tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21056446
Tiểu thuyết
08.12.2015
Bạch Diện Nguyễn Văn Cư
Hà Nội xưa và nay

Lại còn thứ vàng thoi tiêu thụ rất nhiều giấy nan. Xưa, quanh Hà Nội có nhiều nơi làm thứ vàng này: làng Sét thuộc huyện Thanh Trì, làng Thổ Khối thuộc huyện Gia Lâm, làng Hồ thuộc khu Ba Đình, và nhiều nhà tư ở Hà Nội cũng làm bán. Ngoài ra còn thứ vàng lá, thoạt tiên do các nhà buôn Hoa kiều nhập vào bán, sau nhiều người ở làng Cót cũng làm ra được và cả giấy trang kim nữa. Vàng lá là thứ để nguyên màu trắng; thứ nào là vàng thì quét lên mặt lá thiếc một lượt nước hoa hòe. Người ta đóng 50 tờ vàng, 50 tờ bạc, dùi một góc ở mép lấy lạt đỏ xâu vào buộc chặt gọi là một đinh vàng - trang kim là đồng dát mỏng như tờ giấy, dán bồi lên tờ giấy bản thành một tờ giấy đồng vuông mỗi bề hai mươi phân. Trang kim dùng làm đồ mã trang trí cho đẹp, và dùng lót tiểu sành trong các đám bốc mả.


Tương truyền trang kim và vàng lá do Phạm Lãi phát minh từ thời Xuân thu Chiến quốc. Bấy giờ nước Việt bị nước Ngô đánh chiếm; vợ chồng vua nước Việt là Câu Tiễn bị bắt sang làm nô lệ cho vua nước Ngô là Phù Sai. Phạm Lãi là tể tướng nước Việt ở lại trong nước lo chỉnh đốn việc nước để đánh báo thù nước Ngô. Một mặt Phạm Lãi mua gái đẹp là Tây Thi dâng cho vua Ngô Phù Sai, làm cho Phù Sai say đắm nữ sắc không trông coi việc nước; một mặt Phạm Lãi dạy cho dân nước Ngô lấy đồng nấu và dát mỏng làm trang kim; lấy thiếc nấu và dát mỏng làm vàng lá để đốt trong các dịp cúng lễ. Đồng và thiếc là những nguyên liệu quý dùng để đúc khí giới hồi bấy giờ. Dân nước Ngô vì sự mê tín dị đoan, đem những nguyên liệu quý về quốc phòng thiêu hủy đi rất nhiều, khiến trong nước thành kiệt quệ. Khi nước Ngô đã suy yếu và nước Việt mạnh lên, Phạm Lãi dùng mưu kế lừa dối vua Ngô để đưa vợ chồng Câu Tiễn về nước và khởi binh đánh báo thù nước Ngô. Phù Sai bị thua trận phải tự tử, nước Ngô bị diệt. Sau khi khôi phục được nước Việt rồi, Phạm Lãi bỏ nước Việt đi chu du thiên hạ, đổi tên là Đào Chu Công, kinh doanh về việc buôn bán làm tiểu công nghệ. Ông có viết cuốn sách dạy về các nghề, các cách chăn nuôi trồng trọt, lấy tên là "Đào Chu Công trí phủ" còn truyền tụng đến ngày nay. Thứ men bát xưa nay các nhà sản xuất chén, bát đĩa vẫn dùng là làm theo sách "Đào Chu Công trí phú": chén, bát, đĩa, nặn xong phơi khô rồi nhúng vào chậu nước gồm có than trấu hòa với vôi bột, cho vào lò nung. Trong vỏ trấu có chất silic, kết hợp với vôi bột thành một chất bóng láng như thủy tinh.


 


TỤC ĂN TẾT CỦA NGƯỜI HÀ NỘI


Từ nghìn xưa, nhân dân ta, kẻ chợ cũng như nông thôn, miền Nam cũng như miền Bắc đều coi trọng ngày Tết Nguyên đán. Riêng Hà Nội là cố đô Thăng Long, nơi tụ họp đông người, chịu ảnh hưởng trực tiếp của các tập đoàn phong kiến thống trị các triều đại, nên có một số đặc điểm khác với nông thôn và nhiều nơi khác.


Từ giữa tháng Mười âm lịch, khi cơn gió heo may nổi lên, cái rét từ phương Bắc đưa đến, mọi người đã nghĩ đến chuyện Tết. Các nhà làm ruộng, sau vụ gặt hái bán được thóc, gạo, có đồng tiền lo đến việc mua sắm, các thứ cần dùng về Tết. Thời bấy giờ đường sá rất ít và khó khăn, sự di chuyển nơi này đến nơi khác rất diệu vợi và mất nhiều thì giờ vì xe tàu không có. Nơi nào có đường sông thì con thuyền là phương tiện vận chuyển tiện lợi nhất. Do sự đi lại diệu vợi khó khăn nên từ thời xa xưa, mọi người đặt ra ngày phiên chợ để hẹn hò nhau đến tụ họp trao đổi hàng hóa. Các chợ ở trung tâm Hà Nội có phiên chợ vào ngày một,ngày sáu mỗi tháng; chợ Mơ ngày hai, ngày bảy; chợ Bằng (thuộc huyện Thường Tín) ngày ba, ngày tám; chợ Bưởi ngày bốn ngày chín; chợ Hà Đông ngày năm, ngày mười. Có mấy nơi cả một năm chỉ có một ngày phiên chợ vào ngày 24 tháng Chạp âm lịch, đó là ngày chợ Tết của làng Cót (Hạ Yên Quyết) và chợ Đồng thuộc làng Yên Đổ (Hà Nam). Chợ Đồng là quê hương cụ Nguyễn Khuyến, nên cụ đã có bài thơ, chúng tôi vẫn nhớ được hai câu phá, thừa:


Tháng Chạp hai mươi bốn chợ Đồng,


Năm nay chợ họp có vui không?


Các nhà buôn Hà Nội lo mua hàng để bán vào dịp Tết, và thường nói: "Buôn bán quanh năm, chỉ trông vào ba ngày Tết", có nghĩa là quanh năm buôn bán kiếm lãi không được mấy, có khi còn bị lỗ vốn, chỉ vào dịp Tết mới có lãi nhiều và thường được ăn chắc, vì ngày Tết người nghèo cũng như người giàu phải lo mua sắm các thứ cần thiết để ăn trong ba ngày Tết và sau Tết hàng nửa tháng, một tháng mới lại có chợ, có buôn bán. Như trên đã nói, vì đường sá diệu vợi, sự đi lại khó khăn, người ta họp chợ có phiên, nhưng sau ba ngày Tết, các chợ còn nghỉ lâu, nên gần đến Tết mọi nhà mọi người phải lo mua sắm, sau này thành một thói quen: đi sắm Tết.


Từ tiết Đông chí thường là vào khoảng trung tuần tháng Một âm lịch, việc buôn bán, mua sắm Tết càng rộn rã. Các triều đại vua chúa xưa cho rằng ngày Đông chỉ là nhất dương sinh, bày ra việc cúng tế, các đền chùa cũng cúng lễ, nhân dân Hà Nội bắt chước làm cỗ bàn cúng gia tiên. Những dòng họ có người đỗ đạt, tổ tiên được thờ trong văn chỉ họ, đến ngày đông chí con cháu đều họp cúng tế tại văn chỉ.


Từ ngày Đông chí trở đi, việc buôn bán tại Hà Nội dần dần tấp nập, rộn rã. Lái buôn từ các nơi đem các thứ hàng về Hà Nội bán. Hàng chở bằng thuyền đỗ đầy ngoài sông Hồng, len lỏi cả vào sông Tô Lịch. Lại có những người từ các tỉnh xa về Hà Nội cất hàng đem về địa phương bán Tết. Các nhà làm nghề thủ công, bận nhất là các hiệu may nổi lên, nhiều người đã lo đến việc may quần áo rét và quần áo Tết. Hồi xưa, máy khâu chưa có, thợ may phải khâu tay nên các hiệu may thường phải thức khuya đến một, hai giờ sáng. Các nhà làm các thứ nghi môn, màn quần, câu đối, sơn thiếp cũng bề bộn công việc. Đầu tháng Chạp, việc chuẩn bị của mọi người, mọi nhà càng rộn rã. Những nhà có con cháu học chữ Nho, phải lo biếu Tết ông đồ bằng gà, gạo và mấy quan tiền; để biếu trả lại gia đình học trò, ông đồ viết tặng cho mỗi nhà một số câu đối để dán Tết, là món cần thiết của mọi người thời bấy giờ. Dân phố có nghề làm ăn buôn bán lo biếu Tết lý trưởng, chánh tổng (sau này là phố trưởng và thiên hộ); những người thuê nhà thuê ruộng lo biếu Tết chủ nhà, chủ ruộng; bà con thân thuộc, bạn bè thân thích biếu Tết lẫn nhau; con cháu ngành thứ phải biếu Tết nhà trưởng họ. Sự biếu xén lẫn nhau, sự mua sắm các thứ cần thiết và Tết làm giá hàng vào dịp gần Tết tăng lên vùn vụt, vì thế những kẻ vô nghệ lưu manh nảy tính trộm cắp, có khi họp nhau đi cướp đêm, gọi là “vào nhỏ ra to” để kiếm cái Tết. Thời bấy giờ nhân dân thường gọi tháng Chạp là "tháng củ mật", nghĩa là phải giữ gìn tài sản cho cẩn thận kín đáo kẻo bị mất trộm mất cướp.


Ngày 23 tháng Chạp, những tiếng rao “Ai mua cá ông Táo ra nào?” của các cô hàng cá râm ran khắp các phố làm cho việc chuẩn bị Tết của mọi nhà mọi người càng rộn rã hơn nữa. Ngày xưa nhà nào cũng có bàn thờ ông Táo, thường gọi là Thổ công, đến ngày 23 tháng Chạp làm cỗ bàn hoặc thổi xôi gà cúng tiễn ông Táo lên chầu giời để ông báo cáo với Thượng đế những việc hay, dở, tốt, xấu của gia đình mà ông ngự trị. Lễ tiễn ông Táo ngoài cỗ bàn, xôi gà món cần thiết là ba cái mũ, ba đôi hia, hai con cá chép, hóa rồng bay lên trời được dùng làm ngựa ông Táo. Những nhà thơ không tin truyền thuyết về ông Táo, có những bài thơ hài hước:


Ba ông vua bếp dạo chơi xuân,


Đội mũ đi hia chẳng mặc quần!


Trời hỏi: “Làm sao ăn vận thế?”


Tâu rằng: “Hạ giới nó duy tân!”.


 


Hôm nay tháng Chạp, hai mươi ba,


Lễ tiễn đem dâng cụ Táo nhà:


Tuấn mã gọi là đôi cá chép;


Vi thiềng xin có một con gà.


Dẫu rằng lễ vật hơi đơn bạc,


Được cái lòng tôi rất thật thà!


Cụ có linh thiêng che chở giúp,


Tốt thì cụ tấu, xấu ngơ qua!


*


Ngày 25 tháng Chạp là ngày triều đình phát lịch năm mới cho các nha thị, các phủ, huyện về triều Lê. Sang triều Nguyễn kinh đô đặt ở Huế, ngày 25 tháng Chạp bọn quan lại ở Hà Nội làm lễ đón lịch tại đàn Nghênh Xuân. Đàn này, thiết lập tại phía đông nam Hà Nội vào khoảng đầu phố Phùng Hưng ngày nay (nơi bắt đầu xe lửa lên dốc cầu Long Biên). Nhận được lịch từ Huế đưa ra, bọn quan đầu tỉnh Hà Nội rước ra đàn Nghênh xuân làm lễ bái mạng rồi phân phát đi các nơi. Nhà thơ Tú Xương có câu:


Xuân từ trong ấy mới ban ra,


Xuân chẳng riêng ai khắp mọi nhà.


Sau khi nhận được lịch, các nha thị, các phủ huyện đều làm lễ “sáp ấn”, nghĩa là lau chùi con dấu sạch sẽ, dùng miếng nhiễu đỏ hay lụa đỏ gói lại cất đi. Bắt đầu từ ngày sáp ấn cho đến sau Tết, tất cả mọi việc quan đều nghỉ, các phủ huyện, ty không xét xử án kiện vì các quan đã nghỉ việc về quê ăn Tết, chỉ còn một số chánh tổng, lý trưởng, tuần phiên, phu điếm, người sở tại làm việc giữ trật tự trị an trong các phố phường. Những người này cũng chỉ làm việc tắc trách, trong bụng họ còn nghĩ về Tết nhiều hơn. Bắt được kẻ gian phạm tội nặng, họ cùm chân giam ở điếm chờ ngày khai ấn, thường từ cuối tháng Giêng trở đi mới đưa lên quan xét xử. Từ ngày sáp ấn trở đi, bọn trộm cắp tha hồ hoành hành, những nhà giàu có rất lo sợ, nhất là từ ngày 25 - 26 tháng Chạp trở đi. Hà Nội vắng người dân vì nhiều người đến ở Hà Nội chỉ có mục đích làm các nghề thủ công hoặc buôn bán, đến gần Tết họ mua sắm các thứ rồi về quê ăn Tết. Hà Nội thời bấy giờ rất vắng vẻ trong những ngày Tết. Chỉ những người nguyên quán ở Hà Nội hoặc đã ra Hà Nội lập nghiệp từ lâu là ở lại chuẩn bị ăn Tết. Từ ngày 25 tháng Chạp, họ thuê người quét bụi bặm mái nhà, rồi quét vôi trắng toát khắp nhà, đến ngày 29 tháng Chạp, gọi là “tiểu trừ tịch”, mọi nhà lau quét bày biện trang trí bàn thờ, cọ rửa nhà cho sạch sẽ, bày chậu hoa, cây cảnh nơi tiếp khách. Trong ngày này hay trước một vài ngày mọi nhà làm các thứ bánh, kẹo, mứt, chè kho, chè lam để cúng Tết. Xưa, các cụ ta vẫn cho rằng các thứ để cúng phải tự làm lấy mới sạch sẽ và thành kính, vì thế không nhà nào, người nào đi mua các thứ làm sẵn để cúng và cũng vì thế không có cửa hàng cửa hiệu nào làm các thứ bánh mứt để bán. Cả đến việc nấu rượu người ta cũng tự cất lấy, không đi mua rượu nấu sẵn để cúng. Bắt đầu từ cuối tháng Mười hay đầu tháng Một, các nhà đã đồ xôi, ủ men, rồi đến tháng Chạp thì nấu rượu. Nhà nào cũng nấu một số rượu để cúng quanh năm; riêng những nhà mở hàng cơm chứa trọ nấu thêm rượu để bán. Đến ngày 28 - 29 và 30 Tết, các nhà gói bánh chưng, giò mỡ, kho cá, hầm thịt. Có giò mỡ phải có dưa hành muối trước từ 15 tháng Chạp. Ta có câu đối tả cảnh ăn Tết:


Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ;


Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh.


Một điều chúng ta phải phục các cụ ngày xưa là ăn thịt mỡ phải kèm với dưa hành hoặc hành tươi. Hành có tính chất làm tiêu cholesterol trong máu do mỡ động vật sinh ra. Cholesterol thường làm tắc mạch máu, xơ cứng mạch máu. Hành còn có tính chất làm dễ tiêu hóa: những nhà có trẻ sơ sinh bị đầy, không chịu bú, thường lấy củ hành tươi giã nhỏ, bọc vào miếng vải buộc vào rốn, một lúc cháu lại thấy đói và đòi bú. Trong khoa ăn uống, các cụ ta đặt thành câu ca:


Con gà cục tác lá chanh,


Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi.


Con chó khóc đứng khóc ngồi,


Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng.


Ăn thịt gà chấm với lá chanh thái nhỏ và muối kỵ sâu răng; ăn thịt lợn phải kèm với hành cho dễ tiêu; ăn thịt chó phải có riềng để dễ tiêu và trừ chất hôi độc[1].


 


*


Ngày 30 tháng Chạp là ngày đại trừ tịch, mọi nhà quét dọn bếp sạch sẽ, thay tro mới rồi chuẩn bị làm cỗ cúng đón vua bếp và đón ông vải. Đến trưa, đúng giờ Ngọ, các nhà đều trồng cây nêu trước cửa. Cây nêu là một cây tre dài trên ngọn để một túm lá hoặc là buộc một túm lông cánh gà, dưới túm lông gà là một cái vòng nan to bằng vành nón, chung quanh buộc những khánh, nhạc bằng đất nung, khi có gió thổi những thứ này va chạm vào nhau kêu leng keng, dưới vòng này buộc một trăm thoi vàng hồ bằng giấy. Trồng cây nêu, theo truyền thuyết cổ tích là để tỏ cho ma quỷ biết rằng đất nhà mình ở đây là đất Phật, ma quỷ không được xâm phạm đến. Trồng cây nêu xong, mọi người lấy vôi bột rắc trước cửa, dùng vôi nước vẽ cung tên dọa ma quỷ và vẽ bàn cờ tướng để ma quỷ mải chơi cờ không quấy nhiễu. Mỗi nhà lấy một cành gỗ đào cắm bên cạnh cửa ra vào, phía trên hai cánh cửa dán tranh hai ông tướng[2], trước cửa nhà nào cũng dán hai vế câu đối viết trên giấy đỏ, viết thêm những chữ nguyên, hanh, lợi, trinh hay quốc thái dân an. Làm xong các việc này mọi người đặt cỗ cúng khấn ông vải, bên cạnh bàn thờ dựng mấy cây mía trên đầu có mấy cái lá phất phơ, gọi là gậy ông vải. Chiều ba mươi các nhà lại làm cỗ hoặc thổi xôi, giết gà để đến nửa đêm cúng giao thừa. Tức là cúng tiễn ông thần cũ, đón ông thần mới, trong khi hai ông thần bàn giao công việc cho nhau. Người ta tin rằng mỗi năm Thượng đế phái một ông thần xuống cai trị nhân gian, đến nửa đêm ba mươi tháng Chạp ông cũ hết nhiệm kỳ bàn giao công việc cho ông mới, vì thế mới có tục cúng giao thừa. Cũng vào lúc này các đình chùa đều thỉnh chuông đánh trống cúng giao thừa. Các nhà tư thì bày hai cái án thư ra giữa sân kê liền nhau, trên mỗi án thư thắp hương bày cỗ bàn hoặc xôi gà, trầu, cau, rượu. Một bên cúng tiễn ông thần cũ, một bên cúng đón ông thần mới, ông thần ấy là "đương niên hành khiển". Sau khi cúng, nhiều nhà còn thức, có nhà luộc bánh chưng, giò lụa suốt đêm, gọi là “thủ tuế” nghĩa là canh đêm. Trong khi đó người ta lắng nghe các tiếng động: thấy lửa đang đun trong bếp reo lên, nghe thấy tiếng chuột rúc trong đống củi cho là điềm phát tài; nghe thấy tiếng chim cú, chim lợn, thạch sùng cho là điềm không tốt; thấy ngọn đèn đang thắp có hoa là điềm phát tài, trông ra sân trời tối mịt mùng là điềm tốt, sang năm mới sẽ không có thiên tai dịch lệ, nên có câu “Tối như đêm ba mươi”.


Đêm ba mươi Tết, chỉ những người phải ra đình, ra chùa, đền cúng lễ mới ra đường. Họ đi thành một bọn năm mười người, đốt đuốc sáng rực và cầm bó hương đen. Những người này cúng lễ xong về nhà xông đất nhà mình. Mọi người cho rằng sang năm mới nhà ở của mình cũng là đất mới, nhà mới, vì từ ngày 25 đến 28 tháng Chạp đã quét vôi, cọ nhà, lau dọn quét tước, đổi mới ngôi nhà nên năm mới tự mình xông đất lấy hoặc mời người có tính vui vẻ nhanh nhẹn đến chơi xông đất giúp. Từ lúc chập tối trở đi, trước cửa các nhà rộn lên những tiếng trẻ em xúc xắc xúc xẻ. Chúng đi từng bọn vài bốn đứa, một đứa cầm ống nứa trong có mấy đồng tiền, đến trước cửa mỗi nhà chúng dỗ ống nứa xuống đất làm nhịp và đồng thanh hát:


Xúc xắc xúc xẻ


Nhà nào còn đèn còn lửa,


Mở cửa anh em tôi vào,


Bước lên giường cao, thấy con rồng ấp;


Bước xuống giường thấp, thấy con rồng chầu.


Bước ra đằng sau thấy nhà ngói lợp


Ngựa ông còn buộc;


Voi ông còn cầm.


Ông sống một trăm linh năm tuổi lẻ


Vợ ông sinh đẻ những con tốt lành


Những con như tranh,


Những con như đối.


Ông ngồi ông đối. Đối rằng:


Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ;


Nêu cao pháo nổ bánh chưng xanh.


Mọi nhà nghe trẻ em hát câu chúc mừng như vậy, sẵn sàng thưởng tiền. Những nhà có người đi lễ đình chùa đã về xông đất rồi thì mở cửa thưởng tiền, còn những nhà chưa có ai xông đất, đút tiền qua khe cửa cho các em mấy đồng tiền kẽm hay tiền trinh. Sáng mùng Một, những nhà đã tự mình đi xông đất lấy thì tự do mở cửa đi lễ Tết họ hàng, bà con thân thích và bè bạn, còn những nhà chưa có ai đến xông đất vẫn đóng cửa im ỉm, chờ có người đến xông đất mới mở cửa đốt pháo mừng. Từ bấy giờ mới dám đi ra ngoài, gọi là xuất hành. Có nhiều người mê tín dị đoan, khi xuất hành chọn ngày, chọn giờ, chọn hướng, bước chân ra cửa mà gặp gái là không đi nữa, chờ gặp trai mới đi. Trong ba ngày Tết mọi người đi lại nhà nhau rất tấp nập, nhất là ngày mùng Một, rồi ngày mùng Hai, sang ngày mùng Ba thưa thớt. Người nọ đến nhà người kia, việc trước tiên là lễ bàn thờ, rồi chúc mừng bố mẹ già người bạn, sau đó mới hỏi thăm nhau về sức khỏe, về việc buôn bán làm ăn và mở hàng gọi là “mừng tuổi” cho trẻ con mấy đồng tiền kẽm hoặc tiền trinh (hồi Pháp thuộc thì một vài xu đồng) gói trong tờ giấy đỏ. Các nhà thết đãi nhau chỉ có nước chè tàu rồi trầu cau, điếu thuốc lá ta ướp hoa sói hay hoa ngâu quấn bằng giấy tàu bạch như hình cái đuôi con mối (giống như vỏ con sâu kèn, đầu to đầu nhỏ). Thời Pháp thuộc, do những người đi làm việc các sở của Pháp hoặc có giao dịch với Pháp bày thêm ra các thứ rượu mùi (tức là rượu khai vị), sau thêm các thứ bánh mứt kẹo. Dần về sau các nhà buôn Hoa kiều và thực dân Pháp đến dịp Tết nhập các thứ hàng mới lạ vào bán, gây cho người Hà Nội có những thói phô trương xa xỉ vào dịp Tết.


Sau ba ngày Tết, các nhà làm cỗ cúng tiễn ông vải vào ngày mùng 4 hay mùng 5, mời họ hàng, bạn bè đến ăn cỗ, gọi là cỗ hóa vàng liên miên mấy ngày. Sau bữa cỗ các nhà đốt các thứ vàng mã bày cúng trên bàn thờ và tắt hương đèn không thờ cúng nữa. Đến ngày mùng 7 tháng Giêng, mọi nhà lại làm cỗ cúng ăn mừng, vì là ngày người, gọi là ăn cỗ khai hạ. Xưa, theo sách Sở thi, tám ngày đầu năm mỗi ngày có một tên như sau: mùng Một ngày gà (kê nhật), mùng Hai ngày chó (khuyển nhật), mùng Ba ngày lợn (trư nhật), mùng Bốn ngày dê (dương nhật), mùng Năm ngày trâu (ngưu nhật), mùng Sáu ngày ngựa (mã nhật), mùng Bảy ngày người (nhân nhật), mùng Tám ngày thóc (cối nhật). Người xưa tin rằng trong tám ngày ấy, ngày nào trời nắng ấm, sáng sủa đẹp trời thì năm ấy giống ấy tốt khỏe. Ngày mùng 7 tháng Giêng là ngày người, nắng ấm tốt trời, thì người được khỏe mạnh nên làm cỗ ăn mừng gọi là khai hạ. Cũng nhân ngày mùng Bảy là ngày người không còn ma quỷ nào nữa, nên làm lễ hạ cây nêu. Tuy hết Tết rồi, mọi người vẫn còn nghỉ ăn chơi hết tháng Giêng. Nhân nghỉ ngơi rỗi rãi, mọi người hay bày ra trò chơi đánh bạc: các cụ nhà nho thích đánh cờ tướng để đấu trí, không ăn tiền; các nhà buôn bán thích đánh tổ tôm chắn cạ ăn tiền để lấy may; trẻ con thì đánh tam cúc; các anh tuần phiên phụ điếm họp nhau ở các điếm, các bãi đất trống đánh giồi mỏ, quay đất và xóc đĩa. Do sự cờ bạc mà sinh tệ trộm cắp vặt.


 


 


MỘT SỐ CỔ TỤC, TỆ TỤC VÀ MÊ TÍN DỊ ĐOAN


VỀ TẾT ĐẦU NĂM CỦA TA XƯA


Tích trữ nước và tổng vệ sinh nhà cửa.


Hà Nội dưới chế độ phong kiến, nhà dân toàn nhà tranh vách đất, nhà giàu có thì vách ván gỗ, không ai được làm nhà gạch lợp ngói, sợ phạm tội lộng hành, nhưng trong sân nhà nào cũng có bể chứa nước hoặc chum kiệu. Đến gần Tết, tất cả các nhà đều gánh nước đổ đầy các chum, kiệu và bể nước đề phòng hỏa hoạn và cũng có ý nghĩa là mong năm mới "của vào như nước".


Việc tổng vệ sinh nhà cửa có ý nghĩa là quét cho hết rác rưởi, bụi bẩn của năm cũ để đón lấy sự may mắn của năm mới, rồi cọ rửa nền nhà, quét vôi, sơn cửa, coi nhà của mình là nhà mới, đầu năm hẹn người nhanh nhẹn, vui vẻ hòa nhã đến xông đất để lấy may.


Dán câu đối


Do yêu chuộng văn học, từ lâu đời nhân dân ta đi phúng đám ma bằng câu đối, Tết đến câu đối càng thịnh hành. Mọi người coi việc dán câu đối Tết là sự cần thiết không thể thiếu được, vì người ta coi dán câu đối cũng là cách trừ ma quỷ. “Văn chương quỷ khấp, thần kinh” (văn hay chữ tốt làm cho quỷ phải khóc, thần phải sợ). Do sự cần thiết của câu đối Tết, Hà Nội có “phiên chợ chữ” vào tháng Chạp âm lịch. Thời xưa “chợ chữ” họp ở phố Hàng Gai, nơi chuyên bán sách vở giấy bút cho học trò. Gần Tết, các cửa hàng giấy phố này bán các thứ giấy màu nhuộm bằng gấc, dành dành, nghệ, lá cây; nhiều nhất là giấy đỏ. Thời bấy giờ, Hà Nội luôn có các khoa thi hương, học trò các nơi về thi, những người đỗ rồi thì vui vẻ ra về, còn những người hỏng thi có một số chán nản không muốn về, lần chần ở lại Hà Nội. Thấy vào gần Tết nhiều nhà và nhiều người cần câu đối, các ông trò hỏng thi liền đến phố Hàng Gai, trải chiếu mài mực ngồi nhờ trước cửa các nhà bán giấy, viết câu đối thuê. Có ông có ít tiền vốn bỏ ra mua giấy viết sẵn những câu đối chúc Tết mừng Xuân, thờ gia tiên để bán cho những người ở xa cần có câu đối ngay mà không xin ai nghĩ giúp cho được. Vào khoảng năm 1900, các nhà buôn Hoa kiều ở phố Hàng Bồ nhập vào bán các thứ giấy làm bằng máy, khổ dài, rộng, giấy dày, nhuộm bằng phẩm đỏ, tươi đẹp, các ông đồ lại thiên cái “chợ chữ” sang phố Hàng Bồ, là phố rộng hơn phố Hàng Gai và tính chỗ mua giấy đỏ đẹp hơn. Do có cái “chợ chữ” mà phố Hàng Bồ ngày xưa đến dịp Tết đông vui tấp nập cả hai bên dãy phố, những ông đồ ngồi viết câu đối ngổn ngang. Thêm vào đó, những cô bán tranh Tết ngồi ké vào, làm cho cảnh Tết càng thêm nhộn nhịp.


*    *


Dán tranh Tết


Theo sự khảo cứu của một số nhà nghiên cứu cổ sử thì tục dán tranh Tết của nhân dân ta có từ cuối đời Lê Thái Tổ. Dán tranh Tết cũng có mục đích là trừ ma quỷ và cầu may mắn thịnh vượng cho gia đình. Thường thường các nghệ sĩ cổ chỉ vẽ tranh con gà, tranh con lợn: gà thuộc dương, dương kỵ âm là ma quỷ, người ta hay vẽ con gà trống, ma quỷ thấy gà trống sợ nó gáy, mặt trời mọc thì nguy, nên nó lẩn trốn. Trong bài Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du có câu:


Nghe gà gáy tìm đường lẩn trốn,


Lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra!


Người xưa gán cho gà trống có năm đức (kê hữu ngũ đức): đầu có mào là văn, chân có cựa là võ; gáy đêm không sai giờ là tín; có cái ăn gọi bạn là nhân; đứng trước kẻ địch không lùi là dũng. Tranh gà thường vẽ một con gà trống hoặc một trống, một mái và đàn con, biểu hiện "tam dương khai thái". Gà đẻ nhiều nên tranh con gà có cả đàn, như vậy là mong cho nhà mình con đàn cháu đống.


Đi đôi với tranh con gà là tranh lợn: con lợn trên mặt có nhiều vết răn ngang, dưới có cái mõm vuông, giống như nửa chữ Phúc. Vẽ tranh lợn thường người ta hay vẽ một lợn sề và bốn, năm lợn con, ngụ ý “ngũ phúc lâm môn”; lợn cũng đẻ nhiều, nên còn ngụ ý là đông con nhiều cháu.


Tranh “cưới chuột” là tranh cải biên loại tranh cổ Trung Quốc “Trạng nguyên hành lộ”. Theo “Kinh sở tuế thời Lý”, ngày xưa tại vùng Chung Nam Sơn (Trung Quốc) có loài quỷ hay ra đón đường bắt người ăn thịt. Một lần có người thi đỗ trạng nguyên được vua cho cờ biểu kiệu ngựa, kèn trống rước về vinh quy. Đám rước đông người đi ồn ào rậm rịch qua Chung Nam Sơn, lũ quỷ sợ hãi chạy trốn hết. Nhân chuyện cổ tích ấy các nghệ sĩ dân gian Trung Quốc vẽ tranh “Trạng Nguyên hành lộ” có mục đích là trừ ma quỷ. Các nhà buôn Trung Quốc đem bán sang ta, đến thời Nguyễn, các nghệ sĩ Việt Nam cải biên thành tranh cưới chuột làm loại tranh mua vui. Thời kỳ đầu Pháp đô hộ, họ lại vẽ thêm con mèo ngồi chồm hỗm, có mấy con chuột đem cá, đem gà và thổi cái kèn tây đem đút lễ mèo, ngụ ý đả kích bọn thực dân Pháp chiếm nước ta và bóc lột dân ta. Nhân tranh đám cưới chuột, các nghệ sĩ cổ vẽ tranh “Cóc dạy học” để chế giễu các thầy đồ dốt. Thầy đồ dốt là đầu đề cho các họa sĩ, văn sĩ thời xưa vẽ thành tranh, làm thơ, phú, viết chuyện tiếu lâm để mua vui. Trong số tranh mua vui có tranh “Đánh ghen” và “Leo dừa”. Tranh Tết của ta ngày xưa rất phong phú. Ngoài những tranh nói trên, có rất nhiều tranh do các nghệ sĩ dân gian sáng tác được nhân dân ưa chuộng: tranh Kim Vân Kiều, Phương Hoa, Cúc Hoa, Tống Trân, Thạch Sanh, Phương ngôn, tục ngữ, tranh làm ruộng với dòng chữ “Dĩ nông vi bản”, sau thêm tranh Đinh Tiên Hoàng cờ lau tập trận, tranh Ngưu Lang Chức Nữ. Bộ tranh bốn cô tố nữ ngày nay ta vẫn treo, có từ đời Lê truyền mãi đến bây giờ, còn tranh con hổ gọi là tranh Hàng Trống mới có từ đời Nguyễn do bọn thầy cúng bày đặt ra việc thờ thần hổ để giữ nhà chống ma quỷ. Phố Hàng Trống và phố Mã Vĩ (phố này ở Hàng Quạt thẳng lên) xưa có nghề thêu nghi môn màn quần, bán tranh con hổ để thờ và các thứ kiếm gỗ, voi gỗ sơn son thếp vàng cùng những lá cờ lệnh con dùng vào việc lên đồng con hổ, gọi là lên đồng quan lớn cũng do bọn thầy cúng bày đặt ra. Phố Mã Vĩ còn có nghề làm mũ, đai hia, râu giả cho phường tuồng, phường chèo và các thứ mũ cho quan viên đội khi tế thần.


Tục đóng cửa đi ăn mày


Nhân dân ta thường dùng câu “đóng cửa đi ăn mày” để mỉa mai những người có thói keo bẩn, mình có tiền của không dùng, đi vay mượn hay xin của người khác. Câu ấy do nguồn gốc của chuyện sau đây:


Ngày xưa, nhân dân làng Đại Lan, một làng ở gần Văn Điển, có tục đến gần Tết và trong mấy ngày, cả làng lớn bé già trẻ, nhà giàu cũng như nhà nghèo, tiên thứ chỉ cũng như anh mõ, đều đóng cửa nhà mình, cắp rổ rá, xách bị gậy đi các nơi ăn mày. Họ kéo ra Hà Nội rất đông, chia nhau ngồi trước cửa các đền chùa, nhiều nhất là trước cổng và hai bên bao lơn cầu Thê Húc vào đền Ngọc Sơn, chìa rổ rá ra xin tiền những người đi lễ trong ba bốn ngày Tết và sau Tết (trước Tết họ xin ở các phố buôn bán và các chợ). Ngoài rằm tháng Giêng, họ kéo nhau về làng, mỗi người ăn mày được bao nhiêu góp lại mua lợn, bò… các món rồi tổ chức tế thành hoàng làng và lúc đó mới ăn Tết.


Theo lời các cố lão kể lại thì từ thời xa xưa, tại làng này, một đêm ba mươi Tết, huynh thứ trong làng ra đình tế giao thừa. Họ thấy một ông lão ăn mày, ốm nằm ở góc đình bèn đuổi đi không cho nằm. Ông lão van nài cho nằm nhờ một đêm, hết cơn sốt sẽ đi, vì đêm mưa rét. Nhưng bọn huynh thứ nhất định đuổi đi và mắng nhiếc là đồ ăn mày nằm làm bẩn cửa đình. Họ sai tuần phiên khiêng ông lão ném ra đồng. Ông lão tức mình mắng lại: “Ông mà chết, ông truyền cho cả làng chúng bay trở thành bọn ăn mày tất!”. Đêm hôm ấy ông lão chết giữa cánh đồng mưa rét và mối đùn lên thành mả. Sau đó ít lâu, làng này luôn luôn bị lủng củng: người ốm, gà lợn toi, hoa màu luôn bị mất mùa, nhà cửa luôn bị cháy, cả làng gần lâm vào cảnh xơ xác. Các huynh thứ làm lễ cúng tế ở đình cầu thành hoàng phù hộ cho được bình yên. Một đêm các huynh thứ được thần báo mộng cho biết là làng đã đổi thành hoàng, tên huý và tên hiệu vị thành hoàng mới là gì, từ nay trở đi cả làng không được lấy tiền công của làng hay lấy tiền riêng của dân làng góp lại làm lễ tế thành hoàng mà cả làng phải đi ăn mày khắp mười phương góp tiền xin được mà làm lễ cúng tế thành hoàng mới chứng quả cho, cả làng mới được yên ổn. Sáng hôm sau các huynh thứ cho rao mõ mời các cụ ra đình họp bàn về giấc mộng đêm qua, thì ra người nào cũng nằm mộng như nhau cả. Từ năm ấy trở đi, cả làng có tục “Ba mươi Tết đóng cửa đi ăn mày”. Nhưng dần về sau, các thanh niên trong làng bỏ dần tục ấy, cho đến Cách mạng tháng Tám, cả làng không ai cúng tế thành hoàng nữa, nhân dân ra sức cần cù lao động trở thành một hợp tác xã luôn luôn vượt mức kế hoạch trở thành giàu có, đó là hợp tác xã Yên Duyên, cái tên Đại Lan nay đã xóa bỏ rồi.


Thằng chết cãi thằng khiêng


Nhân dân ta lại thường hay nói “Thằng chết cãi thằng khiêng” để mỉa móc người không biết gì cãi bướng với người biết việc và sành sỏi hơn. Câu này xuất xứ ở câu “Ba mươi Tết thằng chết cãi thằng khiêng”. Ngày xưa có một tụi lưu manh, đến gần Tết chúng bày trò: một thằng giả vờ chết nằm trên cái võng hay cái cáng tre, trên đắp chiếc chiếu rách, hai thằng khiêng đến trước cửa nhà buôn bán đông khách mua hàng. Chúng khóc lóc mếu máo nói là bố chết không có tiền làm ma, xin chủ hàng giúp cho ít tiền để chôn cất. Các nhà buôn đang bận rộn về bán hàng Tết thấy chúng khiêng cái “xác chết” đứng ám ảnh trước cửa hàng, ai cũng phải cho chúng một ít tiền để chúng đi nơi khác. Sau khi xin được khá tiền rồi, chúng đem nhau đến chỗ vắng chia tiền: thằng giả vờ chết ngờ là hai thằng khiêng xin được nhiều chia cho mình ít, thế là cãi nhau, mới thành chuyện “Thằng chết cãi thằng khiêng”.


Có đám chỉ có hai đứa, chúng lấy thân cây chuối bó trong cái chiếu cái buồm rách chèn ít gạch đá, trên đầu để mớ tóc rối, phía chân chúng nhét vài cái xác chuột chết hay cóc chết cho có mùi hôi thối, đặt lên cái cáng tre rồi khiêng đến trước cửa các nhà buôn bán xin tiền để chôn bố hay mẹ chúng chết. Thấy mùi hôi thối xông ra ai cũng phải cho chúng tiền để chúng đi nơi khác.


Kiêng quét nhà


Ngày xưa, bắt đầu từ đêm ba mươi, trước khi cúng giao thừa các nhà ở Hà Nội quét nhà một lượt cuối cùng nữa rồi dựng ngược chổi trong một xó nhà. Từ sau giao thừa trở đi cho đến sau Tết mấy ngày, xem lịch được ngày “động thổ” (vào khoảng mùng Bốn, mùng Năm hay Sáu tháng Giêng) mới bắt đầu quét nhà theo một chuyện cổ tích sau đây:


Một người chuyên nghề buôn bán, khi qua hồ Động Đình bắt được một cô gái mồ côi, hỏi tên, nói là Như Nguyện. Người này đem cô gái về nhà nuôi làm con hầu sai vặt. Từ ngày ấy trở đi, anh ta làm ăn may mắn phát tài giàu to. Một năm vào dịp Tết, cô Như Nguyện đánh vỡ cái bát, anh ta tức giận, cầm roi đuổi đánh. Cô Như Nguyện sợ chạy ra sau nhà, anh này đuổi theo nên cô vội vàng chui vào đống rác. Anh ta bới đống rác tìm nhưng không thấy đâu cả. Anh ta vẫn chưa nguôi giận, xúc hết rác đem đổ đi. Bắt đầu từ đó, anh ta làm ăn thua lỗ, sa sút dần đến nghèo đói khốn khổ.


 


Kiêng không cho người có chửa ngủ nhờ


Ngày xưa nhân dân ta thường có thói xấu là không cho người có chửa ngủ nhờ nhà mình, sợ đêm người ta đẻ nhà mình sẽ bị xúi quẩy vì bị “đổ cung long”. Thói xấu này do theo một chuyện cổ tích.


Một người quanh năm nghèo túng quá, ngày nào anh ta cũng thắp hương kêu cầu Thượng đế giúp cho được khá giả đôi chút. Một đêm anh ta nằm mê thấy Thượng đế triệu lên thiên đình xét hỏi. Thượng đế sai Nam Tào, Bắc Đẩu tra sổ xem sao. Nam Tào nói: “Thằng này kiếp trước hoang phí của giời, ăn ở thất đức, bất kính giời đất, bất hiếu cha mẹ, nên kiếp này phải chịu cảnh nghèo khó suốt đời”. Thượng đế phán: “Nay nó đã biết ăn năn tội lỗi, tu nhân tích đức từ lâu, luôn luôn kêu cầu, vậy hãy cho nó được khá giả mát mặt ít lâu”. Bắc Đẩu tra sổ rồi nói: “Chỉ có thằng Xe có số giàu, nhưng mười lăm năm nữa nó mới sinh, tiền của của nó còn để một chỗ chưa dùng đến”. Thượng đế phán: “Nếu vậy hãy cho thằng này mượn tạm chỗ tiền ấy, sau mười lăm năm đến ngày đầu năm ấy tháng ấy, nó phải trả lại cho thằng Xe”. Thượng đế phán xong bãi chầu. Anh chàng nghèo tỉnh dậy nhớ rõ giấc mộng, hướng lên trời vái lạy tạ ơn Thượng đế. Bắt đầu từ ngày đó trở đi, anh ta luôn luôn bắt được của, có vốn liếng xoay ra buôn bán trở thành giàu to, nhưng có tính keo kiệt bủn xỉn, tiêu đi một đồng lại lo kiếm ba đồng để bù lại. Đến hạn mười lăm năm, anh ta nhớ lại ngày tháng phải trả của cho thằng Xe, sáng sớm ba mươi Tết, anh ta xếp hết châu báu vàng ngọc lên mấy chiếc xe bò cùng vợ và các con kéo đi xứ khác để trốn khỏi phải trả lại cho thằng Xe. Khi đi đến giữa đường trời đổ tối và rét lạnh, chung quanh không có nhà cửa, hàng quán nào, anh ta đành phải đỗ mấy cái xe dưới gốc cây to, rồi cùng vợ con chui vào gầm xe ngồi nghỉ. Một lúc sau, có một người đàn bà chửa đi tới, năn nỉ với anh ta, xin cho ngồi nhờ dưới gầm xe để tránh rét. Anh ta vốn tính nhân đức, bằng lòng cho người ấy ngồi dưới gầm một cái xe. Đến nửa đêm người đàn bà ấy trở dạ rồi đẻ ra thằng con trai, nhân đó đặt tên là thằng Xe. Còn anh chàng kia, sáng ra cùng vợ con kéo mấy xe bò của ra đi đến một nơi xa, yên trí là không phải trả lại của cho thằng Xe, nhưng không ngờ, anh ta buôn bán bị thua lỗ, của trong nhà đội nón ra đi, trong một thời gian ngắn, anh ta lại nghèo túng như trước.


Do chuyện cổ tích này, nhân dân ta xưa có thói xấu, không cho người có chửa vào ở nhà mình, sợ người ta trở dạ đẻ, sẽ bị xúi quẩy.


*


Ngoài Tết Nguyên đán, trong một năm nhân dân Hà Nội còn ăn nhiều Tết nhỏ: mùng Ba tháng Ba, mùng Năm tháng Năm, Tết Trung nguyên (rằm tháng Bảy), Tết Trung thu (rằm tháng Tám).


Tết này gọi là Tết Hàn thực, nghĩa là ăn thức ăn nguội. Nhân dân chịu ảnh hưởng của phong kiến phương Bắc từ thời nội thuộc nên bắt chước họ ăn Tết này. Ngày xưa người Trung Quốc ăn Tết này để tưởng nhớ Giới Tử Thôi, một công thần khai quốc của Trùng Nhĩ nước Tấn thời Xuân Thu chiến quốc. Theo truyện Đông Chu liệt quốc thì Giới Tử Thôi theo giúp vua Tấn Trùng Nhĩ mấy chục năm trời, bôn ba nhiều nước để khôi phục nước Tấn. Khi công thành, Tử Thôi không chịu nhận quan chức bổng lộc của Tấn Văn Công (tức Trùng Nhĩ), cõng mẹ già vào rừng ở ẩn. Tấn Văn Công triệu không ra, liền sai đốt rừng để phải chạy ra, nhưng khi rừng cháy hết, người ta thấy hai mẹ con Tử Thôi bị thiêu ra than. Cảm thương bậc cao sĩ, Văn Công hạ lệnh cho nhân dân trong nước Tấn đến ngày mùng Ba tháng Ba mỗi năm mọi nhà mọi người phải kiêng lửa, không được đun nấu, vì thế người ta phải làm sẵn thức ăn để ngày ấy ăn nguội. Nhân dân Trung Quốc xưa chỉ ăn nguội ban ngày, tối đến lại làm cỗ bàn thổi nấu và ăn uống vui chơi suốt đêm. Trong Truyện Kiều có câu “Cửa hàng buôn bán cho may, đêm đêm Hàn thực, ngày ngày Nguyên tiêu”, câu này nói lên cảnh vui chơi ban đêm của nhân dân đô thị Trung Quốc ngày xưa về dịp Tết Hàn thực; còn ngày Nguyên tiêu là ngày rằm tháng Giêng. Ban ngày mọi người đi hát cô đào, chơi gái nhà chứa, đêm họ đi ra đường xem hội hoa đăng, tức hội thi thắp đèn của các nhà, các công thự.


Tại nước ta Tết Hàn thực chỉ riêng ở Hà Nội các cụ cũng làm bánh trôi bánh chay và làm cả cỗ bàn cúng gia tiên, đun nấu như thường không kiêng lửa.


Tết Hàn thực trùng với tháng Chay của người Ấn Độ theo Hồi giáo. Trong dịp này, suốt một tháng, người theo đạo Hồi ban ngày không ăn uống, nói cười, không hoạt động, tối đến mới làm cỗ bàn ăn uống. Suốt một tháng như vậy, đến mùng 2, mùng 3 tháng sau, khi thấy trăng mọc lúc buổi chiều, người nào trông thấy trước tiên đi báo tin cho mọi người biết, lúc bấy giờ mới làm cỗ bàn ăn uống như thường lệ. Người trông thấy trăng đi báo được thưởng món tiền.


Tết Đoan ngọ


Tết mùng Năm tháng Năm gọi là tết Đoan ngọ. Nhân dân ta ngày xưa ăn Tết Đoan ngọ cũng là chịu ảnh hưởng của phong kiến Trung Quốc. Nhân dân Trung Quốc ăn Tết Đoan ngọ để tưởng nhớ Khuất Nguyên, một nhà thơ và là một bậc trung thần của nước Sở thời Xuân Thu chiến quốc. Ông khuyên can Sở Hoài Vương nhiều điều lợi ích để đối phó với nước Tần, nhưng bọn gian thần ghen ghét và dèm pha nên Hoài Vương không nghe. Sau đó ít lâu, Hoài Vương bị nước Tần đánh thua và chết ở bên Tần. Ông bị đưa đi đày ở Giang Nam, phẫn chí nhảy xuống sông Mịch La từ trần đúng vào ngày mùng Năm tháng Năm. Nhân dân Trung Quốc cảm thương ông nên hàng năm đến ngày tháng này tổ chức cuộc bơi thuyền và ném bánh gio xuống sông để cúng tế ông.


Ngày mùng Năm tháng Năm còn gọi là ngày trừ rắn do theo một chuyện cổ tích: Có hai con rắn trắng và xanh (thanh xà và bạch xà) tu luyện lâu ngày thành tinh, biến thành hai người con gái đẹp và lấy một anh thanh niên. Một anh đạo sĩ biết rõ bảo cho anh thanh niên biết là anh ta bị yêu tinh mê hoặc, anh ta không nghe. Đạo sĩ đưa cho anh ta một chai rượu hùng hoàng bảo cho yêu tinh uống vào ngày mùng Năm tháng Năm, quả nhiên hai con yêu tinh hiện nguyên hình là hai con rắn trắng và rắn xanh. Đạo sĩ giam chúng vào tháp Côi Phong rồi dùng phép thuật đánh chết. Do chuyện cổ tích này, nhân dân ta ăn Tết Đoan ngọ để giết sâu bọ, trừ rắn rết, chớ không kỷ niệm Khuất Nguyên. Bọn thầy cúng lợi dụng sự mê tín dị đoan của mọi người bày ra việc đội bát nhang và ra đồng vào ngày Tết này. Chúng còn bày ra bùa dấu đeo cho trẻ em: mỗi trẻ em đeo một chùm bùa tua, bùa túi, gồm các thứ quả làm bằng vải xanh, đỏ, vàng bé tí trong độn bông: ớt, khế, đào, mận thêm một cục hùng hoàng và một gói thuốc thơm. Thứ bùa này, trước Cách mạng tháng Tám trở về trước nhiều người làm bán đầy các chợ vừa là món đồ chơi, vừa là món bùa trừ tà cho trẻ em. Tối mùng Bốn, các nhà giã nhỏ lá móng đắp vào mười đầu móng tay cho trẻ em, lấy lá vông bọc lại dùng lạt buộc cho chắc và cho các em đi ngủ. Sáng mùng Năm dậy, các em bỏ lá bịt đi, nhúng mười đầu ngón tay vào vại cà, các móng tay đều đỏ thắm rất bền màu đến hàng tháng mới phai. Buổi sáng sớm, mọi người cho trẻ em ăn rượu nếp, cháo hoa, canh đậu rồi cho ăn chuối, khế, mận, dưa để giết sâu bọ. Trước khi cho các em ăn, người ta lấy những thứ quả này đổ lên đầu các em và xoa vài lần. Thời xưa, buổi sáng mùng Năm tháng Năm, các hàng quà rong bán rượu nếp, cháo xôi, canh đậu, các thứ quả nhan nhản khắp các phố, mỗi bên quang gánh họ đeo một cành ớt có cả lá và quả ớt đỏ chót nói là để trừ yêu quái, không bị chúng ám ảnh làm ế hàng. Còn đây cũng là một cách trừ yêu quái: những nhà có con nhỏ từ mới sinh đến ba bốn tuổi, người nhà may cho các con một chiếc áo lụa vàng rồi đem đến đền chùa cúng và xin dấu nhà chùa đóng vào sau lưng áo cho con mặc. Đây là cách bày vẽ của bọn thầy cúng thầy tự ở các đền chùa để kiếm tiền. Bọn họ còn bày trò bán con cho thánh: những nhà hiếm hoi có một con trai sợ khó nuôi đem đến các đền thường là đền Ngọc Sơn và đền Trấn Võ tức đền Quán Thánh bán làm con nuôi thánh trong hạn năm năm hay mười năm. Người con trai ấy phải đổi họ làm họ thánh. Họ chẳng biết thánh họ gì, cứ đổi là họ Ngô vì “người” ở nước Ngô (tức một nước cổ Trung Quốc). Trong thời gian đó những ngày tuần tiết, gia đình phải sửa lễ đem đến đền cúng, hết hạn năm hay mười năm phải sửa lễ chuộc khoán, lúc ấy lại đổi theo họ cũ của dòng họ mình. Việc bán khoán thường làm vào dịp Tết mùng Năm tháng Năm (đối với con gái thì cho đội bát nhang).


Trong ngày Tết Đoan ngọ, các gia đình làm cỗ cúng tổ tiên, mâm cỗ thường làm thịt ngỗng hay thịt vịt, thịt ngan, là những gia cầm thuộc âm, vì Tết Đoan Ngọ thường vào tiết Hạ chí, nhất âm sinh (đối với Đông chí là nhất dương sinh). Các nhà ở Hà Nội còn lấy lá ngải cứu tết thành hình con vật treo trước cửa ra vào, năm Tý tết hình con chuột, năm Sửu tết hình con trâu, năm Dần tết hình con hổ v.v… Nhân dân ta ăn Tết Đoan Ngọ để trừ rắn rết, ma quái cho trẻ em, không kỷ niệm Khuất Nguyên. Từ Cách mạng tháng Tám trở đi ta bỏ Tết này, và quanh năm thường ăn rượu nếp, trừ sâu bọ có thuốc sát trùng, biết giữ gìn vệ sinh tốt, không còn ai mê tín dị đoan cho trẻ em đeo bùa túi, mặc áo dấu, nhuộm móng tay bằng lá móng nữa.


(còn tiếp)


Nguồn: Hà Nội xưa và nay. Tập Ký của Bạch Diện Nguyễn Văn Cư. NXB Hội Nhà văn, 10-2015.


www.trieuxuan.info


 








[1] Ngoài ra, thịt chó thuộc loại nhiệt (nóng) nên phải kết hợp với riềng (thuộc hàn) mới hài hòa theo ẩm thực phương Đông. Tương tự, thịt vịt (hàn) bao giờ cũng cần phải có gừng (nhiệt) đi kèm (TTĐP).




[2] Cắm cành gỗ đào và dán tranh hai ông tướng trước cửa ra vào là theo một truyện tích kể rằng dưới chân núi Độ Sóc có cây đào to, có hai ông tướng là Thần Trà và Uất Lũy thường bắt ma quỷ ăn thịt. Thời Pháp thuộc các nhà ở Hà Nội không cắm cành gỗ đào mà mua hẳn cành đào có nhiều hoa cắm trong nhà hay trên bàn thờ. Tục ấy còn mãi đến ngày nay.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »