiều tiền thưởng, họ ngồi hát đến khuya, nếu ít tiền thưởng lại dắt díu nhau đi nơi khác. Những đám hát xẩm này còn mãi cho đến năm 1944 khi xảy ra nạn đói khủng khiếp thì tan rã hết.


Hát xẩm chợ xưa, tuy là một lối hát rong kiếm tiền, nhưng là một nghệ thuật được nhiều người ưa thích. Những nghệ nhân này tạo nên được một điệu hát đặc biệt mà sau này nhiều nhà văn nhà thơ bắt chước làm thành những bài hát rất hay gọi là “hát xẩm”.


Hát chèo và hát tuồng


Từ đầu đời Trần trở về trước, ta chỉ có hát và múa, thường dùng trong khi nhà vua cúng tế trời đất. Vì khi cúng tế, có cử nhạc, có nhạc nên phải có ca, tức là hát những bài hát đều bằng chữ Nho. Những người hát đều là con trai khoảng mười lăm, mười sáu tuổi, gọi là đồng sinh. Khi ra hát, bên trong mặc quần áo thường, bên ngoài mặc thứ áo bằng vóc đỏ thêu hoa văn, 4 thân, không có tay, đầu đội cái mũ đỏ có thêu hoa văn chỉ bịt trước trán, không có chỏm mũ, hai tay cầm hai mồi lửa (giẻ tẩm dầu) vừa múa vừa hát theo nhịp đàn trống sênh phách. Về sau nhà vua cho tổ chức ban hát có cả con gái để hát chầu trong các bữa yến tiệc. Con gái hát chỉ múa bằng tay hoặc một tay múa một tay cầm quạt cũng múa quạt, con trai thì vẫn múa bằng mồi lửa. Các nhà quan to cũng bắt chước lập ra ban hát múa để mua vui khi yến tiệc khao vọng. Đến đời Trần Nhân Tông, trong cuộc chiến chống quân Nguyên, quân ta bắt sống được một số tù binh, họ đều là người Tống bị quân Nguyên bắt đi lính ra trận, trong số đó có mấy người là con hát. Họ bị giam giữ trong nhà tù của ta, họ bày ra các trò diễn tuồng, đeo râu, mặc mũ áo vừa hát vừa múa, có các điệu bộ đặc biệt. Quân lính của ta bắt chước và học tập các điệu hát của họ và diễn các truyện tích về đời Hán, Đường, các bài hát đều bằng chữ Nho. Các cuộc hát như vậy được tổ chức trong các nhà quan to.


Đến đời Lê Trung Hưng, Đào Tá Hán làm chức linh quan trong phủ Liêu (phủ Chúa Trịnh) chuyên coi về việc điều khiển các cuộc múa hát trong triều đình và trong phủ chúa. Ông cải biên lối hát mà quân lính của ta bắt chước các tù binh Nguyên. Ông đặt ra một số bài hát tiếng Việt cho hát xen kẽ với các bài hát chữ Nho và cũng diễn trò, toàn những trò vua, quan, tướng văn, tướng võ. Diễn như thế có phần tẻ nhạt, ông liền bày thêm các vai khôi hài pha trò cười thêm vào cho vui. Những người đóng vai khôi hài phải là vai lính hay hề đồng đi hầu quan. Những người đóng vai hề phải vẽ mặt cho nhem nhuốc, mặc quần áo xốc xếch trông có vẻ ngộ nghĩnh, buồn cười. Họ nói chuyện với nhau toàn bằng giọng giễu cợt, làm cho người xem phải bật cười. Nhưng không ngờ vì trò cười này mà một lần diễn trước mặt chúa, Đào Tá Hán bị khép vào tội phạm húy chúa, vì ông đã dạy cho vai hề hát một bài trong có một từ trùng với tên húy chúa Trịnh mà không hát tránh đi. Lập tức, ông và các vai hề bị đuổi về. Ông liền đem các vai đóng hề đồng này về quê ông ở Thanh Hóa. Người làng mộ tiếng ông cho con cháu đến học hát múa rất đông. Ông dạy họ và luyện cho các con em họ hát múa và diễn các trò các tích. Ông soạn những tích hát theo các chuyện cổ tích của ta như “Từ Thức nhập Thiên Thai”, “Quan Âm Thị Kính”, rồi “Thạch Sanh”, “Tấm Cám”… Các tích trò này cốt chính là nhiều đoạn pha trò người ta gọi là “trào tiếu”, nhân từ trào phiên âm ra tiếng Việt là chèo. Lối hát này càng ngày càng phát triển, có nhiều điệu hát mới toàn bằng tiếng Việt, nhiều người học thành nghề và lan rộng ra khắp mọi nơi.


Sang triều Nguyễn từ thời Minh Mệnh trở về sau, nhiều người biết nghề hát, nhưng không có tiền. Họ rủ những người sẵn tiền góp vốn mỗi người mấy chục quan lập thành một hội hát. Ngày ấy ta chưa dùng danh từ hội nên thường gọi là phường, do đó thành tên “phường chèo”. Những người biết nghề dạy nam nữ thanh niên học hát múa, diễn trò, được cả phường bầu làm ông trùm, được nhiều người kính trọng và có vai vế trong làng. Khi làng nào hay nơi nào mở hội tế thần hay có cuộc khao vọng đều đem trầu cau đến nói với ông trùm xin cho ban hát đến diễn trò để giúp vui. Trong các cuộc diễn trò, trừ khi phải đóng vai vua, quan, mệnh phụ, hoàng hậu là phải có mũ áo, hia hốt, đai mãng, râu giả, còn các vai khác mặc quần áo như thường, nhưng cũng phải là quần áo mới sạch sẽ. Phấn trắng để xoa mặt là thứ vỏ sò nung lên rồi giã nhỏ rây thành bột. Thứ phấn này ngày xưa các hàng xén thường có bán, họ nặn giống như viên thuốc giun núi, gọi là phấn phường chèo. Những người bị lở sơn mua về trộn với nước lá khế bôi lên mặt vài lần là khỏi. Còn phấn hồng thì lấy cánh hoa hiên phơi khô nghiền nhỏ.


Nơi diễn trò là sân đình, trên sàn gạch trải bốn chiếc chiếu quây liền nhau làm sân khấu, cuối chiếu đặt hai cái hòm rương không có chân (một thứ hòm đặc biệt của phường chèo dùng để chứa đựng các đồ nghề). Trên che rạp bằng phên hay cót[7], phía sau hai hòm rương chăng một sợi dây, trên vắt tấm vải rộng và dài ngăn thành buồng trò phía trong. Trong buồng trò là nơi để đào kép trang điểm và các người đánh trống, đánh đàn kéo nhị, gõ sênh phách ngồi.


Sân khấu không có “phông”, không có cây cảnh hay trang trí gì cả. Trước chỗ người ngồi xem đặt một cái thúng để đựng tiền thưởng, người xem thấy hát hay, khôi hài khéo, ném tiền vào thúng để thưởng. Một vở hát làng trả cho phường chèo năm quan[8]. Tiền thưởng của người xem có khi hơn năm quan. Giá trị của phường chèo là ở chỗ tiền thưởng. Khi làng nào mời phường chèo diễn, thì người các làng khác cũng đến xem, thấy phường chèo diễn hay thì về nói với tiên thứ chỉ làng mình, hôm vào đám sẽ mời phường chèo ấy đến diễn trò. Hát chèo càng ngày càng phát triển, những phường chèo mới lập ra, chưa ai biết đến, ông trùm phải đi xin đám. Sau Tết Nguyên đán, từ mùng Bốn trở đi, phường chèo làm lễ tế tổ, đào kép đến họp tại nhà ông trùm, tế xong ăn uống linh đình rồi chuẩn bị ra đi. Ông trùm của phường mới lập phải đi xin đám rước rồi kéo nhau đi, phường đông thì trên mười người, phường ít thì sáu bảy người. Phường chèo thờ Đào Tá Hán làm tổ sư, thờ Đông Phương Sóc làm thánh sư. Đông Phương Sóc là vị quan dưới triều Hán Vũ Đế có tài khôi hài giễu cợt cả vua.


Hát chèo lấy việc khôi hài làm chủ yếu, nên thờ Đông Phương Sóc làm thánh sư, thờ Đào Tá Hán - người sáng lập ra lối hát chèo - là tổ sư. Một năm có hai kỳ tế tổ sư và thánh sư: kỳ xuân tế vào ngày Tết Nguyên đán, không định ngày trước, còn kỳ thu tế nhất định là ngày 12 tháng Tám. Các phường chèo đi diễn các nơi từ giữa tháng Giêng đến giữa tháng Tư về nghỉ để gặt hái làm mùa, người thì làm các nghề thủ công khác. Đến giữa tháng Tám, sau khi tế tổ lại đi diễn các nơi cho đến tháng Mười lại về nghỉ làm ruộng. Ngày xưa, người ta không lấy việc đi hát làm kế sinh nhai, coi là việc làm để nối nghiệp tổ sư và thánh sư, nghề sinh nhai chính vẫn là làm ruộng, làm thủ công nghệ hoặc buôn bán lặt vặt ở các chợ. Sau mỗi kỳ đi diễn các nơi, ông trùm họp đào kép ở nhà mình chia số tiền các làng biếu và tiền thưởng: trước hết trừ các khoản chi tiêu và một phần tiền làm vốn, sau đó chia các đào kép hạng nhất, hạng nhì, hạng ba, hạng mới học nghề, còn phần ông trùm và các người góp vốn lập phường ít hơn đào kép hạng nhất. Ai cũng coi món tiền này là lộc thánh, chớ không muốn trông vào tiền ấy để sinh sống. Ông trùm là người giữ việc chi tiêu, sổ sách, tính toán phân minh, không hề hà lạm tham ô, nên ai cũng kính trọng.


Rạp hát chèo đầu tiên ở Hà Nội là rạp Đồng Lạc[9] nay là dãy nhà tập thể ở lùi vào phía trong, ngoài cổng có số 3B trong ngõ Tạ Hiện. Xưa kia, nơi này là khu đất trống, ao chuôm, gò đống, có ngôi đền thờ Sầm Nghi Đống do con cháu hắn sang ngụ cư bên ta lập lên thờ trên một gò đất cạnh các đầm nước. Sau này, Pháp san lấp, lấy đất bán cho mọi người làm nhà ở, đặt tên là ngõ Sầm Công. Các cụ nhà nho thích hát chèo thuê một khu đất này lập thành rạp hát: sân khấu làm cao, có mái che, còn chỗ ngồi xem lợp cót làm rạp. Hàng ghế đầu sát sân khấu dành riêng cho các cụ và người cầm chầu, hàng ghế sau, hạng nhất năm, sáu xu, hạng nhì bốn xu, hạng ba ba xu, hạng cuối hai xu. Người đến xem ngồi vào ghế rồi có người đến thu tiền, không có vé. Trên sân khấu thắp mấy cái đèn quang treo đốt bằng dầu hỏa cũng khá sáng. Trước sân khấu đặt cái thúng để người xem thưởng tiền. Rạp chèo này mang tên là Đồng Lạc vì ở phường Đồng Lạc, về sau có điện, rạp thắp bằng đèn điện trên sân khấu và có phông có bài trí do một họa sĩ là Trần Phềnh phụ trách. Mỗi cảnh đều có bài trí khác nhau. Từ lúc này trở đi, người vào xem phải lấy vé ngoài cửa rạp. Mấy năm sau đó, một người tên Năm Trăn ở Sài Gòn đem một bọn đào kép ra mở một rạp hát tuồng bên cạnh rạp Đồng Lạc (tức là nhà số 3A), chuyên diễn tuồng với những mũ mãng quần áo, phông, cảnh, bài trí đẹp, đèn điện thắp nhiều trên sân khấu, hấp dẫn người xem rất đông. Rạp Đồng Lạc vắng khách dần dần tan rã. Các cụ nhà nho lại góp vốn lập thành một Công ty mở rạp hát chèo lấy tên là Xán Nhiên Đài ở phố Đào Duy Từ hiện nay (hồi bấy giờ vẫn quen gọi là phố Sầm Công). Rạp Xán Nhiên Đài có bề thế, có phông cảnh và cũng thắp nhiều đèn điện trên sân khấu. Chỗ khách ngồi xem có mái ngói, có tầng gác, ra vẻ khang trang lịch sự. Một nhà thầu khoán tên là Ba Lan góp nhiều cổ phần nhất được bầu làm giám đốc. Cụ Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc chuyên việc duyệt các vở chèo cổ. Hồi bấy giờ có các đào kép nổi tiếng. Đào có: đào Tửu, đào Tam, đào Tuất, đào Lý, đào Nhã, đào Tiêm, đào Thịnh (vợ kép Thịnh), đào Chuẩn (vợ cả Chuẩn). Kép có: kép Thịnh, kép Chuẩn, kép Vượn, Long Toét, kép Phẩm…. Trên đây chỉ kể các đào kép nổi tiếng, còn nhiều người nữa, chúng tôi không nhớ hết, về sau lại có thêm Nguyễn Đình Nghị và em là Nguyễn Đình Hy tham dự.


Về rạp tuồng Năm Trăn[10] diễn được ít lâu nhường lại cho một người là Phủ Trọng (anh ngày làm Đốc phủ sứ ở Sài Gòn về hưu). Phủ Trọng cũng gọi là cổ phần lập thành một Công ty hát tuồng lấy tên là rạp hát Quảng Lạc và đem thêm một số đào kép ở Sài Gòn ra. Đào có: đào Liên, đào Cưỡng, Tám Long, Ba Nhang (cô đào này người làng Cự Đà), đào Đinh, sau thêm đào Giáo, đào Chiếu (đào Chiếu em ruột đào Liên); kép có Cửu Giò, kép Lộ, Sáu Phú, kép Tín, sau thêm kép Ba Liên. Người duyệt vở và đạo diễn cả rạp Quảng Lạc là ông cử Tô Giang Lê Đức Hoạt. Hai rạp Quảng Lạc và Xán Nhiên Đài tối nào cũng đông người xem. Khi qua cửa soát vé, người soát vé biếu một tờ chương trình về vở diễn hôm đó. Tờ chương trình in khá đẹp chia từng cảnh, thuyết minh rõ ràng, gần như một đoạn tiểu thuyết. Được ít lâu, nhà thầu khoán Ba Lan quá mê cô đào Tửu, bán cả đồn điền rồi cuỗm cô đào Tửu đi mất. Tiếp đó lại có rạp Thắng Ý mở ở phố Hàng Quạt (nay là trường dạy múa) nhưng được ít lâu tan vỡ, rạp hát này trở thành rạp chiếu phim.


Năm 1925, có phong trào hát cải lương Nam kỳ. Thanh niên Hà Nội đua nhau hát những bài Vọng cổ Hoài lang, Lưu Thủy Trường, Lưu Thủy Đoản, Bình bán, Khổng Minh tọa lầu, Bát man tấn công v.v… Rạp Quảng Lạc đón phong trào diễn vở cải lương Nam kỳ đầu tiên “Tối độc phụ nhân tâm” (Lòng người đàn bà rất độc), hát toàn những bài hát cải lương, phục sức theo lối mới, không vẽ mặt đeo râu, người xem rất hoan nghênh. Hồi bấy giờ có một sinh viên người Sài Gòn tên là Nguyễn Văn Tệ, học ở trường cán sự chuyên môn, chuyên soạn nhiều vở hát cải lương Nam kỳ cho rạp Quảng Lạc. Rạp này thường diễn xen kẽ khi thì tuồng cổ, khi thì cải lương Nam kỳ, được nhiều người xem.


Rạp Xán Nhiên Đài, sau khi Ba Lan cuỗm đào Tửu đi mất, do một người khác là Lê Đình Ngạn làm giám đốc, kéo Nguyễn Đình Nghị duyệt vở và đạo diễn. Ông này nguyên là một nhà Nho đã thi hương vào nhị trường, sau làm chánh tổng, rồi làm trùm phường chèo đi hát đám. Thấy rạp Quảng Lạc diễn những vở vải lương Nam kỳ được nhiều người hoan nghênh, ông này ra sáng kiến soạn các vở chèo cải lương. Vở đầu tiên là “Hoảng vì tình” đặt tên “Trận cười thứ nhất” được nhiều người hoan nghênh. Chèo cải lương của ông chỉ thêm các điệu ca lý Huế: Hành vân, Lưu thủy, Nam ai, Nam bình, Cổ bản, Tứ đại cảnh, Kim tiền… hát xen kẽ với các bài hát cổ: Đường trường, Nhịp một, Nhịp đuổi, Nhịp chờ, Hát sắp, Cách cú, Làn thảm, Hồi tiếu (gọi nôm là nồi niêu), Cò lả v.v… Tiếp đó, ông lại cho ra vở “Trận cười thứ hai”, nguyên nhan đề là “Khôn có giống”, cốt truyện lấy trong tập truyện ngắn kim cổ kỳ quan “Cảm thân ân thiếu nữ tàng nhi”, rồi trận cười thứ ba “Khôn trẻ bẽ già”; trận cười thứ tư “Quá chơi nên nỗi” được khán giả hoan nghênh. Ông soạn liên tiếp đến vở chèo thứ mười hai. Nhưng nhiều vở chưa kịp diễn thì rạp Xán Nhiên Đài xảy việc lộn xộn, là trong các hội viên có ông muốn tranh chức giám đốc với Lê Đình Ngạn. Ông này bất bình bỏ Công ty Xán Nhiên Đài, rủ các người khác lập công ty Cải lương Ký Viện và xây rạp hát tại phố Hàng Bạc, co kéo Nguyễn Đình Nghị và các đào kép hạng nhất của Xán Nhiên Đài sang rạp cải lương Ký Viện. Ông Nguyễn Đình Nghị chuyên soạn vở, đạo diễn và nhiều khi ông ra đóng các vai: phú ông, ông đồ, ông già say. Rạp cải lương Ký Viện đang phát đạt thì lại xảy ra việc rắc rối: Lê Đình Ngạn lấy cô Nguyễn Thị Hiên, một cô gái góa làm vợ lẽ. Trong mục thi hương chúng tôi đã nói đến cô này. Cô người Hà Nội, lấy chồng huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh. Cô học chữ Nho rất giỏi, năm 1909, mặc giả trai đi thi thay chồng vì chồng ốm, cô bị phát hiện là gái giả trai bị đuổi ra. Sau khi chồng chết, cô ra Hà Nội buôn cau Nghệ rồi lấy lẽ Lê Đình Ngạn. Cô có làm vở chèo “Một cảnh làm dâu” diễn nhiều lần được khán giả hoan nghênh. Lê Đình Ngạn đem cô vào làm đạo diễn và soạn vở thay Nguyễn Đình Nghị. Ông này liền bỏ rạp cải lương Ký Viện lập ban hát là Tự Lạc Ban đi diễn các tỉnh. Thế rồi, rạp cải lương Ký Viện tan rã, sau đổi chủ trở thành rạp hát Tố Như. Chính tại nơi đây, trong hồi kháng chiến chống Pháp ở Hà Nội năm 1947, Trung đoàn Thủ đô đã làm lễ tuyên thệ Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.


Rạp Xán Nhiên Đài sống ngắc ngoải, sau thêm đào Hoa Tâm (con kép Thịnh), đào Cứu và có vai hề xuất sắc là kép Tư Liên (con kép Long Toét).


Các rạp chiếu phim


 Khi mới chiếm Hà Nội, bọn Pháp đặt riêng nhà chiếu bóng ở mạn đồn thủy, căn cứ đầu tiên của chúng, để xem với nhau. Vào khoảng năm 1910, một công ty kinh doanh về chiếu bóng là hãng Pon-ma-ray[11] mở một rạp chiếu bóng bên cạnh đền Bà Kiệu trên bãi đất trống, chung quanh xây tường, mái lợp tôn, đặt tên là rạp chiếu bóng Pathé, ngót 20 năm sau đổi tên là rạp Va-ri-ê-tê, đến năm 1935 thì dỡ bỏ. Vào năm 1915, hãng này lại mở rạp chiếu bóng nữa ở phố Tràng Tiền đặt tên là rạp Palace, sau là rạp Eden (nay là rạp chiếu bóng Công nhân), sau lại mở thêm một rạp chiếu bóng nữa ở giữa phố Hàng Buồm đặt tên là Family Cinéma. Ngoài ra, hãng này còn cho rạp chiếu bóng phố Hàng Quạt thuê phim. Rạp này đặt tên là Cinema Moderne, nguyên trước là rạp hát Thắng Ý, nay là trường dạy múa. Năm 1930, một công ty khác của Pháp đứng ra xây rạp chiếu bóng ở phố Hàng Bài đặt tên là rạp chiếu bóng Majestic, nay là rạp Tháng Tám. Đây chỉ là kể ra một số rạp chiếu bóng mở ra hồi còn chiếu phim câm. Về sau này, có phim nói, nhiều rạp mở thêm nữa như: Kim Môn, Dân Chủ, Long Biên, Đại Đồng, Bắc Đô, Kinh Đô, Đại Nam, Bạch Mai do người Việt và Trung Quốc mở ra, chúng tôi không kể đến. Rạp chiếu bóng bên cạnh đền Bà Kiệu lại dỡ bỏ năm 1935 vì lỗ vốn do nạn kinh tế khủng hoảng trầm trọng. Năm 1940, khi Nhật mới kéo vào Đông Dương, Pháp xây đài kỷ niệm Alexandre de Rhode nhân có phong trào truyền bá Quốc ngữ, để tỏ cho người Nhật biết rằng người Việt Nam vẫn gắn bó với Pháp. Thực dân Pháp thường hay lợi dụng phong trào để tuyên truyền và để ru ngủ dân Việt Nam. Từ năm 1924 trở đi, dân chúng Việt Nam khắp nơi dấy lên phong trào yêu nước chống Pháp, do chịu ảnh hưởng về các bài báo của cụ Nguyễn Ái Quốc từ Pháp đưa về. Tiếp đó đến các cuộc diễn thuyết của cụ Phan Chu Trinh ở Sài Gòn, rồi đến dịp làm lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh ở Hà Nội. Phong trào nổi lên bột phát, thực dân Pháp liền sai Phạm Quỳnh tổ chức phong trào “Bình luận văn chương Truyện Kiều” trên báo Nam Phong, tổ chức các cuộc diễn thuyết về Truyện Kiều tại trường Trí Tri phố Hàng Quạt, làm lễ kỷ niệm cụ Nguyễn Du tại Hội quán hội Khai trí Tiến Đức. Chúng còn trợ cấp cho công ty Pon-ma-ray quay cuốn phim Truyện Kiều. Người đóng phim không có, bọn Pháp dùng ngay các đào kép rạp ruồng Quảng Lạc, huấn luyện qua quít mấy tuần lễ rồi quay phim: đào Liên đóng Thúy Kiều, đào Cưỡng đóng Thúy Vân, kép Thứ đóng Vương Quan, đào Tám Long đóng ĐạmTiên, đào Đính đóng Hoạn Thư, đào Giáo đóng mụ Tú Bà; kép Ngân đóng vai Mã Giám Sinh, kép Lộ đóng quan phủ, kép Sáu Phủ đóng Từ Hải, kép Giò đóng Vương ông. Vai Kim Trọng do một ông giáo tỉnh nhỏ, nhân tình của đào Liên xin đóng. Các vai phụ khác thì thay đổi, như đào Tám Long vừa đóng vai Đạm Tiên lại vừa đóng vai Mã Kiều, kép Vân vừa đóng vai Mã Giám Sinh lại đóng vai Thúc Sinh. Kép Giò vừa đóng vai Vương ông lại đóng vai Thúc ông. Vì thiếu người đóng nên một đào hay một kép phải đóng mấy vai, riêng vai Thúy Kiều không thay đổi, còn vai Kim Trọng thì ông giáo nọ không chịu đóng các vai phụ khác. Phong cảnh đều mượn các nơi chung quanh Hà Nội: hội Đạp thanh mượn nghĩa địa Quảng Đông của Hoa kiều ở làng Láng Trung; hiên Lâm Thúy mượn cái vườn cảnh của con cháu Nguyễn Bá Kim, thường gọi là Thương Kim, ở nhà số 29 phố Hai Bà Trưng ngày nay. Vườn này hồi bấy giờ rất rộng và đẹp, trồng nhiều cây cảnh và một số cây quả, có giả sơn, có đình tạ; nhà thanh lâu của Tú bà thì mượn cái phòng khách trên gác nhà mụ Bé Tý, ở nhà số 74 phố Hàng Bạc. Ở đây có sẵn bàn ghế gụ và trắc làm theo kiểu cổ và đặc biệt có đôi câu đối khảm xà cừ “Tối thế thượng chi phong lưu, giang hồ khí phách; Cực nhân gian chi phẩm giá, phong nguyệt tình hoài”(1). Sông Tiền Đường mượn cảnh Hồ Tây; thảo am nơi Thúy Kiều đi tu mượn đền Voi Phục. Phim Kim Vân Kiều mới đem chiếu được nhiều người xem, vì là phim một truyện ai cũng thuộc lại do người Việt Nam đóng. Tuy nhiên, phong trào truyện Kiều do Phạm Quỳnh gây nên và phim Truyện Kiều chẳng làm giảm được phong trào yêu nước của nam nữ thanh niên hồi bấy giờ.


Trò xiếc


Từ xiếc ta mượn của Pháp "Cirque", nghĩa là trò diễn trên sân khấu tròn. Ở nước ta, trò này có từ đời Đinh Tiên Hoàng (968-980), bấy giờ ta gọi là trò "leo dây múa rối". Đinh Tiên Hoàng lên làm vua đóng đô tại Hoa Lư, trong nước luôn luôn xảy ra những bệnh dịch, nhất là bệnh dịch tả làm chết nhiều người. Trong triều đình có nhiều sư làm quan, tâu rằng dịch tả do ma quỷ gây ra, xin sức cho dân dùng vôi bột rắc quanh nhà để trừ ma. Theo sách “Lĩnh Nam chích quái”, có một nhà sư tên là Dũ Văn Mâu đã từng đi chu du khắp nơi, xin đứng ra dạy một bọn người làm các trò “leo dây múa rối” để cho ma quỷ mải xem không đi quấy nhiễu, làm hại dân. Những trò ấy là: chăng một dây trên cột cao gần ba mét cho hai người đi trên dây; chăng một sợi dây vắt qua cái cột cao hơn hai mét, hai đầu dây buộc vào cái cọc chôn dưới đất, làm thành cái cầu dốc bằng dây. Hai người từ hai chỗ đầu dây đi lên “cầu dây” tới cái cột đổi chỗ cho nhau đi xuống; một người uốn cong ngửa người ra, đầu sát xuống đất, hai chân quặp lấy đầu, một người khác đứng lên bụng người này mà múa; một người nằm ngửa dưới đất, kê đít cao lên, giơ hai chân lên và đặt cái cột tre dài ba mét, một em lên mười tuổi leo lên cột tre ấy mà múa; một người trồng một cây tre dài ba mét dưới đất rồi leo lên, đặt một mảnh ván trên đầu cột tre, đứng trên mảnh ván ấy mà múa; một người cưỡi ngựa cho ngựa chạy nước đại vòng quanh trên bãi đất trống rồi đứng trên lưng ngựa mà múa nhảy, rồi quặp hai chân vào mình ngựa để dốc ngược đầu xuống đất nhặt những vật đã đặt sẵn dưới đất trong khi ngựa vẫn tế nước đại.


Khi Lý Thái Tổ thiên đô ra Thăng Long tức Hà Nội ngày nay, những người diễn trò “leo dây múa rối” cũng theo ra. Họ thường diễn các trò này vào những khi có nạn dịch tễ, và những ngày Tết Nguyên đán tại các phường phố trên chỗ bãi đất rộng; người đến xem đều thưởng tiền ném vào cái rổ đặt dưới đất gần nơi diễn trò.


Sau khi thực dân Pháp chiếm Hà Nội làm nhượng địa, chúng cho một bọn xiếc Pháp sang diễn tại căn cứ của chúng là khu Đồn Thủy để chúng xem với nhau và có mời một số quan to Việt Nam đến xem. Vào khoảng năm 1912, sau khi xây xong Nhà hát Lớn, có những gánh xiếc Pháp, Anh, Mỹ sang diễn tại Hà Nội. Chúng cho diễn tại một bãi đất trống bên cạnh Nhà hát Lớn. Về sau có những gánh xiếc nước nào sang diễn đều làm rạp tại bãi Hàng Da, ngày nay là chợ Hàng Da, hồi ấy gấp đôi bây giờ. Một lần có một gánh xiếc của Anh tên là Hamidton, diễn trò các nơi không xảy ra việc gì, vì không làm mếch lòng người xem. Khi vào diễn tại Vinh, một hôm thầy trò, hai anh hề ra khôi hài, một anh đóng làm thằng chủ, một anh đóng anh bồi. Thằng chủ hỏi anh bồi người nước nào, anh bồi nói là người nước Anh, người nước Pháp, người nước Mỹ, thằng chủ khen được, tốt. Nhưng khi hỏi lại nữa, anh bồi nói mình là người “An-na-mít”, lập tức thằng chủ đứng dậy đánh, tát tai, đá đít. Lập tức, các khán giả người Việt đứng lên ra về hết. Từ hôm sau trở đi, gánh xiếc ấy khai diễn, không có một người Việt Nam nào xem, chỉ lơ thơ có mấy người Pháp đến lấy vé, nhưng rồi không diễn được phải trả lại tiền vé cho họ. Sau đó gánh xiếc này ra Nam Định cũng bị tẩy chay, ra Hà Nội cũng không có người nào đến xem cả, mặc dù thằng chủ đã quảng cáo rùm beng. Không có doanh thu nên không có tiền trả cho diễn viên và tiền nuôi các giống vật hổ, báo, chó, ngựa, khỉ nên đành phải bán dần các con thú cho thực dân Pháp; cuối cùng vẫn bị túng thiếu, thằng chủ tự tử chết. Bọn thực dân Pháp phải trợ cấp cho các diễn viên tiền tàu và tiền ăn đường về nước.


Từ khi xảy việc này, có gánh hát, gánh xiếc nước ngoài nào sang diễn tại Việt Nam, bọn thực dân Pháp cảnh cáo, họ không được diễn trò gì hoặc nói câu gì làm mếch lòng người Việt Nam. Một gánh xiếc của Pháp muốn lấy lòng người Việt Nam, sau khi diễn trò có tổ chức quay số lấy thưởng. Mỗi vé vào xem đều có in số, khi quay số, vé nào trúng đều được thưởng: giải nhất là chiếc xe đạp, các giải sau là rượu vang, rượu mùi, quần áo, bát đĩa, xoong nồi. Về sau đám xiếc đi rồi, có một anh Tây lùn, tối nào cũng bán số và quay số lấy đồ dùng trong thời gian mấy năm.


Năm 1925, một rạp xiếc Việt Nam xuất hiện tại bãi Hàng Da được nhiều người hoan nghênh, vì diễn viên toàn là người Việt. Chủ nhân là ông Tạ Duy Hiển. Ông nguyên là thợ trồng răng làm với anh ruột là Tạ Duy Từ ở phố Bờ Hồ (nay là phố Đinh Tiên Hoàng), sau ông bỏ nghề trồng răng đi chiêu mộ các em trai gái từ mười bốn, mười lăm tuổi huấn luyện họ làm các trò xiếc. Ông nghiên cứu và khai thác các vốn dân tộc từ thời Đinh Tiên Hoàng là trò “leo dây múa rối” và tham khảo thêm các trò của các gánh xiếc nước ngoài. Rạp xiếc Việt Nam mới đầu cũng có nhiều trò hay, vui và nguy hiểm, nguy hiểm nhất là trò ném dao, khiến người xem phải ghê rợn: một cô gái đứng sát vào một tấm ván to như cái bảng dựng đứng, một người đứng xa năm thước, cầm những con dao mũi nhọn và sắc dài một gang tay ném cho cắm phập vào tấm ván khắp chung quanh cô gái từ đầu đến chân. Rạp xiếc của ông cũng có nhiều giống vật: mới đầu có ngựa, chó, khỉ, gấu, dần dần về sau có hổ, báo, sư tử. Chính ông là người chuyên huấn luyện các giống ác thú. Một lần ông đã bị một con hổ chưa thuần vồ và cào mất một mảng da đầu. Không quản ngại sự nguy hiểm khi tiếp xúc với các giống thú dữ, rạp xiếc Việt Nam diễn khắp nơi trong nước và sang biểu diễn ở nhiều nước Âu, Á. Từ năm 1940 trở đi, rạp nghỉ diễn cho đến khi Chính phủ về tiếp quản Thủ đô, ông Tạ Duy Hiển lại được đứng ra lập lại ban xiếc.


(còn tiếp)


Nguồn: Hà Nội xưa và nay. Tập Ký của Bạch Diện Nguyễn Văn Cư. NXB Hội Nhà văn, 10-2015.


www.trieuxuan.info


 


 








[1] Phố Hàng Gai xưa nhiều gia đình của các ông đỗ đại khoa đến ở, ngôi nhà số 82 phố này xưa là nhà của người đỗ ông Nghè thời Lê, được triều đình cấp đất cho làm nhà riêng. Phố Hàng Gai nơi bán nhiều tượng ông Nghè bằng giấy.




[2] Câu này mượn trong truyện Kiều. “Văn chường nét đất” ngụ ý là mả phát về văn học. Ở câu thơ này tả cái đầu ông nghè nặn bằng giấy.




[3] Trong ruột ông nghè giấy có cái que cắm. Từ “lòng que” ngụ ý châm biếm bọn quan lại hay ăn lễ đút lót của dân.




[4] Ngày xưa, những người đỗ ông nghè được cưỡi ngựa đi dạo phố ba ngày, gọi là “tiến sĩ du nhai”.




[5] Câu này mượn ý trong ca dao: “Em là con gái đồng trinh; Em đi bán rượu qua dinh ông nghè; Ông nghè sai lính ra ve; Trăm lạy ông nghè em đã có con”.




[6] Sau khi Hà Nội bị Pháp chiếm, từ năm 1915 trở đi khoa thi hương Bắc kỳ bãi bỏ, trường học chữ Nho ở Hà Nội không còn nữa. Riêng các vùng nông thôn, trẻ em vẫn đi học chữ Nho, mơ tưởng đỗ ông Nghè vì nông thôn thuộc Nam triều và Huế vẫn còn các khoa thi Hội, thi Đình.




(1) Triều Lê có chức linh quan do Đào Tá Hán sung chức ấy để chỉ huy các cô đào kép trong các cuộc hát thờ, hát mừng vua chúa. Con ông Đào Duy Từ tuy được trong Chiêu Văn Quán trường quốc lập của triều đình mà khi nộp quyển đi thi bị quăng trả lại, vì là con nhà ca xướng. Từ phẫn chí vào Nam giúp chúa Nguyễn.




[7]  Do việc che rạp này, mà về sau cho đến ngày nay các nhà hát, nhà chiếu phim đều gọi là rạp hát, rạp chiếu bóng, rạp xiếc…




[8] Ngày xưa, dưới triều Lê cho đến đời Quang Trung, dân ta tiêu tiền đồng. Đến triều Nguyễn, tiền đồng giảm dần đi, chuyển sang tiêu tiền kẽm gọi là tiền đen, mỗi quan có 10 tiền, 1 tiền là 60 đồng kẽm. Khi thực dân Pháp mới chiếm nước ta chúng phát hành đồng bạc hoa xòe thì 1 đồng bạc ăn 5 quan (3000 đồng kẽm).


 




[9] Một số tài liệu cho rằng rạp này có tên là Quảng Lạc (TTĐP).




[10] Có tài liệu ghi là Năm Chăn (TTĐP).




[11] Tôi có tra nhiều tài liệu nhưng không thấy có hãng này nên để nguyên tên như tác giả phiên âm. Kể từ trang này về sau, những tên người cũng như địa danh nếu không tra được tôi cũng sẽ giữ nguyên như tác giả đã viết (TTĐP).




(1) Đôi câu đối rút trong bài hát của nhà thơ Tú Xương, có nghĩa là thú phong lưu rất mực ở đời là khí phách kẻ giang hồ; Cái phẩm giá cao quý nhất của người đời là tình giăng gió. Theo quan niệm xưa thì đôi câu đối này đối với đàn ông là hay nhưng đối với đàn bà thì ngụ ý bảo người ta là con đĩ. Chẳng rõ cụ nhà Nho nào xui mụ Bé Tý nhắm đôi câu đối này để treo ở nhà mụ.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »