tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20017762
Tiểu thuyết
05.12.2015
Bạch Diện Nguyễn Văn Cư
Hà Nội xưa và nay

Tục cưới gả của dân Hà Nội xưa, nhà giàu cũng như nhà nghèo có nhiều cái tệ: tệ mê tín dị đoan, tệ làm tiền. Việc so đôi tuổi, lấy ngũ hành tương sinh tương khắc làm chính, ngoài ra còn có những cách so sánh như gái hơn hai, trai hơn một; vợ chồng đồng tuổi ngồi duỗi mà ăn. Khi đón dâu về đến nhà, thì bà mẹ chồng phải chạy ra cổng sau nhà ra đường rồi đi vòng về nhà vào cửa chính và đặt thành câu vè “Dâu vào cửa trước, mẹ bước cửa sau”, nhà không có cửa sau thì bà mẹ chồng bắc thang trèo lên mái nhà vượt ra đằng sau hoặc sang hàng xóm rồi ra đường. Khi cô dâu đến cổng nhà trai, người ta đốt một lò than hồng đặt trước cửa bắt cô dâu bước qua; bước qua lò than hồng không hiểu là ý nghĩa gì, có người cho là cô dâu được “nướng” qua một tí để ma quỷ không ám ảnh, hoặc là cô dâu bước qua lò lửa để trừ những lệ khí trong khi đi đường. Còn việc bước qua cối đá là theo truyền thuyết trong truyện cổ tích: Về đời Trần có một con quỷ dâm dục tên là Hà Ô Lôi thường hay hãm hiếp đàn bà con gái, người ta bắt được nó, đánh đập, đâm chém thế nào cũng không chết, sau bỏ vào cối đá giã nó mới chết(1). Do chuyện này người sau sinh tính mê tín, đặt cối đá cho cô dâu bước qua để dọa con quỷ Hà Ô Lôi. Cái tục "đóng cửa nhà thờ" của ông trưởng họ nhà gái mới tệ hại. Khi chú rể đến đón dâu, phải lễ nhà thờ trưởng họ, ông trưởng họ đóng cửa nhà thờ đòi chú rể phải đưa ra một món tiền mới cho vào lễ; nếu không chịu lễ, không được đón dâu ra. Do việc trai gái không biết mặt nhau, chỉ tin ở lời bà mối, ngày xưa có những đám cưới mượn dâu, mượn rể. Nhà có con gái xấu quá, phải mượn một cô đóng giả cô dâu. Lúc đón dâu nhà gái dềnh dang cỗ bàn đến chiều mới cho dâu ra, khi đi ra thì cô dâu thật khóc thút thít, những cô phù dâu thì xúm vào che kín mặt, khi về đến nhà trai thì trời đã tối, trong nhà chỉ thắp mấy đĩa đèn dầu ta tối tù mù, cô dâu vừa khóc vừa làm bộ e thẹn ngồi lì trong buồng. Qua một đêm tân hôn, ngày hôm sau chú rể biết là bị tráo dâu cũng đành chịu, chỉ còn có cách gọi bà mối đến mà chửi. Còn đám mướn rể vì xấu quá phải mượn một anh xinh trai đóng vai chú rể, làm đủ các "thủ tục" của chú rể cho đến tối thì lẩn về, còn chú rể thật chờ tối lửa tắt đèn mới vào phòng với cô dâu. Ngày hôm sau cô dâu có biết mặt chú rể thì "ván đã đóng thuyền", đành ngậm bồ hòn làm ngọt.


Con gái là con người ta,


Con dâu mới thật mẹ cha mua về


Rồi các bà mẹ chồng ấy hành hạ con dâu "mất tiền mua mâm thì đâm cho thủng". Sự mâu thuẫn giữa mẹ chồng nàng dâu thời xưa chỉ trong giai cấp tư sản phong kiến; còn nông dân và công nhân lao động, mẹ chồng nàng dâu đều thông cảm nhau, nên ít có sự mâu thuẫn, vợ chồng thường được hạnh phúc êm ấm hơn. Sau Cách mạng tháng Tám, giá trị của phụ nữ được hiến pháp coi trọng nên sự mâu thuẫn mẹ chồng nàng dâu chấm dứt, những tệ tục về cưới gả, những thói xa xỉ trong đám cưới bãi bỏ hết, trai gái được tìm hiểu nhau trước khi kết hôn.


         TỤC MA CHAY, GIỖ CHẠP


    Chịu ảnh hưởng của nho học, dân Hà Nội dưới chế độ phong kiến rất trọng điều hiếu đễ.Trong gia đình có ông bố hay bà mẹ già ốm nặng, các con đều phải nghỉ việc làm ăn buôn bán chăm nom thuốc men, những người đương làm quan, gặp lúc bố mẹ chết phải nghỉ về nhà cư tang suốt 27 tháng mới lại đi nhậm chức. Lối nghỉ ấy gọi là đình ưu. Những gia đình có con trai hay con gái đã sêu tết rồi, nghe tin một bên có bố mẹ ốm nặng sắp chết thì cả hai nhà điều đình việc cưới chạy tang rất giản dị không chọn ngày giờ, không ăn uống và cũng không đưa dâu đón rể gì linh đình. Nếu bố mẹ cô dâu chết, thì chú rể đem lễ sang phúng viếng, đội khăn trắng, đội cái mũ bện bằng vải, mặc áo thụng trắng làm lễ chịu tang, ở luôn bên nhà gái giúp việc tang cho đến khi đưa ma, sau ba ngày thì về nhà mình; đến ngày thứ một trăm, nhà gái làm lễ tất khốc, chú rể cũng đến dự lễ, sau đó, gia đình nhà gái thay khăn tang (bộ xô gai trắng, mặc áo khăn thâm), nhà trai chọn ngày đón cô dâu về nhà mình. Nhà trai chỉ làm vài mâm xoàng cúng gia tiên cho cô dâu vào lễ. Nếu bố mẹ chú rể chết thì nhà trai sang lễ nhà thờ nhà gái, rồi nhà gái sửa lễ phúng đưa sang nhà trai, cô dâu theo sang chịu tang và ở luôn nhà trai. Sau trăm ngày thay khăn áo rồi nhà trai mới quây buồng cho cô dâu chú rể làm lễ hợp cẩn, không tế tơ hồng và cũng không mời khách khứa ăn uống. Sơ dĩ người ta làm lễ cưới chạy tang là vì phải tránh các việc vui mừng trong khi cư tang, phải chờ sau 27 tháng hết tang rồi mới cưới gả, như thế lâu quá.


    Khi ông bố chết, vợ và con phải cởi bỏ hết quần áo bằng lụa, nhiễu, mặc quần áo thô xấu, lấy dây chuối hay tước thân cây chuối làm thắt lưng , đi chân đất, để đầu bù tóc rối, trong người đồ vàng phải tháo cất đi. Việc làm trước tiên của tang gia là anh em, họ hàng người chết mỗi người cầm một cái áo và cái quần cũ của người chết chạy ra sân, ra vườn, ra cửa, trèo lên nóc nhà vung quần áo lên, gọi hồn người chết, lối làm này gọi là hú hồn. Làm độ năm, mười phút rồi lấy nước nấu với trầm và rễ hương bài, lau mặt, lau người cho xác chết, thay quần áo cũ, đem đốt, mặc quần áo mới; với ông bà già, người ta thường mặc quần áo đỏ, đội khăn nhiễu đỏ. Người ta ngáng chiếc lược thưa vào mồm người chết, đàn ông bỏ 7 đồng tiền, 7 hạt gạo, đàn bà thì 9 đồng tiền , 9 hạt gạo. Con cháu lấy giấy bản xe thành sợi lề ken vào các ngón chân, để ngón nọ không chồng vào ngón kia, rồi dùng bao tay, bao chân đã may sẵn bọc vào chân tay người chết, phủ tờ giấy bản và vuông nhiễu đỏ đã viền bốn chung quanh lên mặt người chết. Sau đó dùng vải trắng làm dải thắt đáy người chết: buộc gò hai vai, đưa xuống lưng thắt ngang bụng, quàng qua tay, đưa xuống chân buộc chặt hai chân lại. Thắt đáy xong, người ta đặt con dao rựa lên bụng người chết và đặt cái hồn bạnh lên ngực. Hồn bạnh là một mảnh lụa trắng tết thành hình người có đầu và hai tay hai chân, lại đặt cái kỷ con trên chỗ đầu giường người chết, trên kỷ bày bát cơm đầy, một quả trứng luộc, hai chiếc đũa vót có nhiều bông như cái hoa cắm vào bát cơm, kẹp quả trứng vào giữa, thắp một đọi đèn dầu ve và ba nén hương.


    Xác chết chưa nhập quan, người ta nhốt hết mèo, chó lại và cắt người thay phiên nhau ngồi canh, sợ mèo, chó, chuột nhảy qua xác chết, sẽ có nạn “quỷ nhập tràng”. Chuyện “quỷ nhập tràng” do bọn thầy cúng bịa đặt ra dọa mọi người để làm tiền. Họ dựa vào chuyện “Thi biến” trong “Liêu trai chí dị” rồi bịa đặt thêm thắt làm cho những người mê tín hoảng sợ thuê họ làm bùa bèn trấn áp.


    Chuyện “Thi biến” như thế này: Có ba người lái buôn, một hôm đi đến chỗ cửa rừng, trời tối không dám đi nữa bèn tìm vào nhà trọ; ở đây chỉ có một nhà trọ nhưng khách đã ngủ trọ đông, chủ trọ không nhận cho ba người này vào nữa. Ba người nói khẩn khoản than vãn mãi, chủ trọ mới bảo : “Chỉ còn một căn nhà ở giữa rừng có hai giường: một giường có người con gái mới chết chưa nhập quan, các ông bằng lòng thì vào gian nhà ấy mà ngủ”. Ba người lái buôn này bí thế quá, đành phải vào ngủ trong căn nhà ấy, nằm trên chiếc giường bỏ trống cách giường đặt xác chết người con gái mấy chục bước. Hai người nằm phía ngoài đi đường mệt mỏi, đặt mình là ngủ luôn, còn người nằm trong cùng vốn tính nhát sợ, thấp thỏm không ngủ được, thỉnh thoảng anh ta lại ngóc đầu dậy nhìn sang giường đặt xác chết. Đến nửa đêm, anh ta lại ngó sang thấy ngọn đèn đặt trên đầu giường xác chết bùng sáng lên, rồi xác chết ngồi nhỏm dậy. Nó quay nhìn sang giường ba người nằm, nó đứng xuống đất. Anh nằm trong cùng sợ quá nằm yên lim dim mắt theo dõi. Anh ta thấy xác chết lại gần giường, ghé đầu hít vào mặt anh nằm ngoài cùng rồi nó lại quay về giường nằm thẳng cẳng như trước. Một lúc nữa ngọn đèn lại bùng sáng lên, xác chết lại đến giưòng ba người. Lần này nó hít vào anh nằm giữa, xong nó lại quay về giường nằm thẳng cẳng. Anh nằm trong sờ vào hai bạn thấy họ đã chết cứng ra rồi. Lần thứ ba khi thấy ngọn đèn bùng sáng, anh ta hoảng vía nhỏm dậy chạy ra rừng, xác chết đuổi theo gần tóm được. Gặp cái cây to, anh ta chạy vòng quanh gốc cây, xác chết vươn tay ra bắt nhưng không trúng. Tay nó bị cắm vào thân cây không rút ra được, còn anh này sợ quá ngã lăn ra đất nằm ngất đi. Đến sáng có người đi qua, anh lái buôn tỉnh dậy kể lại chuyện xảy ra đêm trước.


    Do chuyện bịa đặt này, bọn thầy cúng thêu dệt thêm thắt để dọa người ta mà làm tiền. Sẵn đầu óc mê tín dị đoan, bị anh thầy cúng dọa nạt bằng những câu “người chết phải giờ thiêng”, “người chết sẽ bị trùng tang” thế là tang chủ lo sợ phải nhờ thầy cúng làm bùa và giữ bùa cho đến khi hết tang. Lẽ cố nhiên trong thời gian 27 tháng tang chủ phải luôn luôn bơm tiền cho thầy cúng.


    Khi nhập tang, tang chủ mời thầy cúng làm lễ phạt mộc. Thầy cầm con dao bầu đứng trước áo quan mà múa may, mồm đọc chú, một tay bắt ấn quyết rồi chém vào mỗi mép quan tài một nhát dao. Sau đó thầy cầm bó đuốc cũng múa may, dụi tàn vào quan tài, cuối cùng thầy dán bùa vào trong quan tài. Sau lễ phạt mộc, tang chủ khâm liệm xác chết rồi nhập quan. Những nhà giàu có đông họ hàng con cháu, xác chết để trong nhà hàng nửa tháng một tháng mới đem chôn, vì vậy họ phải gắn sơn và trát đất thó vào những chỗ chắp nối trong quan tài, rồi đổ than củi lót xuống đáy đặt quan tài lên, chung quanh xác chết chèn bằng chè mạn, sau này dùng vỏ sò cho chặt. Người ta còn bỏ thêm cỗ tổ tôm cũ đã qua tay nhiều người cầm và cuốn lịch chữ Nho cũ vào bụng xác chết. Người xưa tin là có hơi tay người sống trong cỗ tổ tôm và cuốn lịch, xác chết sẽ được ấp ủ bằng dương khí. Sau khi nhập quan, mọi người bày bàn thờ trước áo quan, trên bàn thờ đặt cái hồn bạch ngồi trên cái ngai mua ở Hàng Mã, trước hồn bạch là bài vị viết tên họ, ngày sinh, ngày chết của bố hay mẹ; trên đỉnh màn thì bằng sô trắng treo bốn chữ viết trên vải trắng gọi là bức hoành, hai bên màn có đôi câu đối của các con thờ bố hay mẹ. Bày bàn thờ xong thắp hương đèn, hàng giáp đến tế thành phục, tức là phân phát áo tang cho vợ con, cháu, họ hàng người chết. Quần áo tang phải may ngay từ ngày ông bố còn ốm, vì ngày xưa khâu bằng tay nên phải may trước vì không ai đi mượn cũng không ai cho thuê cho mượn. Con trai người chết một áo thụng trắng, một quần trắng, một áo sô, phủ ngoài áo sô là cái áo dệt bằng sợi gai chỉ ngắn đến thắt lưng, áo quần may trái sống, để tang bố thì để xổ gấu, để tang mẹ thì vén gọn, nên đã có câu thành ngữ “Bố chết gậy tre, mẹ chết gậy vông, cha chết buông không, mẹ chết vén gọn”. Mỗi người con trai đội khăn sô quấn vòng qua đầu thắt chặt ra sau gáy buông hai dải khăn xuống đến lưng, mỗi người một cái gậy (tang cha gậy tre, tang mẹ gậy vông). Tang phục của vợ, con dâu và con gái người chết giống như con trai, đàn bà không đội mũ rơm nhưng đội bằng mũ mấn bằng vải sô, và trùm ngoài mũ mấn là mũ gai; tang phục của cháu trai (cháu nội, cháu ngoại, cháu gọi bằng chú, bác), con rể đều áo thụng trắng, quần trắng, khăn gấp nếp quấn được từ ba vòng đến năm vòng, trên khăn là mũ bện bằng giấy bản có quai bằng dây chuối mắc xuống cằm; tang phục của các cháu gái áo trắng quần trắng, đầu đội mũ mấn bằng vải trắng, tất cả mọi người đều buông tóc xõa xuống lưng. Học trò để tang thầy cũng áo thụng trắng, quần trắng, khăn xếp nếp, không phải buông xõa tóc.


    Chị và em người chết quấn tóc lộn với khăn trắng vòng qua đầu (không phải buông tóc xõa). Có những hạng cháu không phải để trở, tức là những người cháu gọi người chết bằng mợ hay bằng chú dượng (chồng cô), nên đã có câu thành ngữ “Hàng xóm để trở ba ngày, chồng cô vợ cậu một ngày cũng không” . Chắt để trở cụ khăn vàng, áo trắng; chút để trở khăn đỏ, áo trắng. Nhiều nhà tang còn lấy những mảnh giẻ trắng buộc vào cổ con chó, con mèo, các cây cối trong vườn và cả những cây cảnh. Mỗi đám ma ngày xưa, nhà giàu cũng như nhà nghèo dùng rất nhiều vải, những nhà nào đông con cháu càng dùng nhiều vải. Ngoài số vải dùng để trở cho con cháu họ hàng lại còn phải phân phát cho những người đến làm giúp mỗi người một khăn trắng đội đầu và những người đến khiêng quan tài đi chôn (gọi là đô tàng) mỗi người một khăn trắng, những người hàng phe, hàng giáp đến dự việc hướng dẫn các cuộc tế, mỗi người một khăn trắng quấn được 5 - 6 vòng; lại còn một số vải trắng viết câu đối treo chung quanh nơi thờ và vải trắng làm yếm bàn.


    Tục để trở bằng vải trắng có ý nghĩa là: người chết được về cõi Phật, cõi Phật ở phương Tây, nên gọi là “Tây phương cực lạc thế giới”. Phương Tây thuộc hành kim, màu trắng, khi có người chết, Phật sai một lũ quỷ đi đón người chết về cõi Phật, lũ quỷ này đều mặc đồ trắng cả. Vợ chồng, con cháu người chết và cả những người đến giúp việc tang đều mặc đồ trắng để lũ quỷ tưởng nhầm những người ấy cũng là quỷ như mình không đón hay bắt nhầm. Do sự mê tín ấy, nên tục để trở của ta toàn dùng vải trắng thành một thông tục.


    Còn tục con trai chống gậy là do có ý nghĩa: con thương cảm cha mẹ quá, đi không vững nên phải dùng gậy để chống đỡ, về sau cái gậy thành một dụng cụ tang lễ. Có trường hợp con trai cả chết trước bố mẹ thì con trai lớn của người này tức là cháu đích tôn (hay gọi là thừa trọng tôn) phải mặc sô gai chống gậy thay bố, khi tế được làm chủ tế, khi đưa ma được chống gậy đi hàng đầu tiên trên các chú. Trường hợp người con thứ chết trước bố mẹ thì người con trai đầu lòng của người con thứ cũng mặc sô gai chống gậy để trở ông bà thay bố, nhưng đứng vào hàng con các con thứ. Khi đưa ma, trong số các con trai có một người nào đó đi làm xa không về kịp thì mũ gậy sô gai của người này treo đầu đòn. Về phần đàn bà thì con gái và con dâu người chết không phải chống gậy, nhưng lăn đường, chỉ lăn đường khi các đô tùy vào khiêng áo quan từ trong nhà ra chỗ đặt đòn kiệu. Những người khiêng áo quan đều bước qua mình người lăn đường; lăn đường có ý nghĩa là lấy thân mình bắc làm cầu cho bố mẹ đi qua. Nhiều nhà còn muốn phô trương cho mọi người thấy rằng gia đình mình đông con nhiều cháu, thuê mấy người đàn bà đến khóc mướn. Những người khóc mướn này cũng mặc sô gai như con gái người chết, cũng khóc kể rền rĩ, cũng lăn đường.


Sau khi làm lễ thánh phục, tang gia mổ lợn làm lễ tế ngu. Các ông thạo việc tế lễ trong làng giáp đến hướng dẫn cuộc tế. Hai ông đông xướng, tây xướng đứng hai bên bàn thờ, một ông hướng dẫn lễ, một ông đọc văn tế, vài ông bồi tế. Các ông này đội khăn trắng, áo thụng trắng, quần trắng đều do tang gia cung cấp. Trước hết, ông đông xướng xướng "cử nhạc", đội kèn trống nổi lên độ vài phút rồi ông tây xướng xướng "tựu vị", các ông bồi tế xếp đặt cho con cháu người chết đứng trước bàn thờ: người con cả mũ gậy đứng khom lưng sau ông hướng dẫn, các con thứ đứng hàng chữ nhất sau người con cả độ một mét, rồi đến con rể, các cháu gọi bằng chú bác, các cháu nội ngoại về phía đàn bà xếp hàng sau đàn ông: bà vợ người chết ngồi hàng đầu rồi đến các con dâu con gái, sau hàng này là các cháu gọi bằng chú bác, các cháu nội ngoại. Mọi người đứng ngồi vào chỗ rồi hai ông đông tây xướng thay nhau xướng "hâng bái", mọi người sụp xuống lễ: quan tài còn để trong nhà chỉ lễ có hai lễ, trong khi họ lễ kèn trống nổi lên. Sau khi lễ, ông đông xướng vòng hai tay giơ ngang đầu xướng "cử ai", tất cả con cháu đều khóc, đàn ông vẫn đứng lấy hai tay bưng mồm cúi gập mình xuống "ô hô" ba tiếng, còn đàn bà thì bưng mặt khóc kể. Sau khi bọn đàn ông dứt ba tiếng "ô hô", ông tây xướng xướng "ai chỉ", mọi người nín khóc, kèn trống cũng ngừng lại. Ông đông xướng xướng "độc chúc", một người tốt giọng được lựa trước, khăn trắng áo thụng trắng, ra quỳ trước bàn thờ, ông bồi tế trao cho ông này bài văn tế dán trên cái giá bằng gỗ đặt trên bàn thờ. Ông tây xướng xướng "giai quỵ", tất cả đàn ông quỳ xuống hai tay bưng mồm, còn đàn bà vẫn ngồi. Sau khi đọc văn tế, hai ông đông tây xướng lại xướng "hâng bái" để mọi người lễ hai lễ. Ông tây xướng xướng cử nhạc, lúc này đội bát âm nổi đàn sáo, trống cơm và nhị, bọn "già nam" không thổi kèn trống. Ông đông xướng xướng "quán tẩy", ông dẫn lễ đưa người con cả ra chỗ chậu nước sạch đặt trên cái giá cạnh bàn thờ để rửa tay. Rửa tay xong, người con cả lại chống gậy cúi lom khom đi theo ông dẫn lễ vòng qua mép chiếu trở về trước bàn thờ và chống gậy đứng lom khom. Ông đông xướng xướng "tiên tửu", một ông bồi tế cầm nậm rượu nâng ngang mày đi vòng quanh trước bàn thờ một vòng. Anh con trưởng chống gậy cúi lom khom đi theo. Khi trở về trước bàn thờ, anh con trưởng quỳ xuống, ông dẫn lễ trao nậm rượu cho anh ta. Anh ta giơ hai tay đỡ lấy, vái một vái rồi rót một ít rượu vào cái sa mao (1) đặt trên cái đãi dưới chân bàn thờ. Rót xong, anh ta cầm nậm rượu hướng vào bàn thờ vái một vái, rồi trao lại cho ông dẫn lễ. Ông này lại nâng nậm rượu lên ngang mày đi vòng quanh trước bàn thờ một vòng, anh con trưởng lại chống gậy cúi lom khom đi theo sau và lại rót rượu vào cái sa mao. Làm như thế ba lần, tức là dâng ba tuần rượu. Sau khi dâng ba tuần rượu, hai ông đông tây xướng lại xướng "hâng bái", con cháu lại sì sụp lễ hai lễ. Rồi ông đông xướng xướng "tiến soạn", người nhà bưng mâm cỗ và niêu cơm đặt trên bàn thờ. Ông tây xướng xướng "nam khuynh tả, nữ khuynh hữu". Lập tức các con trai cháu trai, con rể đều quay mình về bên trái; vợ, con gái, con dâu, các cháu gái đều quay mình về bên phải. Đứng như thế độ một phút, hai ông đông tây xướng lại xướng "hâng bái", mọi người lại sì sụp lễ hai lễ; sau đó ông đông xướng xướng "lễ vật", mọi người giải tán. Tế lần đầu gọi là sơ ngu, lần thứ hai là tái ngu, lần thứ ba là tam ngu.


Mỗi ngày tế một lần vào buổi sáng, buổi chiều chỉ dâng cơm cúng và lễ thường. Sau các cuộc tế của con cháu người chết, đến lượt hàng giáp tế, nếu là người có chữ nghĩa, dạy đông học trò thì các văn thân họp tế, rồi học trò họp tế, người có buôn bán hay làm thủ công nghệ gì thì phường họp tế. Hàng giáp và các phe phường chỉ dâng lễ lợn và xôi, còn văn thân và học trò dâng lễ tam sinh bò, dê, lợn và xôi. Cuộc tế của các đám này cũng tôn nghiêm nhưng giảm bớt phiền phức hơn của các con cháu tế. Trong khi các đám kể trên tế, thì vợ con người chết túc trực hai bên bàn thờ, nam tả nữ hữu, và suốt ngày đêm phải túc trực như vậy, không được tiếp khách, nếu vì sự cần thiết phải trả lời người khách đến chia buồn thì tang chủ phải lấy tay bưng mồm, lấy lẽ rằng trong khi cư tang mồm hôi bẩn vì không súc miệng xỉa răng. Khi có người đến phúng viếng thì đã có những người trong họ hoặc là con rể hoặc là cháu gọi bằng chú bác ra tiếp khách nhận đồ lễ và ghi vào sổ những ai phúng thứ gì. Việc phúng điếu ngày xưa quan trọng nhất câu đối viết trên vải trắng, thứ đến một vài quan tiền, hoặc cau chè, vàng, hương, nến.


Trong thời gian chưa chôn cất, vợ con người chết phải túc trực suốt ngày đêm bên bàn thờ và chung quanh quan tài, tối đến mời nhà sư đến tụng kinh, đi diễu vòng quanh quan tài và mời các vãi đến kể hạnh, chèo đò rồi làm lễ chuyển cữu (tức khiêng quan tài quay đi một vòng rồi lại đặt vào chỗ cũ).


 Tục chèo đò kể hạnh trong đám ma xuất phát từ đời Trần. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư thì tháng 9 năm Hưng Long thứ 18 (1310) đời vua Trần Anh Tông, ngày phát dẫn làm lễ cáo chuyển quan tài của Thượng hoàng Nhân Tông xuống thuyền, dân chúng ở Thăng Long nô nức đi xem đông về kể: trong sân điện và bên đường, người đứng chật ních, quan quân không thể nào rước quan tài ra được. Quan tể tướng đích thân cầm roi cùng các con và quân lính ra sức dẹp đám đông song dân chúng vẫn không chịu tránh. Vua Anh Tông và quan Chi hậu Chánh chương là Trịnh Trọng Tử đến bàn cách rước quan tài xuống thuyền. Trịnh Trọng Tử bắt chước lối vãn ca, đặt ra khúc hát long ngâm cho quân lính hai vệ Hải Khẩu và Hổ Dực vừa diễu quanh hai bên đường vừa hát. Dân chúng tranh nhau đi nghe hát, bấy giờ quan quân mới rước được quan tài xuống thuyền.


Người sau bắt chước lối vãn ca, khi có thân nhân chết mời phường hát đến nhà hát. Phường hát này thời ấy gọi là phường hát Bội, sau họ hay pha trò cười trong các cuộc hát vui giúp đám khao đám cưới nên gọi là phường chèo vì từ "chèo" phiên âm từ "trào tiếu". Thời hậu Lê và thời Nguyễn, những nhà quan sang và nhà giàu có, khi có đám khao, đám cưới, đám tang đều mời phường chèo về hát. Thời Trịnh Sâm thấy có những cuộc hát vui trong đám ma cho là trái lễ hiếu, hạ lệnh cấm. Đầu thời Nguyễn cũng có lệnh cấm. Thời Pháp chiếm Hà Nội làm nhượng địa, trong thành phố Hà Nội luôn luôn xảy ra những bệnh dịch tả, dịch hạch, dịch thương hàn, dịch đậu mùa, thực dân Pháp bắt buộc các nhà có người chết nội trong hai bốn giờ phải chôn. Những đám hát chèo, kể hạnh chuyển vào dịp làm chay tuần 49 ngày tại các chùa. Tại các chùa việc kể hạnh chèo đò do các vãi làm; việc diễn các tích "Mục Liên cứu mẫu", "Đường Tăng thỉnh kinh", "Quan tâm du địa phủ" v.v… đều do bọn thầy cúng làm.


Năm 1918, tại phố Hàng Tre, có một nhà giàu làm ma cho bố, khi đưa ma thuê đào kép cả hai rạp Quảng Lạc và Xán Nhiên Đài, mặc mũ mãng, đeo râu vẽ mặt đi đóng đường để cho người đi xem cho đông. Đám ma ngày xưa, người ta thích phô trương sao cho được dài, được nhiều câu đối, đông người đi đưa. Dẫn đầu là những câu đối trắng rồi đến đội kèn trống. Tiếp đến cái bên trên đặt minh tinh bằng giấy trong lòng minh tinh viết sơ lược tiểu sử và sự nghiệp người chết. Nếu người chết sinh thời làm quan hay dạy học, theo sau minh tinh là học trò, rồi đến linh sa có ban già nam dẫn đầu, theo sau linh sa là con rể và các cháu trai, rồi đến đòn kiệu đặt áo quan, phía trên úp nhà táng, con trai chống gậy đi theo sau, tiếp đến vợ và con dâu con gái, các cháu gái, những người này đều đi trong màn phương du. Màn phương du may bằng vải trắng dày dài và rộng bằng màn ngủ, nhưng chỉ quây vải có ba mặt: hai bên và mặt sau, trên có cái đình màn; phía trên buộc 4 lao ngang, bốn góc buộc bốn lao dọc do bốn người cầm. Đàn bà con gái đi trong màn phương du để không bị hỗn tạp với những người đàn ông đi xem đám ma, sợ có kẻ không tốt thừa dịp đông người chòng ghẹo. Thời phong kiến tự chủ, Hà Nội có phường có giáp, việc khiêng vác trong đám ma do hàng giáp cắt cử nhau làm. Từ khi Hà Nội bị Pháp chiếm, các phường giáp tan rã dần, những nhà có việc tang phải thuê người khiêng. Về sau có những người đứng ra kinh doanh về nghề cho thuê xe đòn đám ma. Họ bày vẽ ra nhiều thứ nghi trường phiền phức cốt để moi tiền của những người giàu có thích phô trương. Dẫn đầu đám ma là đám rước Phật lấy nghĩa Phật dẫn đường cho các linh hồn người chết được về Tây phương cực lạc thế giới. Đám rước Phật đi đầu có hai người vác trên vai lá cờ đỏ có chữ "thanh đạo", vừa đi vừa gõ phèng phèng rồi đến năm lá cờ thần, theo sau là đội trống con, trống cái, đoàn bát âm, rồi đến long đình trên đặt oản chuối hoa quả, theo sau long đình là ông sư mặc áo cà sa, đội mũ đường tăng tay cầm xích trượng ngồi trên xe kéo, đi kèm hai bên có hai chú tiểu, mỗi chú tiểu cầm một cây phướn; theo sau xe sư là các bà vãi đội cầu vào khoảng từ 8 đến 12 bà càng nhiều càng tốt. Cầu là một tấm vóc nhiễu xanh, mép nhiễu đỏ, các vãi đội trên đầu trông như con rồng, vừa đi các vãi vừa niệm Phật. Những người khiêng vác trong đám rước Phật đều mặc áo dạ đỏ, nẹp xanh, đội nón chóp nhỏ vành hẹp và cũng sơn đỏ. Các tiểu thì mặc quần áo nâu, các vãi thì mặc áo dài bằng the hay vải mâu. Sau đám rước Phật mới đến đám ma.


Khi đám ma đến chỗ chôn, những nhà giàu có, quan sang đều làm cái nhà rạp để khi hạ huyệt xong đắp thành nấm mồ úp cái nhà táng lên trên rồi tế thành phần. Sau khi tế thành phần, đất cái minh tinh và vàng hồ rắc đường còn thừa thì cúng ông thần gò gần huyệt. Lễ cúng thần gò gồm có hương hoa, trầu, rượu, xôi, thịt, con ngựa bằng giấy và mấy trăm vàng giấy. Xong việc cúng tế, tang gia rước vong về, cỗ đòn khiêng áo quan xếp lại khiêng về trước. Lúc này linh xa là bàn thờ chính, nghi trượng cũng như lúc đi, người con trưởng phải chống gậy đi giật lùi trước linh xa, vợ và các con cháu khác đi theo sau linh xa, khi trở về đi con đường khác lúc đưa ma. Về đến nhà bày biện bàn thờ rồi tế an sàng do hàng giáp hướng dẫn. Từ lúc này trở đi mỗi lần lễ phải lễ đủ bốn lễ. Sau cuộc tế lại ăn uống một chặp nữa. Ngày hôm sau, nhiều nhà bày ra tế đề chủ, tức là viết tên họ, tên huý, tên hiệu, tên tự người chết vào tờ giấy trắng dán vào bài vị để thờ vĩnh viễn. Những người sinh thời dạy học, ông trưởng tràng nhóm họp đồng môn cắt cử nhau tế đề chủ cho thầy học. Trong số học trò người nào đỗ cao nhất được cử làm chủ tế. Tất cả đều mặc phẩm phục áo tía, áo đỏ, áo xanh, mũ cánh chuồn, chân đi hia, tay cầm hốt. Những người đỗ tú tài hay nhất, nhị tam trường trở xuống đều khăn trắng, áo thụng trắng, xếp hàng sau chiếu ông chủ tế, theo lối xướng hâng bái mà lễ. Có những nhà giàu, không có họ hàng làm quan phủ nhờ người mời hộ một ông có học vị cử nhân trở lên đến đề chủ, cuộc tế do hàng giáp hay người trong họ cử hành lấy. Ông đề chủ mặc mũ áo phẩm phục ngồi trên cái ghế trước án thư đặt bên cạnh bàn thờ thị lễ, trên án thư bày đủ các đồ văn phòng tứ bảo toàn hạng tốt và mới nguyên. Ông này không lễ, chỉ viết chữ chủ vào bài vị đã viết sẵn cả, chừa chữ chủ để trống. Sau cuộc tế, tang chủ lạy tạ ông ta hai lạy, rồi ông ta ra về. Tang gia cho người bưng một mâm cỗ tạ đi theo để biếu, gồm cái thủ lợn, đĩa xôi to, trầu cau, chè, rượu, các đồ văn phòng tứ bảo, vài nén bạc hay mấy chục quan tiền. Cuộc tế đề chủ phải đi mời như thế rất tốn tiền, chỉ những nhà giàu có muốn phô trương để hãnh diện với họ hàng làng xóm mới dám tổ chức.


Ngày thứ ba sau ngày đám gọi là ba ngày, tang gia làm lễ phục hồn cho người chết. Công việc này do bọn thầy cúng làm. Họ kéo đến ba bốn người vừa thầy vừa trò. Họ khua trống, tiu cảnh thanh la não bạt cúng ầm ĩ. Họ cúng trong nhà rồi lại bày bàn thờ ra giữa sân, làm cái thang con bằng sậy hay bằng dọc chuối bắc từ bàn thờ lên mái nhà cầu cho vong hồn người chết được lên thiên đình. Họ vẽ rất nhiều bùa, thứ dán trước cửa, dán chỗ buồng người chết nằm, dán đằng sau nhà; thứ vặn lại giao cho tang gia một mớ để vợ con cháu chắt người chết đeo trừ tà kèm theo một gói thuốc có chất thơm giống như sạ, thứ bùa khảo tết như hình người, chung quanh quấn chỉ ngũ sắc đặt trên miếng gỗ dùng cái bát úp lên đặt dưới gầm bàn thờ dặn tang chủ mỗi tối trước khi đi ngủ khảo đủ mười vồ lên cái bùa ấy, mồm đếm một mươi cho đến mười mươi. Họ còn giao cho tang chủ lá bùa cũng quấn chỉ ngũ sắc, nhét vào mồm con chó con rồi đem chó chôn sống bên cạnh mả (1). Họ dọa dẫm chủ nhà là gặp trùng tang phải làm bùa bèn cẩn thận kẻo trong nhà lần lượt chết hết do thần trùng đến bắt. Cúng ở nhà xong, tất cả vợ con cháu người chết mặc xô gai chống gậy đem các món đồ lễ đến cúng ở mả, đắp điếm lại, chôn sống con chó có ngậm bùa, rồi ra về dọn cỗ bàn mời bọn thầy cúng ăn uống và biếu phần xôi thịt cho họ.


     Sau ba ngày, từ ngày thứ tư trở đi, mỗi ngày hai bữa dâng cơm cúng. Ngoài các thức ăn thường, phải có một quả trứng luộc, khi dâng cúng thì người con trưởng khấn vái rồi ô hô ba tiếng, sau đó đến vợ và các con dâu con trai, con gái khác vào lễ cũng khóc mấy tiếng. Cúng cơm như thế trong suốt một trăm ngày và trong thời gian đó, người có tang không bước chân ra khỏi cửa, nghỉ các việc buôn bán. Người ta cho rằng buôn bán với người có trở đại tang bị xúi quẩy, vì là “vận áo xám”.


     Đến tuần 49 ngày (người chết trẻ là tuần 50 ngày) tang gia rước bàn thờ đến chùa để cúng và tụng kinh. Thường thường các nhà trung sản và nhà nghèo chỉ cúng có ba ngày: ngày đầu khai kinh và tụng kinh, ngày thứ hai cũng vẫn tụng kinh, nhờ nhà chùa làm cho mấy chục mâm hoặc mấy chục mâm cỗ chay để mời họ hàng khách khứa bè bạn đến lễ Phật và ăn cỗ chay, mời được đông người đến lễ người ta tin là có lợi cho linh hồn người chết, Phật sẽ độ cho chóng được lên thiên đình. Ngày thứ ba, cũng tụng kinh, chiều cúng cháo chúng sinh và mua chim cú (mỗi thứ một trăm con) làm lễ cúng xong thì thả chim cho bay đi và thả cá xuống ao hồ, gọi là lễ phóng sinh. Sau đó đốt vàng mã. Đồ mã làm đủ các thứ từ quần áo hòm xiểng, bát đũa, dao thớt cho đến bàn, ghế, tủ áo, va li v.v… toàn bằng giấy cả do các ông thợ mã bày ra để kiếm tiền. Năm 1925, một nhà buôn giấy ở phố Hàng Thuốc Bắc làm chay cho bố tại chùa Liên Phái, thuê thợ mã làm cả một cái nhà cao hai tầng ngoài vườn chùa. Nhà rất rộng, chia ra: buồng tiếp khách có sập gụ, tủ chè, độc bình, giá gương, bàn ghế mặt đá, ghế tràng kỷ, đôn sứ, chậu cây cảnh; buồng ngủ có giường Hong Kong, gọng đồng, màn tuyn, diềm đăng ten, tủ đứng, giá gương soi; buồng ăn có bàn dài, sáu ghế mây, bát đĩa, tủ búp -phê, chạn bát; nhà bếp có bếp, có kiềng, nồi niêu xoong chảo, dao thớt, chày cối, con chó con mèo, ngoài sân có chiếc xe kéo màu vàng, có anh xe, anh bếp, cô sen. Các buồng đều có cửa kính cửa chớp, tường và trần dán bằng giấy tàu bạch (tức là thứ giấy ngày nay vẫn dùng làm giấy cuốn thuốc lá Trung Quốc). Tầng gác chỉ làm tượng trưng không trèo lên được, mái nhà lợp giấy đỏ vẽ hình viên ngói. Họ cúng suốt mười ngày rồi đốt mã, lửa cháy ngút trời, nhiều người ở xa tưởng có đám cháy, xe vòi rồng vội đến cứu hỏa.


Ngày xưa người ta thường tin tưởng rằng những người chết vong hồn lưu lạc xuống âm phủ, đến ngày thứ 49, Diêm vương dưới âm phủ tra xét sổ sách xem người ấy hồi còn sống làm nhiều việc thiện hay phạm nhiều tội ác rồi sẽ định đoạt hoặc cho lên thiên đường hoặc bị bắt giam vào các địa ngục để chịu các hình phạt ghê gớm. Vì tin tưởng như thế nên đến tuần 49 người ta làm chay cho bố mẹ tại chùa để cầu Phật cứu gỡ cho được nhẹ tội, nếu bố mẹ họ lúc sống có phạm nhiều tội ác mà tự họ không biết được. Thông thường các nhà tang chỉ cúng tuần 49 ngày, có một số nhà giàu họ hàng đông bày ra cúng "thất thất lai tuần", bảy ngày cúng một lần, mỗi lần cúng và tụng kinh một ngày, đến ngày thứ 35 thì cúng và tụng kinh hai ba ngày, nhờ nhà chùa làm cỗ chay mời một số khách đến ăn uống; đến ngày thứ 49 lại cúng ba ngày hay bảy ngày và lại làm cỗ chay mời một số khách khác đến ăn uống. Trong tuần 49 ngày người ta hay làm đàn chay và đốt mã. Có mấy thứ đàn chay: đàn giải kết, đàn mông sơn thí thực, đàn phá ngục. Các đàn chay này đều tốn nhiều tiền, nhất là đàn chay phá ngục phải mời nhiều thầy cúng đến cúng và diễn trò. Họ đóng các vai: Đức Phật Như Lai, Phật Quan Âm, ông Mục Kiền Liên, bà Thanh Đề, các quỷ sứ đầu trâu mặt ngựa. Nhà tang phải thúc thợ mã làm cho một số nhà ngục bằng giấy các mặt nạ đầu trâu mặt ngựa. Ngoài ra còn nhiều vàng mã khác sau này sẽ đốt cho người chết. Các ông thầy cúng đóng các vai và cũng hát đủ các điệu hát chèo: đường trường, hát cách, nhịp đuổi, nhịp chờ, hồi tiếc, làn thảm v.v…


     Sau khi làm chay ở chùa, tang gia rước vong về nhà làm cỗ mặn cúng một ngày nữa và mời họ hàng thân thích đến ăn uống. Sau đó hàng ngày vẫn cúng cơm khảo bùa cho đến ngày thứ một trăm, gọi là "trăm ngày" hay là tuần tất khốc, nghĩa là thôi không khóc nữa. Đến ngày này tang chủ làm cỗ bàn, mời bọn thầy cúng đến cúng, thay bùa dán nhà; mời khách khứa họ hàng thân thích đến ăn hai ba ngày; mỗi người ăn cỗ xong ra về được biếu một gói phần gồm các thứ bánh ngọt. Cúng xong tang gia đem tất cả quần áo tang xô gai, mũ mấn, mũ rơm, gậy tang, dây lưng bằng chuỗi (hàng ngày vẫn xếp bên cạnh bàn thờ vong) đốt đi hết cùng với một số đồ mã và vàng mã. Từ ngày này trở đi vợ con người chết không đội khăn trắng nữa mà dùng các thứ khăn áo nhộm màu chàm (về sau dùng vải láng thâm), riêng con rể và các cháu vẫn đội khăn trắng. Hàng ngày vợ con người chết không phải cúng cơm, khảo bùa nữa, chỉ cúng vào các ngày rằm, mùng Một âm lịch, các ngày tết lớn tết nhỏ, các ngày giỗ tổ và các ngày hè. Ngày hè chiếu theo âm lịch tháng Tư cúng các ngày mùng 4, 14, 24; tháng Năm mùng 5, 15, 25; tháng Sáu mùng 6, 16, 26. Sau khi cúng trăm ngày rồi, nhà tang còn biếu bánh chưng, bánh dày, nem cho họ hàng, bè bạn, khách khứa, mỗi người một cỗ gồm một bánh chưng nặng nửa cân gạo, nhân có hai lạng thịt, hai lạng đậu buộc 4 lạt nhuộm xanh, một bánh dày nửa cân gạo, trên mặt dán một mảnh giấy xanh cắt tròn to bằng miệng chén uống nước, chung quanh tỉa răng cưa, trên mảnh giấy xanh có miếng trang kim cắt tròn giữa tỉa chữ hiếu; một chiếc nem chạo nặng một lạng mỡ trần và bì trần trộn thính bọc trong năm lá ổi và lá đinh lăng, ngoài gói lá chuối tươi buộc bằng lạt nhuộm xanh. Những bánh này đều thuê các hàng chuyên làm giò chả gói luộc sẵn cả. Lối biếu phần này là để trả nợ những người đã đưa lễ phúng khi bố mẹ mới chết có ghi trong sổ.


Đến ngày giỗ đầu gọi là tiểu tường, con cháu lại làm cỗ cúng mời họ hàng bà con thân thích, bè bạn đến ăn cỗ. Sau lễ cúng này con rể, các cháu nội ngoại, cháu gọi bằng chú bác đều bỏ khăn trắng (hết trở) đội khăn nhiễu khăn lượt. Sang kỳ giỗ năm sau, là đại tường, con cháu lại làm cỗ cúng giỗ và mời khách khứa ăn uống đông hơn kỳ tiểu tường. Sau đó con cháu triệt bỏ bàn thờ vong, đem bài vị bố vào thờ chung với bàn thờ gia tiên, rồi thay bỏ khăn áo chàm, dùng the lụa nhiễu lượt là và đeo các đồ vàng bạc. Từ ngày này trở đi là hết trở, nhưng việc báo hiếu bố mẹ đến đây chưa hết. Sau khi hết trở một vài năm hay dăm ba năm, con cháu lo việc bốc mộ, gọi là cải cát, hay cát táng. Người ta mời ông thầy phong thủy đi tìm đất, thường phải nuôi ông ta ở trong nhà ít nhất năm sáu tháng, có khi hơn một năm. Hàng ngày cơm nước xong, ông ta mang cái la bàn đi về các cánh đồng tìm đất. Tại Hà Nội ngày xưa các ông thầy phong thủy, ta quen gọi là thầy địa lý, hay tìm đất các nơi thuộc làng Láng, Cót, Mọc, Quỳnh Lôi, Giảng Võ. Sau khi tìm được đất, phải điều đình với chủ ruộng xin mua một khoảng đất đi để mả, gọi là mua nhưng quyền sở hữu vẫn thuộc về chủ ruộng, lại còn phải nói với bọn cường hào trong làng, xin nộp một khoản lệ phí vào công quỹ của làng, tức là phải mất hai lần tiền. Sau đó do ông thầy địa lý chọn ngày mới cất mả. Việc cất mả thường làm vào lúc ba bốn giờ sáng khi mặt trời chưa mọc. Lúc mở nắp quan tài ra, người ta phải nhặt cho đủ xương đem rửa nước lã hết bùn đất rồi rửa lại bằng nước trầm và xếp vào tiểu sành có lót nhiều giấy trang kim phủ một mảnh nhiễu đỏ. Làm xong đặt tiểu sành vào trong tiểu gỗ làm bằng gỗ vàng tâm hay gỗ giổi[1], sơn son thếp vàng, rồi đặt tiểu lên cái kiệu con do bốn người khiêng rước đến nơi chôn. Dẫn đầu là đoàn bát âm đánh đàn thổi sáo, vỗ trống, theo sau kiệu là vợ con cháu, họ hàng người chết đi đưa, tất cả đều mặc áo trắng, đội khăn trắng và khóc kể. Họ khóc từ lúc bốc mả cho đến lúc chôn. Đám ma này người ta gọi là đám ma khô. Sau khi chôn cất, tang chủ về nhà làm cỗ bàn mời khách khứa họ hàng ăn uống, tạ lễ thầy địa và để trở ba tháng. Thế là xong việc báo hiếu bố mẹ. Dưới chính sách ngu dân của tập quyền phong kiến và thực dân thống trị, người Việt ngày xưa, với danh nghĩa báo hiếu bố mẹ, đã tiêu phí nhiều món tiền vô ích để phô trương lấy tiếng khen là hiếu thảo. Những kẻ giàu có, sau một lần báo hiếu, lại tìm cách bóc lột dân nghèo, còn người nghèo túng, sau khi lo ma xong cho bố mẹ là mang nợ suốt đời, không ngóc đầu lên được.


 


NGUỒN GỐC TỤC ĐỐT VÀNG MÃ


 


Từ thời xa xưa một số nước và một số dân tộc ở Á Đông và Đông Nam Á, có tục đem chôn theo người chết những đồ dùng thường ngày của người ấy khi còn sống. Các vua chúa khi chết, thì những kẻ hầu cận và vợ yêu đều bị đem chôn sống, gọi là tuẫn tang. Có nơi đem người vợ yêu của ông vua ấy thiêu sống, bắt phải chết theo ông vua. Trong sử Việt Nam còn chép chuyện về đời vua Trần Anh Tông, năm 1306 nhà vua gả Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm là Chế Mân, để đổi lấy hai châu Ô, Lý. Được một năm, Chế Mân chết, vua Anh Tông sợ Huyền Trân công chúa bị đem thiêu sống để chết theo vua Chiêm, liền sai Trần Khắc Chung sang viếng tang rồi tìm cách đưa Huyền Trân công chúa về nước.


Về sau loài người tiến bộ dần lên, thấy việc đem đồ dùng chôn theo người chết là phí phạm quá, trong khi người sống đang thiếu thốn đồ dùng vì việc sản xuất còn thấp kém, nhất là việc đem tuẫn tang người sống là việc làm quá đáng, vì vô cớ làm chết một cách thê thảm người vô tội. Người ta nghĩ ra cách chế tạo đồ dùng bằng nan bằng giấy và hình người đem đốt theo người chết thay vì người thật và đồ dùng thật. Những đồ bằng giấy ấy nhuộm các màu và làm rất đẹp. Từ đẹp, âm chữ Hán là mỹ, chuyển sang âm Việt là , là mẽ, ta thường có câu "tốt mã dẻ cùi" (nghĩa là lông cánh đẹp của im dẻ cùi) và ta thường hay nói "khoe mẽ" nghĩa là khoe cái đẹp[2]. Từ mã thường dùng nhiều nhất về đời Lê để chỉ quần áo đẹp. Thời ấy đàn Nam Giao ở chỗ nhà máy Trần Hưng Đạo (thời Pháp thuộc là nhà máy diêm), các vua chúa đời Lê khi đi tế giao đến một nơi nay là phố Hòa Mã ở giữa phố Huế, vào một ngôi nhà thay quần áo đang mặc bằng quần áo đẹp hơn để đến đàn Nam Giao làm lễ tế trời đất. Hiện nay tại phố Hòa Mã vẫn còn ngôi đền có chữ "Đổi mã" tức là nơi thay đổi quần áo đẹp (người sau không hiểu gọi sai là đối mã). Nhân có ngôi đền ấy, phố này có tên là phố Hóa (dấu sắc) (như ngày nay gọi là hóa trang). Từ hóa đọc sai đi thành hòa. Về sau này nhân dân ta dùng từ mã để chỉ các đồ vật làm bằng giấy. Hà Nội ngày xưa có hai phố chuyên sản xuất đồ mã là phố Hàng Mã gần chợ Đồng Xuân và phố Mã Mây. Phố sau này nguyên xưa chỉ là bãi đất trống gần bờ sông, khi quân Cờ Đen của tướng Lưu Vĩnh Phúc kéo vào Hà Nội, giúp nhà Nguyễn chống Pháp làm trại đóng quân trên bãi đất này. Sau khi quân Cờ Đen rút đi, nhân dân tụ tập buôn bán các đồ mây song từ mạn ngược do thuyền chở đến. Những người thợ chuyên nghề làm nhà táng (nhà úp mồ) bằng mây song hơ hóng và uốn rồi dán giấy màu, trang trí nhiều thứ rất đẹp. Do nhân dân phố này làm hai nghề, nên có tên là phố Mã Mây (thực dân Pháp đặt tên là phố cờ đen); còn phố Hàng Mã chợ Đồng Xuân chuyên sản xuất các thứ quần áo, chén bát, đĩa, hòm xiểng, giường chiếu, hình nhân v.v… Dưới thời phong kiến, đồ vàng mã toàn làm bằng giấy moi, giấy bản nhuộm các màu xanh, đỏ, vàng, bằng lá cây, bằng quả dành dành, bằng nghệ, bằng gấc. Nơi chuyên nhuộm các thứ giấy này là làng Cót tên chữ là Hạ Yên Quyết nay thuộc huyện Từ Liêm, Hà Nội. Làng này chuyên nghề bồi giấy bằng quả cậy làm bìa sách chữ Nho và làm giấy lợp lều cho học trò đi thi hương kiêm nhuộm giấy các màu bán cho người ta làm vàng mã và sản xuất thứ điệp để trát mặt hình nhân. Ngoài ra làng còn làm thuốc vẽ màu trắng trên các tấm tranh tết. Điệp là vỏ sò, vỏ trùng trục, vỏ hến, cạo sạch những phần đen ngoài vỏ rồi cho vào bếp nung thành vôi, sau đó giã nhỏ rây kỹ. Hồi Pháp thuộc nghề làm đồ mã được thực dân Pháp gián tiếp khuyến khích, về chính trị có lợi cho chính sách ngu dân của chúng, về kinh tế chúng bán được nhiều giấy, vì giấy làm mã được tiêu thụ nhiều hơn giấy dùng trong nhà in nhà báo. Tại làng Cót, nhiều người chuyển sang nghề nhuộm giấy. Họ mua giấy in báo và cả giấy tốt nhuộm phẩm các màu bán cho hàng mã. Những người làm nghề nhuộm giấy này trở nên giàu to. Hàng mã càng ngày càng phát triển. Do những người nhà giàu muốn phô trương, người ta đốt mã chẳng riêng vào các dịp đám ma, đám chay, ngày giỗ, ngày tết mà họ còn đốt mã vào dịp đầu mùa hè, khi tổ chức lễ kỳ yên. Vào dịp này bọn thầy cúng dọa nạt người ta rằng dưới âm phủ có loạn, nên Diêm vương sai quỷ sứ lên trần gian bắt lính gây ra các chứng dịch tễ, nhất là bệnh dịch tả. Để tránh bị Diêm vương "bắt lính", mọi người phải sửa lễ cúng làm các hình nhân mặc quần áo lính, kèm theo các vũ khí gươm đao, giáo mác, súng thần công, trống chiêng, voi, ngựa, thuyền bát nhã, vàng thoi vàng lá để "viện trợ" cho Diêm vương. Thời Pháp thuộc, các phố xá Hà Nội vào đầu tháng Tư âm lịch, phố nào cũng ngổn ngang bàn thờ cúng lễ kỳ yên và voi, ngựa, thuyền bát nhã, chiêng trống, súng ống, lính bằng giấy và các đồ vàng giấy, mũ giấy; chiêng trống khua gõ inh ỏi suốt ngày. Bọn thầy cúng tha hồ tung hoành mấy ngày để củng cố cho chính sách ngu dân của thực dân Pháp. Bọn thực dân Pháp còn đặt riêng một cửa hàng bán giấy cho hàng mã, đó là một gian trong hiệu giấy Cáp - pha ở phố Châu Long và Nguyễn Trường Tộ. Giấy bán làm đồ mã nhiều gấp năm, sáu lần số lượng giấy bán cho nhà báo, nhà in, nhà xuất bản và được tăng giá vô tội vạ, kiếm được nhiều lãi. Trong hồi đại chiến thứ hai, các nhà báo và nhà xuất bản phải dùng giấy moi giấy bản nội địa để in sách báo, mà các hàng mã vẫn có đủ các thứ giấy tốt, giấy đẹp làm hàng cho người ta đem đốt ra tro.


(còn tiếp)


Nguồn: Hà Nội xưa và nay. Tập Ký của Bạch Diện Nguyễn Văn Cư. NXB Hội Nhà văn, 10-2015.


www.trieuxuan.info


 


 








(1) Về đời Trần còn có chuyện mê tín dị đoan, như tên Nguyễn Bá Linh thường gọi là giặc Phạm Nhan, là người Việt Nam đầu hàng quân Nguyên, theo quân Nguyên sang xâm lược nước ta. Khi Trần Hưng Đạo bắt sống được nó sai Dã Tượng lấy cây gươm thần do tiên ban ra, nó sợ hãi hỏi: "Sau khi tôi chết, cho tôi ăn gì?". Dã Tượng phát cáu mắng: "Cho mày ăn máu!". Chém chết nó rồi, đầu nó đem bêu, còn xác nó, người ta ném xuống ao. Về sau đầu nó hóa muỗi, xác nó hóa đỉa.




(1) Sa mao chính là bó cỏ mao, nhưng ở ta không có cỏ mao. Người ta lấy cuống rơm cắt dài khoảng 12 phân, bó lại thành một bó to bằng ống nứa tép.




(1) Có đám thầy cúng bảo dùng cóc, nhái hay cua, ốc hay mấy con cá. Họ nói là họ tính toán biết loại thần trùng nào thích ăn gì thì dùng thứ đó.




[1] Gỗ cây giổi thường màu xám vàng, thớ mịn, thơm, gỗ mềm. Ở nước ta, loại gỗ này dần trở nên khan hiếm do mức độ khai thác quá nhiều. Loại cây này không chỉ cho gỗ mà còn cho hạt để dùng làm thuốc chữa bệnh hoặc làm gia vị (TTĐP).




[2] Ca dao có câu: “ Dẻ cùi tốt mã dài đuôi/ Hay ăn cứt chó ai nuôi dẻ cùi”.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
xem thêm »